Tải bản đầy đủ

TÌM HIỂU về ỨNG DỤNG của bạc

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT LÝ TỰ TRỌNG

CHỦ ĐỀ
TÌM HIỂU VỀ ỨNG DỤNG CỦA BẠC
GVHD: TRƯƠNG THỊ HỒNG PHƯƠNG
SVTH: LÊ VĂN HIẾU
12/2014

1


MỤC LỤC
I: KHÁI NIỆM VÀ THUỘC TÍNH

1

1: KHÁI NIỆM
2: THUỘC TÍNH
II: NGUỒN GÓC CỦA BẠC


2

III: TÍNH CHẤT

4

1: TÍNH CHẤT VẬT LÍ
2: TÍNH CHẤT HÓA HỌC
IV: ĐẶC ĐIỂM

8

1: ĐỘ CỨNG
2: HÌNH DẠNG
3: CẤU TRÚC
V: CÁCH BẢO QUẢN

9

VI: ỨNG DỤNG
1: TRONG CÔNG NGHIỆP
2: TRONG ĐỜI SỐNG
VI: ẢNH HƯỞNG CỦA BẠC ĐẾN SỨC KHỎE VÀ PHÒNG NGỪA

13

2


NHẬN XÉT
………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………


………………………………………………………………………………………

3


LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn cô Hồng đã giảng dạy em trong thời gian qua và
dã cung cấp cho em kiến thức để hoàn thành bài tiểu luận này..xin cam
ơn cô……..

4


I: KHÁI NIỆM VÀ THUỘC TÍNH
1: KHÁI NIỆM
• Bạc là tên một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có
ký hiệu Ag và số hiệu nguyên tử bằng 47. Là một kim loại chuyển
tiếp màu trắng, mềm, nó có tính dẫn điện cao nhất trong bất kỳ
nguyên tố nào và có độ dẫn nhiệt cao nhất trong tất cả kim loại. Kim
loại bạc xuất hiện trong tự nhiên ở dạng nguyên chất, như bạc tự
sinh, và ở dạng hợp kim với vàng và các kim loại khác, và ở trong
các khoáng vật như argentit và chlorargyrit. Hầu hết bạc được sản
xuất là một sản phẩm phụ của điều chế đồng, vàng,chì, và kẽm.
• Bạc là kim loại quý có giá trị lâu dài, được sử dụng làm đồng tiền xu,
đồ trang sức, chén đũa và các đồ dùng trong gia đình và như một
khoản đầu tư ở dạng tiền xu và nén. Kim loại bạc được dùng trong
công nghiệp làm chất dẫn va tiếp xúc, trong gương và trong điện
phân của các phản ứng hóa học. Các hợp chất của nó được dùng
trong phim ảnh và bạc nitrat pha loãng được dùng làm chất tẩy
khuẩn. Trong khi nhiều ứng dụng kháng sinh y hoc của bạc đã được
thay thế bởi kháng sinh sinh học, nghiên cứu lâm sàng sâu hơn vẫn
đang tiếp tục thực hiện.
2: THUỘC TÍNH
• Bạc được tạo ra từ các nguyên tố nhẹ hơn trong Vũ trụ qua quá trình
r, một dạng của phản ứng phân hạch hạt nhân được cho là đã diễn
ra trong những thời điểm nhất định của các vụ nổ siêu tân tinh. Quá
trình này tạo ra nhiều nguyên tố nặng hơn sắt trong đó có bạc. [1]
• Bạc là kim loại mềm, dẻo, dễ uốn (cứng hơn vàng một chút), có hóa
trị một, để đúc tiền, có màu trắng bóng ánh kim nếu bề mặt có độ
đánh bóng cao. Bạc có độ dẫn điện tốt nhất trong các kim loại, cao
hơn cả đồng, nhưng do giá thành cao nên nó không được sử dụng
rộng rãi để làm dây dẫn điện như đồng. Một ngoại lệ là trong kỹ thuật
tần số radio, đặc biệt ở dải VHF và cao hơn, bạc mạ được sử dụng
để tăng tính dẫn điện của một số bộ phận như dây dẫn. Trong chiến
tranh thế giới thứ hai ở Hoa Kỳ, 13.540 tấn bạc được sử dụng

