Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG và một số yếu tố LIÊN QUAN đến KIẾN THỨC về DINH DƯỠNG của các bà mẹ SAU SINH tại BỆNH VIỆN PHỤ sản hải PHÒNG, năm 2016

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG
---o0o---

NGUYỄN THỊ THIÊN THƯ

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
KIẾN THỨC VỀ DINH DƯỠNG CỦA CÁC BÀ MẸ SAU SINH
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG, NĂM 2016

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG

HẢI PHÒNG – 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG
---o0o---

NGUYỄN THỊ THIÊN THƯ

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
KIẾN THỨC VỀ DINH DƯỠNG CỦA CÁC BÀ MẸ SAU SINH
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG, NĂM 2016

Chuyên ngành: Điều dưỡng
Mã số: 1255010044

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Người hướng dẫn: 1. BSCKII. Lại Thị Nguyệt Hằng
2. Ths. Hoàng Thị Oanh

HẢI PHÒNG – 2016


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng quản lý Đào tạo đại
học, Khoa Điều dưỡng, Bộ môn Điều dưỡng Sản trường Đại học Y Dược Hải
Phòng đã tạo cho em một môi trường học tập tốt, truyền dạy cho em những
kiến thức và kinh nghiệm đáng quý của nghề điều dưỡng.
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành gửi đến BSCKII. Lại Thị
Nguyệt Hằng – Trưởng bộ môn Điều dưỡng Sản trường Đại học Y Dược Hải
Phòng, Ths. Hoàng Thị Oanh và các cô giáo của bộ môn Điều dưỡng Sản
trường Đại học Y Dược Hải Phòng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em, truyền
đạt cho em những kiến thức và kinh nghiệm quý báu của mình trong suốt quá
trình học tập và làm nghiên cứu.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc, các khoa phòng
của bệnh viện Phụ sản Hải Phòng đã tạo điều kiện cho em thực hiện nghiên
cứu tại cơ sở.
Cuối cùng, em luôn ghi nhớ sự chia sẻ, động viên của gia đình, thầy cô,
anh chị em, bạn bè đã giúp đỡ, cho em thêm nghị lực để học tập và hoàn
thành bản luận văn này.
Hải Phòng, ngày tháng năm 2016.
Sinh viên


Nguyễn Thị Thiên Thư


LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Nguyễn Thị Thiên Thư
Sinh viên lớp: CNĐDCQK8 – Trường Đại học Y Dược Hải Phòng.
Trong thời gian năm 2016, tôi đã nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một
số yếu tố liên quan đến kiến thức về dinh dưỡng của bà mẹ sau sinh tại bệnh
viện Phụ sản Hải Phòng năm 2016”.
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu do tôi trực
tiếp thực hiện.
Hải Phòng, ngày tháng

năm 2016.

Sinh viên

Nguyễn Thị Thiên Thư


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CED

Thiếu năng lượng trường diễn

FAO

Tổ chức nông nghiệp và thực phẩm của Liên hợp quốc

FNB

Hội dinh dưỡng và thực phẩm Hoa Kỳ

IOM

Viện Y học Hoa Kỳ

NCDD

Nhu cầu dinh dưỡng

NCDDKN

Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị

PNMT

Phụ nữ mang thai

SEA-RDAs

Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Đông Nam Á

UNU

Đại học Tổng hợp Liên hợp quốc

WHO

Tổ chức Y tế Thế giới


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................ 3
1.1. Đại cương về dinh dưỡng ....................................................................... 3
1.2. Tầm quan trọng của dinh dưỡng bà mẹ sau sinh ................................... 4
1.3. Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị của bà mẹ thời kì sau sinh ............... 5
1.4. Thực trạng dinh dưỡng của bà mẹ thời kì sau sinh trên thế giới và ở
Việt Nam. .................................................................................................... 15
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......... 17
2.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu .......................................... 17
2.2. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 17
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ ............................................................................... 22
3.1. Một số đặc điểm chung của các bà mẹ sinh con tại bệnh viện Phụ sản
Hải Phòng năm 2016 trong thời gian nghiên cứu. ...................................... 22
3.2. Thực trạng kiến thức về dinh dưỡng của bà mẹ sau sinh tại bệnh viện
Phụ sản Hải Phòng năm 2016. .................................................................... 25
3.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về dinh dưỡng của các bà mẹ
sau sinh tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2016 ................................. 30
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ............................................................................ 34
4.1. Đặc điểm chung của các bà mẹ sau sinh tại bệnh viện Phụ sản Hải
Phòng năm 2016 .......................................................................................... 34
4.2. Thực trạng kiến thức về dinh dưỡng của các bà mẹ sau sinh tại bệnh
viên Phụ sản Hải Phòng năm 2016. ............................................................ 35
4.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về dinh dưỡng của các bà mẹ
sau sinh tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, năm 2016. ............................... 38
KẾT LUẬN .................................................................................................... 42
KHUYẾN NGHỊ............................................................................................ 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Phân bố địa bàn cư trú của các bà mẹ nghiên cứu.......................... 22
Bảng 3.2. Đặc điểm trình độ học vấn của các bà mẹ nghiên cứu ................... 23
Bảng 3.3. Thu nhập trung bình gia đình/tháng của các bà mẹ nghiên cứu ..... 24
Bảng 3.4. Đặc điểm sinh con lần này của đối tượng nghiên cứu.................... 24
Bảng 3.5. Kiến thức của các bà mẹ về chế độ ăn hàng ngày .......................... 25
Bảng 3.6. Kiến thức của các bà mẹ về chế độ ăn kiêng .................................. 25
Bảng 3.7. Kiến thức của các bà mẹ về bổ sung nước ..................................... 28
Bảng 3.8. Kiến thức của các bà mẹ về các nguồn thực phẩm......................... 28
Bảng 3.9. Kiến thức của các bà mẹ về ăn theo nhóm thực phẩm ................... 29
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa phân bố địa bàn cư trú và kiến thức .............. 30
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa nhóm tuổi và kiến thức ................................. 30
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa trình độ văn hóa và kiến thức ........................ 31
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa thu nhập TB gia đình/tháng với kiến thức .... 31
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa số lần sinh của bà mẹ với kiến thức .............. 32
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa tăng cân thai kỳ với kiến thức ....................... 32
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa cân nặng của trẻ với kiến thức ...................... 33


