Tải bản đầy đủ

Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

MỤC LỤC
NỘI DUNG

TRANG

Mục lục

1

Danh mục các chữ viết tắt

2

1. TÓM TẮT ĐỀ TÀI

3

2. GIỚI THIỆU


5

2.1. Hiện trạng

5

2.2. Nguyên nhân

6

2.3. Giải pháp thay thế

7

2.4. Vấn đề nghiên cứu

9

2.5. Giả thuyết nghiên cứu

9

3. PHƯƠNG PHÁP

10

3.1. Khách thể nghiên cứu

10

3.2. Thiết kế nghiên cứu

10

3.3. Quy trình nghiên cứu

12

3.4. Đo lường


21

4. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ

23

4.1. Phân tích dữ liệu

23

4.2. Bàn luận

24

5. KẾT LUẬN VÀ KHIẾN NGHỊ

25

5.1. Kết luận

25

5.2. Khuyến nghị

25

6. TÀI LIỆU THAM KHẢO

27

7. PHỤ LỤC CỦA ĐỀ TÀI

28

8. ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CÁC CẤP

36

1
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
CLHT
ĐC
ĐTB
GTTB
GV
HS
KHXH
KTĐG
PP
PPDH

Viết đầy đủ
chất lượng học tập
đối chứng
điểm trung bình
giá trị trung bình
giáo viên
học sinh
khoa học xã hội
kiểm tra đánh giá
phương pháp
phương pháp dạy học

QTDH

quá trình dạy học

THPT

trung học phổ thông

TN

thực nghiệm

VNL

văn nghị luận

2
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

1. TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Những năm gần đây, ngành giáo dục đã đưa ra chủ trương đổi mới phương pháp dạy học
(PPDH) và kiểm tra đánh giá (KTĐG) kết quả học tập của học sinh (HS) nhằm thay đổi
cách dạy, cách học, cách kiểm tra góp phần nâng cao chất lượng học tập (CLHT). Đánh
giá đúng thực trạng, Bộ đã chủ trương: để nâng cao CLHT, góp phần thúc đẩy đổi mới
PPDH bộ môn phải: “ Nâng cao chất lượng thi cử, kiểm tra đánh giá để đảm bảo đây là
khâu quan trọng, tác động tích cực, mạnh mẽ trong quá trình dạy và học; phải đồng thời
vừa đổi mới kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì”. Coi trọng việc đổi mới KTĐG đã
tạo ra một bước ngoặt mới thúc đẩy quá trình dạy học (QTDH) và mang lại hiệu quả chất
lượng thực, xoá bỏ “cái kiểu” cho điểm vô tội vạ, “đánh giá cào bằng”, đánh giá theo tỉ
lệ thành tích phần nào đã được hạn chế. Đổi mới PPDH gắn với việc chú trọng đổi mới
kiểm tra, đánh giá đã có tác dụng tích cực trong việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, tư duy sáng tạo của HS. “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả
năng thực hành, lòng say mê học tập”.( Luật Giáo dục sửa đổi bổ sung 2009- Chương I,
Điều 5 khoản 2 ).
Trong QTDH, KTĐG là một khâu rất quan trọng. Kiểm tra, đánh giá nhằm thu được, đánh
giá đúng thông tin về trình độ khả năng học tập của HS. Mục đích chính là hướng tới điều
chỉnh hoạt động dạy và học bộ môn. Qua đánh giá, kiểm tra, trả bài, giáo viên (GV) hướng dẫn
HS nhận biết những lỗi mình mắc, đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong cách viết văn, hạn chế
những lỗi viết văn, những khuyết điểm thường vi phạm, hình thành kĩ năng viết đúng, viết hay.
Từ đó phát huy tính tích cực, tư duy độc lập, chủ động sáng tạo của HS trong việc học bộ môn,
góp phần nâng cao chất lượng viết văn.
Những năm qua, thực tế chấm các bài viết làm văn kiểm tra thường xuyên của HS Trường
Võ Thị Sáu, (và có theo dõi bài làm của HS ở các kì thi tốt nghiệp) bản thân thấy rằng, HS
thường vi phạm những lỗi viết văn cơ bản như: lỗi chính tả; lỗi dùng từ không chính xác, lỗi
lặp từ, thừa từ; diễn đạt lủng củng, không rõ nghĩa; không biết cách viết đoạn mở bài; không
biết tách ý thành đoạn; viết thiếu ý, thiếu sáng tạo, không biết cách lập luận..
3
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

Điều này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ yếu thuộc về GV. Trong
QTDH bộ môn, chấm bài, trả bài, chữa lỗi bài viết là khâu vô cùng quan trọng, nhưng không ít
GV chưa nhận thức được tầm quan trọng của quá trình này. GV chưa chú trọng đổi mới khâu
chấm bài, cách cho điểm và chưa đầu tư vào tiết trả bài, GV chưa hướng dẫn HS nhận biết
những lỗi sai, nguyên nhân và cách sửa chữa. Về phía HS, phần lớn các em học tập và sinh
hoạt ở môi trường không mấy thuận lợi, thiếu thốn phương tiện học tập...nhu cầu chọn ngành
nghề sau khi ra trường...Vì thế số HS yêu thích môn Ngữ Văn ngày càng thu hẹp dần, tỷ lệ học
sinh khá giỏi càng ngày càng ít. Khả năng cảm thụ tác phẩm văn chương, kỹ năng viết văn và
quy trình làm một bài văn của học sinh còn nhiều hạn chế.
Để giúp HS có niềm đam mê hứng thú học tập bộ môn, sự tự tin, chủ động và sáng tạo trong
cách viết một bài văn nghị luận (VNL), người GV cần thực hiện đúng quy trình trả bài và
hướng dẫn HS nhận biết những lỗi sai, nắm được nguyên nhân và cách sửa chữa. Từ đó, hướng
dẫn HS quy trình, phương pháp, kĩ năng viết đúng và viết hay một bài văn.
Vì thế, nghiên cứu thực trạng “Những lỗi viết văn thường gặp của HS và đưa ra các giải
pháp” cho vấn đề này là việc hết sức cần thiết. Giải pháp của bản thân là làm thế nào để góp
phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Ngữ văn cho HS THPT, bản thân đã chú trọng
việc hướng dẫn HS phương pháp (PP), kĩ năng viết đúng, viết hay một bài văn. GV cần hướng
dẫn HS nhận biết và cách tránh những lỗi hành văn thường mắc phải.
Thấy được tầm quan trọng này, trong giảng dạy, bản thân đảm nhiệm chuyên môn một lớp
12 ban Cơ bản, do đó, tôi đã thực hiện tiến hành khảo sát nghiên cứu thực trạng đó ở hai nhóm
đối tượng HS khối 12 tương đương của Trường PT cấp 2-3 Võ Thị Sáu. Trong tiến trình giảng
dạy, tôi khảo sát 2 nhóm HS thuộc lớp 12A và lớp 12G. Mỗi nhóm chọn 29 em HS làm đối
tượng khảo sát. Chọn nhóm HS lớp 12G làm lớp thực nghiệm (TN); Lớp 12A làm lớp đối
chứng (ĐC). Thời gian khảo sát, nghiên cứu là một năm tính theo năm học: từ tháng 9 năm
2011 đến tháng 12 năm 2012. Lớp TN được tổ chức dạy và học với sự đầu tư, chú trọng đúng
theo quy trình trả bài, hướng dẫn HS nhận biết những lỗi mắc phải của mình. Hướng dẫn các
em tự nhận xét ưu điểm và hạn chế bài làm văn của bản thân. GV định hướng cho HS tự sửa
chữa. Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của HS qua các bài
4
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

