Tải bản đầy đủ

RÁC THẢI SINH HOẠT Ở VIỆT NAM

TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT LÝ TỰ TRỌNG TP.HCM

TIỂU LUẬN
RÁC THẢI SINH HOẠT Ở VIỆT NAM

Nhóm sinh viên
-

Phan Vĩnh Ngà
Đỗ Văn Hóa
Nguyễn Đình Quốc Cường
Đặng Hoàng Nhật


TP.HCM. 16/4/2014

2


MỞ ĐẦU


Rác thải nói chung, và rác thải sinh hoạt nói riêng hiện nay là vấn đề mà nhiều
quốc gia trên thế giới phải tìm nhiều biện pháp khác nhau dể khắc phục và tốn
kém nhiều chi phí vì rác thải không chỉ làm mất mỹ quan sinh hoạt mà còn ảnh
hưởng đến môi trường và sức khỏe con người. Với Việt Nam một quốc gia trông
nhóm nước đang phát triển, thì rác thải và rác thải sinh hoạt là vấn đề đáng lưu
tâm, trong khi dân số ngày một tăng lên và chất lượng cuộc sống ngày càng cao.
Vậy câu hỏi là tình hình rác thải ở nước ta như thế nào? Và giải pháp của vấn đề
này là gi? Chúng ta hãy cùng đi sâu hơn vào vấn đề này.

3


Mục Lục

Nội dung

Trang

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ RÁC THẢI VIỆT NAM

1

NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA RÁC THẢI SINH HOẠT

3

NHỮNG PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI SINH HOẠT

5

4


CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ RÁC THẢI
VIỆT NAM

I. THỰC TRẠNG CHUNG VỀ RÁC THẢI SINH HOẠT Ở VIỆT NAM
Theo số liệu thống kê, hiện nay tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh
trong toàn quốc ước tính khoảng 12,8 triệu tấn/năm, trong đó khu vực đô thị

(từ loại 4 trở lên) là 6,9 triệu tấn/năm (chiếm 54%), lượng chất thải rắn, còn lại
tập trung ở các xã, thị trấn thuộc huyện. Dự báo tổng lượng chất thải rắn sinh
hoạt đô thị đến năm 2010 là vào khoảng hơn 12 triệu tấn/năm và đến năm 2020
khoảng gần 22 triệu tấn/năm. Như vậy, với lượng gia tăng chất thải rắn sinh
hoạt như trên thì nguy cơ ô nhiễm môi trường và tác động tới sức khoẻ cộng
đồng do chất thải rắn gây ra đang trở thành một trong những vấn đề cấp bách
của công tác bảo vệ môi trường ở nước ta. Tuy nhiên cho đến nay, công tác
quản lý chất thải rắn vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt là vấn đề thu gom
và xử lý.

II. NGUỒN PHÁT SINH
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con
người. Hàng ngày chất thải rắn sinh hoạt ở các đô thị được phát sinh từ các
nguồn sau:
- Chất thải sinh hoạt của dân cư, khách vãng lai, du lịch…: thực phẩm dư thừa
nilon, giấy, carton, nhựa, vải, rác vườn, gỗ, thuỷ tinh, lon đồ hộp, tro, các chất
thải nguy hại;
- Chất thải rắn từ các chợ, tụ điểm buôn bán, nhà hàng khách sạn, khu vui chơi
giải trí, khu văn hoá…: thực phẩm dư thừa, giấy, cacton, nhựa, gỗ, thuỷ tinh, kim
5


loại, các chất thải độc hại,…
- Chất thải rắn sinh hoạt từ các viện nghiên cứu, cơ quan, trường học…: giấy,
bao bì
các loại, thực phẩm dư thừa…
- Chất thải rắn sinh hoạt của công nhân trong các công trình xây dựng, cải tạo

nâng cấp khắp quận;
- Chất thải rắn sinh hoạt của công nhân trong nhà máy, xí nghiệp, khu công
nghiệp;…

