Tải bản đầy đủ

CHUYÊN đề tác ĐỘNG của THUỐC TRÊN hệ THẦN KINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MƠN SINH LÝ

CHUN ĐỀ

NEUROPEPTIDE- NERONHORMON VÀ
NEURONTRANSMITTER
TÁC ĐỘNG CỦA THUỐC TRÊN HỆ THẦN KINH

HỌC VIÊN: TRẦN MINH
PHƯƠNG
ĐINH
PHƯỚC ĐÔNG
GVHD: MAI PHƯƠNG THẢO

NIÊN KHĨA 2015- 2017


MỤC LỤC
I. NEUROPEPTIDE………………………............................................................……...2

II. TỔNG QUAN CHẤT DẨN TRUYỀN THẦN KINH……....................…………….3
1. PHÂN LOẠI:………………............................................................................………..4
2. CHẤT KÍCH THÍCH VÀ ỨC CHẾ……………………...............................................5
III. CƠ CHẾ DẪN TRUYỀN THẦN KINH………………….........................................6
IV. CÁC CHẤT DẪN TRUYỀN THẦN KINH................................................................7
1. ACETYLCHOLINE…………………………………………......................…………7
2. CATECHOLAMINS……………………………………..............................................8
3. SEROTONIN:…………………………………………................................................9
4. HISTAMINE…………………………………………................................................10
5. GLUTAMATE…………………………………………............................................10
6. GABA……………………………………………………...........................................11
7. GLYCINE………………………………………………............................................12
8. ATP và ADENOSINE………………………………………………….....................13
V. CHẤT GÂY NGHIỆN…………………………........................................................14
1. CƠ CHẾ GÂY NGHIỆN.............................................................................................15
2. HẬU QUẢ NGHIỆN………………………………………….....................………..17
HÌNH 1. CÁC CHẤT DẪN TRUYỀN THẦN KINH QUA KHE SYNAPSE................4
HÌNH 2. CHẤT KÍCH THÍCH VÀ ỨC CHẾ...................................................................6
HÌNH 3. CƠ CHẾ CÁC CHẤT DẪN TRUYỀN QUA TẾ BÀO.....................................7
HÌNH 4. CÁC CHẤT DẪN TRUYỀN QUA SYNAPE...................................................8
HÌNH 5. CÁC CHẤT GÂY NGHIỆN GẮN VÀO CÁC RECEPTOR..........................16

Trang 2


I. Neuropeptide:
Neuropeptide là những phân tử protein nhỏ giống như (peptide) được sử dụng bởi tế
bào thần kinh để giao tiếp với nhau. Chúng được phân tử tín hiệu thần kinh ảnh hưởng
đến hoạt động của não bộ trong những cách cụ thể. Neuropeptides khác nhau được tham
gia vào một loạt các chức năng của não, trong đó có tác dụng giảm đau, thưởng, chế độ
ăn, sự trao đổi chất, sinh sản, hành vi xã hội, học tập và trí nhớ.
Neuropeptide có liên quan đến hormon peptide, và trong một số trường hợp các peptide
có chức năng ngoại vi như kích thích tố cũng có các chức năng thần kinh như thần kinh
khác. Sự phân biệt giữa neuropeptide và peptide hormone đã làm với các loại tế bào thải
ra và đáp ứng với phân tử; neuropeptides được tiết ra từ các tế bào thần kinh (chủ yếu là
tế bào thần kinh mà còn tế bào thần kinh đệm cho một số peptide) và tín hiệu cho các tế
bào lân cận (chủ yếu là tế bào thần kinh). Ngược lại, các hormon peptide được tiết ra từ
các tế bào thần kinh nội tiết và đi qua máu đến các mô xa xôi nơi họ gợi lên một phản
ứng. Cả hai neuropeptides và hormone peptide được tổng hợp bởi cùng một bộ của các
enzym, trong đó bao gồm convertases prohormone và carboxypeptidases có chọn lọc tách

những tiền thân peptide tại các địa điểm chế biến cụ thể để tạo ra các peptide hoạt tính
sinh học.
Neuropeptide điều chỉnh truyền thần kinh bằng cách tác động lên các thụ thể bề mặt tế
bào. Nhiều neuropeptides được đồng phát hành với dẫn truyền thần kinh phân tử nhỏ
khác. Bộ gen người có khoảng 90 gen mã hoá tiền thân của thần kinh khác. Hiện nay
khoảng 100 peptide khác nhau được biết đến sẽ được phát hành bởi các quần thể khác
nhau của tế bào thần kinh trong não động vật có vú. Các nơ-ron sử dụng nhiều tín hiệu
hóa học khác nhau để truyền đạt thông tin, bao gồm cả truyền thần kinh, peptide, và
gasotransmitters. Peptide là duy nhất trong số các tế bào của tế bào phân tử tín hiệu trong
một số khía cạnh. Một khác biệt chính là peptide không được tái sử dụng vào tế bào một
khi tiết ra, không giống như nhiều chất thông thường (glutamate, dopamine,
serotonin). Một khác biệt nữa là sau khi bài tiết, peptide được sửa đổi theo peptidase
bào; trong một số trường hợp, những sự phân chia giai bào bất hoạt các hoạt động sinh
học, nhưng trong trường hợp khác, sự phân chia giai ngoại bào tăng ái lực của một
peptide cho một thụ thể đặc biệt, trong khi giảm ái lực của nó đối với thụ thể khác.Những
sự kiện chế biến tế bào thêm vào sự phức tạp của neuropeptides như các phân tử truyền
tín hiệu của tế bào.