kiểm tra thường xuyên và cuối kì. HS tự tin hơn trước mỗi đề bài kiểm tra. Qua từng bài viết
văn, HS đã nắm bắt được qui trình viết bài, cách dùng từ, viết câu, dựng đoạn, tách ý… Kết quả
lớp TN thông qua bài KTĐG đạt kết quả cao hơn lớp ĐC. Điểm trung bình (giá trị trung bình)
thang đo bài kiểm tra sau tác động của lớp TN là 6,20; điểm kiểm tra đầu ra của lớp ĐC có giá
trị trung bình (GTTB) là: 5,31. Kết quả kiểm chứng t-test cho thấy p = 0.0002<0,05 có nghĩa là
có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp TN và lớp ĐC. Qua phân tích dữ liệu, kết quả
cho thấy việc tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của HS. Điều đó chứng minh
rằng việc hướng dẫn HS nhận biết những lỗi sai cơ bản thường gặp khi viết văn, hướng dẫn các
em PP trình bày, ý thức chọn lựa từ ngữ, cách sắp xếp ý, kết cấu hợp lí, kĩ năng diễn đạt câu
đúng và hay, tạo lập văn bản văn học và xã hội hoàn chỉnh…đã tạo niềm hứng thú cho HS khi
học tập bộ môn Ngữ Văn. HS sẽ tự tin hơn khi viết văn, HS không còn tâm lí: “ngại”, “chán”
và “sợ” khi viết một bài VNL. Hiệu quả HS học tập bộ môn ngày càng có kết quả tốt hơn.
Xuất phát từ những vấn đề trên, trong phạm vi giới hạn bài nghiên cứu khoa học sư phạm
ứng dụng, tôi mạnh dạn “trao đổi kinh nghiệm cá nhân” được ứng dụng vào thực tiễn trong
những năm qua. Tôi chọn vấn đề: “Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và
giải pháp” để nghiên cứu và khảo sát. Đó là lí do vì sao tôi chọn đề tài này.
2. GIỚI THIỆU
2.1. Hiện trạng.
Trong hệ thống chương trình giáo dục, môn Ngữ văn có một vị trí, đặt thù riêng vô cùng
quan trọng.“ Văn học là nhân học”, học văn học góp phần bồi đắp phẩm chất, tư tưởng tình
cảm cao đẹp của con người, hướng con người đến cái chân, thiện, mĩ. Là một môn học thuộc
nhóm khoa học xã hội (KHXH), môn Văn có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư
tưởng, tình cảm cho người học. Đồng thời cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, thể hiện rõ ở
vị trí, đặc trưng riêng của bộ môn trong mối quan hệ với các môn học khác.
Là môn học công cụ, học văn sẽ góp phần hình thành, nâng cao kĩ năng nói- đọc-viết-cảm
thụ một văn bản. Trong nhà trường môn Ngữ văn có một đặc thù riêng không giống với những
bộ môn khoa học khác. Dưới sự định hướng của người thầy, HS sẽ được cảm thụ những tác
phẩm tinh hoa của mọi thời đại, của mọi nền văn học trên thế giới với bao vấn đề đặt ra của
cuộc sống, của nhân loại. Trên cơ sở khám phá, cảm nhận tác phẩm, HS sẽ tập viết văn như
5
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

những chủ thể sáng tạo độc lập. Kết quả của những bài viết “tập làm văn” , “tập viết văn”, thái
độ với cuộc sống là sản phẩm của một quá trình giảng dạy và học tập bộ môn của thầy và trò.
Đồng thời, thông qua môn học sẽ hình thành năng lực thực hành và sử dụng Tiếng Việt như
một công cụ để tư duy giao tiếp. Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các bộ môn khoa học
khác và ngược lại.
Những năm qua, kết quả CLHT bộ môn của nhà trường đạt trên 60%, tỉ lệ tốt nghiệp bộ
môn khối 12 ngày càng nâng cao, tổ văn chúng tôi gặt hái được những thành công đáng kể
trong dạy -học. Song đáng tiếc, số HS đạt điểm dưới 5 vẫn còn chiếm một tỉ lệ không nhỏ.
Nhiều HS tỏ ra chán học môn Văn, thiếu tự tin khi viết một bài văn hoàn chỉnh. Thực tiễn trong
quá trình học văn, qua các bài viết văn, HS thường vi phạm những lỗi viết văn cơ bản như: lỗi
chính tả; lỗi dùng từ không chính xác, lỗi lặp từ, thừa từ; diễn đạt lủng củng, không rõ nghĩa;
chưa biết cách viết đoạn mở bài, kết bài; không biết tách ý thành đoạn; viết thiếu ý, thiếu sáng
tạo, không biết cách lập luận...kết cấu bài văn chưa hoàn chỉnh.
Là một GV hơn 20 năm tuổi nghề - không còn gọi là trẻ, chúng tôi thấy rằng việc dạy học
bộ môn Ngữ văn, ngoài việc hướng dẫn, cung cấp kiến thức cho HS, ra đề kiểm tra, chấm và
trả bài, sửa lỗi, hướng dẫn HS cách viết văn là một khâu rất quan trọng trong QTDH bộ môn.
Với lòng đam mê, cùng việc tìm tòi học hỏi đúc kết kinh nghiệm, sự đồng thuận của tập thể tổ
bộ môn, trong các năm qua, bản thân cùng tập thể đã mang lại những kết quá đáng khích lệ
trong dạy và học tập bộ môn. Tỉ lệ tốt nghiệp bộ môn ngày càng cao, số lượng học sinh giỏi
văn ngày càng nhiều, học sinh đỗ vào các trường đại học càng ngày càng tăng. Để được những
kết quả ấy, bản thân thấy rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến kết quả trên chính là việc
hình thành cho các em một PP học tập, trong đó có PP viết một bài văn, nhận biết những lỗi sai
để tránh. Trên thực tế, các em đã rút ra nhiều kinh nghiệm viết văn bổ ích từ các tiết hướng dẫn
trả bài của giáo viên.
2.2 Nguyên nhân.
Những hạn chế của HS nói trên có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là
trong QTDH, người GV chưa chú trọng đổi mới khâu chấm bài, cách cho điểm và không đầu
tư và thực hiện chưa đúng quy trinh tiết trả bài. Cách chấm bài của GV chiếu lệ, ngại khó,
6
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