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Đặc điểm nhóm tuổi của các bà mẹ nghiên cứu. ........................ 22
Biểu đồ 3.2. Phân bố nhóm nghề của các bà mẹ tham gia nghiên cứu ........... 23
Biểu đồ 3.3. Kiến thức của các bà mẹ về các vi chất ...................................... 26
Biểu đồ 3.4. Kiến thức của các bà mẹ về bổ sung vi chất .............................. 27
Biểu đồ 3.5. Đánh giá kiến thức chung về dinh dưỡng sau sinh của đối tượng
nghiên cứu ....................................................................................................... 29


-1-

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị (NCDDKN) theo y văn và dinh
dưỡng học Quốc tế được định nghĩa là: Mức tiêu thụ năng lượng và các chất
dinh dưỡng được coi là đủ để duy trì sức khỏe và sự sống của mọi cá thể bình
thường trong một quần thể dân cư [32].
Khi cuộc sống còn khó khăn, con người chỉ lo kiếm đủ ăn mà chưa
quan tâm đến vấn đề dinh dưỡng. Ngày nay, khi điều kiện kinh tế phát triển
thì nhu cầu về dinh dưỡng đã thay đổi từ trong nhận thức và thái độ nhìn nhận
về bữa ăn hằng ngày của mỗi người dân, song lại chưa biết cách cân bằng các
yếu tố dinh dưỡng sao cho hợp lý dẫn đến tình trạng thừa cân mà vẫn thiếu
các yếu tố vi chất.
Việt Nam hiện nay đã thành công trong công cuộc đổi mới, đưa đất
nước thoát khỏi nhóm nước nghèo, và vấn đề dinh dưỡng cũng từ đó mà ngày
càng được quan tâm hơn cho các đối tượng như: trẻ sơ sinh, người già, phụ nữ
trong thời kì mang thai, người mới ốm dậy,… và đối tượng phụ nữ sau sinh
cũng là một đối tượng cần được quan tâm đặc biệt.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng tỷ suất sinh sơ bộ năm 2014
là 2,09 con/phụ nữ [1], tương đương khoảng 1,6 triệu trẻ em được sinh ra
hàng năm, tức là có xấp xỉ con số đó phụ nữ trong giai đoạn sau sinh. Sau
sinh sự tiêu hao sức khỏe và năng lượng cho cuộc đẻ là rất lớn, là thời kì hồi
phục về cấu tạo và chức năng của các cơ quan sinh sản, với thời gian là 42
ngày, thời gian để sản phụ hồi phục và có khả năng lao động được là 4 – 6
tháng [3]. Vì vậy, cần phải thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lí như thế nào để
vừa đảm bảo sức khỏe cho mẹ và chất lượng nguồn sữa cho bé. Đã có nhiều
công trình nghiên cứu về phụ nữ giai đoạn sau sinh nhưng còn tập chung chủ
yếu ở các vấn đề về hậu sản, cách chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ, các biện pháp


-2-

tránh thai,… mà lại rất ít nghiên cứu về vấn đề dinh dưỡng cho phụ nữ trong
giai đoạn rất cần phải bổ sung này. Đó là vấn đề cần đặt ra cho các cán bộ
dinh dưỡng và các nhà nghiên cứu.
Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng là bệnh viện chuyên khoa phụ sản địa
phương được thành lập sớm nhất tại miền Bắc. Với chặng đường hơn 30 năm
cố gắng phấn đấu nỗ lực, bệnh viện đã phát triển mạnh mẽ, bền vững, luôn
xứng đáng là một trung tâm sản – phụ khoa của khu vực Duyên hải Bắc Bộ.
Trong những năm gần đây số sản phụ đẻ tại bệnh viện luôn giữ ở mức cao.
Theo thống kê của bệnh viện chỉ tính riêng năm 2015 đã có 13.752 sản phụ
sau sinh bao gồm cả đẻ thường và đẻ mổ [13]. Như vậy đòi hỏi nhu cầu của
họ về chăm sóc nói chung và nhu cầu dinh dưỡng nói riêng là rất lớn. Tại đây,
cũng đã có một số nghiên cứu về chăm sóc sau sinh có đề cập đến vấn đề dinh
dưỡng, nhưng việc đề cập lại chưa đầy đủ.
Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và
một số yếu tố liên quan đến kiến thức về dinh dưỡng của các bà mẹ sau sinh
tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2016” với hai mục tiêu chính:
1. Mô tả thực trạng kiến thức về dinh dưỡng của các bà mẹ sau sinh tại
bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2016.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức về dinh dưỡng của các
bà mẹ sau sinh tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2016.