III. HƯỚNG GIẢI QUYẾT
Các nước tiên tiến trên thế giới như Nhật, mỹ....,do ý thức người dân cao nên
việc phân loai rác tại nguồn là rất tốt cộng với khe năng về công nghệ cao nên
họ có biên pháp xử lý thích hợp cho từng laọi rác thải. ví dụ rác hữu cơ dễ phân
hủy thì dung ủ gas, ủ phân compot.... các chất thải như nhựa, thủy tinh thì tái
chế, chất thải nguy hại thì đốt, bao bì thật tôt rồi chôn lấp.
Còn ở VN do nhiều lý do nên tất cả rác thải đều được chôn lấp tại các bãi chôn
lấp một giải pháp thật lãng phí, tốn kém....?
muốn được như các nước khác thì giải pháp tôt nhất là nâng giáo dục nâng cao
ý thức người dân. Nhà nước đầu tư cho các giải pháp tiêt kiệm như tái chế,biến
rác thành gas hay phân bón vừa ko mất đất cho những khu chôn lấp vừa thu
được những sphẩm có ích, sinh ra lợi nhuân.

6


CHƯƠNG 2
NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA RÁC
THẢI SINH HOẠT

I. ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG ĐẤT
Rác khi được vi sinh vật phân hủy trong môi trường hiếu khí hay kị khí nó sẽ gây
ra hàng loạt các sản phẩm trung gian và kết quả là tạo ra các sản phẩm CO2 và
CH4 với một lượng rác nhỏ có thể gây tác động tốt cho môi trường nhưng khi
vượt quá khả năng làm sạch của môi trường thì sẽ gây ô nhiễm và thoái hóa
môi trường đất.
Ngoài ra đối với một số loại rác không có khả năng phân hủy như nhựa, cao su,
túi nilon đã trở nên phổ biến ở mọi nơi, mọi chỗ. Đây chính là nguyên nhân
chính gây ô nhiễm môi trường vì cấu tạo của chất nilon là nhựa PE, PP có thời
gian phân hủy từ hơn 10 năm đến cả nghìn năm. Khi lẫn vào trong đất nó sẽ
cản trở quá trình sinh trưởng của thực vât, gây chết cây dẫn đến xói mòn đất.
Túi nilon làm tắc các đường dẫn nước thải, gây nghập lụt đô thị, nếu chúng ta
không có giải thích thích hợp sẽ gây thoái hóa nguồn nước ngầm và giảm độ phì
nhiêu của đất.

II. ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ
Ở nước ta lượng rác sinh hoạt chủ yếu là rác hữu cơ, hớp chất hữu cơ khi phân
hủy sẽ gây mùi rất khó chịu hôi thối ảnh hưởng rất lớn đến môi trường xung
quanh. Những chất có khả năng thăng hoa, phát tá n trong không khí là nguồn
gây ô nhiễm trực tiếp, rác có thành phần phân hủy cao như thành phần hữu cơ
ở nhiệt độ thích hợp( 350C và độ ấm 70-80%) vi sinh vật phân hủy tạo ra mùi hôi
thối và sinh ra nhiều lợi chất khí có tác động xấu tới ức khỏe con người và đô
thị.
7


III. ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG NƯỚC
Hiện nay do việc quản lý môi trường không chặt chẽ dẫn tới dẫn tới tình trạng
vứt rác bừa bãi xuống các kênh rạch, lượng rác này chiếm chủ yếu là thành
phần hữu cơ nên sự phần hủy xảy ra nhanh và tan trong nước gây ra tinh trạng
ô nhiễm nguồn nước như hôi thối, chuyển màu nguồn nước.
Ngoài ra hiện tượng rác trên đường phố không được thu gom, gặp trời mưa rác
sẽ theo nước mưa chảy xuống các kênh rạch gây ra tắc nghẽn đường ống và ô
nhiễm nước. Ở bãi chôn lấp nếu không quản lý chặt chẽ, không có hệ thing thu
gom nước rỉ rác thì nước rác sẽ chảy ra đất và ngấm vào mạch nước ngầm gây
ô nhiễm nguồn nước ngầm.

IV. ẢNH HƯỞNG TỚI SỨC KHỎE CON NGƯỜI VÀ CẢNH QUAN ĐÔ
THỊ
Rác bị vứt bừa bãi, không được thu gom hợp lý sẽ là nơi để các loài vi sinh, vi
sinh vật và các loại côn trùng như ruồi, gián, chuột phát triển. Trở thành nơi
phát sinh và lan truyền các dịch bệnh như con người như sốt xuất huyết, dịch
hạch, bệnh về đường tiêu hóa, các bệnh viêm nhiễm ngoài da,…
Tại các bãi rác lộ thiên gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường xung quanh gây
ảnh hưởng rất lớn súc khỏe của người dân trong vùng.