chấm cho xong. Không ít GV, khi chấm chỉ chú ý mặt nội dung tư tưởng, mà không chú ý đến
khâu diễn đạt của HS. Hoặc một số GV trong quá trình kiểm tra, đánh giá cho điểm theo kiểu
bình quân “cào bằng”: 5-6-7 điểm, chỉ nêu khuyết điểm, xem nhẹ khâu sửa lỗi, không hướng
dẫn HS nhận biết những lỗi vi phạm, chưa chỉ cho HS nhận biết nguyên nhân, quy trình viết
văn… Việc cho điểm của nhiều GV chưa có sự phân hoá, không mạnh dạn đánh giá điểm tối
đa với bài làm sáng tạo trong cách viết. Vẫn còn hiện tượng GV ngại cho điểm kém đối với
những trường hợp chay lười, những bài mắc nhiều lỗi…vì thế không khích thích được lòng
đam mê học văn và hứng thú viết văn của HS. Ở một bộ phận GV vẫn còn hiện tượng chạy
theo thành tích kiểm tra, đánh giá cho điểm một cách chủ quan dễ dãi theo “tỉ lệ khoán” do cá
nhân, tổ, nhà trường đề ra… Chấm bài, trả bài, chữa lỗi bài viết là khâu vô cùng quan trọng
trong quá trình dạy và học văn học, nhưng thực tế không ít GV chưa nhận thức được tầm quan
trọng của quá trình này.
Về phía học sinh, khu vực địa bàn của trường tuyển sinh chủ yếu là HS ở nông thôn, bãi
ngang, miền biển. Môi trường học tập không mấy thuận lợi, thiếu tài liệu, sách tham khảo,
phong trào học tập chưa cao, chất lượng tuyển HS đầu vào còn thấp so với các trường đóng
trên địa bàn tỉnh. Tinh thần học tập và sự quan tâm của HS về môn văn chưa cao. HS chưa thấy
được tầm quan trọng của một bộ môn công cụ. Nhiều HS viết văn yếu, không biết cách trình
bày một văn bản, diễn đạt lan man, chữ viết xấu, thiếu ngôn từ diễn đạt ..
Mặt khác, do nhu cầu nhân lực của nền kinh tế - xã hội, HS có tâm lí thực dụng trong việc
chọn ngành, nghề. Việc chọn khối thi của HS có phần thiên lệch nhiều ở khối A-B, các môn
(KHXH) dần dần trở thành môn thứ yếu. (Theo số liệu thống kê của các phương tiện thông tin
đại chúng, hàng năm, trong cả nước chỉ có 1,92% HS đăng kí vào ban KHXH). Vì thế số HS
yêu thích môn Ngữ Văn ngày càng thu hẹp dần, tỷ lệ HS khá giỏi càng ngày càng ít. Khả năng
cảm thụ tác phẩm văn chương, kỹ năng viết văn và quy trình làm một bài văn của HS còn nhiều
hạn chế.
2.3. Giải pháp thay thế.
Xuất phát từ thực trạng và nhận thức được những nguyên nhân nói trên, làm thế nào để tác
động đến niềm đam mê học và viết tốt một bài VNL nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy và
7
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

học môn ngữ văn, thực tiễn bản thân đã chọn lựa PP hướng dẫn HS nhận biết lỗi sai, nắm được
nguyên nhân và biện pháp khắc phục để góp phần cải thiện thực trạng trên.
Muốn HS viết đúng và hay một văn bản, tránh những lỗi viết văn cơ bản, người GV cần chú
trọng khâu chấm bài. Khi chấm bài, GV không đơn thuần đánh giá nội dung kiến thức, cần
đánh giá, quan tâm đến kĩ năng làm bài của HS: như cách trình bày, chữ viết, viết đúng chính
tả, cách lựa chọn từ ngữ, cách viết câu, dựng đoạn, viết bài hoàn chỉnh...Trên cơ sở đó, GV
thực hiện đúng quy trình trả bài. Từ những bài làm văn cụ thể của HS, GV hướng dẫn các em
nhận biết những lỗi sai, cách sửa chữa. Định hướng HS kĩ năng viết đúng và viết hay một văn
bản. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quá trình dạy học được Sở GD-ĐT Phú Yên
nhấn mạnh là: “cần đẩy mạnh hơn nữa việc đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá thúc đẩy
đổi mới phương pháp dạy học. Thực hiện phân hóa theo chuẩn kiến thức kĩ năng, nâng cao
chất lượng dạy”. (Công văn số 895/SGDDT-TrH ngày 31-8-2011,về việc hướng dẫn thực hiện
nhiệm vụ GDtrH năm học 2011- 2012).
Quá trình khảo sát, nghiên cứu, và hướng dẫn HS cách thức nhận biết những lỗi viết văn
thường mắc và hướng dẫn PP, “mẹo” để viết đúng viết hay một văn bản hoàn chỉnh, chúng tôi
nhận thấy có nhiều tác giả với một số bài viết, công trình, tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề
tài: Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp, như:
- Công trình: Thực trạng mắc lỗi chính tả của học sinh phổ thông cơ sở hiện nay-nhóm tác
giả: Lê Thị Bích Ngọc- Hoàng Thị Hải.( ĐHSP Thái Nguyên 9/2012)
- Công trình: Mẹo luật viết văn hay và những bài văn hay mới nhất- 1990, Vũ Quốc Anh-Hà
Bình Trị- Nguyễn Quang Cương, NXB Trường ĐHSP Qui Nhơn.
- Công trình: Luyện viết bài văn hay-2002, Trần Đình Sử; NXB Giáo dục.
- Sáng kiến kinh nghiệm: Cách khắc phục những lỗi phổ biến về chính tả của Nguyễn Hà
Trung ( 2006).
- Sáng kiến kinh nghiệm: Kinh nghiệm về việc chấm bài và trả bài tập làm văn – Nguyễn
Thị Nhàn ( 2006).