5


trong điện từ dùng để làm giàu urani, chủ yếu là do thời chiến khan
hiếm đồng.[2][3][4]
• Bạc nguyên chất có độ dẫn nhiệt cao nhất, màu trắng nhất, độ phản
quang cao nhất (mặc dù nó là chất phản xạ tia cực tím rất kém),[5] và
điện trở thấp nhất trong các kim loại. Các muối halogen của bạc nhạy
sáng và có hiệu ứng rõ nét khi bị chiếu sáng. Kim loại này ổn định
trong không khí sạch và nước, nhưng bị mờ xỉn đi trong ôzôn, axít
clohydrit, hay không khí có chứa lưu huỳnh. Trạng thái ôxi hóa ổn
định nhất của bạc là +1 (chẳng hạn như nitrat bạc: AgNO3); ít gặp
hơn là một số hợp chất trong đó nó có hóa trị +2 (chẳng hạn
như florua bạc (II): AgF2) và +3 (chẳng hạn như tetrafluoroargentat
kali: K[AgF4]).[6]

II: NGUỒN GÓC CỦA BẠC
• Ký hiệu của bạc là Ag có nguồn gốc từ chữ Argentum trong tiếng
Latinh. Bạc đã được biết đến từ thời tiền sử, nó được nhắc tới trong
cuốn Chúa sáng tạo ra thế giới (quyển đầu của Cựu Ước), các đống
xỉ chứa bạc đã được tìm thấy ở Tiểu Á và trên các đảo thuộc biển
Aegean chứng minh rằng bạc đã được tách ra khỏi chì từ thiên niên
kỷ thứ 4 TCN.[20][21] Bạc được sử dụng trong hàng nghìn năm để trang
trí và như đồ dùng gia đình, để buôn bán và làm cơ sở cho nhiều hệ
thống tiền tệ. Trong một thời gian dài nó được coi là kim loại quý thứ
hai sau vàng.
• Sự ổn định của tiền La Mã dựa vào một mức độ cao của việc cung
cấp các thỏi bạc, mà các thợ mỏ La Mã sản xuất ra trên quy mô chưa
từng có trước khi phát hiện ra Tân Thế giới. Lúc đỉnh đạt 200
tấn/năm, ước tính khoảng 10.000 t được xoay vòng trong nền kinh tế
La Mã vào giữa thế kỷ 2, lớn hơn 5 đến 10 lần tổng lượng bạc có
được vào thời Trung cổ châu Âu và Caliphate vào khoảng năm 800.
[22][23]

Các mỏ được khai thác từ thời Laureion năm 483 TCN. [24]
• Trong mối liên quan với Mặt Trăng cũng như với đại dương và các
nữ thần Mặt Trăng, kim loại này đã được các nhà giả kim thuật nhắc