Trang 3


Nhiều quần thể tế bào thần kinh có kiểu hình sinh hóa đặc biệt. Ví dụ, trong một quần
thể của khoảng 3.000 tế bào thần kinh trong nhân arcuate của vùng dưới đồi, Các peptide
được phát hành tất cả các trung tâm và hành động trên tế bào thần kinh khác tại thụ
thể. Các neuropeptide Y tế bào thần kinh cũng làm cho việc dẫn truyền thần kinh ức chế
GABA cổ điển.
Vật không xương sống cũng có nhiều neuropeptides. CCAP có một số chức năng bao
gồm cả điều chỉnh nhịp tim, allatostatin và proctolin điều chỉnh lượng thức ăn và tăng
trưởng, điều khiển bursicon thuộc da của các lớp biểu bì và corazonin có một vai trò
trong lớp biểu bì sắc tố da.
Peptide tín hiệu đóng một vai trò trong việc xử lý thông tin đó là khác nhau từ đó
của dẫn truyền thần kinh thông thường, và nhiều người xuất hiện để được đặc biệt liên
quan đến các hành vi cụ thể. Ví dụ, oxytocin và vasopressin có hiệu ứng ấn tượng và cụ
thể về các hành vi xã hội, bao gồm cả hành vi của bà mẹ.
II. TỔNG QUAN CHẤT DẨN TRUYỀN THẦN KINH:
Là các chất hoá học nội sinh dẫn truyền tín hiệu từ một neuron đến một tế bào đích qua
một synapse.
Được đóng gói trong các cúc synapse tập trung thành nhóm nằm dưới màng của đầu tận
cùng sợi trục, ở vùng trước synapse.
Được giải phóng và khuếch tán qua khe synapse, nơi chúng gắn với các thụ thể chuyên
biệt nằm ở màng sau synapse.
Sự giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh thường theo sau một điện thế hoạt động
được lan truyền đến synapse, nhưng cũng có thể theo sau một điện thế chọn lọc.
Sự giải phóng ở mức độ thấp cũng có thể xảy ra khi không có kích thích điện.
Được tổng hợp từ nhiều tiền chất đơn giản như axit amin có rất nhiều trong thức ăn và
chỉ cần một ít các phản ứng sinh tổng hợp để chuyển hoá các chất dẫn truyền thần kinh.

Trang 4


Hình 1: Các chất dẫn truyền thần kinh qua khe synapse
1. PHÂN LOẠI:
Có nhiều cách phân loại chất dẫn truyền thần kinh. Cách phân loại phổ biến là chia
ra theo nhóm axit amin, các peptid, và các monoamin
Các nhóm lớn của chất dẫn truyền thần kinh:
o

Axit amin: glutamat, aspartat, D-serin, axit-gamma-aminobutyric (GABA),
glycin.

o

Các monoamin và các amin sinh học khác: dopamin (DA), norepinephrin
(NE; NA), epinephrin, histamin, serotonin (SE, 5-HT).

o

Các peptid: somatostatin, chất P, và peptid opioid.

o

Các chất khác: acetylcholin (ACh), adenosin, anandamid, nitric oxid...

Ngoài ra, trên 50 peptid có hoạt tính thần kinh đã được phát hiện, và số lượng vẫn
còn tiếp tục tăng.
o

Trong đó nhiều chất được giải phóng đồng thời với một chất dẫn truyền
tiểu phân tử, nhưng phần lớn các trường hợp, peptid mới là chất dẫn truyền
chính tại sinap.

Trang 5


Beta- endorphin là một chất dẫn truyền thần kinh đặc trưng, nó tham gia

o

vào phản ứng có tính đặc hiệu cao với các thụ thể opioid trong hệ thần kinh
trung ương.
Các ion đơn nguyên tử, như kẽm được giải phóng từ synapse, đôi khi cũng được
xem là chất dẫn truyền thần kinh, cũng giống như các phân tử khí như Nitric oxid (NO),
Hydro sulfur (H2S), và Carbon monoxid (CO).
Các chất trên không phải là các chất dẫn truyền thần kinh nếu được xem xét khắt
khe dựa trên định nghĩa, do chúng được chứng minh trong thực nghiệm là được giải
phóng từ đầu tận cùng sợi trục một cách chủ động, nhưng chúng không được đóng gói
trong các túi.
Chất dẫn truyền phổ biến nhất là glutamat, một chất kích thích tại hơn 90% các
synapse trong não bộ người.
Đứng thứ hai là GABA, là chất ức chế tại hơn 90% các synapse không dùng
glutamat làm chất dẫn truyền. Mặt dù các chất dẫn truyền khác có mặt tại synapse ít hơn,
chúng có thể có chức năng rất quan trọng - phần lớn các thuốc có tác động đến tâm thần
phát huy tác dụng bằng cách thay đổi các hoạt động của một vài hệ thống các chất dẫn
truyền thần kinh, thường là tác động qua các chất dẫn truyền khác của glutamat và
GABA.
Các thuốc gây nghiện như cocain và amphetamin phát huy tác dụng của chúng
tương tự như các peptid opioid, tức là tham gia điều hoà lượng dopamin.
2. CHẤT KÍCH THÍCH VÀ ỨC CHẾ:
Một chất dẫn truyền thần kinh có tác dụng trực tiếp duy nhất là kích hoạt một hay
nhiều loại thụ thể.
Tác dụng này lên tế bào sau synapse phần lớn phụ thuộc vào loại thụ thể chịu
tác dụng.