8
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

- Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho HS lớp
9 – Trần Thị Kim Sa (2008).
- Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận trong các tiết dạy tự chọn
Ngữ văn 12- Nguyễn Thị Ngọc Hân.( 2010).
- Sáng kiến kinh nghiệm: Từ tiết trả bài nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh - Đỗ
Thông (2011, 2012).
Nội dung những bài viết, các công trình nêu trên đã ít nhiều đề cập đến vấn đề những lỗi viết
văn thường gặp của HS. Các tác giả của các bài viết, các công trình chủ yếu đề cập thực trạng
lỗi chính tả của HS, ngoài ra còn giới thiệu kĩ năng rèn viết văn nghị luận và “mẹo luật” để viết
văn hay. Song khái quát thực trạng những lỗi viết văn thường gặp của HS một cách tổng thể,
chưa tác giả nào đề cập. Các tác giả các công trình nói trên cũng chưa đề cập những giải pháp
cụ thể, cách hướng dẫn để HS nhận biết lỗi sai thường gặp, cách sửa lỗi, cách diễn đạt để một
bài văn đúng và hay. Vì thế, nghiên cứu thực trạng những lỗi viết văn thường gặp của HS và
đưa ra các giải pháp cho vấn đề này là việc hết sức cần thiết. Làm thế nào để nâng cao chất
lượng dạy và học bộ môn, thông qua việc hướng dẫn HS phương pháp, kĩ năng viết đúng một
bài văn và hình thành lối viết văn trở thành nhu cầu cần thiết không thể thiếu trong QTDH.
2.4. Vấn đề nghiên cứu.
Đề tài tập trung đi sâu làm rõ vấn đề: chấm bài và trả bài, những lỗi viết văn cơ bản học
sinh thường mắc phải, nguyên nhân, cách sửa bài, kinh nghiệm, kĩ năng viết đúng và viết hay
một bài văn hoàn chỉnh. Việc trả bài, hướng dẫn HS nhận biết những lỗi viết văn thường gặp,
hướng dẫn HS tự sửa bài, định hướng HS kĩ năng viết đúng và viết hay một văn bản có nâng
cao hiệu quả học tập, thúc đẩy quá trình say mê hứng thú học tập của HS đối với bộ môn Ngữ
văn hay không?
2.5. Giả thuyết nghiên cứu.
- Ha: từ việc trả bài, hướng dẫn HS nhận biết những lỗi viết văn thường gặp, hướng dẫn HS
tự sửa bài, định hướng HS kĩ năng viết đúng và viết hay một văn bản sẽ mang lại hiệu quả học

9
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

tập, thúc đẩy quá trình say mê hứng thú học tập bộ môn, giúp HS sẽ tự tin và viết đúng một văn
bản hoàn chỉnh.

3. PHƯƠNG PHÁP
3.1. Khách thể nghiên cứu.
Chúng tôi lựa chọn HS ở hai lớp 12 (12A, 12G) của Trường PT cấp 2-3 Võ Thị Sáu làm đối
tượng để thực hiện nghiên cứu, khảo sát đề tài. Mỗi lớp chỉ chọn 29 HS có những điểm tương
đồng cả về phía GV và HS trên các phương diện: kinh nghiệm giảng dạy, trình độ học tập, điều
kiện học tập, lứa tuổi, môi trường học tập…Chọn hai lớp trên sẽ có nhiều thuận lợi trong việc
nghiên cứu đề tài.
-

Về phía GV:

+ Cô Bùi Thị Mỹ Dung- một cô giáo trẻ, tuổi nghề gần 15 năm. Năng lực trình độ chuyên
môn khá giỏi, có kinh nghiệm giảng dạy và bồi dưỡng HS giỏi khối 12, nhiệt tình yêu nghề,
đảm nhận giảng dạy lớp 12A, ( lớp đối chứng).
+ Bản thân là người yêu nghề, nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong giảng dạy, luôn học hỏi
nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, đọc tham khảo nhiều tài liệu, các sách nghiên cứu lý
luận phê bình văn học, các tài liệu tham khảo về cách viết văn hay…các chuyên đề bồi dưỡng
HS giỏi các cấp… Tiếp cận và tích lũy, sưu tầm nhiều dạng đề thi tốt nghiệp phổ thông trung
học, đề thi HS giỏi tỉnh, HS giỏi quốc gia, các đề HS giỏi ở các tỉnh khác.v.v... Là người trực
tiếp đảm nhận giảng dạy lớp 12G (Lớp thực nghiệm) có điều kiện theo dõi quá trình học tập,
rèn luyện của HS. Trực tiếp hướng dẫn HS nhận biết những lỗi viết văn thường gặp, hướng dẫn
các em cách tự sửa chữa qua từng bài viết.
- Về phía HS: Hai nhóm HS được chọn để tham gia nghiên cứu, mỗi nhóm gồm 29 em thuộc
lớp 12A và 12G có nhiều điểm tương đồng về điều kiện, môi trường học tập, trình độ, ý thức tự
giác học tập. Bên cạnh đó ở mỗi lớp vẫn còn có những HS xếp loại học lực yếu, năng lực cảm
thụ, viết văn còn yếu.
3.2. Thiết kế nghiên cứu.
10
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương:
Chọn hai nhóm của 2 lớp: gồm 29 học sinh lớp 12G là nhóm TN và nhóm gồm 29 học sinh
lớp 12A là nhóm ĐC. Tôi dùng bài kiểm tra chất lượng đầu năm để kiểm tra khả năng nhận
biết, vận dụng thực hành của học sinh trước tác động. Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung
bình của hai nhóm có sự khác nhau. Dùng phép kiểm chứng T-Test độc lập cho kiểm tra trước
tác động để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của 2 nhóm TN và ĐC trước tác
động.
* Kết quả: Bảng 1.. Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương

Giá trị trung bình
Giá trị chênh lệch d=TN-ĐC

Đối chứng
4.96

Thực nghiệm
5.08

0.12
0.2553

p

Nhìn vào bảng kiểm chứng trên, thấy rằng: phép kiểm chứng T-test độc lập ở bài kiểm tra
trước tác động p=0,2553 >0,05, chênh lệch GTTB của 02 bài kiểm tra = 0,12. Điều đó chứng
minh rằng sự chênh lệch điểm trung bình của 2 nhóm TN và nhóm ĐC trước tác động là không
có ý nghĩa. Kết luận được kết quả học tập 2 lớp trước tác động là tương đương nhau.
Cuối học kì (HK), Giáo viên tiến hành kiểm tra HKI, lấy kết quả bài thi HKI làm bài kiểm
tra sau tác động .
- Bài kiểm tra trước tác động, đề cho hai lớp cùng làm là đề chung toàn khối ( Kiểm tra chất
lượng đầu năm học)
- Bài kiểm tra sau tác động: GV sử dụng đề kiểm tra chung toàn khối.
- Bài kiểm tra được chấm tập trung, dự trên đáp án chung của tổ.
Bảng 2. Thiết kế nghiên cứu:
Nhóm

