Tải bản đầy đủ

THEO dõi CHĂM sóc sản PHỤ NHỮNG NGÀY đầu SAU SANH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN PHỤ SẢN

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CHUYÊN KHOA CẤP 1 - SẢN PHỤ KHOA

THEO DÕI CHĂM SÓC SẢN PHỤ
NHỮNG NGÀY ĐẦU SAU SANH

Học viên: BS. HUỲNH NGỌC THẢO
Giáo viên hướng dẫn:ThS. BS. NGUYỄN DUY HOÀNG MINH TÂM

Niên khóa: 2014-2016
MỤC LỤC


MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................................1
NỘI DUNG....................................................................................................3
1. Định nghĩa thời kỳ hậu sản................................................................3
2. Những thay đổi giải phẫu và sinh l‎ý sau khi sanh...........................3
2.1 Thay đổi tổng quát ở mẹ ngay sau sanh.....................................3
2.2 Thay đổi ở tử cung.....................................................................4
2.3 Thay đổi thành bụng...................................................................7
2.4 Thay đổi phần phụ, âm hộ, âm đạo............................................7
2.5 Thay đổi ở hệ tiết niệu................................................................8
2.6 Thay đổi ở vú.............................................................................8
2.7 Thay đổi sản dịch sau sanh.........................................................14
3. Biến chứng thường gặp sau sanh......................................................15
3.1 Xuất huyết hậu sản......................................................................15
3.2 Các vấn đề liên quan đến vết thương âm hộ- tầng sinh môn.......16
3.3 Biến chứng tiết niệu.....................................................................16
3.4 Táo bón........................................................................................18
3.5 Nhiễm trùng hậu sản....................................................................18
3.6 Bệnh lý thuyên tắc.......................................................................20
3.7 Biến chứng ở vú...........................................................................20
3.7.1 Căng sữa..............................................................................20
3.7.2 Cương tức tuyến vú.............................................................20
3.7.3 Viêm vú...............................................................................21
3.7.4 Áp xe vú...............................................................................21
4. Chăm sóc dinh dưỡng cho mẹ và bé sau sanh..................................22
4.1 Chăm sóc mẹ........................................................................22
4.2 Chăm sóc bé.........................................................................28
KẾT LUẬN....................................................................................................30
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................31


DANH MỤC CÁC HÌNH
HÌNH
Hình 1. Sự thu hồi chiều cao của tử cung và vị trí của tử cung trong những ngày
đầu hậu sản………………………………………………………………………5
Hình 2. Mặt cắt ngang của tử cung ở vị trí nhau bám bị thoái hóa thay đổi nhiều
lần sau sanh……………………………………………………………………...6
Hình 3. Giai phẩu học tuyến vú…………………………………………………9
Hình 4. Phản xạ Prolactin……………………………………………………...10
Hình 5. Phản xạ Oxytocin…………………………………………………...…11
Hình 6. Hỗ trợ và cản trợ Oxytocin…………………………………………....12

Hình 7. Sự phát triển tuyến vú qua các giai đoạn……………………………...13
Hình 8. Ngậm bắt vú đúng sai……………………………………………...….14


ĐẶT VẤN ĐỀ
Có thai, sinh con là thiên chức của người phụ nữ.
Từ sự nuôi dưỡng bào thai trải qua một quá trình biến đổi lớn về giải
phẫu, sinh lý, biến động về tình cảm của người phụ nữ để cho ra đời một bé sơ
sinh. Từ sự thay đổi tử cung, cổ tử cung, niêm mạc tử cung, sự xuất tiết sản
dịch, sự tiết sữa và những thay đổi khác của sản phụ.
Khi có thai cơ quan sinh dục và vú phát triển dần, sau khi sanh các cơ
quan trên (trừ vú) dần dần trở lại bình thường. Thời gian trở lại bình thường của
các cơ quan sinh dục về mặt giải phẫu sinh lí gọi là thời kỳ hậu sản. Thời kỳ hậu
sản về phương diện giải phẫu là sáu tuần lễ (42 ngày) kể từ sau khi sanh, vì
những người không cho con bú kinh nguyệt có thể xuất hiện trở lại sau thời gian
này. Thời kỳ này được đánh dấu bằng những hiện tượng chính là sự thu hồi của
tử cung, sự tiết sản dịch, sự tiết sữa, và những thay đổi tổng quát khác.
Giai đoạn này cần chăm sóc sản phụ và trẻ em sơ sinh chu đáo, để giúp
sản phụ và trẻ sơ sinh thích nghi, cũng như để dự phòng, phát hiện sớm, chẩn
đoán chính xác và xử trí kịp thời những bất thường và biến chứng có thể xảy ra
như: xuất huyết hậu sản, nhiễm trùng hậu sản, các biến chứng thường gặp ở
tuyến vú…và ở bé.
Tuy nhiên, trên thực tế người dân vẫn còn nhiều quan điểm, tập tục sai
lầm cũng như nhân viên y tế còn nhiều vấn đề hạn chế trong việc chăm sóc hậu
sản.Tại tuyến y tế cơ sở, thời kỳ hậu sản là sự tiếp tục tự nhiên sau cuộc sanh đẻ
của người phụ nữ, đây là một vấn đề hết sức quan trọng trong việc chăm sóc sức
khỏe trong cộng đồng. Người cán bộ y tế cần nắm rõ để giải thích, giáo dục, hỗ
trợ và hướng dẫn cụ thể cho sản phụ cũng như thân nhân của họ. Giáo dục cho

1


các bà mẹ có thể diễn ra trong thời gian nằm viện, đặc biệt cho các bà mẹ
sanh lần đầu và cho cách cho con bú đúng.
Ngày nay, với sự phát triển nhu cầu xã hội ngày càng cao việc chăm sóc
hậu sản cho một sản phụ rất quan trọng, nhất là ở tuyến y tế cơ sở. Do đó, mục
tiêu của chúng tôi làm chuyên đề này nhằm vận dụng những kiến thức mà
chúng tôi đã cập nhật được, giúp sản phụ chăm sóc thời kỳ hậu sản tốt hơn,
giảm tỉ lệ các biến chứng hậu sản và sớm phát hiện các bất thường xảy ra cho
sản phụ giúp cho sản phụ chăm sóc chính mình và cả đứa trẻ mới chào đời là
một tương lai xã hội sau này.