-3-

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đại cương về dinh dưỡng
Ăn uống là một trong những nhu cầu quan trọng nhất của con người. Cơ
thể con người cần sử dụng thức ăn để duy trì sự sống, tăng trưởng, thực hiện
các chức phận bình thường của các cơ quan, các mô trong cơ thể và đảm bảo
tạo ra năng lượng cho lao động, các hoạt động khác của con người. Ăn uống
không chỉ đáp ứng nhu cầu cần thiết của cơ thể mà còn giúp duy trì, nâng cao
sức khỏe và tăng tuổi thọ. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu đã chứng minh ăn uống
còn có mối liên quan chặt chẽ đến sức khỏe và bệnh tật. Nếu ăn uống không
hợp lý, không đảm bảo vệ sinh thì cơ thể con người sẽ phát triển kém, không
khỏe mạnh và dễ mắc bệnh tật [4].
Các giai đoạn phát triển của con người từ khi còn là bào thai trong bụng
mẹ, sinh ra, lớn lên và trưởng thành cho đến tuổi già đều chịu ảnh hưởng hoặc
mắc bệnh bởi chế độ dinh dưỡng không hợp lý. Điều này không chỉ ảnh
hưởng đến cuộc đời của một con người mà còn để lại hậu quả cho thế hệ mai
sau. Người phụ nữ khi mang thai nếu thiếu dinh dưỡng, tăng cân ít có nguy cơ
sinh ra đứa trẻ có cân nặng sơ sinh thấp, vòng đầu và chiều dài cơ thể thấp
hơn. Những đứa trẻ này có nguy cơ tử vong cao hơn, khi trưởng thành cũng
có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính, phát triển trí tuệ kém… Đối với trẻ sơ
sinh và trẻ nhỏ, sữa mẹ không những là nguồn đạm và các vi chất quan trọng
mà còn là nguồn năng lượng quý giá đáp ứng đủ cho nhu cầu của trẻ trong
vòng 4 – 6 tháng đầu [4].
Các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể gồm 2 nhóm: Các chất sinh
năng lượng bao gồm đạm (protid), chất béo (lipid), các chất đường bột


-4-

(glucid); các chất không sinh năng lượng bao gồm các vitamin, chất khoáng
và nước [12].
1.2. Tầm quan trọng của dinh dưỡng bà mẹ sau sinh
Trong thời gian chuyển dạ và thực hiện cuộc đẻ, bà mẹ đã tốn rất nhiều
năng lượng do phải gắng sức, lo lắng, mất máu, đau… Do đó sau khi sinh cơ
thể người mẹ cần được bổ sung chất dinh dưỡng để bù đắp lại năng lượng đã
tiêu tốn, phục hồi cấu trúc chức năng các cơ quan trong cơ thể, ngoài ra còn
để đảm bảo sữa nuôi trẻ cũng như thể lực cho việc chăm sóc trẻ sau này.
Người mẹ bình thường có thể tạo sữa đủ để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng
(NCDD) của trẻ đến 6 tháng tuổi. Vì vậy dinh dưỡng của mẹ trong thời kì này
được xem xét và cân nhắc dựa vào số lượng sữa cho con bú và quá trình phát
triển của đứa trẻ. Năng lượng và các chất dinh dưỡng khác mà người mẹ đã
dự trữ trong thời kì mang thai được cung cấp cho quá trình tạo sữa. Trong 6
tháng đầu trung bình một người mẹ một ngày cho con bú tiết ra 600 – 800 ml
sữa [2].
Một nghiên cứu của Đại học California về sữa mẹ cho thấy số lượng và
thành phần sữa mẹ chịu ảnh hưởng bởi chế độ ăn uống của mẹ. Hàm lượng
một số chất khoáng chính như calci, phospho, magie, natri, kali trong sữa mẹ
không bị ảnh hưởng bởi khẩu phần ăn của mẹ. Tuy nhiên, một số yếu tố vi
lượng khác như selen, iod trong sữa mẹ liên quan đến chế độ ăn của người
mẹ. Hàm lượng vitamin trong sữa mẹ phụ thuộc vào lượng vitamin khẩu phần
và dự trữ trong cơ thể người mẹ, tuy nhiên có sự khác nhau với mỗi loại
vitamin. Khi người mẹ có chế độ ăn thành phần vitamin thấp kéo dài sẽ dẫn
đến hàm lượng các vitamin trong sữa giảm đáng kể [2], [23].
Các chất dinh dưỡng có trong sữa mẹ bao gồm các chất đa lượng (protid,
lipid, glucid) và vi lượng (vitamin, chất khoáng) đều rất thích hợp với nhu cầu


-5-

phát triển của trẻ. Ngoài ra, trong sữa mẹ còn có các enzyme, hormone, yếu tố
phát triển, kháng thế và các chất giúp cho phát triển hệ vi khuẩn có ích trong
ruột [20].
1.3. Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị của bà mẹ thời kì sau sinh
Theo NCDDKN cho người Đông Nam Á (SEA – RDA 2005): Để cung
được 100 ml sữa, khẩu phần ăn của mẹ cần tăng khoảng 80 – 95 kcal. Do đó
nhu cầu năng lượng của bà mẹ thời kì sau sinh cần tăng thêm [32].
Nếu các bà mẹ khi chưa có thai và trong thời kỳ mang thai vốn đã được
ăn uống dinh dưỡng tốt (tăng được 9 - 12kg) thì sau sinh năng lượng cần tăng
thêm 505 Kcal/ngày.
Nếu trong thời gian chưa có thai và trong thời kỳ mang thai bà mẹ ăn
uống không tốt, có mức tăng cân ít hơn 9kg thì cần phải ăn nhiều và đa dạng
hơn các loại thực phẩm khác nhau sao cho năng lượng tăng thêm 675
Kcal/ngày.
1.3.1. Nhu cầu các chất sinh năng lượng (protein, lipid, glucid)
1.3.1.1. Protein
Lượng hấp thu protein ở bà mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết
sữa. Chất và lượng protein trong bữa ăn của bà mẹ không đủ có thể khiến
lượng sữa mẹ tiết ra giảm đi và ảnh hưởng đến protein trong sữa mẹ, nên việc
cung cấp protein đầy đủ, chất lượng tốt cho bà mẹ thời kì sau sinh là cực kì
quan trọng.
Hiện nay, nhu cầu protein khuyến nghị cho người trưởng thành vẫn để
mức tối thiểu là 1,25g/kg/ngày theo Tổ chức nông nghiệp và thực phẩm của
Liên hợp quốc, Tổ chức Y tế Thế giới, Đại học Tổng hợp Liên hợp quốc