6


đến với tên Luna. Một trong những ký hiệu của giả kim thuật để chỉ
bạc là trăng lưỡi liềm với phần lưỡi về phía bên trái. Thủy ngân đã
từng được cho là một loại hình của bạc, mặc dù hai nguyên tố này là
không có liên quan gì xét theo phương diện hóa học; tên gọi của
nó hydrargyrum ("bạc lỏng") và từ tiếng Anh quicksilver chứng thực
điều đó. Trong phù hiệu học, màu bạc (argent hay silver), cũng có thể
là màu trắng. Rio de la Plata đã được đặt tên theo bạc (trong tiếng
Tây Ban Nha làplata), và nó đã được vay mượn ý nghĩa để chỉ tên
của Argentina. Khác với nhiều nguyên tố khác được đặt tên theo một
địa danh (nơi được khám phá hay là quê hương của người khám
phá), bạc là nguyên tố duy nhất có một quốc gia được đặt theo tên
nó.[25]
• Người châu Âu đã tìm thấy rất nhiều bạc ở Tân Thế
giới ở Zacatecas và Potosí, nó đã tạo ra một thời kỳ lạm phát ở châu
Âu. Ở châu Mỹ, công nghệ bạc-chì nhiệt độ cao đã được phát triển
trong các nền văn minh tiền Inca vào khoảng năm 60–120. [26]
• Bạc được tìm thấy ở dạng tự nhiên, liên kết với lưu
huỳnh, asen, antimon, hayclo trong các loại khoáng chất
như argentit (Ag2S) và silver horn (AgCl). Các nguồn cơ bản của bạc
là các khoáng chất chứa đồng, đồng-niken, vàng, chì và chì-kẽm có
ở Canada, Mexico, Peru, Úc và Mỹ. Peru, Bolivia và Mexico đã và
đang khai thác bạc từ năm 1546, và vẫn là các nước sản xuất bạc
lớn trên thế giới. Các mỏ bạc lớn như Cannington (Úc), Fresnillo
(Mexico), San Cristobal (Bolivia), Antamina (Peru), Rudna (Ba Lan),
và Penasquito(Mexico).[7] Các dự án phát triển mỏ ngắn hạn đến năm
2015 là Pascua Lama (Chile), Navidad (Argentina), Jaunicipio
(Mexico), Malku Khota (Bolivia),[8] và Hackett River (Canada).
[7]
Ở Trung Á, mỏ Tajikistan ]] được biết là một trong những nơi có
lượng bạc lớn nhất trên thế giới.[9]
• Bạc cũng được sản xuất trong quá trình làm tinh khiết đồng
bằng điện phân. Các loại bạc trong thương mại có độ tinh khiết ít
nhất 99,9% và cũng có khi cao hơn 99,999%. Mexico là nước sản
xuất nhiều bạc nhất. Theo số liệu của Bộ Kinh tế Mexico,
năm 2000 nước này sản xuất 2.747 tấn, khoảng 15% của sản lượng
thế giới hàng năm. Năm 2011, Mexico là nước sản xuất bạc lớn nhất

7


(4.500 tấn chiếm 19% sản lượng thế giớil), theo sau là Peru (4.000 t)
và Trung Quốc (4.000 t)[10]
III: TÍNH CHẤT


Tên, ký
hiệu



Bạc, Ag



Phiên âm



/ˈsɪlvər/



Hình dạng



Ánh kim trắng
bóng

1: TÍNH CHẤT VẬT LÍ
Tính chất vật lý
Màu sắc

Ánh kim trắng bóng

Trạng thái vật Chất rắn
chất
Nhiệt độ nóng 1234,93 K (961,78 °C,
chảy
1763,2 °F)
Nhiệt độ sôi

2435 K (2162 °C,
3924 °F)

Mật
độ(gần nhiệt
độ phòng)

10,49 g·cm−3(at 0 °C,
101.325 kPa)

Mật độ ở thể
lỏng

ở nhiệt độ nóng chảy:
9,320 g·cm−3

Nhiệt lượng
nóng chảy

11,28 kJ·mol−1

8


Nhiệt lượng
bay hơi

250,58 kJ·mol−1

Nhiệt dung

25,350 J·mol−1·K−1
Áp suất hơi

P (P 1 10 100 1 k 10 k
a)
ở T 128 141 157 178 205
(K) 3
3
5
2
5

100
k
243
3

2: TÍNH CHẤT HÓA HỌC
Đồng vị
Bạc trong tự nhiên là hỗn hợp của hai đồng vị ổn định Ag 107 và Ag109 với
Ag107 là phổ biến nhất (51,839%). Các đồng vị của bạc hầu hết có sự
phong phú như nhau, là một điều rất hiếm đối với các nguyên tố trong
bảng tuần hoàn. Khối lượng nguyên tử của bạc là 107,8682(2) g/mol.[11]
[12]
28 đồng vị phóng xạ đã được tìm thấy với đồng vị ổn định nhất là
109
Ag với chu kỳ bán rã 41,29 ngày, Ag111 với chu kỳ bán rã 7,45 ngày, và
Ag112 với chu kỳ bán rã 3,13 giờ. Mọi đồng vị phóng xạ còn lại có chu kỳ
bán rã không quá 1 giờ và thông thường là dưới 3 phút. Nguyên tố này
cũng có một loạt các trạng thái đồng phân của nguyên tử với ổn định nhất
là Agm-128 (t* 418 năm), Agm-110 (t* 249,79 ngày) và Agm-107 (t* 8,28 ngày).
Các đồng vị của bạc nằm trong khoảng khối lượng nguyên tử từ 93,943
amu Ag94 tới 126,936 amu Ag124.[13] Chế độ phân rã cơ bản trước khi có
đồng vị ổn định nhất, Ag107, là chiếm giữ điện tử và chế độ cơ bản sau đó
là bức xạ beta. Các sản phẩm cơ bản của phân rã trước Ag 107 là các đồng
vị của palađi (số 46) và sản phẩm cơ bản của phân rã sau là các đồng vị
của cadmi (số 48).