2


NỘI DUNG

1. ĐỊNH NGHĨA:
Hậu sản là khoảng thời gian 6 tuần sau sanh. Thời kỳ này cơ quan sinh
dục dần dần trở về bình thường, trừ tuyến vú vẫn tiếp tục phát triển để tiết sữa.
Thời kỳ hậu sản được đánh dấu bằng những hiện tượng chính là sự thu hồi của
tử cung, sự tiết sản dịch, sự lên sữa và những thay đổi tổng quát khác.
2. NHỮNG THAY ĐỔI GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ SAU KHI SANH:
2.1. Thay đổi tổng quát ở mẹ ngay sau sanh:
- Tổng trạng sản phụ tốt hơn trong trường hợp hậu sản thường.
- Thân nhiệt bình thường, trừ lúc lên sữa có thể sốt nhẹ.
- Nhịp thở sâu và chậm lại.
- Mạch hơi chậm trong những ngày đầu, khoảng 60 đến 70 nhịp / phút, 56 ngày sau mạch sẽ trở về bình thường.
- Huyết áp tăng nhanh thoáng qua trong 4 ngày đầu sau sanh, trở về bình
thường sau 6-8 tuần. Những trường hợp cao huyết áp thai kỳ sau sanh huyết áp
sẽ giảm, ổn định trở lại.
- Sản phụ có thể rét run sau khi sanh do sự mất nhiệt và mệt mỏi khi rặn
sanh, rét run xảy ra trong thời gian ngắn và mau hết.
- Thể tích máu giảm ngay sau sanh do mất máu lúc sanh, trở về bình
thường như lúc chưa mang thai vào ngày thứ 10 sau sanh.
- Công thức máu có chút thay đổi: hồng cầu, bạch cầu và sinh sợi huyết
hơi tăng là một hiện tượng sinh lý chống lại sự mất máu khi sanh.
- Bể thận và niệu quản bị dãn trong thai kỳ sẽ trở về bình thường từ 2- 8
tuần sau sanh.
- Sụt cân nhanh: thường giảm 2-6 kg do sanh em bé, sổ nhau, tử cung co
hồi, sự bài tiết mồ hôi, mất máu bình thường lúc sanh, sản dịch trong 10 ngày
đầu và hiện tượng bài tiết sinh lý sau sanh.

3


- Hiện tượng kinh sớm: nếu không cho con bú khoảng 45 ngày sau có thể
có kinh lại đầu tiên, kinh thường nhiều và kéo dài hơn những kỳ kinh bình
thường.
2.2. Thay đổi ở tử cung:
2.2.1. Thay đổi ở cơ tử cung:
Lớp cơ ở thân tử cung sau sanh dày khoảng 1cm, nhưng sau đó ngắn lại
và mỏng dần do sự đàn hồi của các sợi cơ, một số sợi cơ thoái hóa mỡ và tiêu
đi.
- Tử cung trở về kích thước bình thường vào khoảng 6 tuần sau sanh, tuy
rằng chẳng khi nào nó trở lại hoàn toàn đúng với tỷ lệ như khi chưa đẻ bao giờ.
- Kích thước giảm đi một phần là do máu và mạch máu mất đi và một
phần là do sự tiêu hóa một lượng lớn tương bào của các tế bào. Số lượng của
các tế bào có lẽ không giảm đi nhiều, riêng các sợi cơ ngắn lại và mỏng đi nhiều
hơn so với lúc mang thai.
- Sau khi sanh tử cung thay đổi rất rõ ràng, trên lâm sàng nhận thấy 3 hiện
tượng:
+ Sự co cứng tử cung: ngay sau sổ nhau tử cung co cứng để thực hiện tắc
mạch sinh lý, thành khối chắc gọi là khối cầu an toàn.
+ Sự co bóp tử cung: trong những ngày đầu sau sanh tử cung có những
cơn co bóp để tống sản dịch ra ngoài.
+ Theo dõi sự co hồi tử cung sau sanh: dựa vào đo bề cao tử cung đo từ
điểm giữa bờ trên xương vệ đến điểm giữa đáy tử cung, thước dây đo phải áp
sát thành bụng.

4


Ngày hậu sản đầu tiên: bề cao tử cung khoảng 13 – 14cm trên khớp vệ.
Đến ngày hậu sản thứ 6: đáy tử cung nằm khoảng giữa rốn và xương vệ.
Sau ngày hậu sản 12- 13: tử cung co hồi nhỏ nằm trong khung chậu, không còn
sờ thấy đáy tử cung trên bụng nữa.
Tốc độ co hồi tử cung trung bình mỗi ngày nhỏ đi 1cm, nếu tử cung co hồi dưới
mức này là tử cung co hồi chậm.
*Sự co hồi tử cung phụ thuộc vào:
- Sinh con so tử cung co hồi nhanh hơn sinh con rạ.
- Tử cung sanh thường co hồi nhanh hơn tử cung mổ sanh.
- Những người cho con bú tử cung co hồi nhanh hơn người không cho
con bú.
-Tử cung bị nhiễm khuẩn co hồi chậm hơn tử cung không bị nhiễm
khuẩn.
Trong những ngày sau sanh phải theo dõi co hồi tử cung, nếu tử cung co
hồi chậm, sốt, ấn đau tử cung, sản dịch hôi, cần phải khám để phát hiện nhiễm
khuẩn tử cung và điều trị kịp thời, những trường hợp táo bón, bí tiểu tử cung
cũng bị đẩy lên cao.

5


Về cân nặng: ngay sau sanh trọng lượng tử cung khoảng 1000gam. Do có
sự thoái hóa và teo dần của tử cung nên trọng lượng tử cung giảm còn 500gam
ở tuần lễ hậu sản thứ hai và giảm tiếp còn 100gam rồi ít hơn nữa.
Đoạn dưới tử cung thu hồi nhanh hơn cổ tử cung, từ 10cm thu ngắn lại
trở thành eo tử cung vào khoảng ngày thứ 5 của hậu sản.
Cổ tử cung ngắn dần và thu nhỏ lại 1.5 – 2cm, khép kín vào ngày thứ 5
đến ngày thứ 8 sau sanh. Lỗ cổ tử cung đóng lại: lỗ trong đóng 5- 8 ngày sau
sanh, lỗ ngoài đóng muộn hơn vào ngày thứ 12 sau sanh. Lỗ trong cổ tử cung
đóng hoàn toàn còn lỗ ngoài hé mở đặc biệt ở những người sanh nhiều lần.
Kênh cổ tử cung không còn là hình ống mà thường là hình nón đáy ở dưới.