-6-

(FAO/WHO/UNU, (1985) do trên thực tế mức tiêu thụ protein và chất lượng
protein đã tăng lên (hệ số sử dụng protein ước tính bằng 70) [25].
Nhu cầu protein được tăng thêm ở bà mẹ sau sinh so với nhu cầu bình
thường. Cụ thể, nhu cầu bình thường dành cho bà mẹ cho con bú 6 tháng đầu
tăng 23g protid/ngày (từ 20 – 25g); bà mẹ cho con bú các tháng sau nhu cầu
bình thường tăng 17g protid/ngày (16 – 19g) [9]. Theo bảng thực đơn ăn uống
theo NCDD của bà mẹ và trẻ em Việt Nam, bà mẹ sau sinh nên nên ăn từ 400
– 500g các loại thực phẩm giàu protein như: thịt, cá, đậu phụ… [8].
Với năng lượng do protein cung cấp giao động từ 12 – 14% tổng số năng
lượng (trong đó protein động vật chiếm 30 – 35% tổng số protein) [9].
Nguồn thực phẩm: Protein có nhiều trong thức ăn có nguồn gốc động vật
như thịt, cá, trứng, sữa, tôm, cua, ốc, hến, phủ tạng… Protein cũng có trong
thức ăn có nguồn gốc thực vật như các loại đậu đỗ, lạc, vừng… [17].
1.3.1.2. Lipid
Từ lâu, khoa học đã chứng minh rằng lipid là nguồn năng lượng cao nhất
(1gam lipid vào cơ thể cung cấp 9,3 kcal, cao gấp hơn 2 lần so với protein 4,1
kcal/1gam và glucid 4,1 kcal/1gam). Lipid là nguồn cung cấp các acid béo,
đồng thời là chất vận chuyển (carrier) các vitamin tan trong dầu mỡ (như
vitamin A, D, E và K). Giá trị sinh học của các vi chất dinh dưỡng tan trong
dầu mỡ này phụ thuộc vào khả năng hấp thu lipid của cơ thể [9].
Khi tiêu thụ quá ít lipid sẽ ảnh hưởng đến chức phận của nhiều cơ quan
tổ chức trong cơ thể, đặc biệt là não bộ và thần kinh ở trẻ nhỏ. Hậu quả là trẻ
sẽ bị chậm tăng trưởng và suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng.
Ngược lại, tiêu thụ quá nhiều lipid có thể dẫn đến bệnh thừa cân - béo
phì, mà tình trạng này có mối quan hệ thân thiết với các bệnh mạn tính không


-7-

lây và hội chứng rối loạn chuyển hoá lipid; xử trí thừa cân – béo phì và các
bệnh này là hết sức khó khăn, vất vả.
Theo WHO, FAO (1993), trên cơ sở khuyến cáo của FAO/WHO/UNU
(1985), Viện Dinh dưỡng – Bộ Y tế khuyến nghị năng lượng lipid đối với bà
mẹ sau sinh ở mức 20 – 25%, tối đa có thể tăng lên tới 30% năng lượng của
khẩu phần. Tuy nhiên, cần phải luôn ghi nhớ rằng trong bữa ăn hàng ngày tỷ lệ
lipid động vật/lipid tổng số hiện nay không nên vượt quá 60% [25]. Theo bảng
thực đơn ăn uống theo NCDD của bà mẹ và trẻ em Việt Nam, bà mẹ sau sinh
nên ăn từ 20 – 25 gam/ngày dầu thực vật và mỡ động vật [8].
Nguồn thực phẩm: Thức ăn có nguồn gốc đông vật có hàm lượng lipid
cao là thịt mỡ, mỡ cá, bơ, sữa, pho mát, lòng đỏ trứng… Thực phẩm có nguồn
gốc thực vật có hàm lượng lipid cao là dầu thực vật, lạc, vừng, đậu tương, hạt
điều, hạt dẻ, cùi dừa… [17].
1.3.1.3. Glucid
Do chiếm khối lượng lớn nhất trong các bữa ăn hàng ngày nên glucid là
nguồn cung cấp nhiều năng lượng nhất cho cơ thể (1 gam glucid cung cấp 4
kcal), trong đó lương thực là nguồn cung cấp năng lượng chính [9].
Theo Viện Dinh dưỡng – Bộ Y tế, hiện nay chúng ta có thể tham khảo
SEA-RDAs về nhu cầu glucid khuyến nghị cho bà mẹ sau sinh là 61 – 70%
năng lương khẩu phần [32]. Theo bảng thực đơn ăn uống theo NCDD của bà
mẹ và trẻ em Việt Nam, bà mẹ sau sinh nên ăn từ 500 – 600 các loại thực
phẩm giàu glucid [8].
Nguồn thực phẩm: có nhiều trong lương thực bao gồm gạo, ngô, mì,
khoai củ… Ngoài ra glucid còn có trong đậu tương, sữa [17].