8


CHƯƠNG 3
NHỮNG PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ
CHẤT THẢI SINH HOẠT

I. CƠ SỞ LỰA CHỌN PHÁP LÝ
Mục tiêu của xử lý chất thải rắn là giảm hoặc loại các thành phần không
mong muốn trong chất thải. Các kỹ thuật xử lý chất thải rắn có thể là các quá
trình sau:
>Giản thể tích, kích thước cơ học
- Giảm thể tích bằng hóa học
- Tách loại theo từng thành phần khác nhau…
> Các yếu tố cần xem xét khi xat định phương pháp xử lý:
- Thành phần và tính chất của chất thải rắn( chất thải rắn sinh hoạt, chất thải
rắn công nghiệp hay chất thải rắn nguy hoại…)
- Tông khối lượng chất thải rắn cần được xử lý
- Khả năng thu hồi sản phẩm có thể tái chế cũng như năng lượng.
- Yêu cầu đảm bảo vệ sinh môi trường.
1.Thu hồi và tái chế chất thải rắn.
Tái chế chất thải là một hoạt động thu hồi lại chất thải có thành phần của
chất thải rắn sau đó được chế biến thành các sản phẩm mới phục vụ cho sản
xuất và sinh hoạt.
*Lợi ích của những hoạt động tái chế chất thải rắn.
- Tiết kiệm dược nguồn tài nguyên thiên nhiên do sử dụng những vật liệu tái chế
thay thế cho nguồn tài nguyên thiên nhiên cần phải khai thác.
9


- Giảm được lượng rác cần phải xử lý, cũng như giảm được chi phí cho quá trình
xử lý, nâng cao thời gian sử dụng của bãi rác.
- Một số chất thải trong quá trình tái chế tiết kiệm năng lượng hơn các quá
trình sản xuất từ các nguyên liệu thô ban đầu.
- Giảm tác động đến môi trường do lượng rác thải gây ra.
- Có thể thu hồi được nguồn lợi nhuận từ lượng rác vứt bỏ.
- Tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động
*Những khó khăn gặp phải trong tái chế chất rắn
- Đối với những hoạt động tái chế, thường mang lại lơi nhuận thấp hoặc không
có hiệu quả kinh tế, do vậy các chương trình ái chế chất thải rắn có sự hỗ trợ
của các cấp chính quyền.
- Những sản phẩm tái chế thường có chất lượng không cao bằng các sản phẩm
sản xuất tự nguyên liệu tinh ban đầu.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm còn gặp nhiêu khó khăn.
- Yêu cầu mức độ phân loại cao.
- Yêu cầu quy trình công nghệ để tái chế.
3. Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp cơ học
a, Giảm kích thước bằng phương pháp pháp cơ học (băm, chặt, nghiền).
Giảm kích thước bằng phương pháp pháp cơ học nhằm thu được chất thải có
tính đồng nhất và nhỏ hơn kích thước ban đầu, Để giản kích thước cảu TCTR
người ra thường băm, chặt, nghiền trong một số công đoạn sau:
- Tại ku nhà ở
- Tại trạm trung chuyến
- Tại khu xử lý
*Ưu điểm:
- Nâng cao hiệu quả vận chuyển và các công đoạn xử lý tiếp theo,
- Đảm bảo độ chặt, khít của rác do vậy có thể nén ép rác dễ dàng hơn và thuận
lợi hơn, tiết kiện diện tích bãi chôn lấp,
- Ở các đống ủ người ta thường sử dụng phương pháp cơ học để cắt nhỏ rác
hữu cơ dạng sợi, có kích thước lớn thành nhỏ cho dễ phân hủy,
- Đối với công đoạn xử lý sơ bộ (tách chia các hợp phần): do chất thải được cắt
nhỏ nên thu được chất thải có kích thước đồng nhất, thuận lợi cho việc sấy khô,
quạt gió (đối với chất thải loại nhẹ), sàng và phân chia các hợp phần của chất
thải rắn. Giảm thể tích chất thải bằng phương pháp nén ép. Nén ép rác là khâu
quan trọng trong quá trình xử lý chất thải rắn.
b, Giảm thể tích chất thải bằng phương pháp nén ép.
Nén ép rác là khâu quan trọng trong quá trình xử lý chất thải rắn.
10