2.2.2. Thay đổi niêm mạc tử cung:
Tạo sản dịch và tái tạo niêm mạc tử cung.
Sản dịch là dịch trong đường sinh dục mà chủ yếu là từ buồng tử cung
chảy ra ngoài trong những ngày đầu thời kỳ hậu sản. Bao gồm:
- Những mảnh vụn của màng rụng.
- Những cục máu đông nhỏ từ vết thương nơi nhau bám.
- Những chất tiết từ những vết thương ở cổ tử cung, âm đạo…
Niêm mạc tử cung diễn tiến qua 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn thoái triển: Trong 14 ngày đầu sau sanh, các ống tuyến và
các sản bào thoát ra ngoài cùng với sản dịch.
+ Giai đoạn phát triển: Các tế bào trụ trong các đáy tuyến sẽ phát triển
dưới ảnh hưởng của Estrogen và Progesterone, khoảng 6 tuần đầu để niêm mạc
6


tử cung được tái tạo lại (có thể thực hiện chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên sau sanh,
khi mẹ không cho con bú).
Biện pháp giúp tử cung co hồi tốt sau sanh:
+ Cho con bú sớm 30 phút đến 1 giờ sau sanh giúp tử cung co hồi và mau
lên sữa.
+ Xoa bóp tử cung ngoài thành bụng.
+ Dùng các thuốc co hồi tử cung nếu có chỉ định.
2.3. Thay đổi ở thành bụng:
Ở thành bụng các vết rạn da vẫn còn tồn tại chuyển từ màu hồng đỏ trước
sanh sang màu nâu đen sau sanh, các cơ thành bụng cũng co dần lại, nhưng
thành bụng vẫn nhão hơn so với khi chưa có thai, đặc biệt là những người sanh
nhiều lần, sanh thai to, đa ối.
Sự trở lại ban đầu phụ thuộc nhiều về vận động, tập thể dục của người
mẹ.
2.4. Thay đổi ở phần phụ, âm đạo, âm hộ:
Các dây chằng tử cung, vòi trứng, buồng trứng sau khi sanh dần dần trở
lại bình thường về hướng vị trí và độ dài.
Âm hộ, âm đạo bị dãn căng trong khi sanh, cũng co dần lại khoảng 15
ngày sau để trở lại bình thường.
Màng trinh sau khi sanh bị rách chỉ còn di tích của rìa màng trinh.
2.5 Thay đổi hệ tiết niệu:
Sau khi sanh, không những thành bàng quang bị phù nề sung huyết, mà
còn có cả hiện tượng sung huyết dưới niêm mạc bàng quang. Hơn nữa, bàng
quang có hiện tượng tăng dung tích và mất nhạy cảm tương đối với áp lực của
lượng nước tiểu trong bàng quang, vì vậy phải theo dõi hiện tượng bí tiểu hoặc
còn sót nước tiểu sau sanh. Tác dụng gây liệt cơ của thuốc mê, đặc biệt là gây tê
tủy sống, rối loạn thần kinh chức năng tạm thời của bàng quang cũng là yếu tố
góp phần. Bể thận và niệu quản bị dãn sẽ trở lại trạng thái bình thường sau sanh
từ 2 -8 tuần lễ.
Ứ nước tiểu ở một bàng quang bị chấn thương trong lúc sanh, cộng thêm
bể thận và niệu quản bị dãn, tạo điều kiện thuận lợi cho vi trùng đường tiểu dễ
phát triển.
2.6. Thay đổi ở vú:

7


Khi mang thai ở 3 tháng cuối, thai phụ đã có sữa non. Tuy nhiên, trước
tuần lễ thứ 37, thai phụ không nên nặn hay hay xoa bóp bầu vú vì có thể gây ra
cơn gò tử cung dẫn đến sanh non.
Vú được phát triển mạnh sau khi sanh, vú to lên, núm vú dài ra, tĩnh
mạch dưới da vú nổi rõ.
Các tuyến sữa phát triển to lên để tiết sữa, trên lâm sàng gọi là hiện tượng
lên sữa, hiện tượng này thường xảy ra sau sanh khoảng 2-3 ngày.

- Cơ chế tiết sữa: Khi có thai nhau thai tiết Estrogen và Progesteron.
Estrogen tác động lên sự phát triển của hệ thống dẫn sữa, Progesteron tác động
lên sự phát triển các tiểu thùy và nang tuyến sữa.
Sau khi sanh nồng độ Estrogen và Progesteron giảm xuống.
Prolactin được tiết ra từ thùy trước tuyến yên giúp sự phân tiết sữa, đồng
thời ức chế tiết Estrogen và Progesteron (do đó có kinh chậm lại).
Sau sanh khoảng 2-3 ngày, bà mẹ có sữa trưởng thành, có nhiều bà mẹ
thấy vú cương tức, nhầm là bị tắc tia sữa, thực ra hiện tượng này sẽ hết sau vài
lần trẻ bú.