KT trước TĐ (a)

Nhóm thực
nghiệm
(TN)

O1

Nhóm (ĐC)

O2

Tác động
KT sau TĐ (b)
Hướng dẫn HS tự nhận biết những
lỗi sai thường gặp, tự sửa chữa,
O3
hướng dẫn HS kĩ năng viết đúng,
viết hay một văn bản
Trả bài đúng quy trình, GV chỉ
O4
nhận xét bài, không hướng dẫn
11

Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

HS tự sửa chữa, không hướng dẫn
kĩ năng viết đúng, viết hay một
văn bản

Ở thiết kế này, tôi sử dụng phép kiểm chứng T-test độc lập cho kiểm tra sau tác động của hai
nhóm TN và ĐC; mức độ ảnh hưởng SMD.
Ngoài ra, chúng tôi sử dụng thêm phép kiểm chứng t-Test theo cặp, hệ số tương đương
Pearson r.
3.3. Quy trình nghiên cứu.
3.3.1. Chuẩn bị của giáo viên
GV dạy lớp 12A: (Lớp ĐC) thực hiện thiết kế bài học ở các tiết trả bài theo tiến trình lên lớp
bình thường. GV thực hiện đúng quy trình một tiết trả bài, nhận xét, nêu khuyết điểm, chỉ ra
một vài lỗi cơ bản. GV không hướng dẫn HS tự sửa chữa, không phân tích nguyên nhân của lỗi
vi phạm, GV không hướng dẫn HS kĩ năng viết đúng, viết hay một văn bản.
GV dạy lớp 12G: (Lớp TN): thiết kế bài học đối với các tiết trả bài (Tiết 17-Trả bài viết số 1;
Tiết 41- Trả bài viết số 2; Tiết 64-Trả bài viết số 3) ( theo phân phối chương trình của Trường
PT cấp 2-3 Võ Thị Sáu được Sở Giáo dục- Đào tạo Phú Yên duyệt) theo đúng quy trình tiết trả
bài viết. GV chuẩn bị bảng thống kê những lỗi về dùng từ, viết câu, lỗi diễn đạt, dựng đoạn, mở
bài, kết đoạn…GV chú trọng, dành thời gian hướng dẫn HS nhận biết những lỗi viết văn
thường gặp, hướng dẫn các em nắm được nguyên nhân, hướng dẫn cách sửa chữa, cách diễn
đạt. GV chú trọng hướng dẫn HS kĩ năng viết đúng và viết hay một văn bản.
3.3.2. Tiến hành dạy thực nghiệm.
Để nâng cao hiệu quả chất lượng viết văn của HS, trong qua trình chấm bài, cách đánh giá
qua lời phê rất quan trọng, có những lời phê sẽ khuyến khích tinh thần, tạo sự hưng phấn yêu
thích học tập của các em, những lời phê chỉ trích, phê “không khéo”, thiếu cẩn trọng sẽ làm HS
mặc cảm thậm chí xa lánh“ hoảng sợ” bộ môn. Đối với trường hợp những HS học yếu bộ
môn, khi chấm bài GV cố gắng phát hiện những điểm tiến bộ qua từng bài viết, khuyến khích
động viên các em bằng những lời phê và bằng điểm “thưởng” phù hợp.

12
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

Lời nhận xét của GV về bài viết sẽ tác động đến tinh thần, ý thức học tập của HS. Chấm bài
nhất thiết phải có nhận xét, tránh lời nhận xét chung chung chỉ bằng một vài từ ngữ: “được”,
“chưa được”, “bài yếu”, “bài viết sơ sài”, “không hiểu đề”, “xa đề”, “lạc đề”…Lời nhận xét
của GV thể hiện qua hai phương diện: đạt yêu cầu và chưa đạt về nội dung lẫn hình thức. Lời
nhận xét phải nêu được mặt đạt được của bài viết, vừa chỉ ra thiếu sót cơ bản của từng bài. Có
như vậy mới mang lại hiệu quả tác động lớn đối với HS. Qua lời phê, HS sẽ nhận thấy khiếm
khuyết của bản thân để khắc phục, phát huy những mặt đạt được. Muốn có lời nhận xét đúng
đắn với từng bài viết, đòi hỏi GV phải thực hiện nghiêm túc, có trách nhiệm cao trong việc
chấm bài. Bởi chấm bài là một khâu rất quan trọng trong chu trình chấm -trả bài tác động
mạnh mẽ, tích cực đến quá trình dạy và học bộ môn.
Người GV cần xác định yêu cầu cơ bản của tiết trả bài: kiến thức, kĩ năng, phương pháp…
Giờ trả bài được tiến hành như sau:
Bước 1: GV yêu cầu học sinh nhắc lại đề bài dựa theo trí nhớ. Cho HS xác định lại yêu cầu
về nội dung, thể loại, phạm vi tư liệu.
Bước 2: Dựa vào kết quả bài làm, GV tổng kết tình hình làm bài của HS trên mọi mặt: ưu
-khuyết điểm chính, về nội dung kiến thức, hình thức bài làm, kết quả đạt được, tinh thần thái
độ làm bài của HS..những bài viết sáng tạo của cá nhân được tuyên dương, những hiện tượng,
những lỗi cơ bản đáng chú ý.
Bước 3: Dựa trên yêu cầu của đề, GV hướng dẫn HS xây dựng dàn bài hoàn chỉnh. HS sẽ
đối chiếu với dàn bài để tự nhận xét về những thiếu sót trong bài viết của mình.
Bước 4: Vấn đề cốt lỗi quan trọng ở tiết trả bài là GV dành nhiều thời gian hướng dẫn HS
tự sửa chữa những lỗi sai phạm, thiếu sót về dùng từ, viết câu, dựng đoạn, hành văn, thậm chí
cả hình thức chữ viết…
Bước 5: đây là bước cuối, GV chọn những bài văn hay tiêu biểu đọc trước lớp, hoặc những
đoạn văn viết tốt cho cả lớp nghe để học tập rút kinh nghiệm. GV cần tạo một không khí thân
mật, dân chủ để HS có thể yêu cầu GV giải đáp những thắc mắc về điểm số và cả nội dung bài
viết…Có như thế, GV mới tạo điều kiện tốt để HS hoàn thiện hơn về những bài viết văn tiếp
theo của mình.
13
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

