Tải bản đầy đủ

Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành của cảng theo khoản mục và theo yếu tố

ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

MỤC LỤC

Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
1

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

LỜI MỞ ĐẦU
Phân tích hoạt động kinh tế là một môn khoa học. Nó hình thành sau các
môn khoa học khác như thống kê, kế toán tài chính, tổ chức quản lý…Nó có liên
hệ mật thiết với các môn khoa học đó vì có chung đối tượng nghiên cứu là hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Mặt khác, về nội dung của môn phân tích hoạt động kinh tế là vận dụng những
kiến thức chuyên môn kết hợp với những phương pháp phân tích để nghiên cứu
các kết quả và quá trình sản xuất kinh doanh được biểu hiện thông qua các chi
tiêu kinh tế gắn liền với các nhân tố ảnh hưởng. Tuy vậy, môn khoa học này

cũng có tính độc lập nhờ những lĩnh vực riêng của nó. Nó nghiên cứu sự hoạt
động của doanh nghiệp dưới một góc độ riêng, nghĩa là nó có đối tượng nghiên
cứu riêng. Có thể phát biểu đối tượng của phân tích hoạt động kinh tế như sau:
Trên cơ sở số liệu, tài liệu được rút ra từ hệ thống thông tin kinh tế là các hoạt
động trong lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, của từng ngành nói chung và của
từng doanh nghiệp nói riêng, được biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế với sự tác
động của các nhân tố. Từ đó tìm ra phương hướng và biện pháp cải tiến những
khả năng tiềm tàng, đưa doanh nghiệp đạt tới hiệu quả kinh doanh cao hơn. Hay
nói một các khác phân tích là quá trình phân chia phân giải các hiện tượng và
kết quả kinh doanh thành những bộ phận cấu thành rồi dùng các phương pháp
liên hệ so sánh đối chiếu và tập hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng
vận động phát triển của hiện tượng nghiên cứu.
Bài thiết kế này đề cập tới nội dung chính : “Phân tích tình hình thực hiện
chỉ tiêu giá thành của Cảng theo khoản mục và theo yếu tố”.
Thông qua việc đánh giá phân tích tìm hiểu được những nguyên nhân gây ra
những biến đông kinh tế trong doanh nghiệp, đồng thời đưa ra những ưu điểm,
hạn chế của doanh nghiệp trong công tác quản lý, sử dụng nguồn nhân lực, vật
lực. Qua đó giúp doanh nghiệp có biện pháp hữu hiệu, tiết kiệm chi phí, hạ thấp
giá thành và phương hướng cải tiến công tác quản lý giá thành, đưa ra những

Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
2

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

biện pháp khắc phục yếu kém từ bản thân doanh nghiệp để doanh nghiệp phát
triển tốt hơn

NỘI DUNG
PHẦN I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT
ĐỘNG KINH TẾ
A. Mục đích, ý nghĩa của việc phân tích hoạt động kinh tế của doanh
nghiệp.
Phân tích hoạt động kinh tế là việc phân chia, phân giải các quá trình và kết
quả kinh doanh thành nhiều bộ phận hợp thành sau đó dùng các phương pháp
liên hệ so sánh đối chiếu và tập hợp lại nhằm rút ra tính qui luật và xu hướng
vận động phát triển của hiện tượng nghiên cứu.

I. Mục đích của phân tích hoạt động kinh tế
- Đánh giá kết quả hoạt động kinh tế, kết quả của việc thực hiện các nhiệm
vụ được giao.Đánh giá việc chấp hành các chế độ, chính sách của Nhà nước.
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố.
Xác định các nguyên nhân dẫn đến sự biến động các nhân tố làm ảnh hưởng trực
tiếp đến mức độ và xu hướng của hiện tượng kinh tế.
- Đề xuất các biện pháp và phương hướng để cải tiến phương pháp kinh
doanh, khai thác các khả năng tiềm tàng trong nội bộ doanh nghiệp nhằm nâng
cao hiệu quả kinh doanh.
II. Ý nghĩa của việc phân tích hoạt động kinh tế
Là một nhà kinh doanh, bao giờ bạn cũng phải quan tâm đến hiệu quả và
mong muốn hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao. Để đạt được điều đó,
trước hết phải có nhận thức đúng. Từ nhận thức đúng đi đến quyết định và hành
động. Nhận thức, quyết định và hành động là bộ ba biện chứng của lãnh đạo
quản lý khoa học. Trong đó, nhận thức giữ vai trò quan trọng trong việc xác
định mục tiêu và nhiệm vụ tương lai. Để có thể nhận thức đúng đắn, người ta sử
dụng một công cụ quan trọng là phân tích kinh tế. Dùng công cụ này, người ta
Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
3

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

nghiên cứu mối quan hệ cấu thành, quan hệ nhân quả để phát hiện quy luật tạo
thành, quy luật phát triển các hiện tượng kinh tế và kết quả kinh doanh. Từ đó có
những quyết định đúng đắn cho hoạt động sản xuất kinh doanhh của doanh
nghiệp. Nếu thiếu những kết luận rút ra từ việc phân tích hoạt động kinh tế thì
mọi quyết định đưa ra đều thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn, vì thế nó khó có
thể có kết quả tốt đẹp.
Vậy có thể phát biểu về ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh tế như sau:
“Với vị trí là công cụ quan trọng của nhận thức, phân tích hoạt động kinh tế trở
thành một công cụ quan trọng để quản lý khoa học có hiệu quả các hoạt động
kinh tế. Nó thể hiện chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của Nhà nước.”
B. Các phương pháp phân tích sử dụng trong bài
Các phương pháp kỹ thuật dùng trong phân tích được chia thành 2 nhóm:
* Nhóm 1: Các phương pháp đánh giá kết quả kinh doanh.
- Phương pháp so sánh: So sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương
đối, so sánh bằng số bình quân.
- Phương pháp chi tiết: chi tiết theo thời gian, chi tiết theo không gian (địa
điểm, đơn vị), chi tiết theo các bộ phận cấu thành.
* Nhóm 2: Các phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
đến chỉ tiêu phân tích.
- Phương pháp thay thế liên hoàn
- Phương pháp số chênh lệch
- Phương pháp cân đối
- Phương pháp liên hệ cân đối
- Phương pháp chỉ số
- Phương pháp tương quan hồi quy …
Trong phạm vi đồ án này, ta sử dụng các phương pháp kỹ thuật sau:
I. Phương pháp so sánh

Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
4

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Là phương pháp dược vận dụng phổ biến trong phân tích nhằm xác định vị
trí và xu hướng biến động của hiện tượng, đánh giá kết quả. Có thể có các
trường hợp so sánh sau:
- So sánh giữa thực hiện với kế hoạch để đánh giá tình hình thực hiện kế
hoạch.
- So sánh giữa kỳ này với kỳ trước để xác định nhịp độ, tốc độ phát triển
của hiện tượng.
- So sánh giữa bộ phận và tổng thể để xác định kết cấu hiện tượng nghiên
cứu.
- So sánh giữa đơn vị này với đơn vị khác để xác định mức độ tiên tiến
hoặc lạc hậu giữa các đơn vị.
- So sánh giữa thực tế với định mức, khả năng với nhu cầu.
Trong bài ĐAMH đã sử dụng các phương pháp so sánh sau:
1. So sánh bằng số tuyệt đối
Mức biến động tuyệt đối (chênh lệch tuyệt đối) : ∆y = ( y1- y0 ) cho biết quy
mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu đạt vượt hoặc hụt giữa 2 kỳ.
Trong đó : y1, y0 : mức độ của hiện tượng kinh tế kỳ nghiên cứu, kỳ gốc.
2. So sánh bằng số tương đối
2.1. Số tương đối động thái
Dùng để biểu hiện xu hướng biến động, tốc độ phát triển của hiện tượng
theo thời gian.
2.1.1. Số tương đối động thái dạng đơn giản
t = (y1/ y0).100 (%)
Trong đó : y1, y0 : mức độ của hiện tượng kinh tế kỳ nghiên cứu, kỳ gốc.
2.1.2. Số tương đối động thái dạng liên hệ
Áp dụng khi tính cần liên hệ với một chỉ tiêu nào đó có liên quan.
Trị số chỉ tiêu kỳ nghiên cứu.100(%)
t’ =
Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
5

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Trị số chỉ tiêu kỳ gốc. Hệ số tính chuyển
Trị số chỉ tiêu liên hệ kỳ NC
Hệ số tính chuyển =
(chỉ số của chỉ tiêu liên hệ)

Trị số chỉ tiêu liên hệ kỳ gốc

2.1.3. Số tương đối động thái dạng kết hợp
Mức biến động tương đối

= y1 – y0 . hệ số tính chuyển
của chỉ tiêu nghiên cứu
2.2. Số tương đối kết cấu
Để xác định tỷ trọng của bộ phận so với tổng thể:
d = ybp.100/ ytt (%)
Trong đó :ybp, ytt là trị số của chỉ tiêu ở bộ phận và tổng thể.
II. Phương pháp chi tiết
Trong ĐAMH đã sử dụng phương pháp chi tiết sau:
Phương pháp chi tiết theo các bộ phận cấu thành
Chi tiết theo các bộ phận cấu thành giúp ta biết được quan hệ cấu thành của
các hiện tượng và kết quả kinh tế, nhận thức được bản chất của các chỉ tiêu kinh
tế từ đó giúp cho việc đánh giá kết quả của doanh nghiệp được chính xác, cụ thể
và xác định được nguyên nhân cũng như trọng điểm của công tác quản lý.
III. Phương pháp cân đối
Phương pháp này được vận dụng trong trường hợp các nhân tố có mối quan
hệ tổng đại số. Cụ thể để xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào đến chỉ
tiêu nghiên cứu đúng bằng chênh lệch giữa trị số kỳ nghiên cứu và trị số kỳ gốc
của nhân tố đó.
Khái quát nội dung của phương pháp :
Chỉ tiêu tổng thể: y
Chỉ tiêu cá thể: a,b,c
+ Phương trình kinh tế: y = a + b - c
Giá trị chỉ tiêu kỳ gốc: yo = a0 + b0 - c0
Giá trị chỉ tiêu kỳ n/c: y1 = a1 + b1 - c1
Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
6

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

+ Xác định đối tượng phân tích: ∆y = y1- y0 = (a1 + b1 - c1)- (a0 + b0 - c0)
+ Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích:
*) Ảnh hưởng của nhân tố thứ nhất (a) đến y:
Ảnh hưởng tuyệt đối: ∆ya = a1- a0
Ảnh hưởng tương đối: δya = (∆ya.100)/y0 (%)
*) Ảnh hưởng của nhân tố b đến y:
Ảnh hưởng tuyệt đối: ∆yb = b1- b0
Ảnh hưởng tương đối: δyb = (∆yb.100)/y0 (%)
*) Ảnh hưởng của nhân tố c đến y:
Ảnh hưởng tuyệt đối: ∆yc = c1- c0
Ảnh hưởng tương đối: δyc = (∆yc.100)/y0 (%)
Tổng ảnh hưởng của các nhân tố :
∆ya+ ∆yb+ ∆yc = ∆y
δya+ δyb+ δyc = δ =(∆y.100)/y0 (%)

Lập bảng phân tích:

STT

Chỉ tiêu

Kỳ gốc
Tỷ
Qui
trọng

(%)
a0
da0

Kỳ n/c
Tỷ
Qui
trọng

(%)
a1
da1

So

Chênh MĐAH

sánh

lệch

→y(%)

δa

∆a

δya

1

Nhân tố

2

thứ 1
Nhân tố

b0

db0

b1

db1

δb

∆b

δyb

3

thứ 2
Nhân tố

c0

dc0

c1

dc1

δc

∆c

δyc

thứ 3
Tổng thể

y0

100

y1

100

δy

∆y

-

Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
7

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
8

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

PHẦN II : NỘI DUNG PHÂN TÍCH
CHƯƠNG I. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU GIÁ
THÀNH THEO KHOẢN MỤC
I. Mục đích, ý nghĩa.
1. Khái niệm giá thành
Giá thành là biểu hiện bằng tiền của các hao phí về lao động sống và lao
động vật hoá có liên quan tới việc sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm
nhất định.
2. Mục đích
- Đánh giá tình hình chỉ tiêu giá thành qua đó xác định xu hướng và mức độ
biến động của chỉ tiêu phân tích cũng như cơ cấu giá thành.
- Qua phân tích chi tiết chỉ tiêu giá thành ở những trọng tâm phân tích ở
những góc độ phân tích khác nhau để xác định những nguyên nhân và nguyên
nhân cơ bản ảnh hưởng tới từng thành phần chi phí giá thành. Xác định những
chi phí không hợp lý và lãng phí.
- Đề xuất các biện pháp và phương hướng nhằm cải tổ công tác tổ chức
quản lí đầu tư cũng như việc sử dụng tiêu hao các yếu tố, các điều kiện sản suất
kinh doanh nhằm tiết kiệm các hao phí khi sản suất và tiêu thụ một đơn vị sản
phẩm, phấn đấu cho một giá thành hợp lý hơn.
- Làm cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược sản xuất kinh doanh cũng
như là việc lựa chọn các phương án sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho doanh
nghiệp. Làm cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch về tài chính doanh nghiệp.
- Đánh giá trình độ kế hoạch hoá giá thành
3. Ý nghĩa
Giá thành là một chỉ tiêu kinh tế đặc biệt quan trọng đối với các doanh
nghiệp. Nó cũng là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh đồng thời nhiều
quá trình của vấn đề của quá trình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.

Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
9

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Trước hết nó phản ánh trình độ trong việc đầu tư quản lý và sử dụng cơ sở
vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, các tài sản cố định vốn và nguồn vốn, đồng
thời nó phản ánh chất lượng của công tác tổ chức, quản lý và sử dụng lao động
cũng như các công tác liên quan tới việc tổ chức quản lý, định mức, cấp phát sử
dụng, tiêu hao các yếu tố các điều kiện của quá trình sản xuất kinh doanh.
Giá thành là một trong những chỉ tiêu ảnh hưởng trực tiếp và cơ bản tới lợi
nhuận của doanh nghiệp, qua đó mà ảnh hưởng tới việc thực hiện nghĩa vụ đối
với Nhà Nước, ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như với
việc tái sản xuất, tái sản xuất mở rộng của doanh nghiêp, tiết kiệm các chi phí
sản xuất kinh doanh hạ giá thành sản phẩm, là một nhiệm vụ kinh tế chính trị
quan trọng của các doanh nghiệp.
Từ ý nghĩa của chỉ tiêu giá thành thì việc phân tích chỉ tiêu giá thành cũng
có vai trò hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp. Đây là nội dung phân
tích thường xuyên được tiến hành phân tích ở các doanh nghiệp. Là một trong
các trọng tâm phân tích khi phân tích kinh tế doanh nghiệp. Chỉ có thông qua
phân tích chỉ tiêu này mà doanh nghiệp mới có điều kiện để nhìn nhận một cách
xuyên suốt việc quản lý và tiêu hao các yếu tố, các điều kiện sản suất kinh doanh
của mình, qua đó phát hiện những bất hợp lý, lãng phí để rút ra những bài học
kinh nghiệm, xây dựng những biện pháp, phương hướng trong thời gian tới.

Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
10

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

§2. Phân tích.
1. Lập biểu.
*) Phương trình kinh tế:

∑ C = Cl + Cbhxh + C nl + Cvl + Cđl + C kh + C sc + C ql + C ≠ ( đ )
Trong đó : ∑C
Cl

: giá thành sản lượng
: Chi phí cho Lương

Cbhxh : Chi phí bảo hiểm xã hội

Số liệu:

Cnl

: Chi phí cho nhiên liệu

Cvl

: Chi phí cho vật liệu

Cđl

: Chi phí động lực

Ckh

: Chi phí khấu hao cơ bản

Csc

: Chi phí sửa chữa

Cql

: Chi phí quản lý phí

C≠

: Các chi phí khác …

+ Tổng chi phí kì nghiên cứu: 543.210.123 (103 đ)
+ So sánh về tổng chi phí: 107,6 %
+ So sánh về sản lượng : 106 %

*) Đối tượng phân tích:
Ta có Giá thành sản lượng kỳ nghiên cứu: ∑C1 = 543.210.123 (103 đ)
Giá thành sản lượng kỳ gốc :
∑C0 =

543.210.123
x 100 = 504.842.122 (103 đ)
107,60

Đối tượng phân tích


= ∑C1 - ∑C0 = 543.210.123 – 504.842.122 = 38.368.001 (103 đ)

Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
11

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

2. Đánh giá chung:
Qua bảng ta thấy giá thành sản lượng ở kì gốc là 504.842.122 (10 3 đ), ở kì
nghiên cứu là 543.210.123 (103 đ), như vậy giá thành đã tăng lên 7,6% so với kì
gốc tức tương đương với 38.368.001(10 3 đ). Nếu liên hệ với chỉ tiêu sản lượng
thì thấy bội chi tương đối là 8.077.474 (10 3 đ). Sở dĩ có hiện tượng tăng giá
thành sản lượng này là do sự ảnh hưởng của các nhân tố: Tiền lương, bảo hiểm
xã hội, nhiên liệu, vật liệu, động lực, khấu hao, sửa chữa, quản lý phí, chi khác.
Trong các nhân tố trên có nhân tố tăng, có nhân tố giảm. Cụ thể:
- Có 8 nhân tố tăng: tiền lương (+6,9%), BHXH (+13,87%), Nhiên liệu
(+20,53%), vật liệu (+24,73%), động lực (+17,37%), khấu hao (+8,93%), sửa
chữa (+16,96%), quản lí phí (+2,69%).
- Có 1 nhân tố giảm: chi khác (-28,02%).
Có thể thấy hầu hết các nhân tố đều tăng. Trong đó, nhân tố chi phí vật
liệu tăng nhiều nhất , tăng 24,73% so với kì gốc , tương ứng một lượng là
3.058.535 (103 đ). Nhân tố chi phí quản lí phí là nhân tố tăng ít nhất, tăng 2,69%
so với kì gốc, tương ứng với một lượng là 1.248.374 (10 3 đ). Tuy nhiên sự tăng
giảm này chỉ là tuyệt đối, nếu liên hệ với chỉ tiêu sản lượng ta thấy trong các
nhân tố tăng thì chi phí khấu hao tăng là hợp lý, với tiết kiệm tương đối
4.181.506 (103 đ). Còn các nhân tố tăng khác là chưa hợp lý.
Bên cạnh đó thì nhân tố chi phí chi khác lại giảm 28,02% so với kì gốc,
tương ứng với một lượng là 7.816.932 (10 3 đ). Nhân tố này tuy la nhân tố giảm
duy nhất nhưng lượng giảm đi cũng khá đáng kể.
Như vậy qua đánh giá sơ bộ tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành sản
lượng theo khoản mục chi phí ta thấy tổng chi phí của doanh nghiệp xếp dỡ tại
cảng tăng, tuy nhiên tốc độ tăng của giá thành lại cao hơn mức độ tăng của sản
lượng. Điều này tác động không tốt tới tình hình sản xuất kinh doanh. Để thấy
rõ hơn mức độ ảnh hưởng của các khoản mục chi phí tới giá thành sản lượng, ta
tiến hành đi sâu phân tích từng nhân tố.

Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
12

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

3. Phân tích chi tiết các nhân tố:
3.1. Khoản mục tiền lương:
Chi phí tiền lương ở kì gốc là 177.300.553(10 3 đ) chiếm tỷ trọng 35,12%
đến kỳ nghiên cứu là 189.526.012 (10 3 đ) chiếm tỷ trọng là 8,1% . Như vậy tiền
lương đã tăng 6,9% so với kỳ gốc, tương đương với một lượng là 12.225.459
(103 đ) làm bội chi tương đối 1.587.426(10 3 đ).Sự biến động này đã làm cho giá
thành sản lượng tăng 2,42%. Chi phí này tăng là không hợp lý bởi mức độ tăng
tiền lương cao hơn so với mức độ tăng sản lượng. Khoản mục tiền lương tăng có
thể do các nguyên nhân sau:
- Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá năng lực làm việc của nhân viên
- Nhà nước điều chỉnh chế độ phụ cấp theo môi trường làm việc.
- Tuyển thêm công nhân bổ sung cho các khâu, bộ phận làm việc có yêu
cầu về khả năng sử dụng thiết bị máy móc hiện đại
-Tăng hệ số lương cho những công nhân đã có kinh nghiệm làm việc
thành thạo
+ Nguyên nhân thứ nhất : Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá năng lực làm
việc của nhân viên
Do cơ chế trả lương hiện nay không cao, không đánh giá được hết khả
năng của từng người, trong khi năng suất lao động cao, bốc dỡ theo tấn, sản
phẩm cao hơn mức trung bình. Đối với công nhân bốc xếp là lực lượng lao động
chủ yếu của xí nghiệp với đa số là thanh niên từ 18-25 tuổi làm việc hăng say,
nếu trả lương theo hệ số cấp bậc và hệ số công việc thì lương sẽ rất thấp, thiệt
thòi cho người lao động. Bởi vậy cần hoàn thiện hơn công tác trả lương để cải
thiện thêm thu nhập cho công nhân xếp dỡ sao cho đảm bảo với nguyên tắc trả
lương chung của xí nghiệp, công bằng theo số lượng, chất lượng.
Công tác trả lương được thực hiện bằng cách giao quỹ lương cho tổ và trả
lương theo các hệ số năng suất và thành tích phối hợp trong lao động. Lương
Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
13

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

được trả chia làm 3 loại với 4 tiêu chuẩn đánh giá : mức sản lượng, mức thời
gian, tính đoàn kết trong lao động và chấp hành kỉ luật lao động.
Việc xếp loại lương của công nhân bốc xếp trong cùng một tổ với các mức
đánh giá không giống nhau đã đánh giá được thực chất của từng cá nhân theo 4
tiêu chí trên tránh được cách tính lương bình quân, không công bằng cho người
làm việc tích cực hơn. Tuy nhiên do mới áp dụng cách trả lương mới cho xí
nghiệp nên các bước thực hiện còn cứng nhắc và quá đi vào chi tiết nên làm cho
tổng quỹ lương tăng nhưng không hợp lý. Đây cũng là 1 trong số các nguyên
nhân giúp khuyến khích công nhân làm việc tích cực hiệu quả được đề ra từ phía
xí nghiệp được cho là tích cực và là nguyên nhân chủ quan ảnh hưởng đến tổng
quỹ lương.
+ Nguyên nhân thứ hai : Nhà nước điều chỉnh chế độ phụ cấp theo môi
trường làm việc.
Lao động bốc xếp tại cảng là lao động trong điều kiện nặng nhọc, chật
hẹp, độc hại. Đặc biệt là đối với các công nhân làm việc dưới hầm hàng, ở bộ
phận kho và các thiết bị máy móc nguy hiểm. Trong kỳ nghiên cứu Nhà nước đã
quy định tăng mức phụ cấp theo môi trường lao động, làm mức tiền lương tăng.
Việc điều chỉnh này là phù hợp vì mức phụ cấp cũ còn thấp, không đủ bù đắp
những vất vả và sức khỏe bị ảnh hưởng của công nhân.
Đây là nguyên nhân khách quan, tích cực.
+ Nguyên nhân thứ 3 : Tuyển thêm công nhân bổ sung cho các khâu, bộ
phận làm việc có yêu cầu về khả năng sử dụng thiết bị máy móc hiện đại
Để đáp ứng số lượng công nhân phục vụ máy móc thiết bị tại Cảng doanh
nghiệp đã thuê thêm 1 số công nhân có khả năng sử dụng trang thiết bị hiện đại
lắp đặt tại cảng. Chính sách này của doanh nghiệp nhằm giúp cho năng suất ngày
càng cao, từ đó nâng cao chất lượng phục vụ; hướng tới chuyên môn hóa, hiện
đại hóa. Việc doanh nghiệp thuê thêm công nhân này đã làm cho chi phí tiền
lương tăng.
Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
14

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực. Tuy nhiên cũng cần đánh giá hiệu
quả của việc đào tạo công nhân mới sao cho thực hiện tốt định hướng của doanh
nghiệp, tránh lãng phí tiền của, thời gian và nhân lực.
+ Nguyên nhân thứ tư : Tăng hệ số lương cho những công nhân đã có
kinh nghiệm làm việc thành thạo
Nhằm tạo động lực làm việc tốt cho công nhân và giữ được những công
nhân có kinh nghiệm ở lại với doanh nghiệp nên trong kỳ nghiên cứu ban lãnh
đạo quyết định tăng hệ số lương. Điều này khiến cho khoản mục tiền lương tăng
lên. Đây là chính sách phát triển chú trọng vào nguồn nhân lực, giúp những công
nhân có tinh thần làm việc tốt, nâng cao ý thức trách nhiệm cũng như sự trung
thành với doanh nghiệp; đồng thời tạo không khí thi đua, mục tiêu phấn đấu
trong toàn tổ đội.
Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực.
3.2. Khoản mục BHXH:
Chi phí BHXH ở kì gốc là 28.545.389 (103 đ) chiếm tỷ trọng 5,65% đến
kỳ nghiên cứu là 32.503.711 (103 đ) chiếm tỷ trọng là 5,98 %. Như vậy BHXH
đã tăng 13,87 % so với kỳ gốc tương đương với một lượng là 3.958.322 (10 3 đ)
làm bội chi tương đối là 2.245.599 (103 đ). Sự biến động này đã làm cho giá
thành sản lượng tăng 0,78 %. Chi phí này tăng là không hợp lý bởi mức độ tăng
cao hơn so với mức độ tăng sản lượng. Khoản mục BHXH tăng có thể do các
nguyên nhân sau:
- Số lượng công nhân nghỉ hưu tăng
- Số công nhân đau ốm do thời tiết, nghỉ bệnh tăng
- Sự tăng lương tối thiểu theo vùng trong chính sách tiền lương của Nhà
Nước
- Do chính sách tăng tỷ lệ trích BHXH của nhà nước
+ Nguyên nhân thứ nhất : Số lượng công nhân nghỉ hưu tăng.
Trong kỳ nghiên cứu số lượng công nhân của doanh nghiệp tăng lên, đó là
do: Số lượng công nhân đến tuổi nghỉ hưu tăng . Để đáp ứng yêu cầu về mở rộng
sản xuất mà xí nghiệp đã tuyển thêm công nhân bổ sung vào những vị trí vừa có
Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
15