8


-Oxytocin tiết ra từ thùy sau tuyến yên kích thích sự ép sữa.
- Phản xạ mút bú sữa của trẻ khi bú, kích thích tuyến yên tiết ra Prolactin
và Oxytocin.
Sự lên sữa:
Sau khi sanh lượng sữa non tăng dần đến ngày thứ 3 có hiện tượng lên sữa
- Người sanh con so lên sữa vào ngày thứ 3, thứ 4 sau sanh.
- Người sanh con rạ lên sữa vào ngày thứ 2, thứ 3 sau sanh.
Trên lâm sàng thấy dấu căng tức, các tuyến sữa phát triển nhiều và to lên,
các tĩnh mạch dưới da vú nổi rõ, sản phụ có sốt nhẹ, nhức đầu, thân nhiệt trên
380C, mạch nhanh, hiện tượng này có thể kéo dài 24-48 giờ.Sau đó, có sữa chảy
ra khi có hiện tượng lên sữa thật sự các triệu chứng trên sẽ mất đi.
Nếu lên sữa mà vẫn còn sốt phải theo dõi có nhiễm trùng nơi nào khác
không như ở tử cung hay ở vú…
Oxytocin được thùy sau tuyến yên tiết ra tác động đến các tế bào mô cơ
bao quanh các tuyến kích thích sự ép sữa, làm cho sữa được bài tiết vào trong

9


ống dẫn sữa rồi vào các xoang chứa sữa rồi đến núm vú. Oxytocin cũng còn
kích thích lượng Prolactin tiết ra thêm.

-Trong cơ chế tiết sữa, các phản xạ thần kinh từ sự mút sữa và làm trống
bầu sữa mẹ sẽ kích thích tuyến yên tiết ra proclactin và oxytocin, để phát động
sự tiết sữa và gò ép chảy sữa ra, trẻ càng bú nhiều sữa càng được tạo ra nhiều
hơn.

10


Cơ chế tạo sữa: bên trong tuyến vú gồm nhiều nang sữa được tạo thành
bởi các tế bào tiết sữa.
Nang sữa có các tế bào cơ trơn khi co thắt sẽ giúp đẩy sữa ra ngoài, từ
các nang sữa, sữa theo các ống chảy ra ngoài, ở phần quầng vú, các ống sữa nở
rộng và thành các xoang sữa, là nơi chứa sữa.
Cho trẻ bú mẹ đúng:
- Rửa sạch núm vú trước và sau khi cho con bú bằng nước ấm và khăn
mềm, khuyến khích bà mẹ cho trẻ bú sớm.
- Khuyên bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn và cho trẻ bú theo
nhu cầu, giúp sản phụ giải quyết những khó khăn khi cho con bú như
đầu vú tụt, nứt đầu vú, tắc tia sữa…
- Nên cho bé bú hết sữa nếu bú không hết cần vắt bỏ sữa dư để tránh
cương tức tuyến vú.

11


Hình 7: Sự phát triển tuyến vú qua các giai đoạn
(Nguồn: Nguyễn Trí Dũng, Hệ sinh dục nữ, Sách Mô học tập 2, ĐHYD TP.
HCM, 2005)
Hướng dẫn bà mẹ cách cho con bú:
-Toàn thân trẻ hướng sát về phía mẹ.
- Cằm trẻ chạm vào vú mẹ.
- Miệng trẻ há rộng.
- Môi dưới của trẻ cong ra ngoài.
- Phần quầng vú phía trên miệng trẻ thấy ít hơn phía dưới.
- Nhìn thấy trẻ mút chậm, mạnh.
- Cho trẻ bú hết bầu vú bên này thì chuyển sang cho bú bên kia.
- Khi bú trẻ có thể thiu thiu ngủ, cần đánh thức trẻ bằng cách nói chuyện
với trẻ xoa nhẹ vào bàn chân, kích thích cho trẻ tiếp tục bú.
- Khi bú no trẻ sẽ tự nhả núm vú, nếu chưa hết sữa nên vắt hết sữa còn
lại, để tuyến sữa rỗng sẽ tạo sữa nhiều hơn, sữa về nhiều hơn.

12


2.7. Thay đổi sản dịch sau sanh:
Sản dịch là từ trong đường sinh dục mà chủ yếu là từ buồng tử cung chảy
ra ngoài trong những ngày đầu thời kỳ hậu sản, bao gồm:
- Những mảnh vụn của màng rụng.
- Những cục máu đông nhỏ từ vết thương nơi nhau bám.
- Những chất tiết từ những vết thương ở cổ tử cung, âm đạo…do sự
sanh đẻ gây ra.........
Sản dịch có tính chất vô trùng, có mùi tanh nồng, nếu có nhiễm khuẩn sản
dich có mùi hôi hoặc có mủ.
- 2 – 3 ngày đầu sản dịch có màu đỏ tươi sau đổi mảu đỏ sậm như bã trầu.
- 4 – 8 ngày sau sản dịch loãng hơn, lẫn với chất nhầy lờ đờ máu cá.
- 8 – 12 ngày sau sản dịch nhầy trong, ít dần khoảng 12 – 18 ngày sau khi
sanh có ra ít huyết đỏ tươi từ âm đạo đó là kinh non, do niêm mạc tử cung phục
hồi sớm. Cho con bú vận động sớm tránh ứ động sản dịch, nếu sản dịch ra nhiều
hay kéo dài hay hết rồi ra huyết đỏ trở lại phải nghĩ đến sót nhau.
3. BIẾN CHỨNG THƯỜNG GẶP SAU SANH:
Sản phụ cần được theo dõi đề phòng các biến chứng xuất huyết và nhiễm
trùng hậu sản.
1. Xuất huyết hậu sản:
13


Băng huyết sau sanh là tai biến hay gặp nhất (nguy cơ cao trong 24 giờ
đầu sau sanh) là nguyên nhân chính gây tử vong.
Băng huyết thường xảy ra sớm trong vòng 2 giờ đầu sau sanh, trong
những ngày đầu hậu sản có thể đến tuần thứ hai sau sanh nên cần theo dõi sự co
hồi tử cung, lượng máu mất cũng như tính chất của sản dịch.
Một số nguyên nhân gây chảy máu sau sanh:
- Cơ tử cung yếu do sanh nhiều lần, tử cung có sẹo mổ, u xơ tử cung, tử
-

cung dãn quá mức vì đa thai, đa ối, thai to…
Chuyển dạ kéo dài, nhiễm trùng ối.
Sót nhau trong buồng tử cung.
Sản phụ suy nhược, thiếu máu, tăng huyết áp, tiền sản giật.
Tiền sử sẩy thai, nạo thai, hít thai nhiều lần.
Viêm niêm mạc tử cung.
Sanh non, thai lưu.
Sổ thai nhanh.
Bất thường dây rốn.
Đỡ sanh không đúng cách, sản phụ rặn sớm khi cổ tử cung chưa mở