* GV hướng dẫn HS nhận biết những lỗi sai thường gặp khi viết văn.
a. Từ bảng thống kê những lỗi cơ bản về viết văn của học sinh, ( xem phần phụ lục 4- tr37 )
chúng tôi thấy: khi hành văn, HS thường mắc lỗi viết không đúng chính tả, dùng từ sai chuẩn
mực, sử dụng từ không đúng nghĩa, không hợp phong cách, hiện tượng lặp từ, thừa từ, sử dụng
từ mang màu sắc địa phương nhiều. Viết câu sai ngữ pháp, diễn đạt lủng củng thiếu lô gic, ý tứ
lộn xộn, chưa biết cách mở bài, bài viết thiếu cân đối.. Chẳng hạn một số lỗi tiêu biểu HS mắc
phải như sau:
- Nhà thơ Tố Hữu đã làm nên bài thơ chữ tình Việt Bắc sau khi cuộc kháng chiến Điện Biên
Phủ thắng lợi…( Bài làm của học sinh-Bài viết số 4). (1)
- Sau khi rời chiến trường Hà Nội nhà thơ trở về chiến khu Việt Bắc nhà thơ đã sáng tác bài
thơ Việt Bắc..( Bài làm của học sinh-Bài viết số 4). (2).
- Hồ Chí Minh là nhà thơ vĩ đại to lớn của nền văn học Việt Nam …( Bài làm của học sinhBài viết số 1). (3)
- Tình yêu quê hương đất nước của Nguyễn Khoa Điềm được miêu tả ở ~ (những) phương
diện khác nhau: từ cái gốc nhìn địa lí, lịch sử, và chiều sau văn hóa phong tục tập quán ….(Bài
làm của học sinh-Bài viết số 3). (4)
- Tô Hoài đã thành công trong viêc xây dựng hình ảnh điển hình về người phụ nữ Việt Nam bị
đẩy vào bước đường cùng bởi chế độ phong kiến miền núi…(Bài viết số 5). (5)
- Lời đánh giá, nhận định ấy có đúng không ? Đúng quá đi chứ! Nào chúng ta hãy cùng nhau
đi phân tích nhé để làm rõ vấn đề !..( Bài làm của học sinh-Bài viết số 2) (6)
- Tnú - người cách mạng 0 sợ gió bão mưa phùng ( Bài viết số 5). (7)
- Lòng yêu mến thiên nhiên say đắm của Hồ Chí Minh đã làm cho người quên đi nổi vấc vả
trên hành trình giải tù .( Bài làm của học sinh-Bài viết số 1) (8)
- Cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch rất quảng đại..(Bài viết số 1).(9)
14
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

- Bài thơ Đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm là một bài thơ tiểu biểu của Nguyễn
Khoa Điềm. Bài thơ nói về hình ảnh đất nước được nhà thơ cảm nhận trên nhiều phương diện
khác nhau. Nguyễn Khoa Điềm đã thành công khi viết về bài thơ này…( Bài làm của học sinhBài viết số 3). (10).
- Nói đến Đất nước thì có rất nhiều nhà thơ đã chọn làm đề tài sáng tác và đã có muôn vàn
định nghĩa. Đối với Nguyễn Khoa Điềm thì nói đến Đất nước là những gì quen thuộc, gần gũi
đã đi vào đời sống con người.…( Bài làm của học sinh-Bài viết số 3). (11)…
Từ những ví dụ trên, GV hướng dẫn HS nhận biết dạng những lỗi sai phạm và xác định
nguyên nhân:
* Lỗi viết sai chính tả: viết tắt trong bài văn: ~ (những), 0 (không) do tính chất cẩu thả; lỗi
chính tả như viết trữ tình HS viết thành chữ tình, góc nhìn thành gốc nhìn, chiều sâu thành
chiều sau, tập quán thành tập quáng, nỗi vất vả viết thành nổi vấc vả..Người ( viết hoa) viết
không viết hoa (người) xuất phát từ việc HS không hiểu nghĩa của từ, không ý thức khi viết.
* Lỗi sử dụng từ không hợp phong cách: HS mắc lỗi viết như văn nói, không phù hợp với
thể văn nghị luận: có đúng không ? Đúng quá đi chứ! Nào chúng ta hãy cùng nhau đi phân tích
nhé …cách viết đúng là: đúng đắn = có đúng không , đúng vậy = đúng quá đi chứ, chúng ta thử
tìm hiểu = Nào chúng ta hãy cùng nhau đi phân tích nhé .. . Nguyên nhân: HS không nắm
phong cách ngôn ngữ nghị luận, chưa biết lựa chọn từ ngữ để diễn đạt phù hợp.
* Lỗi lặp từ, thừa từ: lặp từ nhà thơ (2) từ yêu mến (8); ở (10) ngoài việc diễn đạt lan man,
dài dòng, HS mắc phải lỗi lặp từ khá nhiều. Chỉ có ba câu văn, HS lặp lại từ nhà thơ (2lần), từ
Nguyễn Khoa Điềm (3lần), từ bài thơ (4lần). Trường hợp (11), HS viết thừa nhiều phụ từ: thì,
đã…đây cũng là hiện tượng phổ biến ở bài viết của HS.
* Lỗi sử dụng từ không đúng nghĩa, sai chuẩn mực: HS dùng từ nhà thơ vĩ đại to lớn vừa
không chính xác vừa vi phạm lỗi thừa từ, từ cần thay phù hợp là nhà thơ tiêu biểu ( hoặc nhà
thơ xuất sắc) (3). Từ làm nên sử dụng chưa chính xác thay từ sáng tác (1) cuộc kháng
chiến=chiến dịch (1); chiến trường =thủ đô (2) trở về thay bằng từ lên (2); ở (4) dùng từ miêu
tả chưa chuẩn phải dùng từ thể hiện; ở (5) sử dụng từ hình ảnh điển hình chưa chuẩn mực nên
dùng hình tượng điển hình; học sinh dùng từ gió bão mưa phùng (7) nên thay bằng từ mưa sa
15
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