Các thụ thể quan trọng nhất của một số chất dẫn truyền thần kinh
(như glutamat) chỉ có tác dụng kích
thích, làm tăng khả năng làm cho tế bào
đích phát ra một điện thế hoạt động.



Các thụ thể quan trọng nhất
của các chất dẫn truyền thần kinh khác
(như GABA) chỉ có tác dụng ức chế.

Trang 6


Các chất dẫn truyền thần kinh khác, như acetylcholin vừa có thụ thể



kích thích vừa có thụ thể ức chế.
Có một số thụ thể gây ra các tác động lên tế bào sau synapse để hoạt



hoá các con đường chuyển hoá phức tạp mà không rõ tác động kích thích hay
ức chế.
Hinh 2: Chất kích thích và ức chế
III. CƠ CHẾ DẪN TRUYỀN THẦN KINH:
Các bước dẫn truyền tại synapse thần kinh
o

Tổng hợp chất dẫn truyền thần kinh, tích trữ và phóng thích chất dẫn truyền
thần kinh.

o

Sự tương tác của chất dẫn truyền thần kinh được phóng thích ra với thụ thể
nằm trên màng sau synapse.

o

Sự di chuyển của chất dẫn truyền thần kinh từ màng synapse.

Không phải tất cả các chất hoá học dẫn truyền được phóng thích ra từ màng trước
synapse đều là chất dẫn truyền thần kinh.
Hệ thần kinh sử dụng hai loại hoá chất chính làm chất dẫn truyền: các chất dẫn
truyền phân tử nhỏ và các peptide hoạt hoá thần kinh.
Các chất dẫn truyền thần kinh được tổng hợp trong thân tế bào của neuron rồi được
chuyên chở xuống sợi trục đến tận cùng dây thần kinh.
Mỗi chất dẫn truyền được sản xuất theo từng bước một do một enzyme khác biệt.
Các chất dẫn truyền thần kinh được chứa trong các túi và được phóng thích từ tận
cùng sợi trục khi các túi hợp nhất với màng tận cùng sợi trục, làm tràn chất dẫn truyền
vào trong synapse, gọi là sự xuất bào.
Sự phóng thích nhanh chóng chất dẫn truyền thần kinh là do dòng calcium đi vào
trong tận cùng tiền synapse.
o

Nồng độ calcium ngoại bào tăng làm tăng sự phóng thích các chất dẫn
truyền thần kinh.

o

Nồng độ calcium ngoại bào thì sự phóng thích chất dẫn truyền thần kinh
giảm và sau đó là chẹn sự dẫn truyền qua synapse.

Trang 7


o

Dòng calcium đi vào trong tận cùng tiền synapse qua ba loại kênh calcium
chính nằm trên màng tế bào tiền synapse: Các kênh nhóm P/Q, nhóm N và
nhóm R.

Hình 3: Cơ chế các chất dẫn truyền qua tế bào
IV. CÁC CHẤT DẪN TRUYỀN THẦN KINH:
1. ACETYLCHOLINE:



Là chất dẫn truyền amine mà không phải axit amin.
Sự tổng hợp acetylcholine chỉ liên quan đến một phản ứng men với choline



transferase, là enzyme chủ yếu.
Hệ thần kinh không tổng hợp được choline, choline dẫn xuất từ thức ăn sẽ được



các neuron nơi xảy ra tổng hợp chiếm lấy.
Với sự hiện diện của enzyme choline transferase,



coenzyme A để sản xuất ra acetylcholine.
Acetylcholine cũng là chất dẫn truyền thần kinh cho tất cả các neuron tiền hạch và





các neuron đối giao cảm hậu hạch.
Acetylcholine được sử dụng tại nhiều synapse ở khắp nơi trong não.
Các neuron cholinergic có rất nhiều trong cấu trúc là các nhân nền sọ.
Cơ chế tác dụng:

Trang 8

thì choline kết hợp với


o

Acetylcholine khi gắn vào thụ thể acetylcholine trên màng hậu synapse sẽ
làm các thụ thể liên
kết với các kênh
sodium mở ra cho
phép các dòng ion
sodium đi vào gây
giảm điện thế màng.

o

Nếu sự khử cực
của

màng

synapse

đạt

hậu
đến

ngưỡng, thì một điện
thế hoạt động được
gây ra trong màng hậu synapse.
Hình 4: Các chất dẫn truyền qua synape
2. CATECHOLAMINS:


Các chất dẫn truyền catecholamine gồm có dopamine, norepinephrine và
epinephrine được tổng hợp từ tyrosine.
o

Tyrosine được sản xuất ở gan từ phenylalanine nhờ enzyme
phenylalanine hydroxylase.

o

Tyrosine

được

chuyên

chở

đến

các

neuron

catecholamine-

catecholaminergic nơi một chuỗi phản ứng men chuyển nó thành
dopamine, neoepinephrine và cuối cùng là epinephrine.