trọn.
Điều trị ban đầu:
- Cung cấp oxy, lấy hết máu cục ở âm đạo tử cung.
- Truyền oxytocin 10 –40IU/1000ml dung dịch Lactate Ringer
hoặc NaCl đẳng trương chảy nhanh có thể đến 10ml/phút.
- Methylergonovine 0.2 mg (tiêm bắp) nếu Oxytocine không hiệu
quả với điều kiện lòng tử cung phải trống và sản phụ không bị cao huyết
áp, vì thuốc gây co mạch có thể gây tăng huyết áp thoáng qua.
- Song song với việc cho thuốc co hồi tử cung, cần xoa đáy tử cung
liên tục.
- Nếu không rách âm đạo, cổ tử cung, dùng bóng chèn bằng sonde
Foley, thắt động mạch tử cung, động mạch hạ vị.
3.2. Các vấn đề l‎iên quan đến vết thương âm hộ - tầng sinh môn:
Máu tụ âm hộ - tầng sinh môn:
Khối máu tụ âm hộ - âm đạo do cầm máu không tốt trong khâu cắt và
may tầng sinh môn thường xuất hiện vài giờ hoặc trong ngày đầu sau sanh, sản
phụ đau mót rặn, căng tức vùng âm đạo - tầng sinh môn, mạch có thể hơi nhanh,
sốt nhẹ, đặc biệt có cảm giác mắc rặn. Thăm khám bằng tay thấy có một khối
căng, đau thốn ở âm đạo, tầng sinh môn.

14


Xử trí: Theo dõi thấy khối máu tụ to nhanh thì phải rạch thoát khối máu
tụ, tìm điểm chảy máu, may cột cầm máu.
Nhiễm trùng vết may tầng sinh môn:
Theo dõi vết may tầng sinh môn trong những ngày đầu sau sanh là chăm
sóc theo dõi tình trạng nhiễm trùng vết may tầng sinh môn, để vết may tốt bà
mẹ cần giữ vết may luôn khô sạch. Mỗi ngày cần thăm khám vết may có bị
sưng đỏ, đau không, có tiết dịch hay đau vết may khi không có lực ép lên vết
may thì đó là dấu hiệu nhiễm trùng vết may tầng sinh môn.
Trong thời gian đầu sau sanh, bà mẹ không nên ngồi nhiều để tránh áp
lực lên các mũi khâu, nên vệ sinh sạch sẽ bằng nước ấm sau khi đi vệ sinh.
3.3. Biến chứng tiết niệu:
Các biến chứng tiết niệu thường thấy sau chuyển dạ kéo dài, ngưng trệ,
sanh khó. Thường có 3 dạng:
- Bí tiểu sau sanh
- Tiểu không tự chủ
- Dò bàng quang, âm đạo
Bí tiểu sau sanh:
Đây là biến chứng thường gặp 1-2 ngày đầu sau sanh nguyên nhân do đầu thai
nhi chèn ép lên bàng quang và niệu đạo trong thời gian lâu có thể làm liệt bàng
quang, các tổn thương âm hộ - tầng sinh môn đau có thể ức chế ý muốn đi tiểu,
thay đổi cấu trúc giải phẫu vùng chậu tạm thời làm thay đổi sự nhạy cảm của
bàng quang, sự bài tiết nhanh nước tiểu làm bàng quang căng nhanh…
- Xử trí: bằng thông tiểu, đôi khi phải lặp lại một vài lần hoặc lưu thông
tiểu nếu cần.
Tiểu không tự chủ và dò bàng quang – âm đạo:
Tiểu không tự chủ xuất hiện sớm sau sanh thường là dấu hiệu dò bàng
quang – âm đạo, sản phụ không tự tiểu hoặc tiểu khó phải rặn nhiều nhưng chỉ
ra lắt nhắt ít nước tiểu có khối cầu bàng quang trên xương vệ. Tiểu không tự chủ
xuất hiện muộn hơn liên quan đến thay đổi cấu trúc giải phẫu các cơ quan vùng
chậu. Dò bàng quang, âm đạo là một biến chứng nặng trong những trường hợp
sanh ngả âm đạo do thai to.
Xử trí: đắp ấm, xoa nhẹ bàng quang khuyến khích sản phụ ngồi tiểu, nếu
không kết quả đặt thông tiểu lưu để giảm áp lực bàng quang, bí tiểu sau sanh là
tình trạng ứ nước tiểu tạm thời có thể bình phục được.

15


Dự phòng dò bàng quang, âm đạo bằng cách phòng tránh chuyển dạ kéo
dài và các thủ thuật giúp sanh thô bạo, khi có xuất hiện chỉ có can thiệp ngoại
khoa đóng đường dò.
Nhiễm trùng tiểu: do viêm bàng quang, viêm đài bể thận cấp là yếu tố
nguy cơ do giảm co trong chuyển dạ, tiền sản giật, sản giật, đặt thông tiểu lâu,
nhiễm trùng tiểu trước mang thai.Tác nhân chính thường do Ecoli, ngoài ra có
thể viêm niệu đạo do Chlamydia trachomatic.
+ Viêm bàng quang: triệu chứng tiểu gắt, tiểu buốt, không sốt, đau
vùng trên xương mu.
Xử trí: khuyên bệnh nhân uống nước nhiều 3-4 lít/ ngày
Cephalosporin 2g/ ngày uống x 7 ngày.
+ Viêm bể thận cấp: tiểu buốt, tiểu gắt, sốt cao 39-40 oC, rét run,
đau vùng sườn thắt lưng, chán ăn, buồn nôn, nôn. Xét nghiệm cặn lắng nước
tiểu có nhiều vi khuẩn và nhiều bạch cầu.
Xử trí: Cung cấp đủ dịch uống 3-4 lít/ ngày hoặc truyền dịch Lactate
Ringer.
Ampicilin 2gam hoăc Cefoxitin 2gam tĩnh mạch x 6 giờ/ lần +
Gentamycin 5mg/kg tĩnh mạch 24 giờ/lần.
Sau 48 giờ triệu chứng cải thiện chuyển sang kháng sinh uống
Cephalexin 500mg x 3 lần/ngày x 7 ngày.
3.4. Táo bón:
Do nằm lâu nhu động ruột giảm các cơ vùng bụng nhão, sức rặn yếu, cho
nên sau khi sanh thường có hiện tượng táo bón.
Sản phụ nên vận động thích hợp, duy trì tập thể dục sau sanh, đi lại không
nằm trên gường quá lâu, tạo thói quen tốt đi đại tiện đúng giờ.
Sản phụ nên chú ý đến thành phần thức ăn: cần đủ protein, phải ăn nhiều
rau quả, uống nhiều nước, vận động sớm, ăn nhiều chất xơ, sau 3 ngày không
đại tiện phải thụt tháo phân.
3.5. Nhiễm trùng hậu sản: từ ngày thứ 2 sau sanh, là nguy cơ cao nhất đối với
mẹ.
Nhiễm trùng nội mạc là nguyên nhân chính, các vi khuẩn gây bệnh chia
làm 4 nhóm:
- Hiếm khí gram âm
- Kỵ khí trực khuẩn gram âm
- Liên cầu khuẩn
16