bão táp, ở (8) từ say đắm nên thay từ tha thiết; từ quảng đại (9) không chuẩn, chưa đúng nghĩa,
phải là từ vĩ đại…
b. Lỗi viết câu không đúng ngữ pháp, thiếu các thành phần chính, thiếu vế trong một câu
ghép, viết câu không rõ nghĩa. Đây cũng là lỗi phổ biến HS thường mắc phải. Qua thống kê,
chúng tôi thấy hiện tượng HS viết câu “cụt”, câu “què”, câu thiếu thành phần, thiếu vế và viết
sai quan hệ giữa các bộ phận câu.
* Lỗi viết câu sai ngữ pháp, viết thiếu cả thành phần chủ ngữ lẫn vị ngữ:
- Chẳng hạn: Sau những năm tháng chìm nổi khổ đau, bằng sự nổ lực của bản thân, vượt
qua những thủ đoạn ác độc của nhà Thống Lí Pá Tra, với sự đồng cảm và tình yêu thương đã
đưa Mị thoát khỏi ách thống trị phong kiến miền núi…(Bài viết số 5). Cách sửa lại là hướng
dẫn HS thêm vào thành phần chủ ngữ và vị ngữ để câu hoàn chỉnh.
* Lỗi viết thiếu thành phần chủngữ:
- Là nguồn cảm hứng sáng tác của các nhà văn nhà thơ. Đất nước vẫn là đề tài quán xuyến
của văn học Việt Nam……( Bài làm của học sinh-Bài viết số 3). Cách sửa là thêm vào đối
tượng, chủ thể làm chủ ngữ
- Qua bài thơ Đất nước cho ta thấy cho thấy niềm tự hào của con người Việt Nam về đất
nước. ( Bài viết số 3). ( HS nhầm thành phần trạng ngữ là chủ ngữ - cách sửa bỏ từ qua)
* Lỗi viết thiếu thành phần vị ngữ
- Hồ Chí Minh, Người cha già của dân tộc, của non sông đất nước, với một tấm lòng yêu
nước thiết tha...(Bài viết số 1). Học sinh nhầm các thành phần chú thích, bổ sung, thành phần
định ngữ là vị ngữ. Cách sửa là thêm vào nội dung hoạt động của đối tượng chủ ngữ
* Lỗi viết thiếu một vế của câu ghép.
- Mặc dù bị bọn phong kiến, cường hào miền núi mà cha con Thống Lý Pá tra là tiêu biểu áp
bức, bốc lột, mặc dù phải chịu nhiều khổ đau cùng cực về thể xác và tinh thần. Nhưng Mị vẫn
tiềm tàng một sức sống. …(Bài làm của học sinh-Bài viết số 5). HS không xác định được các

16
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

mối quan hệ giữa các vế trong một câu ghép, dẫn đến việc sử dụng không đúng cặp quan hệ từ.
Cách sửa bỏ dấu chấm (·), hoặc thêm một vế thứ hai.
c. Lỗi diễn đạt thiếu chặt chẽ, viết câu dài lê thê, lủng củng, phát triển thành nhiều thành
phần phụ, mở rộng thành phần trọng tâm thông báo làm câu văn lan man, thiếu mạch lạc.
- Đất nước là đề tài muôn thuở, là nguồn cảm hứng sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Việt
Nam, cũng là nguồn xúc cảm để Nguyễn Khoa Điềm tạo nên một thi phẩm tiêu biểu nói về đất
nước của những con người bình dị nhưng vĩ đại.( Bài làm của học sinh-Bài viết số 3).
- Đối với Nguyễn Khoa Điềm, đất nước có phải là những gì to lớn, bề thế không. Không,
không phải vậy. Đất nước qua cảm nhận của ông là những gì gần gũi, thân thương, gắn bó với
nhân dân, được ông cảm nhận ở trên nhiều phương diện: lịch sử, địa lý, văn hóa, qua lời kể
của mẹ, trong những miếng trầu của bà…rất bình dị, nhỏ nhoi, khắng khít..( Bài làm của học
sinh-Bài viết số 3).
- Qua bài thơ thì tác giả đã biểu lộ tình cảm trong thơ Tố Hữu đã sử dụng thành công hai
đại từ là “mình”-“ta”, hai đại “từ mình” và “ta” lặp đi lặp lại nhiều lần, ngoài ra tác giả còn
sử dụng những địa danh của núi rừng Việt Bắc để diễn tả sự nồng thắm, yêu thương…(Bài làm
của học sinh-Bài viết số 4). …Nhận xét: chọn ba dẫn chứng tiêu biểu/183 trường hợp của ba
bài viết, chúng tôi thấy rằng HS thường mắc lỗi diễn đạt nhiều, diễn đạt thiếu mạch lạc rõ ràng,
ý này lồng vào ý khác. HS không làm chủ được kiến thức khi thể hiện, điều ấy thể hiện tư duy
chưa rõ ràng, chưa nắm vững ngữ pháp câu. Hiện tượng viết câu dài lan man trong HS chiếm
một tỉ lệ lớn.
d. Các lỗi khác trong diễn đạt, hành văn, bố cục bài viết.
Hiện tượng HS khi viết văn còn phạm nhiều lỗi cơ bản khác như sử dụng từ ngữ khuôn sáo
khoa trương vì không chịu suy nghĩ để tìm từ thích hợp và chỉ dựa vào một công thức kết hợp
từ cho sẵn, hoặc viết theo lối bắt chước theo những bài văn mẫu. Nhiều khi các em sa vào lối
viết khoe chữ, dùng chữ sáo mòn bất kể có phù hợp với nội dung diễn đạt hay không. Thậm
chí nhiều HS không hiểu đúng từ mà vẫn dùng bừa, dùng ẩu. Ngoài ra có HS khi viết còn nhận
định một cách cực đoan, dùng từ cảm thán tràn lan.
17
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