9


Đồng vị palađi Pd109 phân rã bằng bức xạ beta thành Ag 107 với chu kỳ bán
rã 6,5 triệu năm. Các thiên thạch chứa sắt là các vật thể duy nhất với tỷ lệ
Pd/Ag đủ cao để tính toán các tham số có thể đo được trong tính sự phổ
biến của Ag107. Ag107 do phóng xạ sinh ra lần đầu tiên được phát hiện ở
thiên thạch ở Santa Clara năm 1978.[14] Những người phát hiện cho rằng
sự hợp nhất và phân biệt của lõi sắt của các tiểu hành tinh có thể diễn ra
10 triệu năm sau các kết quả tổng hợp hạt nhân. Các tương quan Pd 107trên
Ag được quan sát trong các thiên thể, mà nó đã bị nung chảy rõ ràng kể từ
sự lớn dần lên của hệ Mặt Trời, phải phản ánh sự hiện diện của các hạt
nhân có chu kỳ sống ngắn trong thời kỳ đầu của hệ Mặt Trời. [15]
Hợp chất
Kim loại bạc dễ dàng hòa tan trong axít nitric (HNO3) tạo ra bạc
nitrat (AgNO3), một chất rắn kết tinh trong suốt nhạy sáng và dễ hòa tan
trong nước. Bạc nitrat được dùng làm chất khởi đầu trong việc tổng hợp
các hợp chất bạc khác như khử trùng, và tạo màu vàng cho thủy tinh
của kính màu. Kim loại bạc không phản ứng với axít sulfuric, nên axit này
được dùng trong làm đồ trang sức để làm sạch và loại bỏ đồng ôxit từ các
vòng bằng bạc sau khi hàn bạc hoặc ủ. Bạc dễ dàng phản ứng với lưu
huỳnh hoặc hydro sulfua H2S tạo ra bạc sulfua, một hợp chất màu tối
tương tự như xỉn của các đồng xu bạc và các vật liệu bằng bạc khác. Bạc
sulfuaAg2S cũng tạo ra râu bạc khi công-tắc điện bằng bạc được sử dụng
trong không khí giàu hydro sulfua.
4Ag + O2 + 2H2S → 2Ag2S + 2H2O
Bạc clorua (AgCl) được kết tủa từ các dung dịch bạc nitrat với sự có mặt
của các ion clorua, và các muối bạc halua khác được dùng trong sản
xuất nhũ tương phim cũng làm bằng cách tương tự, dùng các
muối bromua hoặc iodua. Bạc clorua được dùng làm điện cực thủy tinh
trong thử nghiệm pH và đo potentiometric, và làm xi-măng không màu cho
thủy tinh. Bạc iodua từng được dùng trong việc gây mưa nhân tạo. Các
bạc halua không có tính hòa tan trong các dung dịch gốc nước và được
dùng trong các phương pháp phân tích trọng lực.
Bạc oxít (Ag2O) được tạo ra khi các dung dịch bạc nitrat cho phản ứng với
bazơ, nó được dùng làm điện cực dương (anốt) trong pin đồng hồ. Bạc