- Cầu khuẩn và kỵ khí gram dương
Xảy ra từ ngày thứ hai sau sanh do:
Yếu tố nhiễm trùng hậu sản do sanh khó chuyển dạ kéo dài.
Vỡ ối lâu trước sanh, khám âm đạo nhiều lần, băng huyết sau sanh, rách
âm đạo cổ tử cung phức tạp, mổ lấy thai…
Vi khuẩn thường gặp là Ecoli, Streptococcus…
Dấu hiệu nhiễm trùng: sốt nhẹ (> 38oC) sản dịch có mùi hôi lẫn mủ.
Lấy sản dịch để cấy xác định tác nhân gây bệnh và điều trị bằng kháng
sinh.
Có nhiều hình thái nhiễm trùng hậu sản như: nhiễm trùng tầng sinh môn,
âm hộ, âm đạo, viêm nội mạc tử cung, viêm tử cung, viêm chu cung, viêm phúc
mạc vùng chậu, viêm phúc mạc toàn bộ, viêm tắc tĩnh mạch, nhiễm trùng huyết.
Mỗi hình thái có những biểu hiện đặc trưng riêng, tuy nhiên nếu sản phụ bị sốt
trong thời kỳ này phải đặc biệt lưu ý, vì đây là biểu hiện ban đầu của mọi hình
thái nhiễm trùng hậu sản.
Sức đề kháng của sản phụ sau sanh giảm do mất đi một lượng máu lớn và
sản phụ ra sản dịch nhiều là môi trường lý tưởng cho sự phát triển của nhiều vi
khuẩn. Do đó, nếu không được chăm sóc cẩn thận, vệ sinh không tốt thì hiện
tượng nhiễm trùng rất dễ xảy ra. Nhiễm trùng tầng sinh môn, âm hộ, âm đạo lúc
ban đầu là nhiễm trùng nhẹ dễ mắc nếu không phát hiện và điều trị kip thời, vi
khuẩn có thể từ âm đạo qua cổ tử cung vào nội mạc tử cung, từ đó lên ống dẫn
trứng vào phúc mạc tiểu khung hoặc theo đường bạch huyết, tĩnh mạch…dẫn
đến nhiễm trùng rất nặng và nguy hiểm.
Điều trị từ 48- 72 giờ bằng kháng sinh tĩnh mạch.
- 2% bệnh nhân phát triển các biến chứng đe dọa tính mạng như sốc
nhiễm trùng, áp xe vùng chậu, nhiễm trùng hoặc tắc tĩnh mạch vùng
chậu.
- Kháng sinh điều trị: Clindamycin + Gentamycin
- Ngoài ra dùng Cephalosporin thế hệ 2, 3.
Tốt nhất là sản phụ hết sức lưu ý và đề phòng ngay từ đầu để tránh mắc
các nhiễm trùng hậu sản.
Trong khi có thai điều trị ngay các bệnh viêm nhiễm: viêm da, viêm
họng, viêm đường sinh dục, tiết niệu…chú ý giữ gìn vệ sinh cá nhân.Tăng
cường sức đề kháng bằng chế độ dinh dưỡng hợp lý.

17


3.6. Bệnh l‎ý thuyên tắc:
* Thuyên tắc tĩnh mạch sâu ở chân: xuất hiện muộn 2 – 3 tuần sau sanh
với sốt kéo dài và mạch tăng sau đó sưng chân, phù, đau.
- Khảo sát hình ảnh học: CT scan và MRI là những ưu tiên về lựa chọn
để chẩn đoán.
Thuyên tắc tĩnh mạch: thường đi kèm với nội mạc tử cung và những triệu
chứng đau bụng dưới hoặc đau bụng trên, kèm buồn nôn và đầy hơi, ít bị sốt có
thể có triệu chứng ớn lạnh.
- Phương pháp điều trị gồm:
+ Thuốc chống đông với Heparin tiêm tĩnh mạch.
+ Kháng sinh như Clindamycin và Gentamycin.
+ Lựa chọn khác gồm Cephalosporin thế hệ 2, 3 hoặc Ampicillin và
Sulbactam dùng 5 -7 ngày,
Vì vậy sản phụ nên vận động sớm sau sanh để phòng ngừa.
3.7. Biến chứng ở vú:
3.7.1. Căng sữa:
Sau sanh 2-3 ngày, bà mẹ thấy vú căng nặng, cảm giác nổi cục, đau căng,
sữa vẫn chảy ra tốt, đây là hiện tượng căng sữa bình thường. Mẹ nên cho bú
thường hơn, nếu không hết, nặn bỏ bớt, sau 1-2 ngày cơ chế tiết sữa tự điều
chỉnh theo nhu cầu, vú sẽ hết căng.
3.7.2. Cương tức tuyến vú:
Vú cương to, căng bóng, phù nề, đau nhiều nặn sữa chảy ra ít, có thể kèm
sốt. Do vú quá đầy căng vì sữa ứ lại, mô bị phù nề, sữa không chảy ra được,
thường gặp ở những bà mẹ không cho con bú, hoặc bú ít, hạn chế thời gian cho
bú, hay ngậm bắt vú không đúng, bú không hiệu quả.
Vú cần được lau sạch trước và sau khi cho bé bú, xoa nắn vú nhẹ nhàng,
vắt sữa bằng bơm hút để lấy hết sữa ra, cho bé bú thường hơn, cho bú đúng cách
và bú hết.
3.7.3. Viêm vú:
Viêm vú là một bệnh nhiễm trùng khu trú ở vú, thường xảy ra tuần thứ 15 hậu sản nhưng cũng có thể xảy ra bất kỳ thời điểm nào, khoảng 1- 2 % phụ nữ
cho con bú bị viêm vú.
Triệu chứng gồm: Vú có một vùng đỏ và đau nhức, sản phụ có sốt lạnh
run và mệt mõi, thường bị một bên