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

công nhân nghỉ và làm việc phục vụ cho cầu tàu mới xây dựng. Vì số lượng công
nhân tăng dẫn tới chi phí lương của họ cũng tăng theo. Sự tăng này phán ảnh quy
mô của quỹ lương, ngoài phần phí nộp cho nhà nước phần còn lại là cơ sở để xí
nghiệp có thể thực hiện tốt việc chi trợ cấp cho cán bộ công nhân viên trong các
trường hợp ốm đau, mất sức, từ đó làm tăng lên chi phí BHXH của doanh
nghiệp.
Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực. Khi doanh nghiệp thực hiện tốt sẽ
có tác dụng thúc đẩy sản xuất, khuyến khích người lao động tích cực sản xuất lao
động. Do đó doanh nghiệp phải có kế hoạch trích phụ cấp hợp lí, thực hiện tốt
những biện pháp an toàn lao đông, có những biện pháp chăm sóc, cải thiện sức
khỏe cho người lao động.
Tuy nhiên lượng công nhân tăng đột biến khiến cho chi phí tiền lương
cũng như chi phí BHXH tăng quá cao, trong khi sản lượng khai thác chưa tương
xứng với năng lực xếp dỡ. Điều này ảnh hưởng chưa thực sự hợp lí tới tình hình
sản xuất kinh doanh trong kỳ. Doanh nghiệp cần nghiêm túc xem xét quyết định
của mình nên thực hiện vào thời điểm nào là hợp lý và sẵn sàng.
+ Nguyên nhân thứ hai : Số công nhân đau ốm do thời tiết, nghỉ bệnh
tăng
Tính từ đầu kì, số cán bộ nhân viên nghỉ ốm, đau bệnh của doanh nghiệp
tăng so với kì trước. Do thời tiết nóng ẩm, oi bức đổi gió liên tục làm sức đề
kháng con người chưa kịp thích ứng và dễ mang bệnh cộng với điều kiện làm
việc tại cảng là môi trường làm việc nặng và khắc nghiệt, tiếp xúc nhiều với môi
trường ngoài trời. Số công nhân bị ốm tăng đã làm tăng chi phí bảo hiểm xã hội
của doanh nghiệp bởi lẽ ngoài phần phí nộp cho Nhà nước doanh nghiệp còn
chủ động thực hiện tốt việc chi trợ cấp cho cán bộ công nhân viên trong các
trường hợp ốm đau, mất sức … nhằm động viên khuyến khích, giúp đỡ người
lao động tích cực sản xuất, lao động. Đây là nguyên nhân khách quan có tác
động tiêu cực.

Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
16

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Doanh nghiệp cần có kế hoạch trích phụ cấp hợp lý, thực hiện tốt những
biện pháp an toàn lao động, có những biện pháp chăm sóc, cải thiện sức khỏe
cho người lao động.
+ Nguyên nhân thứ ba : Sự tăng lương tối thiểu theo vùng trong chính sách
tiền lương của Nhà Nước:
Lương tối thiểu là một mức lương thấp nhất theo quy định của Luật lao
động do Quốc hội Việt Nam ban hành. Mức lương tối thiểu này được dùng làm
cơ sở để tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụ
cấp lương và thực hiện một số chế độ khác theo quy định của pháp luật. Doanh
nghiệp hạch toán mức lương tối thiểu phải trả cho công nhân theo quy định.
Trong kỳ nghiên cứu mức lương tối thiểu theo vùng năm 2015 do Nhà Nước đã
tăng từ 2.700.000 đồng/tháng lên 3.100.000 đồng/tháng ở vùng I; 2.400.000
đồng/tháng lên 2.750.000 đồng/tháng ở vùng II; 2.100.000 đồng/tháng lên
2.400.000 đồng/tháng ở vùng III; 1.900.000 đồng/tháng lên 2.150.000
đồng/tháng ở vùng IV khiến cho tiền lương cơ bản tăng mạnh. Từ đó khiến chi
phí BHXH tăng theo.
Đây là nguyên nhân khách quan,tích cực
+ Nguyên nhân thứ tư : Do chính sách tăng tỷ lệ trích BHXH của nhà
nước
Chính sách bảo hiểm cho người lao động được nhà nước quy định và tỷ lệ
trích BHXH tăng theo lộ trình qua các năm. Trong kỳ nghiên cứu, nhà nước đã
tiến hành tăng tỷ lệ trích BHXH từ 23% lên 24.5% của lương cơ bản, trong đó
doanh nghiệp chịu 18% (so với kỳ trước là 17%) làm chi phí BHXH cũng tăng
lên. Việc tăng này là chính sách nhằm đảm bảo sự an toàn hơn cho công tác của
người lao động, từ đó giúp họ tập trung và toàn tâm hơn trong công việc, làm
tăng năng suất và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Đây là nhân tố khách quan, tích cực.

Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
17

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

3.3. Khoản mục nhiên liệu:
Chi phí nhiên liệu ở kì gốc là 30.240.043 (103 đ) chiếm tỷ trọng 5.99 %
đến kỳ nghiên cứu là 36.449.399 (10 3 đ) chiếm tỷ trọng là 6.71 % . Như vậy chi
phí nhiên liệu đã tăng 20,53 % so với kỳ gốc tương đương với một lượng là
6.209.356 (103 đ) làm bội chi tương đối là 4.394.953 (103 đ).Sự biến động này đã
làm cho giá thành sản lượng tăng 1,23 %. Chi phí này tăng là không hợp lý bởi
mức độ tăng cao hơn nhiều so với mức độ tăng sản lượng. Khoản mục nhiên liệu
tăng có thể do các nguyên nhân sau:
- Giá nhiên liệu trên thị trường tăng
- Tình trạng kỹ thuật kém của máy móc, phương tiện cũ làm tiêu hao
nhiều nhiên liệu
- Xảy ra tình trạng trộm cắp, có lòng tham đối với nhiên liệu máy tại
doanh nghiệp
- Doanh nghiệp thực hiện chưa tốt công tác cấp phát nhiên liệu, định
mức tiêu hao nhiên liệu
+ Nguyên nhân thứ nhất : Giá nhiên liệu trên thị trường tăng
Trong kỳ nghiên cứu, giá dầu trong nước tăng lên. Nguyên nhân của sự
tăng giá này cũng rất là phức tạp:
+ giá xăng dầu thế giới bất ổn định (phần lớn xăng dầu tại Việt Nam là nhập
khẩu)
+ tình hình kinh tế - chính trị thế giới: kinh tế suy thoái, bất ổn chính trị tại
các vùng Trung Đông.
+ Sự cạn kiệt dần nguồn tài nguyên dầu mỏ
+ chính sách tỷ giá hối đoái, lạm phát trong nước,...
Đây là khó khăn lớn của doanh nghiệp, bởi nhiên liệu là 1 trong những chi
phí chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giá thành.
Đây là nguyên nhân khách quan, tiêu cực.
+ Nguyên nhân thứ hai : Tình trạng kỹ thuật kém của máy móc, phương
tiện cũ làm tiêu hao nhiều nhiên liệu.
Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
18

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Phần lớn máy móc, phương tiện của doanh nghiệp đều là những máy móc
thiết bị đã cũ có tuổi thọ cao, do thiếu sự quan tâm thích đáng, không được bảo
dưỡng thường xuyên đã bộc lộ những hư hỏng và sự xuống cấp về tình trạng kỹ
thuật làm tiêu hao nhiều nhiên liệu. Sự tiêu hao quá mức này đã làm tăng chi phí
nhiên liệu cũng như giảm công suất làm việc của máy móc.
Đây là nguyên nhân chủ quan, tiêu cực. Cần có biện pháp để khắc phục
ngay:
- Mua mới, thay thế các máy móc đã quá cũ, hết tuổi sử dụng, công suất
làm việc thấp.
- Thực hiện công tác duy tu, bảo dưỡng thường xuyên và định kì theo quy
định kỹ thuật.
- Phòng kỹ thuật – vật tư, thuyền trưởng, máy trưởng cần đôn đốc theo sát
những nhiệm vụ trên, không để thợ sửa chữa hay công nhâ lười nhác, làm
qua loa.
+ Nguyên nhân thứ ba : Xảy ra tình trạng trộm cắp, có lòng tham đối với
nhiên liệu máy tại doanh nghiệp
Khâu quản lí chưa thật chặt chẽ cộng với việc doanh nghiệp tuyển thêm
lượng công nhân mới chưa có tâm với nghề, 1 số có lòng tham đối với lượng
nhiên liệu thừa sau ngày làm việc mà máy móc không sử dụng hết. Họ tìm cách
rút nhiên liệu đó để bán ra ngoài với mức giá rẻ hơn để kiếm lời cho bản thân.
Điều này làm cho máy móc thường xuyên phải bơm thêm nhiên liệu để làm việc
làm cho chi phí nhiên liệu tăng.
Đây là nguyên nhân chủ quan và rất tiêu cực, nó phản ánh thái độ làm việc
và ý thức không tốt của 1 số bộ phận công nhân mà doanh nghiệp cần thắt chặt
quản lí, nắn chỉnh ý thức công nhân, đề phòng tình trạng trộm cắp xảy ra kéo dài
gây thiệt hại chung cho doanh nghiệp.
+ Nguyên nhân thứ tư : Doanh nghiệp thực hiện chưa tốt công tác cấp
phát nhiên liệu, định mức tiêu hao nhiên liệu.
Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
19

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Đây là công tác không hề đơn giản, đòi hỏi khâu quản lí cấp phát của
doanh nghiệp phải có nhiều kinh nghiệm. Các cán bộ định mức chưa định mức
sát với thực tế dẫn tới lãng phí nhiên liệu.
Nguyên nhân chủ quan tiêu cực. Doanh nghiệp nên có các biện pháp để
giải quyết vân đề này:
- Qua các báo cáo về việc sử dụng nhiên liệu trong kỳ nghiên cứu thì rút ra
được định mức tiêu hao sát với thực tế nhất. Để trong kỳ tiếp theo có kế hoạch
cấp phát đúng hơn.
- Cán bộ cấp phát nhiên liệu phải nắm rõ lượng nhiên liệu cho các loại máy
móc, cấp phát vào thời điểm hợp lý với khối lượng tính toán cụ thể cho từng lần
cấp phát.
3.4. Khoản mục vật liệu:
Chi phí vật liệu ở kì gốc là 12.368.632 (103 đ) chiếm tỷ trọng 2,45 % đến
kỳ nghiên cứu là 15.427.167 (10 3 đ) chiếm tỷ trọng là 2,84 % . Như vậy vật liệu
đã tăng 24,73 % so với kỳ gốc, tương đương với một lượng là 3.058.535 (10 3 đ)
làm bội chi tương đối là 2.316.417 (103 đ). Sự biến động này đã làm cho giá
thành sản lượng tăng 0,61 %. Chi phí này là khoản mục tăng nhiều nhất nhưng
tăng là không hợp lý bởi mức độ tăng cao hơn so với mức độ tăng sản lượng.
Khoản mục vật liệu tăng có thể do các nguyên nhân sau:
-

Việc sử dụng vật liệu còn lãng phí
Công tác quản lý vật liệu không chặt chẽ
Giá cả vật liệu tăng
Tỷ trọng hàng đến cảng là hàng bách hoá, hàng giá cao và hàng gỗ tăng
nên phải dùng nhiều vật liệu chèn lót.