-8-

1.3.2. Các chất không sinh năng lượng
1.3.2.1. Vitamin
Vitamin là nhóm chất hữu cơ cần thiết cho cơ thể. Theo tính chất hòa
tan, người ta chia vitamin thành hai nhóm: Nhóm vitamin tan trong dầu và
nhóm vitamin tan trong nước.
* Nhóm vitamin tan trong dầu, được hấp thu qua sữa mẹ gồm các
vitamin: A, D, E, K.
- Vitamin A có vai trò duy trì tình trạng bình thường của biểu mô, sự bền
vững của màng tế bào, có vai trò quan trọng đối với chức phận thị giác, giúp
cơ thể tăng trưởng và tăng cường khả năng miễn dịch [7]. Nhu cầu vitamin A
khuyến nghị cho bà mẹ sau sinh là 850 mcg/ngày [5]. Nguồn vitamin A trong
thức ăn có nguồn gốc động vật bao gồm gan động vật, thịt, trứng… và thức ăn
có nguồn gốc thực vật bao gồm quả đỏ, rau xanh thẫm, dầu cọ và các loại dầu
ăn khác [17].
Cơ thể không tự tổng hợp được vitamin A mà phải lấy từ thức ăn. Vì vậy,
nguyên nhân chính gây thiếu vitamin A là do chế độ ăn nghèo vitamin A và
caroten (caroten là chất đi vào cơ thể sẽ được chuyển hóa thành vitamin A).
Nếu bữa ăn đủ vitamin A nhưng lại thiếu đạm và dầu mỡ cũng làm giảm khả
năng hấp thu và chuyển hóa vitamin A. Ở trẻ đang bú mẹ thì nguồn vitamin A
là sữa mẹ, trong thời kì này nếu chế độ ăn của mẹ thiếu vitamin A thì sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến con. Vì vậy, Viện Dinh Dưỡng đưa ra giải pháp bổ sung
uống một liều vitamin A (200.000 đơn vị) cho các bà mẹ trong vòng 1 tháng
đầu sau sinh [15].
- Vitamin D giúp cơ thể sử dụng tốt calci và phospho để hình thành và duy trì
hệ xương, răng vững chắc [7]. Nhu cầu vitamin D được khuyến nghị cho bà
mẹ sau sinh là: 5 mcg/ngày [5]. Nguồn cung cấp trong tự nhiên có rất ít thực


-9-

phẩm có lượng đáng kể vitamin D. Các thực phẩm có vitamin D gồm một số
dầu gan cá, nhất là ở các loại cá béo, trứng gà được nuôi có bổ sung vitamin
D, dầu tăng cường vitamin D hoặc các thức ăn bổ sung khác như bột ngũ cốc,
bột mỳ, các sữa được tách béo… [17].
- Vitamin E: là một trong những chất chống oxy hóa chủ yếu bảo vệ cơ thể
(theo Viện Y học Hoa Kỳ và Hội đồng dinh dưỡng và thực phẩm Hoa Kỳ
IOM-FNB (2000) [26]. Theo FAO/WHO (2002) và Philippines (2002), nhu
cầu của bà mẹ sau sinh tính bằng công thức của IOM-FNB (2000) là 18
mg/ngày [24]. Nguồn thực phẩm: nguồn vitamin E chủ yếu là các loại dầu ăn
thực vật. Nguồn vitamin E khác khá cao là các hạt ngũ cốc toàn phần và lạc.
Các loại hoa quả, rau, thịt, nhất là thịt mỡ có ít vitamin E hơn [17].
- Vitamin K: Lượng vitamin K rất thấp trong sữa mẹ, bú ít là các yếu tố gây
thiếu vitamin K ở trẻ sơ sinh. Chứng xuất huyết vào ngày đầu tiên sau sinh do
thiếu vitamin K trong sữa mẹ mà có thể dẫn đến bệnh tật và tử vong sơ sinh
đã được thế giới ghi nhận [9]. Việt Nam áp dụng mức nhu cầu vitamin K đối
với bà mẹ sau sinh là 51 mg/ngày [15]. Nguồn thực phẩm chứa vitamin K có
trong thực vật bao gồm chủ yếu là từ các loại rau có màu xanh sẫm, tiếp đến
là một vài loại dầu ăn như dầu đậu tương, dầu hướng dương và động vật bao
gồm: gan động vật, thịt, sữa [17].
* Nhóm vitamin tan trong nước: gồm các vitamin C, PP, và nhóm B.
- Vitamin B1: giúp tăng khả năng hấp thu và chuyển hóa chất dinh dưỡng.
Vitamin B1 qua sữa mẹ, và sự bổ sung vitamin B1 thời kì sau sinh làm tăng
chất lượng sữa mẹ. Hàm lượng vitamin B1 trong sữa mẹ ở những bà mẹ
không bổ sung vitamin B1 được xem là không đủ [9]. Theo (IOM, 1997) và
FAO/WHO (2002) được chấp nhận cho các nước khu vực và Việt Nam nhu