18


Xử trí không hiệu quả tình trạng tắc ống sữa hay cương tức vú có trước
cần điều trị kịp thời nếu không dẫn đến áp xe vú 2 -3 ngày tiếp theo.
Kháng sinh dùng: Erythromycin 250mg – 500mg x 4 lần/ ngày trong 7
ngày
Ngoài ra có thể dùng Cephalosporine hoăc Amoxicillin.
Khuyến khích mẹ cho bé bú thường xuyên, cải thiện sự lưu thông sữa của
vú bị viêm.
Chườm lạnh vú sau khi cho bé bú.
Khuyến khích sản phụ uống nhiều nước, nằm nghĩ dùng Acetaminophen
để giảm cảm giác khó chịu và sốt.
3.7.4. Áp xe vú:
- Sốt cao 40oC, lạnh run, vùng vú sưng to, đỏ khu trú, ấn mềm, phập
phều, đau chói, chọc hút có mủ đục, hoặc có thể chảy mủ qua núm vú, nổi tĩnh
mạch dưới da, có hạch nách cùng bên.
Xử trí:
- Chườm lạnh.
- Tiếp tục nuôi con bằng sữa mẹ hay nặn sữa (cắt sữa trong trường hợp
không nuôi con bằng sữa mẹ hay nhiễm trùng nặng, áp xe tái phát
nhiều lần).
+ Điều trị nội:
Cefadroxyl 500mg/ 2 viên x 2 lần/ ngày trong 10-14 ngày hoặc
Amoxicillin-clavulanate 625mg 1 viên x 3 lần/ ngày trong 10-14
ngày.
+ Điều trị ngoại:
• Dẫn lưu mủ và điều trị kháng sinh.
• Nên gây tê hoặc gây mê.
• Rạch theo đường nan hoa (tránh gây tổn thương cho đường dẫn sữa).
• Cho ngón tay đi găng vô khuẩn vào phá các vách ngăn trong ổ áp xe, nặn
mủ.
• Nhét gạc vào ổ áp xe để dẫn lưu mủ (rút sau 24 giờ và thay thế bằng một
gạc khác).
• Điều trị kháng sinh sau khi rạch áp xe.
Cloxacillin 500mg uống 1 viên x 4 lần / ngày, trong 10 ngày hoặc
Erythromycin 500mg uống 1 viên x 4 lần/ ngày, trong 10 ngày.
• Tiếp tục cho bú, nếu áp xe còn chảy máu, mủ thì cho bú bên lành và vắt
bỏ sữa ở vú bên đau, sau 48 giờ cho bé bú lại cả 2 bên.

19


• Băng đỡ vú, chăm sóc vết thương hằng ngày, bơm rửa ổ áp xe, dẫn lưu
bằng mèche.
• Paracetamol 500mg 2- 4 viên/ ngày.
4. CHĂM SÓC DINH DƯỠNG CHO MẸ VÀ BÉ SAU SANH:
4.1. Chăm sóc sản phụ:
4.1.1. Theo dõi sản phụ 2 giờ đầu sau sanh:
Theo dõi tổng trạng và daáu hiệu sinh tồn (mạch, huyết áp, nhiệt độ) tại
các thời điểm 15 phút, 30 phút, 45 phút, 60 phút, 90 phút và 120 phút, sau đó 1
giờ 1 lần trong ngày đầu để phát hiện xuất huyết, ghi chép cẩn thận vào bảng
theo dõi, những ngày sau đó ngày 1 lần.
Khám tổng quát để phát phát hiện bệnh lý nội ngoại khoa khác có thể xảy
ra như viêm phổi, thuyên tắc mạch, cao huyết áp, nhiễm trùng tiểu.
4.1.2. Theo dõi co hồi tử cung:
Theo dõi sự co hồi tử cung qua sờ nắn bụng, vị trí của đáy tử cung, mật
độ mềm hay rắn, có đau không, nếu tử cung co chậm, mềm, đau, nghĩ đến sót
nhau hay nhiễm trùng.
Ngay sau sinh tử cung co bóp thành khối cầu an toàn gây đau, nếu đau
nhiều cho thuốc hay chườm đá. Tử cung mềm cao nghĩ đến đờ tử cung sót nhau
phải xoa ấn đáy tử cung để đẩy hết máu ứ trong lòng tử cung ra, kiểm tra lòng
tử cung có thể cho thuốc tăng co bóp tử cung.
Ngày 12 - 13 sau sanh không sờ thấy đáy tử cung trên bụng, nếu còn cao
nghĩ đến nhiễm trùng tử cung, bế sản dịch, sót nhau.
4.1.3. Theo dõi sản dịch:
Sản dịch là chất dịch chảy ra ngoài âm hộ trong thời kỳ hậu sản.
Sản dịch được cấu tạo bởi những mảnh vụn của màng rụng, những cục
máu đông nhỏ từ vết thương nơi nhau bám và những chất dịch tiết từ vết thương
ở cổ tử cung âm đạo do sự sanh đẻ gây ra.
Từ trong tử cung sản dịch có tính chất vô trùng, có mùi tanh nồng. Nếu bị
nhiễm trùng tử cung hậu sản, sản dịch có mùi hôi, có thể có lẫn mủ. Tình trạng
nhiễm trùng làm cho tử cung hồi kém và đau khi ấn tử cung.
Trong 2-3 ngày đầu sản dịch có màu đỏ tươi, sau chuyển sang đỏ sậm
như màu bã trầu.
Từ khoảng ngày thứ 4 đến ngày thứ 8, chất dịch loãng hơn, lẫn với chất
nhầy lờ lờ như máu cá.