*Ưu điểm: Tăng khả năng chuyên chở chất thải rắn, đảm bảo tải trọng và sức
chữa của xe, giảm diện tích bãi chôn lấp.
*Nhược điểm: Tuy nhiên các loại chất thải hữu cơ như thức ăn thừa, rau quả,
các chất thải hữu cơ ở thể ướt thì không nên nén, ép vì sẽ ra rất nhiều nước, gây
khó khăn và phức tạp cho quá trình xử lý. Do vậy phương pháp này chỉ thích
chất thải ở thể khô. Người ta thường dùng các thiết bị cuốn, ép để nén, ép rác.
Thiết bị nén, ép rác có thể là các máy nén cố định, di động hoặc thiết bị cao áp.
C, Tách, phân chia các hợp phần của chất thải rắn
Để thu hồi tài nguyên thiên nhiên, người ta thường dùng nhiều phương
pháp khác nhau để tách chia các hợp phần của chất thải rắn: tách kim loại
(nhôm, đồng, chì, sắt), giấy viết, bìa carton, báo ảnh, các loại đồ nhựa, đồ thủy
tinh…
Các phương pháp tách chia các hợp phần có thể thực hiện bằng thủ công
hoặc bằng cơ giới hay kết hợp cả hai, bằng sàng, bằng quạt gió, bằng từ trường
nam châm. Tùy theo yêu cầu vật liệu thu, vị trí tách chia mà chọn các thiết bị cho
phù hợp.
> Tách chia các hợp phần bằng thủ công:
Khi tách giấy, báo, bìa carton hoặc chai lọ thủy tinh, nhựa có màu sắc khác
nhau, các loại chất dẻo có màu hay không có màu, tách riêng từng kim loại
(đồng, chì, sắt…)
> Tách chia các hợp phần bằng cơ giới:
Thường được dùng trong công nghệ có sấy khô, băm, chặt, hoặc nghiền sau đó
dung các thiết bị: sàng rung quạt gió, cyclon, hệ thống từ tính để tách và phân
chia các hợp phần trong chất thải rắn.
4. Xử lý chất thải bằng phương pháp đốt.
Đốt rác là giai đoạn xử lý cuối cùng được áp dụng cho một số loại chất thải
nhất định không thể xử lý bằng biện pháp khác. Đây là quá trình sử dụng nhiệt
để chuyển đổi chất thải từ dạng rắn sang dạng khí, lỏng và tro,…đồng thời giải
phóng năng lượng dưới dạng nhiệt. Hay nói cách khác đốt rác là giai đoạn oxy
hóa nhiệt độ cao với sự có mặt của oxy trong không khí trong đó có rác độc hại
được chuyển hóa thành khí và chất rắn không cháy. Các chất khí được làm sạch
hay không được làm sạch sẽ được thoát ra ngoài, chất thải rắn còn lại thì được
đi chôn lấp.
*Ưu điểm:
• Giảm được thể tích và khối lượng chất thải đến 70-90% so với thể tích chất
thải ban đầu (giảm một cách nhanh chóng, và thời gian lưu trữ ngắn).
• Có thể đốt tại chỗ không cần phải vận chuyển đi xa,
11