− Dopamine được các neuron trong nhiều vùng của não sử dụng, các vùng này liên
quan đến sự thúc đẩy và tăng cường cũng như thực hiện các chuyển động phức tạp
của cơ thể do các lệnh chủ ý đưa ra.
o

Các neuro-dopanergic bắt nguồn từ ba nhóm tế bào trong cuống não:
vùng sau nhân đỏ; phần đặc chất đen và vùng bụng mái.

o

Sự phóng chiếu từ ba nhóm tế bào này đến các vùng riêng biệt của não
trước hình thành hệ thống chất đen thể vân; hệ viền vỏ não và hệ giữa
vỏ não.

− Norepinephrine là một chất dẫn truyền thần kinh ở các nhân xanh tại cuống não
mà các sợi trục của chúng kéo dài ra đến tận vỏ não, tiểu não và tuỷ sống.

Trang 9


o

Tại hệ thần kinh trung ương, norepinephrine là chất dẫn truyền thần
kinh ở các neuron hậu hạch của hệ thần kinh giao cảm.

− Các catecholamine thực hiện các tác động kích thích và ức chế trong hệ thần kinh
ngoại biên cũng như hệ thống thần kinh trung ương.
o

Tác động kích thích như: tăng nhịp tim, tăng co bóp cơ tim và kích thích
hoạt động hô hấp và tâm thần vận động, kích thích da và màng nhầy
bằng cách cung cấp máu qua sự giãn mạch.

o

Tác động ức chế trên cơ trơn ở thành ống tiêu hoá, phế quản phổi cũng
như các mạch máu cung cấp máu cho cơ xương.

o

Catecholamine làm tăng chuyển hoá của cơ thể như tăng mức độ ly giải
glycogen và tiết insulin.

− Có hai loại gắn kết chính các thụ thể catecholamine, được đặt tên là alpha- và
beta- adrenergic.
o

Các thụ thể adrenergic được liên kết với các protein G trong bào tương.

o

Sau khi hoạt hoá các thụ thể adrenergic, norepinephrine được giữ lại hết
vào trong màng synapse để kết thúc hoạt động của nó.

3. SEROTONIN:


Serotonin (5-hydroxytryptamine, 5-HT) hình thành từ sự hydroxyl hoá và khử



carboxyl hoá của tryptophan.
Nồng độ lớn nhất của serotonin được tìm thấy trong các tế bào ưa chrome của
đường tiêu hoá.
o

Serotonin còn lại được thấy trong hệ thần kinh trung ương và trong tiểu
cầu.

o

Các thân tế bào của neuron sản xuất ra serotonin khởi đầu được tìm thấy
nhân đường đan (raphe nuclei) và vùng lưới của cuống não dưới.



Chức năng của serotonin được thực hiện khi nó tương tác với các thụ thể
đặc hiệu.
o

Có 14 phân nhóm 5-HT, trong đó thụ thể 5-HT1 có 5 phân nhóm, thụ thể
5-HT2 có 3 phân nhóm, thụ thể 5-HT5 có 2 phân nhóm.

o

Một số thụ thể serotonin có trong tận cùng thần kinh tiền synapse và
một số có trong màng hậu synapse.

Trang 10


o

Hầu hết các thụ thể này được liên kết với các protein G điều hoà các
hoạt động hoặc của adenylate cyclase hoặc phospholipase C.

− Sau khi serotonin được phóng thích, một phần của chúng được giữ lại ở tận cùng
tiền synapse tương tự như sự giữ lại norepinephrine.
− Ở hệ thần kinh ngoại biên
o

Serotonin có tác dụng nổi trội trong hệ tim mạch, hệ hô hấp cũng như
ruột.

o

Co thắt mạch là một đáp ứng kinh điển khi dùng serotonin.

o

Thụ thể 5-HT2A làm trung gian cho sự kết tập tiểu cầu và sự co cơ trơn.

o

Thụ thể 5-HT3 kiểm soát sự nôn ói và 5-HT4 kiểm soát sự tiết.

− Ở hệ thần kinh trung ương
o

Thụ thể 5-HT6 và 5-HT7 được phân phối trên khắp hệ viền.

o

Các thuốc 5-HT6 có ái lực cao với thuốc chống trầm cảm.

o

Hai phân nhóm thụ thể của serotonin này giữ vai trò điều hoà tính khí,
ăn, ngủ và thức tỉnh.

4. HISTAMINE:

− Là một imidazole và cũng là một autocoid được phóng thích từ các dưỡng bào
trong thời gian xảy ra phản ứng viêm.
− Được tổng hợp từ histidine do sự khử carboxyl hoá tại vùng dưới đồi.
− Histamine kiểm soát hệ mạch máu, cơ trơn cũng như chức năng các tuyến ngoại
tiết, như tiết dịch vị vào dạ dày.
5. GlLUTAMATE:

− Là chất dẫn truyền thần kích thích nhanh ở não.
o

Các synapse kích thích nhanh chủ yếu ở hệ thần kinh trung ương sử
dụng glutamate như là một chất dẫn truyền thần kinh.