10


cacbonat (Ag2CO3) được kết tủa khi cho bạc nitrat phản ứng với natri
cacbonat (Na2CO3).[16]
2 AgNO3 + 2 OH− → Ag2O + H2O + 2 NO3−
2 AgNO3 + Na2CO3 → Ag2CO3 + 2 NaNO3
Bạc fulminat (AgONC), một chất nổ rất mạnh khi chạm vào được dùng
trong kíp nổ được tạo ra bằng phản ứng giữa bạc kim loại với axít nitric với
xúc tác etanol (C2H5OH). Các hợp chất nổ bằng bạc nguy hiểm khác
như bạc azua (AgN3), được tạo ra bằng phản ứng giữa bạc nitrat với natri
azua (NaN3),[17] và bạc acetylua, được tạo ra khi bạc phản ứng với khí
acetylen.
Latent image được tạo ra khi các tinh thể bạc halua được phát triển bằng
các cho phản ứng với các dung dịch kiềm làm tác nhân ôxy hóa
như hydroquinone, metol (4-(methylamino)phenol sulfat) hoặc ascorbat,
làm ôxy hóa halua thành kim loại bạc. Các dung dịch kiềm của bạc nitrat có
thể bị khử thành bạc kim loại bằng các loại đường khử như glucose, và
phản ứng này được dùng trong tráng gương bạc và kính trang trí giáng
sinh. Các loại bạc halua hòa tan trong các dung dịch natri
thiosulfat (Na2S2O3) loại này được dùng làm tác nhân cố định ảnh, để loại
bỏ lượng bạc halua thừa trong nhũ tương ảnh sau khi rửa phim
Kim loại bạc bị ôxy hóa mạnh bởi các chất ôxy hóa như kali
permanganat (KMnO4) và kali dichromat (K2Cr2O7), và có mặt của kali
bromua (KBr); các hợp chất này được sử dụng trong nhiếp ảnh để tẩu các
hình ảnh gây ra bởi bạc, chuyển chúng thành bạc halua mà có thể được cố
định bằng thiosulfat hoặc tái phát triển để tăng cường ảnh gốc. Bạc hình
thành các dạng phức cyanua (bạc cyanua) là dạng hòa tan trong nước với
sự có mặt của các ion cyanua dư. Các dung dịch bạc cyanua được dùng
trong mạ điện bạc. Mặc dù bạc thường có trạng thái ôxy hóa +1 trong các
hợp chất, các trạng thái ôxy hóa khác cũng được biết đến như +3
trong AgF3, được tạo ra bằng phản ứng của bạc nguyên tố hoặc bạc
fluorua với krypton difluorua.

11


IV: ĐẶC ĐIỂM
1: ĐỘ CỨNG
Bạc là nguyên tố rất cứng trong hóa học và trong đời sống , sao đây là một số chỉ
số độ cứng của bạc khi được đo
Độ cứng theo thang Mohs : 2,5
Độ cứng theo thang Vickers: 24,5 MPa
Từ các chỉ số cho thấy bạc là 1 kim loại rất cứng
2: HÌNH DẠNG
Bạc có màu ánh kim trắng bóng , có trạng thái vật chất là một chất rắn
3: Cấu trúc
Bạc có số nguyên tử là : 47
Có kí hiệu nguyên tử là : Ag
Có trọng lượng nguyên tử là: 107,8682
Có điểm nóng chảy là : 961,78 °C
Có điểm sôi là : 2162 °C
4: ĐỘ BỀN
Qua các số liệu sao có thể cho ta thấy rằng Bac là kim loại có độ bền khá cao
Nhiệt độ nóng chảy :1234,93k(961,78°C ,1763,2 °F )
Nhiệt độ sôi : 2435 K (2162 °C, 3924 °F)
Nhiệt lưởng nóng chảy : 11,28 kJ·mol−1
Nhiệt lượng bay hơi : 250,58 kJ·mol−1

12


V: CÁCH BẢO QUẢN
Nên để bạc ỏ nơi có nhiệt độ thấp tránh tiếp súc với các chất như ammoniac,
muối mặn.. vv
VI: ỨNG DỤNG
1: TRONG CÔNG NGHIỆP

Kim loại này được chọn vì vẻ đẹp của nó trong sản xuất đồ trang
sức và đồ bạc, thông thường làm từ hợp kim của bạc được xem như
là bạc đủ tuổi, chứa 92,5% bạc.

Tính dễ uốn, không độc và vẻ đẹp của bạc làm cho nó có lợi
trong nha khoa để làm răng giả.

Thuộc tính xúc tác của bạc làm cho nó thành lý tưởng để sử dụng
như một chất xúc tác trong các phản ứng ôxi hóa - khử; ví dụ, việc sản
xuất fomanđêhít từ mêtanol và không khí bằng các tấm lọc bằng bạc
hay các chất kết tinh chứa tối thiểu 99,95% bạc theo trọng lượng.

Bạc được sử dụng để làm que hàn, công tắc điện và các
loại pin dung tích lớn như pin bạc-kẽm hay bạc-cadmi.