- 10 -

cầu vitamin B1 đối với bà mẹ sau sinh là 1,5 mg/ngày [27]. Vitamin B1 có
nhiều trong cám gạo (lớp màng ngoài của hạt gạo) [17].
- Vitamin B2: rất cần thiết cho sự phát triển và sinh sản. Có chức năng là một
phần trong nhóm enzym phân giải và sử dụng các chất protid, lipid, glucid.
Vitamin B2 rất cần thiết cho quá trình hô hấp tế bào vì hoạt động cùng enzym
trong việc sử dụng oxy. Vitamin B2 cũng rất cần thiết cho mắt, da, móng tay
và tóc [9]. Theo Viện Dinh Dưỡng nhu cầu vitamin B2 đối với bà mẹ sau sinh
là 1,6 mg/ngày [5]. Nguồn cung cấp vitamin B2 có trong thực phẩm tốt nhất là
phủ tạng, sữa, rau xanh, pho mát, và trứng. Các thực phẩm khác gồm bánh mì
có tăng cường vitamin B2, thịt nạc, ngũ cốc thô [17].
- Vitamin B3: cần thiết cho quá trình tổng hợp protein, chất béo và đường 5
carbon, là những coenzym cần thiết cho quá trình chuyển hóa năng lượng,
nâng cao hiệu quả lưu thông và giảm nồng độ cholesterol trong máu, là chất
quan trọng sống còn cho hoạt động hợp lí của hệ thần kinh, hình thành và duy
trì làn da, lưỡi và hệ thống tiêu hóa khỏe mạnh. Vitamin B3 cũng rất cần thiết
cho quá trình tổng hợp hormon sinh dục [9]. Viện Dinh Dưỡng đã khuyến cáo
đối với bà mẹ sau sinh nhu cầu vitamin B3 là 17 mg NE/ngày [5]. Nguồn cung
cấp vitamin B3 rất phổ biến trong thực phẩm, trong đó các sản phẩm men là
nhiều nhất. Thịt, cá cũng giàu vitamin B3. Thực phẩm giàu vitamin B2 như
gan, ngũ cốc thô, các loại hạt và đậu cũng là nguồn thực phẩm tốt cung cấp
vitamin B3. Sữa, rau xanh và cá cũng có một lượng đáng kể. Hiện nay, rất
nhiều loại ngũ cốc và bánh mì đã được tăng cường vitamin B3 [17].
- Vitamin B6: tham gia vào quá trình chuyển hóa protein, hỗ trợ tạo máu [7].
Theo Viện Dinh Dưỡng nhu cầu vitamin B3 đối với bà mẹ sau sinh là 2
mg/ngày [5]. Vitamin B6 có trong ngũ cốc, rau quả với hàm lượng 0,1 - 0,3
mg/100g; Tuy nhiên do thực phẩm nguồn gốc thực vật có nhiều dẫn chất


- 11 -

glucosid nên giá trị sinh học của vitamin B6 thấp. Thực phẩm nguồn động vật
có từ 0,5 - 0,9mg B6/100g [9].
- Vitamin B9: hòa tan trong nước, có chức năng trong phản ứng di chuyển một
carbon và tồn tại trong nhiều cấu trúc hóa học [7]. Theo Viện Dinh Dưỡng
nhu cầu vitamin B9 đối với bà mẹ sau sinh là 500 mcg/ngày [5]. Nguồn thực
phẩm: có nhiều trong phủ tạng động vật, lớp ngoài của các hạt gạo, ngô, mì,
đậu, lạc… [17].
- Vitamin B12: giúp tạo hồng cầu, giữ cho các tổ chức của hệ tiêu hóa và hệ
thần kinh được tốt [7]. Áp dụng nhu cầu khuyến nghị của IOM-FNB (1998)
và FAO/WHO (2002) đối với bà mẹ sau sinh là 2,8 mcg/ngày [30]. Nguồn
thực phẩm: vitamin B12 phần lớn là sản phẩm do vi sinh vật tổng hợp. Ở người
B12 được vi sinh vật tổng hợp trong đường ruột nhưng chỉ được hấp thu rất ít
còn đa số bị đào thải qua phân. Vitamin B12 có nhiều trong các thực phẩm
nguồn động vật [17].
- Vitamin C: là chất chống oxy hóa để bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân
gây oxy hóa có hại, giúp hấp thu và sử dụng sắt; calci và acid folic, làm tăng
cường chức năng miễn dịch [7]. Theo Viện Dinh Dưỡng nhu cầu đối với bà
mẹ sau sinh là 95 mg/ngày [5]. Hoa quả tươi và rau xanh rất giàu vitamin C là
những thực phẩm rất sẵn có tại Việt nam và các nước Đông Nam Á [17].
1.3.2.2. Chất khoáng
Các chất khoáng có vai trò rất quan trọng cho việc vận chuyển và quá
trình khoáng hoá, tích hợp các chất khoáng hình thành hệ xương và răng vững
chắc, đảm bảo chức phận thần kinh và sự đông máu bình thường, duy trì các
chức phận của cơ thể. Dựa trên khuyến nghị của FAO/WHO (2002), có tham
khảo NCDDKN (SEA-RDAs, 2005) [32].


- 12 -

- Calci giúp cơ thể hình thành hệ xương, răng vững chắc, đảm bảo chức phận
thần kinh và sự đông máu bình thường. Đồng thời, tất cả các quá trình chuyển
hoá trong cơ thể đều cần calci, vì vậy nồng độ calci trong cơ thể được duy trì
không thay đổi [7]. Hiện nay, chúng ta áp dụng nhu cầu khuyến nghị về calci
cho bà mẹ sau sinh là 1.000 mg/ngày [5]. Ở các nước phương tây, nguồn thực
phẩm cung cấp calci hầu hết là các sản phẩm chế biến từ sữa, trong khi ở Việt
Nam và các nước Đông Nam Á nguồn cung cấp calci quan trọng là các sản
phẩm từ đậu, ngũ cốc, rau xanh, nhất là cá và hải sản [17].
- Phospho: là chất khoáng có nhiều thứ hai trong cơ thể, phospho vừa có vai
trò hình thành và duy trì hệ xương và răng vững chắc và duy trì các chức phận
của cơ thể [7]. Viện Dinh Dưỡng – Bộ Y tế đã đưa ra nhu cầu phospho cho bà
mẹ sau sinh là 700 mg/ngày [5]. Nguồn thực phẩm động vật và thực vật chứa
phospho đều rất có sẵn ở mọi nơi. Phospho trong thức ăn nguồn động vật có
giá trị sinh học cao hơn phospho trong thức ăn thực vật [17].
- Sắt: cùng với protein tạo thành huyết sắc tố (hemoglobin), là yếu tố vận
chuyển O2 và CO2, phòng bệnh thiếu máu và tham gia vào thành phần các
men oxy hóa khử [7].
Giới hạn tiêu thụ sắt: Bình thường, có mức giới hạn tiêu thụ tối đa là 45
mg/ngày (IOM, 2001) [28]. Đối với bà mẹ sau sinh nhu cầu bình thường tăng
khoảng 24 – 28 mg/ngày [14].
Nguồn thực phẩm: Thành phần sắt chứa trong các thực phẩm ở 2 dạng: dạng
sắt heme hoặc không heme. Dạng sắt heme có trong thức ăn nguồn gốc động
vật, trừ trứng và sữa. Sắt heme có thể dễ dàng được hấp thu ở ruột, trong khi
hấp thu sắt không hem phụ thuộc vào sự có mặt của một số chất làm tăng
cường hay cản trở hấp thu sắt. Vitamin C, protid động vật và các acid hữu cơ
trong hoa quả và rau có tác dụng làm tăng khả năng hấp thu chất sắt không