− Glutamate hoạt hoá ba loại thụ thể chính
o

Thụ thể glutamatergic hướng ion nhạy cảm với Alpha-amino-3hydroxy-5-methyl-4-isoxazolepropionic acid (AMPA).

o

Thụ thể glutamatergic hướng ion nhạy cảm với N-methyl-D-aspartate
(NMDA).

o

Thụ thể hướng chuyển hoá.

− Thụ thể AMPA
Trang 11


o

Liên quan đến việc làm trung gian cho hầu hết các dạng dẫn truyền thần
kinh nhanh glutamatergic.

o

Liên kết với các kênh ion cho phép các ion sodium và potassium thấm
qua.

− Thụ thể NMDA
o

Là các kênh ion dẫn calcium cao cho phép các ion sodium và
potassium thấm qua.

o

Có thể được polyamine và glycine điều biến tích cực nhưng lại bị các
ion magnesium ở các nồng độ sinh lý chẹn lại theo cách phụ thuộc và sử
dụng điện áp.

o

Được hoạt hoá sau khi khử cực màng hậu synapse làm giảm bớt sự chẹn
magnesium phụ thuộc điện thế.

o

Giữ một vai trò chủ yếu trong việc làm trung gian cho sự tái tạo
synapse giúp cho việc học tập và trí nhớ.

o

Glutamate kích thích quá nhiều thụ thể NMDA trong các bệnh lý như
thiếu máu cục bộ, thiếu oxy và chấn thương, có thể gây ra chết tế bào do
quá tải calcium trong tế bào.

− Thụ thể chuyển hoá
o

Được liên kết hoặc với adeenylase hoặc với phospholipase C qua các
protein G.

o

Sự hoạt hoá các thụ thể chuyển hoá gây ra sự tăng calcium trong bào
tương và giữ một vai trò trong một số dạng tái tạo synapse.

6. GABA:

− Được tạo thành từ sự khử carboxyl của glutamate nhờ sự xúc tác của men
glutamate decarboxylase
o

Là enzyme được tạo thành ở nhiều chỗ tận cùng dây thần kinh của não
và trong các tế bào beta của tuỵ.

o

Glutamate decarboxylase chỉ tìm thấy trong các neuron GABAergic.

− Thực hiện tác dụng của nó qua hai thụ thể: GABAA và GABAB.
− Là chất dẫn truyền thần kinh ức chế của dẫn truyền tiền synapse trong hệ thần kinh
trung ương.

Trang 12


o

Sự gia tăng chức năng GABAergic là một phương pháp có hiệu quả
trong điều trị một số chứng lo lắng và động kinh.

− Được sử dụng trong nhiều neuron trung gian ức chế





Trong các tế bào amacrine của võng mạc.



Các tế bào hình giỏ của tiểu não



Vùng hồi hải mã.



Tế bào Purkinje của tiểu não.



Các tế bào hạt của bóng khứu giác.

Cơ chế tác dụng
o

GABA khi gắn với thụ thể GABAA sẽ làm mở các kênh chloride hay
các thụ thể GABAB gây hoạt hoá protein G và gây mở kênh potassium.

o

Trong cả hai trường hợp, hoặc dòng chloride đi vào hoặc dòng
potassium đi ra sẽ gây ra một sự tăng đáng kể điện thế màng.

o

Điện thế màng gia tăng này được gọi là điện thế ức chế hậu synapse vì
làm giảm tác dụng của các tín hiệu kích thích có thể cùng đến các
neuron.

o

Dù neuron nhận phân bố thần kinh kích thích và ức chế cũng sẽ sinh ra
một điện thế hoạt động phụ thuộc vào sự cân bằng giữa các tín hiệu kích
thích và tín hiệu ức chế.

7. GLYCINE:

− Là một chất dẫn truyền thần kinh ức chế quan trong khác giữ vai trò ức chế nổi
trội trong cuống não cũng như trong các neuron trung gian của tuỷ sống.
− Mặc dù sự sinh tổng hợp của glysine chưa được nghiên cứu một cách xuyên suốt,
người ta nghĩ rằng glysine được tổng hợp từ serine.
− Glysine hoạt hoá thụ thể glycine là một kênh chloride, tương tự với các hoạt hoá
thụ thể GABA, sự gia tăng vận chuyển chloride đưa đến phát sinh điện thế ức chế
hậu synapse.
8. ATP và ADENOSINE:


ATP
o

Tác động trên các động mạch, ruột, phổi và bàng quang.

Trang 13


o

Một số neuron phóng thích ATP cùng với các chất dẫn truyền thần kinh khác
có thể để gia tăng sự ổn định về hoá học.

o

Các thụ thể ATP (P2X và P2Y) phân bố rộng khắp cơ thể.


Các thụ thể P2X (có 7 phân nhóm) lên kết với các kênh cation, do đó
chúng khử cực và kích thích các tế bào sau khi kích thích thụ thể.