+ Nguyên nhân thứ nhất : Việc sử dụng vật liệu còn lãng phí :
Trong kì nghiên cứu, ý thức công nhân chưa tốt. Đồng thời các cán bộ
cũng lơ là trong công tác tư tưởng, kết nối chặt chẽ giữa người lao động và
doanh nghiệp. Vì vậy việc sử dụng vật liệu lãng phí,nhiều vật liệu còn tận dụng
được bị bỏ đi hoặc là sử dụng nhiều quá mức cần thiết, làm cho chi phí nhiên
liệu tăng.
Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
20

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực. Doanh nghiệp cần có biện pháp
nâng cao ý thức công nhân bằng các buổi nói chuyện, gắn lợi ích người lao động
với lợi ích doanh nghiệp, nhằm tạo thói quen tiết kiệm, kinh tế.
+ Nguyên nhân thứ hai : Công tác quản lý vật liệu không chặt chẽ.
Vào kì nghiên cứu doanh nghiệp đã làm lỏng lẻo công tác quản lý vật liệu,
xảy ra các trường hợp vật liệu bị thất thoát trong quá trình sử dụng mà không rõ
nguyên nhân. Hơn nữa việc cấp phát chỉ theo yêu cầu trên cầu tàu và các yêu cầu
từ những người điều khiển máy móc thiết bị đưa ra chứ cán bộ quản lý vật liệu
không nắm rõ được thực trạng tại đó đang có những vật liệu gì với số lượng bao
nhiêu. Chính từ việc quản lý này mà doanh nghiệp đã lãng phí một khoản chi phí
vật liệu khá lớn khiến giá thành tăng cao.
Đây là nguyên nhân chủ quan, tiêu cực. Biện pháp để giải quyết vấn đề
trên:
- Đào tạo lại về chuyên môn cũng như ý thức của các cán bộ làm công
quản lý vật liệu.
- Có cơ chế định mức khao học và thưởng phạt với những người chịu
trách nhiệm quản lý công tác này tại các bộ phận sử dụng máy móc
thiết bị tại cảng
+ Nguyên nhân thứ ba : Giá cả vật liệu tăng
Trong kỳ nghiên cứu, khủng hoảng kinh tế vẫn tác động xấu tới mọi mặt
trong sản xuất và đời sống. Tỷ lệ làm phát làm cho giá cả tăng dần. Giống như
hầu hết các mặt hàng khác, giá cả vật liệu cũng tăng lên. Với một lượng vật liệu
dùng khá lớn trong nhiều khâu đoạn việc làm hàng ngày thì việc tăng giá này
ảnh hưởng nhiều tới giá thành.
Đây là nguyên nhân khách quan, tiêu cực
+ Nguyên nhân thứ tư : Tỷ trọng hàng đến cảng là hàng bách hoá, hàng
giá cao và hàng gỗ tăng nên phải dùng nhiều vật liệu chèn lót.
Do trong kì nghiên cứu doanh nghiệp ký ít hơn những hợp đồng vận
chuyển hàng đóng trong container, kiện mà thay vào đó là những hợp đồng vận
Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
21

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

chuyển hàng bách hóa, hàng giá cao, hàng gỗ. Các loại hàng này có khoảng
trống khi xếp dỡ, dễ bị xê dịch nên yêu cầu khi vận chuyển cần nhiều vật liệu
chèn lót. Vì vậy doanh nghiệp đã phải tốn được một khoản tiền lớn hơn dùng để
mua vật liệu chèn lót so với kì gốc.
Đây là nguyên nhân khách quan.
3.5 Khoản mục động lực
Chi phí khoản mục động lực ở kì gốc là 11.106.527 (10 3 đ) chiếm tỷ trọng
2,2 % đến kỳ nghiên cứu là 13.037.043 (10 3 đ) chiếm tỷ trọng là 2,4 % . Như vậy
vật liệu đã tăng 17,38 % so với kỳ gốc, tương đương với một lượng là 1.930.516
(103 đ) làm bội chi tương đối là 1.264.125 (10 3 đ). Sự biến động này đã làm cho
giá thành sản lượng tăng 0,38 %. Chi phí này tăng nhưng tăng không hợp lý bởi
mức độ tăng cao hơn so với mức độ tăng sản lượng. Khoản mục động lực tăng
có thể do các nguyên nhân sau:
-

Giá số của điện, nước đồng loạt tăng
Sử dụng nhiều thiết bị máy móc năng suất cao cùng lúc
Chính quyền địa phương không thường xuyên cắt điện, nước tạm thời
Ý thức sử dụng điện nước của công nhân cảng chưa thực sự tốt

+ Nguyên nhân thứ nhất : Giá số của điện, nước đồng loạt tăng
Mức giá của điện, nước trong kì nghiên cứu Nhà nước đã quy định tăng
lên đáng kể so với kì gốc. Điện và nước được tính theo đơn vị số điện và khối
nước , càng sử dụng nhiều thì các số điện và khối nước về sau giá càng lên cao.
Việc doanh nghiệp sử dụng điện năng hoạt động các thiết bị gây hao năng lượng
nhiều làm cho mức điện năng phục vụ sản xuất tại cảng lên cao nhiều, tỉ lệ thuận
với mức giá ban hành
Đây là nguyên nhân khách quan, tiêu cực.
+ Nguyên nhân thứ hai : Sử dụng nhiều thiết bị máy móc năng suất cao
cùng lúc
Doanh nghiệp sở hữu rất nhiều máy móc trang thiết bị cần sử dụng điện để
vận hành. Nhưng việc không thể tránh khỏi đó là vận hành các máy móc cùng
lúc gây tiêu hao năng lượng điện của cảng . Việc này cần các cán bộ công nhân
Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
22

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

giám sát phòng điều khiển chú tâm và điều chỉnh hợp lí cho các thiết bị hoạt
động cùng 1 lúc không quá nhiều. Việc vận hành quá nhiều thiết bị một lúc cũng
có thể gây cháy nổ, chập, quá tải số điện, chi phí lên cao.
Vậy nên đây là 1 trong số những nguyên nhân chủ quan, tiêu cực.
+ Nguyên nhân thứ ba : Chính quyền địa phương không thường xuyên cắt
điện, nước tạm thời
So với kì gốc thì tại kì nghiên cứu này , số lần điện , nước phục vụ chung
cho khu công nghiệp cảng được giảm đi đáng kể. Công nhân làm việc liên tục,
không mất thời gian lãng phí chờ điện và nước, không bị ngừng tác nghiệp nhiều
như ở kì gốc. Điều này cũng thể hiện rằng các điện năng tiêu thụ là luôn luôn
trong quá trình tác nghiệp, tăng nhiều so với kì gốc.
Tuy là mức điện năng lên cao nhưng việc không bị lãng phí thời gian
ngừng tác nghiệp đối với doanh nghiệp là một điều thuận lợi tác động đến năng
suất làm việc và mức sản lượng.
Đây là nguyên nhân khách quan, tích cực.
+ Nguyên nhân thứ tư : Ý thức sử dụng điện nước của công nhân cảng
chưa thực sự tốt
Việc vận hành máy móc tiêu hao nhiên liệu trong nhiều giờ liền và không
có kiểm soảt của 1 số bộ phận công nhân cảng gây hao phí điện năng rất lớn.
Tình trạng bật tắt các thiết bị không quy củ cũng là 1 vấn đề cần lưu tâm. Các
cán bộ cấp trên cần quản lí chặt hơn về vấn đề sử dụng điện nước bừa bãi, không
ngắt các thiết bị khi không cần thiết, tránh để thực trạng kéo dài. Tình trạng chi
phí khoản mục nào cao vượt mức so với kì gốc cũng gây ảnh hưởng nhiều đến
doanh nghiệp.
Vì vậy đây là nguyên nhân chủ quan, tiêu cực. Cần có biện pháp xử lí
ngay.
3.6 Khoản mục khấu hao
Chi phí khấu hao ở kì gốc là 142.516.931 (10 3 đ) chiếm tỷ trọng 28,23 %
đến kỳ nghiên cứu là 155.249.453 (103 đ) chiếm tỷ trọng là 28,58 % . Như vậy
Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
23