- 13 -

heme. Các chất ức chế hấp thu sắt thường có trong các thực phẩm nguồn gốc
thực vật, như phytat ở trong gạo và các loại ngũ cốc. Chất ức chế khác là
tanin trong một số loại rau, trà và cà phê. Vì vậy, hàm lượng sắt của thực
phẩm không nhất thiết phản ánh sự đầy đủ sắt trong chế độ ăn, nhu cầu sắt
phụ thuộc vào lượng sắt có thể hấp thu được trong khẩu phần [9], [17].
Lượng sắt thực tế hiện nay trong bữa ăn của bà mẹ chỉ đạt khoảng 30 – 50%
nhu cầu. Do vậy, Viện Dinh Dưỡng đưa ra giải pháp bổ sung ngay từ khi có
thai cần kết hợp ăn uống tốt với uống viên sắt đều đặn, mỗi ngày một viên
(60mg sắt) cho tới sau khi sinh 1 tháng [15].
- Iod: Lượng tiêu hao nhiệt năng của người mẹ đang cho con bú rất lớn, lượng
hấp thụ Iod cũng theo đó tăng lên. Hàm lượng iod trong sữa mẹ cao hơn nồng
độ trong huyết tương, iod trong cơ thể mẹ sẽ tiết ra trong sữa mẹ [7]. Theo
Viện Dinh Dưỡng nhu cầu iod cho bà mẹ sau sinh là 200 mcg/ngày [5].
Nguồn cung cấp iod trong thực phẩm như muối Iod, nước chấm và bột gia vị
mặn như: nước mắm, nước tương, bột canh…; cá biển, rong biển… [17].
- Kẽm: Kẽm giúp cơ thể chuyển hóa năng lượng và hình thành các tổ chức,
giúp trẻ ăn ngon miệng và phát triển tốt. Nhu cầu kẽm: áp dụng khuyến nghị
của SEA-RDAs (2005) [32].
Nhu cầu Kẽm (mg/ngày)
Nhóm tuổi, giới và
tình trạng bệnh lý

Với mức

Với mức

Với mức

hấp thu tốt

hấp thu vừa

hấp thu kém

Bà mẹ

0 - 3 tháng

5,8

9,5

19,0

sau

4 - 6 tháng

5,3

8,8

17,8

sinh

7 - 12 tháng

4,3

7,2

14,4


- 14 -

Nguồn thực phẩm bổ sung Kẽm: có nhiều trong các loại thực phẩm có nguồn
gốc động vật: thịt gia súc, gia cầm, cá, tôm, cua… Thực phẩm có nguồn gốc
thực vật thường chứa ít kẽm trừ phần mầm của các loại hạt [17].
1.3.2.3. Chất xơ
Tuy hầu hết các chất xơ không có giá trị dinh dưỡng, nhưng lại có rất
nhiều tác dụng đối với cơ thể. Chất xơ có tác dụng nhuận tràng, kích thích khả
năng hoạt động của ruột già, tăng khả năng tiêu hóa, đồng thời cũng là tác
nhân tham gia thải loại các sản phẩm oxi hóa, các chất độc hại trong thực
phẩm ra khỏi cơ thể; hấp thụ một số chất có hại cho sức khoẻ. Ngoài ra, chất
xơ còn có tác dụng làm giảm lượng cholesterol trong máu, giảm các bệnh tim
mạch, điều hòa glucose huyết và làm giảm đậm độ năng lượng trong khẩu
phần ăn [9]. Nguồn thực phẩm giàu chất xơ có trong rau, hoa quả, ngũ cốc
(nhất là các hạt toàn phần) và khoai củ. Các loại thực phẩm đã tinh chế như
bột mì, bột gạo… lượng chất xơ bị giảm đáng kể, nên chỉ còn rất ít [17].
Theo IOM (2002) và SEA-RDAs (2005), nhu cầu chất xơ đối với bà mẹ
sau sinh là 22 – 25 g/ngày [29], [32]. Theo bảng thực đơn ăn uống theo
NCDD của bà mẹ và trẻ em Việt Nam, bà mẹ sau sinh nên ăn từ 500 – 650
g/ngày các loại hoa quả và rau xanh để đảm bảo cung cấp đủ chất xơ, vitamin
và chất khoáng cho cơ thể [8].
1.3.2.4. Nước
Nước chiếm 50% trọng lượng cơ thể người nữ trưởng thành. Muốn bảo
đảm tiêu hóa, hấp thu và sử dụng tốt lương thực và thực phẩm thì cơ thể cần
phải có nước dưới dạng đồ uống hoặc ăn vào cùng với các loại thức ăn. Ngoài
việc cung cấp nước cho các nhu cầu của cơ thể, bà mẹ sau sinh cần phải đảm
bảo đủ lượng nước cho cả sự tiết sữa [9]. Theo Whitnmire SJ (2000), nhu cầu
nước đối với bà mẹ thời kì sau sinh là 2000 – 3000 ml/ngày [33].