Thụ thể P2Y (5 phân nhóm) liên kết với protein G và làm trung gian
cho nhiều tác động sinh lý.



Các thụ thể P2X có trong các neuron cảm giác của hạch rễ lưng, khi
ATP được phóng thích từ các neuron bị tổn thương sẽ hoạt hoá các thụ
thể này gây ra một dòng cation lớn đi vào khử cực các neuron và gợi ra
các điện thế hoạt động như gây ra đau.



Vì thế người ta nghĩ rằng ATP và các thụ thể của nó liên quan đến sự
khởi xướng tín hiệu đau.

o

Các tác động của ATP được kết thúc bởi ectoenzym khử phosphorylate ATP
thành adenosine.

o

Các nghiên cứu gần đây cho thấy các nucleotidase có thể hoà tan, được phóng
thích từ các đầu tận cùng của dây thần kinh giữ vai trò trong việc kết thúc tác
động của ATP.



Adenosine
o

Là một chất điều biến thần kinh vì nó tác động đến sự dẫn truyền tín hiệu tại
nhiều synapse sử dụng các chất dẫn truyền thần kinh khác.

o

Các nghiên cứu gần đây cho thấy bản thân adenosine có thể tương tác trực
tiếp với các thụ thể trên bề mặt của các tế bào xung quanh.

o

Các thụ thể adenosine có ba phân nhóm khác nhau: A1, A2 và A3.


Thụ thể A1
Có nhiều trong tiểu não, liên quan đến sự kiểm soát vận động cơ thể.
Ở vùng hồi hải mã liên quan đến học tập và trí nhớ.
Ở đồi thị là trung tâm tiếp nhận rồi truyền tín hiệu lên não.



Thụ thể A2
Có nhiều ở thể vân, liên quan đến việc thực hiện các vận động chú ý.
Ở các nhân cung được cho là có liên quan đến sự nghiện rượu và
thuốc.

Trang 14


Ở khứu giác liên quan đến việc cảm nhận mùi.
o

Sự hoạt hoá các thụ thể adenosine chủ yếu là điều biến chức năng tế bào bằng
cách thay đổi mức độ của chất đưa tin thứ hai bên trong tế bào.


Cyclic adenosine monophosphate (cAMP) và diacylglycerol (DAG) sẽ
hoạt hoá protein kinase A và protein kinase C dẫn đến sự phosphoryl
hoá các protein khác.



Nếu các protein được phosphoryl hoá là các yếu tố sao chép, điều này sẽ
mang lại các thay đổi lâu dài trong diễn giải của gen và do đó ảnh
hưởng đến chức năng của tế bào.

V. CHẤT GÂY NGHIỆN:

− Gây cho người sử dụng nó có sự ham muốn không kiềm chế được là phải sử dụng
bằng bất cứ giá nào .
− Gây cho người sử dụng có khuynh hướng phải tăng liều dùng , tức càng ngày liều
dùng phải cao hơn mới có tác dụng ( thường được gọi là “ lờn thuốc” ).
− Gây cho người sử dụng nó có sự lệ thuộc , hay cũng có thể nói là sự nô lệ , về mặt
tâm thần và thể chất .Nếu đã nghiện chất gây nghiện mạnh là ma túy mà ngưng sử
dụng sẽ bị “ hội chứng cai thuốc ” ( withdrawal syndrome ) làm cho vật vã đau
đớn khiến cho người nghiện khó lòng bỏ ma túy được.
− Đúng ra từ ma túy chỉ dùng chỉ một số chất : thuốc phiện , morphin , heroin ,
cocain và những thuốc tổng hợp tương tự morphin được ghi tên chung là opiat hay
opioid . Nhưng hiện nay dân nghiện sử dụng khá nhiều thuốc ngoài các chất là ma
túy thật sự nên có thể chia các chất gây nghiện thành 4 nhóm sau :
Những chất ma túy thật sự , gồm có : Thuốc phiện ( Opium , còn gọi là nha phiện ,
á phiện , được trích ra từ quả cây thuốc phiện ) ; Morphin ( hoạt chất chính được trích ra
từ thuốc phiện ) ;Heroin ( diacetyl morphin , còn gọi là bạch phiến ) , các chất tổng hợp
tương tự morphin ( pethidin , Oxycodon , methadon…); cocain ( hợp chất trích từ lá cây
coca )
Những chất gây ảo giác ( hallucinogens ) gồm có : Cần sa ( marijuana , Hashish ,
Ganjah , tiếng lóng hiện nay là bồ đà ; LSD ( viết tắt của Lyserg Sauer Diethylamide tức
Lysergic acid diethylamide ) ; Messcaline ( hợp chất trích từ xương rồng Nam mỹ có tên
là Peyote) , Psilocybin ( trích từ một loại nấm ở Mexico ).