• Xử lý triệt để các chất độc hại của chất thải đô thị,
• Thu hồi năng lượng để sử dụng vào mục đích quan trọng,
• Hiệu quả xử lý cao đối với loại chất thải hữu cơ chữa vi trùng lây nhiễm như
chất thải y tế hay các loại chất thải nguy hiểm khác,
• Yêu cầu diện tích nhỏ hơn so với phương pháp xử lý bằng sinh học hay chôn
lấp.
*Nhược điểm:
• Vốn đầu tư ban đầu cao hơn rất nhiều phương pháp khác và việc thiết kế lò
đốt phức tạp đòi hỏi năng lực và kỹ thuật cao
• Đối với chất thải có hàm lượng ẩm cao, hay các thành phần không cháy cao
thì việc đốt rác không thuận lợi
• Phải bổ sung nhiên liệu cho quá trình đốt.
>Những chất đốt được: Dung môi, dầu thải, bùn dầu, chất thải bệnh viện, dược
phẩm quá hạn, thuốc bảo vệ thực vật, các chất, cao su, sơn, keo, các hợp chất
PVC.
>Những chất không nên đốt: là các chất không cháy được, chất phóng xạ, chất
dễ cháy nổ.
• Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đốt:
+ Nhiệt độ đốt:
- Nếu nhiệt độ nhỏ hơn 9000C thường khói lò chữa dioxin, furan.
- Nhiệt độ từ 900-11000C phần lớn các chất đều cháy hết trừ PCB 12000C hầu
hết đều cháy hết, tuy nhiên khi yêu cầu nhiệt độ cao nhưng bản thân nhiệt độ tỏa
ra trong quá trình đốt không đủ vì vậy phải cung cấp nhiên liệu trong quá trình
đốt do đó chi phí vận hành tăng lên.
+ Thời gian lưu của chất thải trong lò đốt:
Thời gian lưu ảnh hưởng nhiều đến hiệu xuất đốt của lò.
Thời gian lưu: - Đối với pha rắn từ 2-4h (tùy thuộc vào kích thước của rác)
- Đối với pha khí ít nhất 2 giây.
Đối với chất thải y tế ở Việt Nam theo quy chế quản lý chất thải y tế thì nhiệt độ
của lò đốt ít nhất 10000C.
+ Đảo trộn chất thải rắn: Mục đích là làm tăng khả năng không khí tiếp xúc với
chất
+Đảo trộn chất thải rắn: Mục đích là làm tăng khả năng không khí tiếp xúc với
chất thải để hiệu suất đốt cháy cao hơn.
.

12


5. Xử lý chất thải bằng phương pháp chôn lấp.
Chôn lấp là phương pháp cổ điển nhất, kinh tế nhất và có thể chấp nhận được
về mặt môi trường. Ngay cả khi áp dụng các biện pháp giảm thiểu lượng chất
thải, tái sinh tái, sử dụng và cả kỹ thuật chuyển hóa chất thải, việc thải bỏ chất
thải còn lại ra bãi chôn lấp vẫn là một khâu trong chiến lược quản lý tổng hợp
chất thải rắn.
*Ưu điểm:
+Phù hợp với vùng có diện tích đất rộng.
+Xử lý được tất cả các loại chất thải rắn kể cả các loại chất thải rắn mà các
phương pháp khác không thể xử lý triệt để hay là không thể xử lý được.
+Sau khi đóng bãi chôn lấp thể sử dụng vào các mục đích khác nhau như: bãi đỗ
xe, sân chơi, công viên.
+Vốn đầu tư ban đầu, chi phí hoạt động BCI thấp hơn sơ với phương pháp khác.
+Thu hồi năng lượng từ khí gas
*Nhược điểm:
+Tốn rất nhiều diện tích đất nhất là nơi ti nguyên đất còn kha hiếm
+Khó khăn trong việc kiểm soát lượng khí thải và nước rỉ rác
+Có nguy cơ gây sự cố cháy nổ, gây nguy hiểm do sự phát sinh khí CH 4, HS2
+Công tác quan trắc chất lượng môi trường vẫn phải tiến hành sau khi đóng
cửa.
6. Xử lý chất thải bằng biện pháp sinh học.
a, khái niệm
Ủ sinh học (compost) có thể được coi như là quá trình ổn định sinh hóa các
chất hưu cơ để tạo thành chất mùn, với các thao tác và kiểm soát một cách khoa
học tạo ra môi trương tối ưu cho quá trình
*Ưu điểm của phương pháp làm phân hữu cơ:
- Giảm lượng chất thải phát sinh (khoảng 50% lượng chất thải sinh hoạt),
- Tạo ra sản phẩm hữu cơ phục vụ cho trồng trọt (thay thế một phần cho phân
hóa học, sử dụng an toàn, dẽ dàng),
- Góp phần cải tạo đất, giúp tăng độ mùn và độ tơi xốp cho đất),
- Tiết kiệm bãi chôn lấp, giảm ảnh hưởng tới môi trường của chất thải rắn,
- Vận hành đơn giảm dễ bảo trì và dễ kiểm soát,
- Giá thành để xử lý tương đối thấp.
* Nhược điểm:
- Yêu cầu diện tích đất để xây dựng nhà xưởng lớn,
- Chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa ổn định,
13