- 15 -

1.4. Thực trạng dinh dưỡng của bà mẹ thời kì sau sinh trên thế giới và ở
Việt Nam
1.4.1. Thực trạng dinh dưỡng của bà mẹ thời kì sau sinh trên thế giới
Khác với dinh dưỡng của PNMT xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 ở Châu Âu
cũng như ở Bắc Mỹ và đến nay đã được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới,
dinh dưỡng của bà mẹ thời kì sau sinh gần đây mới được quan tâm đúng mức.
Nhìn chung số liệu về dinh dưỡng của phụ nữ sau sinh là tương đối hiếm và
rất khác nhau giữa các vùng trên thế giới [21].
Một nghiên cứu của Ongosi và các đồng nghiệp năm 2010 ở một vùng
kinh tế - xã hội thấp tại Nairobi trên tổng số 120 phụ nữ sau sinh tham gia cho
thấy 92% có mức năng lượng trung bình 6.975,5 KJ/ngày, thấp hơn so với
khuyến cáo của WHO là 11340 KJ/ngày. Tần suất tiêu thụ cao nhất (100%) là
từ ngũ cốc, thấp nhất là vitamin A (6,6%) và các sản phẩm từ sữa (1,7%). Đa
số phụ nữ sau sinh (93%) có kiến thức dinh dưỡng tốt nhưng lí do cho việc áp
dụng những kiến thức dinh dưỡng còn thiếu là: tình trạng kinh tế - xã hội,
niềm tin và thực hành văn hóa, tình trạng sức khỏe đều là yếu tố được xác
định ảnh hưởng đến chế độ ăn uống của đối tượng nghiên cứu trên [22].
Kết quả nghiên cứu kiến thức dinh dưỡng của Risvan Javed và các
đồng nghiệp năm 2014 ở Mangalore trên 60 phụ nữ sau sinh cho thấy 17%
phụ nữ có kiến thức tốt, 49% phụ nữ có kiến thức trung bình, 34% phụ nữ có
kiến thức kém. Không có sự liên quan đáng kể giữa các độ tuổi, tôn giáo, tình
trạng giáo dục, nghề nghiệp, thu nhập hàng tháng, thói quen ăn uống với kiến
thức dinh dưỡng của phụ nữ sau sinh [31].
1.4.2. Thực trạng dinh dưỡng của bà mẹ thời kì sau sinh ở Việt Nam
Báo cáo tóm tắt tổng điều tra dinh dưỡng 2009 – 2010 cho thấy tỷ lệ
thiếu năng lượng trường diễn (CED) ở bà mẹ có con dưới 5 tuổi đã giảm hẳn


- 16 -

so với 10 năm trước. Tỷ lệ này giảm từ 26,7% vào năm 2000 xuống còn
20,6% vào năm 2010 [18].
Tỷ lệ bà mẹ trẻ dưới 30 tuổi có tỷ lệ CED cao hơn hẳn so với nhóm tuổi
30 – 49. Cũng theo Báo cáo tóm tắt tổng điều tra dinh dưỡng năm 2009 –
2010: tỷ lệ thiếu máu ở PNMT là 36,5%. Chỉ có dưới 1/5 số bà mẹ có trẻ dưới
5 tuổi được uống viên sắt trong 6 tháng qua [18].
Việc bổ sung vitamin A đối với bà mẹ sau sinh lại chưa hiệu quả. Tại
buổi họp báo công bố ngày vi chất dinh dưỡng mới đây, PGS.TS Lê Thị Hợp
Viện trưởng Viện Dinh dưỡng cho biết, các báo cáo từ địa phương đều cho
biết tỷ lệ bà mẹ được uống vitamin A trong 1 tháng sau sinh luôn là 80% 90%, nhưng thực tế trong đợt phỏng vấn trực tiếp bà mẹ gần nhất, con số này
chỉ đạt 60% [10]. Theo đó, tỉ lệ bà mẹ ở nông thôn thiếu vitamin A (đo bằng
lượng vitamin A trong sữa mẹ) đang lên đến 30% - 50%. Ở các thành phố
như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ này có thấp hơn nhưng cũng ở
mức 20%, chứng tỏ khẩu phần ăn của bà mẹ đang bị thiếu hụt vi chất. Vì thế,
việc bổ sung vitamin A trong vòng 1 tháng sau sinh rất quan trọng giúp tăng
hàm lượng vitamin A trong sữa nhưng triển khai việc này lại chưa hiệu quả.
PGS.TS Lê Thị Hợp cho biết, với các bà mẹ sau sinh để uống được vitamin
A, hệ thống y tế ở các vùng nông thôn thực hiện hiệu quả hơn nhờ quản lí thai
sản tốt và có hệ thống cộng tác viên dinh dưỡng. Sau sinh bà mẹ có thể đến
trạm y tế xã, phường để được uống vitamin A. Còn ở các vùng thành thị, việc
bổ sung vitamin A cho các bà mẹ sau sinh chủ yếu thực hiện tại bệnh viện,
nhưng hệ thống bệnh viện thực hiện việc này không hiệu quả. Vì thế, để đảm
bảo quyền lợi cũng như mang lại nguồn chất lượng sữa tốt nhất cho em bé,
các bà mẹ sau sinh có thế đến phường, sở để đăng kí uống vitamin A 1 tháng
sau sinh [10].


- 17 -

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm 200 bà mẹ sau sinh tại bệnh viện Phụ
sản Hải Phòng.
* Tiêu chuẩn lựa chọn
- Tất cả các bà mẹ tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu.
* Tiêu chuẩn loại trừ
- Phụ nữ sau sảy thai, thai chết lưu.
- Phụ nữ có các rối loạn tâm thần.
- Phụ nữ không đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2016.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.2.2. Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
* Cỡ mẫu
Nghiên cứu được tiến hành với công thức tính cỡ mẫu:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×