Sulfua bạc, còn được biết đến như bạc Whiskers, được tạo thành khi
các tiếp điểm điện bằng bạc được sử dụng trong khí quyển giàu sulfua
hiđrô.

Fulminat bạc là một chất nổ mạnh.

Clorua bạc có tính trong suốt và được sử dụng như chất kết dính cho
các loại kính.

Iốtđua bạc được sử dụng nhằm tụ mây để tạo mưa nhân tạo

. Ôxít bạc được sử dụng làm cực dương (anos) trong các pin đồng
hồ.
2: TRONG ĐỜI SỐNG
• Ứng dụng cơ bản nhất của bạc là như một kim loại quý và các
muối halôgen. Đặc biệt bạc nitrat được sử dụng rộng rãi trong phim
ảnh(đây là ứng dụng nhiều nhất của bạc). Các ứng dụng khác còn
có:Các sản phẩm điện và điện tử, trong đó cần có tính dẫn điện cao
của bạc, thậm chí ngay cả khi bị xỉn. Ví dụ, các bảng mạch in được
làm từ sơn bạc, bàn phím máy tính sử dụng các tiếp điểm bằng bạc.

13


Bạc cũng được sử dụng trong các tiếp điểm điện cao áp vì nó là kim
loại duy nhất không đánh hồ quang ngang qua các tiếp điểm, vì thế
nó rất an toàn.Các loại gương cần tính phản xạ cao của bạc đối với
ánh sáng được làm từ bạc như là vật liệu phản xạ ánh sáng. Các loại
gương phổ biến có mặt sau được mạ nhôm.








Bạc và ion bạc cũng giống như chì và thủy ngân có độc tính đối với
một số loại vi khuẩn, virus, nấm, nhưng bạc không có độc tính cao
đối với người. Thử nghiệm trong ống nghiệm cho thấy bạc giết chết
nhiều loại vi sinh vật.
Sử dụng bạc để ngăn ngừa nhiễm khuẩn đã biết từ thời Hy Lạp và
La Mã cổ đại. Hippocrates, ông tổ của ngành y học hiện đại, đã viết
rằng bạc có tính chất ngăn ngừa và chống lại một số loại bệnh, và
người Phoenician cổ xưa đã biết dùng những bình bạc để chứa
nước, rượu và dấm nhằm bảo quản chúng lâu hỏng. Thời trung cổ,
bạc đã được dùng để khử trùng nước và thức ăn lưu trữ, điều trị
phỏng va vết thương.
Đầu những năm 1900, mọi người thường bỏ đồng tiền bạc vào trong
bình sữa để giữ cho sữa tươi lâu (có lẽ lúc đó tủ lạnh chưa được phổ
biến). Thủy thủ tàu viễn dương và những người tiên phong Mỹ Châu
cũng hay bỏ tiền bạc vào thùng nước và rượu để bảo quản thức
uống. Năm 1920, dung dịch muối bạc được FDA (Food and Drug
Administration của Hoa Kỳ) chấp thuận cho sử dụng làm chất kháng
khuẩn. Ngày nay, nhiều loại gạc chứa bạc được thương mại hóa và
sử dụng rộng rãi để điều trị vết thương trong bệnh viện. Tính kháng
khuẩn của bạc làm tăng giá trị của những vật dụng và trang sức làm
bằng kim loại này.

chế
sát
khuẩn
Mặc dù có nhiều giả thuyết khác nhau nhưng cơ chế chính xác vè
tính sát khuẩn của bạc vẫn chưa được hiểu rõ. Một trong sồ đó là
thuyết “oligodynamic effect” (phát hiện năm 1893 bởi Swiss KW
Nägeli). Thuyết này cho rằng tính kháng khuẩn của bạc bắt nguồn từ