- Gặp khó khăn khi tiêu thụ sản phẩm,
- Mức độ tự động của công nghệ chưa cao,
- Việc phân loại còn mang tính thủ công nên ảnh hưởng đến sức khỏe của công
nhân làm việc,
- Nạp nguyên liệu còn thủ công nên công suất kém.
b, Cơ sở lý thuyết làm phân hữu cơ
Rác thải sinh hoạt, rau quả thực thực phẩm, xác sinh vật chết (protein, lipit,
cacbon hydrat, xenlulo, lignin…)+O2(không khí) với sự có mặt của vi sinh vật sẽ
phân hủy các hợp chất hữu cơ tế bào mới, phân hữu cơ, chất hữu cơ cùng với
năng lượng và các chất khí thoát ra ngoài.
c, Những yếu tố ảnh hưởng tới quá trình làm phân
• Vi sinh vật
Vi sinh vật theo nhiệt độ được phân thành ba loại
- Nhóm vi sinh vật ưa lạnh -10-200C(150C)
- Nhóm vi sinh vật ưa ấm 20-500C(350C)
- Nhóm vi sinh vật ưa nóng 45-750C(550C)
Trong quá trình phân hủy chất hữu cơ hai nhóm vi sinh vật ưa ấm và ưa nóng
chiếm ưu thế.
• Kích cỡ:
Khích cỡ của rác thương không đồng nhất, như vậy không thuận lợi cho quá
trình ủ tạo phân do vạy trước khi đem rác đi ủ cần căt nhỏ rác để đạt hiệu quả
cao, tốt nhất là 5cm.
• Tỷ lệ công nghiệp:
Tỷ lệ này tốt nhất là 20-25/1
• Độ ẩm:
Độ ẩm là một nhân tố quan trọng đối với quá trình ủ. Độ ẩm thuật lợi là từ 5060%, khi độ ẩm thấp hơm 40% quá trình ử sẽ diễn ra chậm, độ ẩm cao quá cũng
không có lợi cho quá trình ủ.
• Nhiệt độ:
Trong quá trình ủ với sự tham gia của VSV ưa nhiệt trung bình và ưa nhiệt
cao. Trong quá trình hoạt động của đống ủ rác đã phát sinh các phản ứng tỏa
nhiệt liên quan đến quá trình hô hấp và trao đổi chất.

14


• pH:
Là yếu tố quan trọng trong quá trình ủ, giá trị pH sẽ có biến động lớn trong quá
trình ủ. Giá trị khởi đầu của thành phần hữu cơ trong rác đặc trưng từ 5-7.
Những ngày tiếp theo thi pH<5. Giai đoạn này sinh khố chất hữu cơ giai đoạn
tích lũy nhiệt, nhóm sinh vật ưa nhiệt sắn có trong rác thải bắt đầu phát triển và
nhiệt độ tăng lên nhanh chóng (sau khoảng 3 ngày) và đạt đến nhiệt độ cao, lúc
này pH tăng lên 8-8,5. Sau đó quá trình ủ phân chín, nhiệt độ lạnh dần và pH
giảm xuống 7-8. Nếu pH giảm xuống nhỏ hơn 4 thì quá trình hoạt động kém
• Các mầm bệnh:
Sự tiêu diệt các mầm bệnh trong quá trình ủ là một vấn đề cần quan tâm khi
thiết kế các thành phần trong quá trình. Tuy nhiên đối với nhiệt độ của quá
trình ủ, phần lớn các vi sinh vật gây bệnh đều bị chết
• Nhu cầu không khí:
Lượng không khí cung cấp cho quá trình ủ bao gồm cấp khí cưỡng bức và một
phần không khí được cung cấp thông qua đối lưu không khí trong quá trình ủ.
Lượng oxy yêu cầu trong giới hạn 9mm3/gh phân chín và 248mm3/gh cho phân
thô mới ủ.

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×