20


Từ khoảng ngày thứ 8 đến ngày thứ 12, sản dịch chỉ còn là chất nhầy
trong, hơi lẫn hồng, ít đi dần dần.
Cho con bú, vận động sớm, sẽ giúp tránh ứ đọng sản dịch.
Cần hướng dẫn sản phụ, sau khi sinh: tránh ứ sản dịch, giữ vệ sinh sạch
sẽ, phải mang băng vệ sinh để thấm máu, không nên dùng vải hoặc giấy dơ.
Tuyệt đối chỉ mang băng vệ sinh ở bên ngoài chứ không nhét bông gòn vào âm
đạo, vì như vậy sản dịch không thoát ra ngoài được, ứ lại sẽ là nguồn gây nhiễm
trùng rất nguy hiểm.
Phải tăng cường sức đề kháng bằng chế độ dinh dưỡng hợp lý, thích hợp.
4.1.4. Khám tầng sinh môn:
Tầng sinh môn, âm hộ: khô sạch, không sưng nề, không đỏ, không bầm
tím, không đau.
Nếu tầng sinh môn phù nề, sưng to, đỏ hay bầm tím, đau, phải theo dõi
máu tụ hay nhiễm trùng vết may, có khi phải cắt chỉ vết may để giải áp thoát
dịch, thoát mủ.
4.1.5. Theo dõi đại tiểu tiện:
Bí tiểu lâu, từ từ, ít đau tạo cầu bàng quang dễ lầm với khối cầu an toàn
của tử cung.
Phải động viên sản phụ đi lại nhiều, xoa nắn vùng bàng quang, tránh
thông tiểu không cần thiết và nhiều lần để tránh nhiễm trùng bàng quang, sau 4
giờ không tiểu phải được thông tiểu lưu trên 24 giờ.
Nếu táo bón cho sản phụ dùng thức ăn có nhiều chất xơ, uống nhiều
nước, xoa nắn bụng và khuyên sản phụ vận động sớm.Sau 3 ngày sản phụ
không đại tiện phải thụt tháo phân.
4.1.6. Vú:
Kiểm tra bầu vú, tiết sữa, lượng sữa, động viên sản phụ cho bé bú sớm.
Bác sĩ, nữ hộ sinh phải giải thích tầm quan trọng nuôi con bằng sữa mẹ, giúp
sản phụ giải quyết những khó khăn khi cho con bú như đầu vú tụt phải se đầu
vú, nứt đầu vú, tắc tia sữa…Vú cần được lau sạch trước và sau khi cho bú, nên
cho bé bú hết sữa hoặc nếu bú không hết cần vắt sữa để sự sản xuất sữa được
tiếp tục.
4.1.7. Vệ sinh:
Môi trường: Buồng điều trị sạch sẽ, yên tĩnh, thoáng mát.
Thân thể: Tắm gội sau 24 giờ cho đến vài ngày sau sanh (3- 4 ngày).
21


Tắm gội hằng ngày nhanh với nước ấm, nơi kín gió, lau khô ngay sau đó,
sau gội nên dùng máy sấy tóc làm khô tóc nhanh.
- Âm hộ - tầng sinh môn:
Làm vệ sinh âm hộ 2 – 3 lần trong ngày hay sau khi đại tiểu tiện.
Rửa bằng nước đun sôi để nguội nhẹ nhàng và cẩn thận theo hướng từ trước ra
sau (âm hộ đến hậu môn), không thụt rửa âm đạo, sau đó lau khô, thay băng vệ
sinh để thấm sản dịch. Nếu sản dịch ra nhiều, sản phụ nên vệ sinh nhiều hơn,
băng vệ sinh cần được thay thường xuyên.
Những ngày đầu, nếu sản dịch ra nhiều có thể dủng băng dầy, các ngày
sau có thể dùng băng thường. Sản phụ không nên thụt rửa âm đạo vì việc này có
thể làm tổn thương, nhiễm trùng âm đạo, viêm nội mạc tử cung.
Cần chú ý đến vết may tầng sinh môn bằng cách rửa sạch, giữ khô. Có
thể dùng túi chườm lạnh vùng tầng sinh môn để giảm phù nề và giảm đau vùng
vết may trong vài ngày đầu hậu sản.Thường sau một tuần, vết may tầng sinh
môn sẽ liền hẳn.
Nếu 4 – 5 ngày sau sản phụ không giảm đau, tầng sinh môn phù nề, có
thể bị nhiễm trùng vết may, tụ máu phải theo dõi, có khi phải cắt chỉ may để
giải áp thoát dịch, thoát mủ.
Mặc quần áo rông rãi thoáng mát, thích nghi theo mùa.
Quần áo lót giặt thường xuyên và phơi dưới ánh nắng hay ủi nóng.
4.1.8. Vận động – sinh hoạt:
Động viên sản phụ đi lại nhiều, sản phụ khi sanh chỉ nằm trên giường vài
giờ, sau đó đi lại nhẹ nhàng với sự hổ trợ của nhân viên y tế hay thân nhân. Tuy
nhiên, lúc đầu sản phụ cần ngồi dậy từ từ, hít thở sâu, đưa chân xuống đất trước
rồi đứng thẳng dậy. Nếu thấy chóng mặt sản phụ cần nằm xuống ngay tránh
hiện tượng choáng ngất bị ngã.
Vận động sớm sẽ giúp giảm những biến chứng của bàng quang và giảm
táo bón, giảm thuyên tắc phổi và viêm tắc tĩnh mạch.
Sản phụ nên nghĩ ngơi hợp lý, tránh lo lắng suy nghĩ nhiều.
Động viên giải thích cho sản phụ an tâm, không bận tâm lo lắng sau sanh.
4.1.9. Chế độ dinh dưỡng – thuốc:
Trong 6 tháng đầu sau sanh, nếu cho con bú thì nhu cầu năng lượng là
2750 Kcal / ngày như vậy năng lượng tăng thêm mỗi ngày là 550 Kcal / ngày
Sản phụ có nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cao hơn bình thường, vì
ngoài việc cung cấp dưỡng chất cho cơ thể người mẹ, một phần dinh dưỡng sẽ
22


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×