14









hóa tính của của ion bạc Ag+ (muối bac) hoặc bạc bị oxid hóa thành
Ag+. Ion Ag+ tạo liên kết mạnh với những hợp chất (gọi nôm na là
thức ăn của vi khuẩn) mà vi khuẩn dùng để thực hiện sự chuyển hóa
tạo năng lượng cho chúng. Những hợp chất này thường có chứa lưu
huỳnh, nitrogen và oxygen. Khi vi khuẩn liên kết với phức bạc-thức
ăn của nó chúng không thực hiện được chuyển hóa năng lượng cần
thiết, chúng trở nên mất hoạt tính và dần dần sẽ chết. Những vi
khuẩn thuộc Gram âm và dương đều bị ảnh hưởng bởi thuyết này.
Tuy nhiên vi khuẩn cũng dần dần có khả năng kháng lại bạc.
Bạc làm mất hoạt tính của enzyme bằng cách phản ứng với nhóm
thiol SH tạo thành bạc sulfide. Bạc cũng phản ứng với các nhóm
amino-, carboxyl-, phosphate-, và imidazole của enzyme và làm suy
giảm hoạt tính của enzyme lactate dehydrogenase và glutathione
peroxidase. Virus không nhạy đối với bạc nhưng sau nhiều giờ chúng
cũng bị ảnh hưởng.
Tính sát khuẩn của bạc và ion bạc được dùng trong nhiều lĩnh vực
khác nhau.
Dược
phẩm:
Bạc đã được sử dụng khá thành công trong chiến tranh thế giới thứ
nhất để ngăn ngừa sự truyền nhiễm trước khi có kháng sinh. Dung
dịch bạc nitrat được dùng như dung dịch chuẩn để bôi những vết
bỏng nặng và sau này được thay thế bằng kem silver sulfadiazine
(SSD Cream) mãi đến những năm cuối thập kỷ 90. Hiện nay, gạc phủ
bạc hoạt hóa (silver-coated dressing) (activated silver dressings),
được dùng kèm với kem SSD và chúng có tác dụng giảm đau và
thuận lợi trong việc điều trị tại gia.
Việc phổ biến sử dụng bạc trong điều trị đã giảm hẳn vì sự phát triển
của nhiều loại thuốc kháng sinh hiện đại. Tuy nhiên gần đây, bạc lại
được tái quan tâm vì có phổ sát khuẩn rộng. Đặc biệt, khi nó được
sử dụng chung với alginate, một loại polymer sinh học tự nhiên chiết
xuất từ rong biển. Một số sản phẩm bạc alginate được điều chế
nhằm ngăn ngừa việc nhiễm khuẩn trong quá trình điều trị vết

15




thương, đặc biết là đối với bệnh nhân phỏng. Các bạn đọc thành
phần các loại kem bôi điều trị phỏng lúc nào cũng có ion bạc ở trong
đó.
Rất nhiều loại dung dịch hay dạng keo có chứa bạc được thương
mại hóa để điều trị nhiều loại bệnh khác nhau. Mặc dù hầu như
chúng vô hại,nhưng một số người tự bào chế dung dịch thuốc ở nhà
và dùng chúng quá nhiều trong thời gian dài thì họ bị hội chứng
argyria (da chuyển thành màu xanh hoặc xám xanh), có một trường
hợp bị coma (bán thân bất toại) do uống nhiều thuốc chứa bạc. Một
số loại muối bạc bị nghi ngờ gây ung thư. Nên cho bác sĩ biết nếu
bạn đang tự điều trị bằng thuốc có chứa bạc.
Bạc được sử dụng rộng rãi trong các loại cao xoa và băng dán vết
thương vì chúng có hoạt tính kháng khuẩn phổ rộng. Những thiết bị y
khoa có chứa bạc phải được bác sĩ kê toa.





Năm 2007, công ty AGC Flat Glass Europe giới thiệu loại thủy tinh
sát khuẩn đầu tiên để đối phó vấn nạn nhiễm khuẩn trong bệnh viện.
Loại thủy tinh này được phủ một lớp bạc mỏng. Hơn nữa, Samsung
đưa ra loại máy giặt có lần xả cuối cùng chứa ion bạc để có thể giúp
áo quần kháng khuẩn trong nhiều ngày. Kohler đã giới thiệu một
dòng sản phẩm bồn cầu có phủ ion bạc để diệt khuẩn. Công ty
Thomson Research Associates cũng xử lý sản phẩm bằng Ultra
Fresh, một kỹ thuật xủ lý bằng nano để tạo ra những hạt bạc siêu
nhỏ cho việc thuận tiện sử dụng và bền lâu. FDA (Food and Drug
Administration của Hoa Kỳ) gần đây đã chấp thuận cho sử dụng ống
thở (của máy trợ hơi) phủ một lớp bạc mịn vì sau nhiều nghiên cứu,
loại ống thở phủ bạc này giúp giảm sự viêm phổi khi dùng máy trợ
thở.
Thực
phẩm
Ở Ấn Độ, thức ăn, nhất là đồ ngọt, thường được trang trí bằng một
lớp bạc mỏng gọi là “vark”. Bạc được xem như là một chất phụ gia
thực phẩm thuộc nhóm trang trí thực phẩm với mã số E174. Nó đơn