Trang 15


Những

chất kích

thích

hệ

thần

kinh

trung

ương ,

gồm

có : Amphetamin , methyphenidat , và các dẫn chất của amphetamin như : methylen
dyoxy-methamphetamin ( MDMA , ecstasy , ở ta gọi là “ thuốc lắc ” )
Những chất ức chế hệ thần kinh trung ương , gồm có : Thuốc ngủ
loại barbiturat ( Se1conal , tiếng lóng trước đây gọi là “ sì cọt ”, Immenoctal , Binoctal
…) Thuốc an thần gây ngủ loại benzodiaepin ( diazepam : Saduxen Valium , rohypnol
Tiếng lóng hiện nay gọi là “ rô cam ”, hay “ rô hồng ” )
1. Cơ chế gây nghiện:
Khi đưa vào cơ thể một thuốc gây nghiện , điển hình là morphin , sẽ làm giảm triệu
chứng đau , đồng thời gây nên các hiệu ứng khác : ức chề hô hấp , kích thích tim , chống
sự co thắt của nhu động ruột ( người nghiện thường bị táo bón ) và đặc biệt gây cảm giác
khoái lạc mà người nghiên mô tả là không có cảm giác khoái lạc nào bằng , sau đó là gây
nghiện tức là không bỏ thuốc được, bằng bất cứ giá nào cũng phải tiếp tục sử dụng nó .
Có được những hiệu ứng như thế do morphin đã gắn vào các receptor của nó trong cơ thể
( nhiều nhất ở não , tủy sống ) được gọi là opioid receptor ( opioid bắt nguồn từ opium là
thuốc phiện ).
Vào đầu những năm 1970 , người ta mới phát hiện ra các opiod receptor và hiện nay
đã phân thành 4 loại :

 Receptor “ µ ” : là receptor khi morphin gắn vào sẽ gây tác dụng giảm đau ,
gây khoái cảm , ức chế hô hấp và gây lệ thuộc thể chất ( tức gây nghiện )
 Receptor “ kappa : gây an thần , thu hẹp đồng tử ( tức con ngươi ở mắt )
 Receptor “ delta ” : gây ảo giác kích thích tim
 Receptor “ nociceptin ”: mới phát hiện , gây lo lắng , trầm cảm , thèm ăn.
Các receptor này có rất nhiều ở sừng sau tuỷ sống của động vật có xương sống, ở
nhiều vùng trong thần kinh trung ương: Đồi thị, chất xám quanh cầu não, não giữa. Các
receptor của morphin còn tìm thấy ở trong vùng chi phối hành vi (hạnh nhân, hồi hải mã,
nhân lục, vỏ não), vùng điều hòa hệ thần kinh thực vật (hành não) và chức phận nội tiết
(lồi giữa). Ở ngoại biên, các receptor có ở tuỷ thượng thận, tuyến ngoại tiết dạ dày, đám
rối thần kinh tạng. Về mặt điều trị, mỗi receptor được coi như có chức phận riêng.
Khi phát hiện ra các opoid receptor , người ta hết sức phân vân tự hỏi không lẽ
receptor này hiện diện trong cơ thể là thừa, chỉ sử dụng thuốc giảm đau là thuốc gây
nghiện bên ngoài gắn vào mới phát huy tác dụng? Thiên nhiên ít khi đắt để một cái gì là
thừa cả . Vậy phải có chất gì có chính trong cơ thể đẻ gắn vào các receptor này .

Trang 16


Vào năm 1975 , người ta phát hiện và trích ly từ não heo hai hợp chất được đặt tên
chung là ankephalin có tác dụng giống như morphin gắn vào các opiod receptor . Hai hợp
chất chỉ có 5 acid amin , cả hai đều giống cả 4 acid amin chỉ khác ở một acid amin còn
lại; một có chứa methionin nên được gọi là Met-enkephalin , một chứa leucin được gọi là
Leu- enkephalin . Chính hai hợp chất này đã mở đầu cho việc tìm kiếm các chất có trong
cơ thể có tác dụng như morphin gọi là endophin ( morphin nội sinh ).

Hình 5: Các chất gây nghiện gắn vào các Receptor
Như vậy , ta thấy trong cơ thể ta cũng có ma túy nhưng loại ma túy này hoàn toàn
vô hại do chính cơ thể sản xuất ra , không quá thừa , và chính nhờ chúng mà cuộc sống ta
mới thoải mái . Nếu không có các endorphin , ngưỡng đau của ta sẽ rất thấp , đáng lý đau
chút ít sẽ thành đau rất nhiều . Khi bị chấn thương , ta bị đau và có thể “ cắn răng chịu
đựng ” ấy là nhờ cơ thể đã sản xuất ra endorphin hỗ trợ cho ta . Sự phát hiện ra endorphin
phần nào giải thích cơ thể của một số phương thức trị liệu không dùng thuốc giảm đau ,
chẳng hạn như châm cứu gây tê . Châm cứu làm giảm đau được một số nhà y học giải
thích là do kích thích cơ thể tiết ra endorphin nhiều hơn .
Sự phát hiện ra chất opiod receptor và các endorphin giúp giải thích tính chất gây
nghiện của ma túy và hiểu biết vì sao người ta bị nghiện . Khi sử dụng chất gây nghiện
nhiếu lần , chất gây nghiện gắn vào các receptor và làm thay đổi một số chất sinh học
đóng vai trò điều hòa hoạt động sinh lý của cơ thể . Cơ thể phải tự điều chỉnh để quen
dần sự thay đổi do sự hiện diện của chất gây nghiện . Mặt khác , chính các endorphin , do