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

chi phí khấu hao đã tăng 8.93 % so với kỳ gốc, tương đương với một lượng là
12.732.522 (103 đ) làm bội chi tương đối một khoản là 4.181.506 (10 3 đ).Sự biến
động này đã làm cho giá thành sản lượng tăng 2,52%. Chi phí này tăng là hợp lý
bởi mức độ tăng thấp hơn so với mức độ tăng sản lượng. Khoản mục khấu hao
tăng có thể do các nguyên nhân sau:
- Mua thêm xe nâng mới.
- Nhận góp vốn bằng tài sản cố định.
- Thay đổi tỷ lệ trích khấu hao để tránh hao mòn vô hình do khoa học kĩ
thuật phát triển.
- Thay đổi thời gian tính khấu hao.
+ Nguyên nhân thứ nhất : Mua thêm xe nâng mới.
Để đẩy nhanh tốc độ bốc xếp hàng bằng cơ giới hóa nhằm đảm bảo và
nâng cao năng xuất xếp dỡ, đáp ứng kịp thời việc vận chuyển lượng hàng hóa
đến cảng, tránh ùn tắc ở nhưng khâu sau trong năm qua doanh nghiệp đã mua
thêm 5 chiếc xe nâng. Doanh nghiệp đang có xu hướng phát triển theo hướng cơ
giới hóa một phần và toàn bộ các quá trình tác nghiệp để rút ngắn thời gian xếp
dỡ hàng hóa bằng lao động thủ công. Việc đầu tư mua xe nâng mới giúp doanh
nghiệp đẩy cao năng suất làm hàng, tiết kiệm thời gian và đáp ứng được lượng
hàng đến cảng trong những ngày nhiều hàng nhất, từ đó làm tăng doanh thu của
doanh nghiệp và đẩy mạnh sự phát triển của doanh nghiệp trong thời gian tới.
Với 5 chiếc xe nâng mới mua thì nguyên giá tài sản cố định đã tăng mạnh, dẫn
đến chi phí khấu hao tài sản cố định cũng tăng lên.
Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực.
+ Nguyên nhân thứ hai : Nhận góp vốn bằng tài sản cố định.
Để đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh và nguồn vốn đầu tư nên doanh
nghiệp có tham gia liên kết với các doanh nghiệp ngoài khác và cũng nhận vốn
góp từ các công ty đó. Đầu năm, công ty liên kết đã tăng vốn góp vào doanh
nghiệp bằng các máy móc trang thiết bị, điều này làm tăng nguyên giá tài sản cố
định của doanh nghiệp. Dẫn đến chi phí trích khấu hao tài sản cố định tăng.
Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
24

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


ĐỒ ÁN MÔN HỌC : PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Đây là nguyên nhân khách quan, tích cực, bới giúp doanh nghiệp tăng vốn
cố định, nhận được những máy móc thiết bị mới thay thế những thứ đã cũ, hỏng
hóc.
+ Nguyên nhân thứ ba : Thay đổi tỷ lệ trích khấu hao để tránh hao mòn vô
hình do khoa học kĩ thuật phát triển.
Khoa học kĩ thuật những năm gần đây phát triển nhanh, vì vậy mặc dù
không muốn làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp nhưng vào đầu năm, doanh
nghiệp vẫn phải tăng tỉ lệ khấu hao đối với một số máy móc trang thiết bị tại
cảng để giảm bớt sự hao mòn vô hình, nếu không chỉ vài năm sau một số trang
thiết bị đã phải thay thế mà vẫn chưa thu hồi đủ vốn. Tuy nhiên điều này lại sẽ
giúp doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh hơn để có thể đầu tư mua tài sản mới, tránh
việc lạc hậu, kém chất lượng gây tổn thất cho doanh nghiệp.
Đây là nhân tố chủ quan, tích cực.
+ Nguyên nhân thứ tư : Thay đổi thời gian tính khấu hao.
Trong kì vừa qua, theo quy định của cơ quan Nhà nước, điều chỉnh lại thời
gian trích khấu hao, khoảng cách thời gian sử dụng tối thiểu và tối đa đối với
một số tài sản cố định của doanh nghiệp. Theo đó, một số cơ sở vật chất, thiết bị
của doanh nghiệp có thời gian trích khấu hao ngắn hơn so với trước, chính điều
này đã làm chi phí khấu hao của doanh nghiệp trong kì tăng lên. Tuy làm tăng
giá thành sản xuất trong kì của doanh nghiệp, nhưng chính sự thay đổi này lại
giúp doanh nghiệp sớm thu hồi vốn. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính
tích cực.
3.7. Khoản mục sửa chữa
Chi phí sửa chữa ở kì gốc là 28.422.611 (10 3 đ) chiếm tỷ trọng 5,63 % đến
kỳ nghiên cứu là 33.244.460 (103 đ) chiếm tỷ trọng là 6,12 % . Như vậy chi phí
sửa chữa đã tăng 16,96% so với kỳ gốc, tương đương với một lượng là
4.821.849 (103 đ) gây bội chi tương đối là 3.116.492 (103 đ).Sự biến động này đã
làm cho giá thành sản lượng tăng 0,96 %. Chi phí này tăng là không hợp lý bởi
Sinh viên : Nguyễn Thị Bảo Quyên
25

Lớp : KTB53-ĐH2 _ MSV : 46113


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×