16




thuần chỉ dùng để trang trí, chẳng hạn như trên chocolcate, mứt, kẹo.
Tuy nhiên ở Úc, bạc bị cấm sử dụng như là một chất phụ gia thực
phẩm.
Áo
quần
Bạc hạn chế sự phát triển của vi khuẩn và nấm mốc, giảm mùi hôi và
giảm thiểu rủi ro nhiễm khuẩn và nấm. Áo quần, nhất là tất vớ có sử
dụng bạc giúp chúng có thể sử dụng nhiều ngày hơn mà ít bị bốc
mùi. Ôi sao mà thuận tiện thế nhỉ! Bạc được đưa vào áo quần dưới
hai dạng: một ion bạc được tích hợp vào polymer dùng để tạo sợi
vải, hai là phủ bạc kim lọai lên sợi vải. Cả hai dạng đều cho khả năng
sát khuẩn và nấm mốc rộng. Điều đáng lưu ý là tính sát khuẩn của
bạc rất thân thiện đối với da người và diệt khuẩn mạnh không như
thuốc kháng sinh đôi khi có sự sốc thuốc và bị lờn thuốc sau một thời
gian sử dụng.

VI: ẢNH HƯỞNG CỦA BẠC ĐẾN SỨC KHỎE VÀ PHÒNG NGỪA






Bạc tự bản thân nó không độc nhưng phần lớn các muối của nó là
độc và có thể gây ung thư.
Các hợp chất chứa bạc có thể hấp thụ vào trong hệ tuần hoàn và trở
thành các chất lắng đọng trong các mô khác nhau, dẫn tới tình trạng
gọi là argyria, kết quả là xuất hiện các vết màu xám tạm thời trên da
và màng nhầy. Mặc dù điều này không làm ảnh hưởng tới sức khỏe
con người song nó làm xấu xí mặt mày.
Kim loại này không đóng vai trò sinh học tự nhiên gì đối với con
người.
Ảnh hưởng của bạc đối với sức khỏe con người là vấn đề gây tranh
cãi. Bạc có hiệu ứng và khả năng giết chết nhiều loại vi khuẩn, vi
trùng mà không để lại ảnh hưởng rõ ràng tới sức khỏe và sự sống
của các động vật bậc cao. Hippocrates, cha đẻ của y học hiện đại, đã
viết rằng bạc có các thuộc tính có lợi cho sức khỏe và phòng chống
bệnh tật. Nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam đã biết áp dụng hiệu ứng
này khi đeo bạc để "kỵ gió", "phòng bệnh". Nhiều đồ dùng bằng bạc
tương truyền có thể giải độc cho một số loại thức ăn. Theo những
nghiên cứu gần đây, sữa mẹ để trong bình sữa tráng bạc lâu hỏng

17


hơn là đựng trong đồ dùng thông thường. Nhiều nhà sản xuất thiết
bị điện lạnh như Toshiba,Panasonic, Samsung ứng dụng công nghệ
nano bạc trong tủ lạnh, điều hòa nhiệt độ, máy giặt với mục đích sát
khuẩn. Một số loại hợp chất của bạc được bán như là thuốc điều trị
một số bệnh. Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu y tế đáng tin cậy
nào chứng minh rằng liệu pháp bạc là có ích trong chống vi khuẩn và
vi trùng. Việc ăn các loại hợp chất của bạc, như đã nói trên, có thể
dẫn đến tình trạng argyria.

18


TÀI LIÊU THAM KHẢO
https://sites.google.com/site/nguyentatthanh/dhsp/noi-dung/bac-ag
tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki/ke-chuyen-ve-kim-loai/Ag

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×