Trang 17


cơ thể đã có chất gây nghiện , sẽ tự ức chế tiết ra ít dần đi và sau cùng là hoàn toàn không
tiết ra nữa . Đây là cơ chế gọi là sự phản hồi ( feedback ), giống như một nước quen nhận
viện trợ , không thèm sản xuất , đến lúc nào đó hoàn toàn chỉ sống nhờ vào viện trợ . Có
thể nói , người nghiện không còn khả năng sản xuất endorphin, do không có endorphin
phải sống lệ thuộc vào chất gây nghiện . Nếu ngưng sử dụng chất gây nghiện do hoàn
toàn không có endorphin , sự điều chỉnh hoạt động của các chất sinh học bị hụt hẩng , sẽ
bị cơn vật vã dữ dội mà người nghiện khó lòng chịu đựng được .
Người nghiện chất gây nghiện ở gai đoạn đầu phải dùng thuốc do hiệu ứng
thưởng , nhưng càng vể sau không thể bỏ thuốc , phải tiếp tục dùng thuốc chính vì hiệu
ứng phạt . Sự thưởng phạt còn được giải thích thông qua hoạt động của chất dẫn truyền
thần kinh . Chất gây nghiện gây ra hiệu ứng thưởng bằng cách tăng cường sự dẫn truyền
của hệ dopamin, tức làm cho chất dẫn truyền thần kinh là dopamin hoạt động mạnh lên .
Chất gây nghiện như opioid mặc dù tác động chủ yếu trên cụ thể opioid nhưng cũng gián
tiếp tăng cường hệ dopamin .
Nếu đột ngột nhưng chất gây nghiện , sẽ có sự hụt hẩng , sự thích ứng thần kinh
ban đầu không còn thích hợp , cơ thể tự điều chỉnh để có sự cân bằng mới . Lần này sự tự
điều chỉnh chính là “ hội chứng cai thuốc ”trừng phạt người nghện một cách nghiệt
ngã.Còn đối với nghiện game online , hoặc nghiện sex , sự tự điều chỉnh khi không tiếp
tục hành vi bị nghiện ở mức độ nhẹ hơn là cảm thấy rất khó chịu , luôn bị ám ảnh phải
tiếp tục thực hiện hành vi bị nghiện đó bất chấp sự tự chủ của bản thân .
2. HẬU QUẢ NGHIỆN:
Chúng ta biết một cơ chế tương tự liên quan tình trạng tăng dung nạp đôi lúc có thể
dẫn tới thay đổi quan trọng trong tế bào thần kinh và trong vòng tự thưởng của não bộ,
dẫn đến khả năng tổn thương trầm trọng “sức khoẻ” của não bộ. Ví dụ, glutamate là một
chất dẫn truyền thần kinh khác có ảnh hưởng đến vòng cung tự thưởng và khả năng học.
Khi độ tập trung mong muốn của glutamate bị thay đổi bởi lạm dụng ma tuý, não bộ cố
gắng cân bằng lại sự thay đổi này và điều đó có thể là nguyên nhân gây giảm chức năng
nhận thức.
Tương tự, lạm dụng ma tuý lâu dài có thể kích hoạt thói quen thích ứng hoặc kích
hoạt hệ thống trí nhớ không ý thức. Điều khiển phản ứng là một ví dụ của thể loại học,
mà qua đó hình ảnh môi trường sử dụng ma tuý các lần trước trở thành yếu tố liên kết với
việc sử dụng ma tuý trước kia và có thể kích hoạt thèm muốn không kiểm soát được nếu

Trang 18


lần trước người nghiện sử dụng ma tuý trong môi trường này, ngay cả khi không có ma
tuý sẵn sàng sử dụng. Đây là cách học sử dụng ma tuý “phản ứng” cực kỳ hiệu quả và có
thể xuất hiện ngay cả khi người nghiện đã bỏ ma tuý được nhiều năm.
Sử dụng ma tuý nhiều năm làm gián đoạn cấu trúc não nặng nề tác động tới kiểm soát
và ức chế hành vi liên quan tới lạm dụng ma tuý. Công bằng mà nói, tiếp tục lạm dụng có
thể dẫn tới dung nạp tăng hoặc cần phải sử dụng liều cao hơn để có được hiệu quả mong
muốn (thoả mãn cơn thèm). Điều đó cũng có thể dẫn tới nghiện và người lạm dụng tìm
kiếm ma tuý, sử dụng ma tuý như một cơn xung dộng. Nghiện ma tuý tiêu huỷ dần dần
khả năng tự kiểm soát và khả năng ra quyết định thật sự khi phát tín hiệu xung động sử
dụng ma tuý trở nên mãnh liệt.

Trang 19


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chất gây nghiện và sử dụng, Drugs and their effects, Việt names.
2. Dược lực học 2007, Trần Thị Thu Hằng, Trang 181- 192.
3. Sinh lý học y khoa, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Pocket Handbook of Psychiatric Drug Treatment Fifth Edition, Benjamin j. Sadock,
Virginia. Sadock, Norman Sussman.

Trang 20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×