Có thể thấy một lỗi phổ biến nữa ở bài viết của HS là các em chưa biết cách mở bài, kết bài,
chưa biết tách đoạn để diễn đạt ý. Nhiều HS viết bài văn một đoạn, thân bài một đoan, hoặc hai
đoạn. Bố cục bài viết chưa hài hòa cân xứng, phân bố các ý không đều, không xác định luận
điểm chính, luận điểm phụ…
* GV hướng dẫn HS kĩ năng yêu cầu về diễn đạt và một số cách diễn đạt hay trong văn
nghị luận
VNL là loại văn của tư duy lô gíc, mang tính thuyết phục cao. Để diễn đạt tốt, đạt yêu cầu
một bài văn hay, thuyết phục người đọc, ngoài yêu cầu xác định và sắp xếp các ý, diễn đạt ý
thành lời bằng những từ ngữ, câu văn đoạn văn chính xác sinh động, truyền cảm, GV cần cung
cấp cho HS những yêu cầu về tính chính xác, chặt chẽ, tính biểu cảm tránh viết văn với cách
dùng từ khuôn sáo, khoa trương khoe chữ.. khi diễn đạt
Thực tiễn trong quá trình dạy học, chúng tôi đúc rút một số yêu cầu về diễn đạt và cách
diễn dạt hay khi viết một bài văn nhằm mang lại hiệu quả cao. Với bài kiểm tra, GV nhận xét tỉ
mỉ chu đáo từng vấn đề: về kiến thức, kĩ năng, khuyến khích bằng những lời nhận xét động
viên khích lệ, biểu dương mặt tốt, sáng tạo, độc đáo. Qua chấm bài, GV phát hiện sở trường,
giọng văn, lối văn, sự độc đáo để uốn nắn mặt hạn chế, hướng đi lệch trong cách triển khai vấn
đề của các em.
GV hướng dẫn HS những kĩ năng làm văn như kĩ năng tìm hiểu đề; kĩ năng phân tích, bình
giảng; các thao tác nghị luận; Những điều cần lưu ý khi viết một bài văn hay; Kĩ năng và
phương pháp viết đoạn-luyện mở bài, kết bài; yêu cầu về diễn đạt để có lời văn hay: về giọng
văn và sự thay đổi giọng văn trong bài viết, cách dùng từ độc đáo, kỉ năng viết câu linh hoạt, kỉ
năng mở rộng, nâng cao, so sánh vấn đề, kỉ năng lập luận sắc sảo chặt chẽ, cách lựa chọn dẫn
chứng và trình bày dẫn chứng…những lỗi thường gặp cần tránh. Chúng tôi dành nhiều thời
gian để học sinh thực hành bằng việc tự sửa lỗi dùng từ, viết câu, viết đoạn
a.Cách dùng từ chính xác độc đáo
Một bài văn hay hấp dẫn phải là bài văn có vốn từ phong phú, được sử dụng chính xác, linh
hoạt. Dùng từ chính xác, độc đáo, đúng chỗ là một trong những yếu tố quyết định để có cách
diễn đạt hay. Một bài viết không hấp dẫn người đọc, người đọc sẽ chán khi đọc một bài văn mà
18
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

người viết sử dụng hệ thống từ ngữ không phù hợp, không “trúng”, không dùng từ ngữ nào
hay, độc đáo. Muốn vậy, người viết cần tích lũy vốn từ phong phú, khi viết phải có ý thức lựa
chọn từ ngữ phù hợp: dùng đúng lúc, đúng chỗ, lột tả được thần thái của sự vật sự việc sẽ đem
đến cho người đoc sự khoái chá, cảm phục. Nhà văn Ban-Zắc đã viết: “Thiên tài là ở chỗ dùng
từ xác đáng để nêu cá tính nhân vật ở những hoàn cảnh khác nhau”. Việc dùng từ chuẩn mực
là tối cần thiết đối với mỗi bài viết. Người viết không bao giờ tự cho phép mình tự tiện, dễ dãi
với chữ nghĩa. Trong bài văn, sử dụng từ ngữ chính xác, bài viết sẽ khái quát được vấn đề nghị
luận mà luận đề nêu ra. Cần lưu ý: HS không nắm chắc nghĩa của từ, tốt nhất không nên dùng.
Chẳng hạn đoạn văn sau, người viết đã sử dụng hàng loạt hệ thống từ ngữ rất độc đáo: “ Anh
( Nam Cao) quăng lên, đánh bài ngửa cái thằng tôi nhàu nát một cách không khoan nhượng,
không né tránh vào con chữ. Viết hết, viết cạn kiệt. Viết xong, lại “đọc, nghiền ngẫm, tìm tòi,
nhận xét và suy tưởng” rồi lại tẩy xóa, thêm bớt…cứ như thế, các trang văn quằn quại ra đời.
Có tiếng nấc, tiếng khóc, tiếng vặn mình, tiếng chửi thầm thiên hạ và chửi cả chính mình…Tất
cả cứ ngổn ngang bời bời trên trang viết…”
b. Viết câu linh hoạt và viết văn có hình ảnh.
Để tạo giọng điệu cho bài VNL, người viết cần biết vận dụng tất cả các loại câu một cách
linh hoạt. Một bài văn hay là bài văn vận dụng linh hoạt tất cả các kiểu câu-dĩ nhiên trước tiên
phải viết câu đúng. Người viết có thể dùng khi là câu cảm thán để diễn đạt thái độ của mình. Ví
dụ “Trời đất ơi! Tú Bà nói không đầy nửa phút mà nước bọt mép của mụ văng ra mãi tới ngàn
năm”; Có thể viết câu nghi vấn để gây chú ý người đọc. Sử dụng câu nghi vấn nhằm đặt ra vấn
đề, để rồi tự trả lời, tự làm sáng tỏ. Chẳng hạn: “Thương thì đã vậy, còn oán? Thực ra Nguyễn
Du không biết oán ai…bởi vì theo Nguyễn Du thì bao nhiêu đau thương khác đâu có phải đều
do những kẻ “bài binh bố trận” mà ngay cả những kẻ ấy, Nguyễn Du cũng thấy họ đáng
thương” ( Hoài Thanh-Văn chiêu hồn). HS có thể dùng câu đơn, câu đặc biệt, câu tỉnh lượt để
làm cho bài văn đa dạng, không nhàm chán người đọc, vừa thể hiện nội dung diễn đạt đầy đủ,
hấp dẫn. Trong nhiều trường hợp để khẳng định vấn đề, học sinh có thể viết câu phủ định của
phủ định nhằm nhấn mạnh vấn đề.

19
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

Ví dụ: “ Nguyễn Trung Thành không thể không phản ánh trong tác phẩm của mình những sự
kiện, những vấn đề nóng bỏng mang tính thời đại” (Bài viết của học sinh-Bài viết số 5)
Hoặc “ Nói đến miền đất Nam bộ, không thể không nhắc đến Nguyễn Thi, nhà văn của
người nông dân Nam bộ thời chống Mỹ .”(Bài viết của học sinh).
Tuy nhiên, trong bài văn nhiều lúc cần tránh sự khẳng định tuyệt đối, tức phải uyển chuyển
và có mức độ trong việc đánh giá. Có HS viết: “Chỉ có văn học mới đem lại niềm vui và hạnh
phúc nhất cho con người”. Lẽ ra chỉ nên viết dừng lại ở mức: “Văn học đã góp phần đem lại
niềm vui và hạnh phúc cho con người”
Viết văn có hình ảnh: VNL là loại văn của tư duy khái niệm, của suy lí lô gíc, ý tứ chặt chẽ,
sáng sủa, lập luận phải chắc chắn, bảo đảm độ chính xác cao, giàu thuyết phục. Tuy nhiên để
hấp dẫn người đọc, người viết sử dụng từ ngữ phải có tính hình tượng, có sức biểu cảm cao.
Người viết có thể dùng phép so sánh, liên hệ, đối chiếu tạo cho câu văn sinh động có hình ảnh.
Chẳng hạn: “Nếu chúng ta liệt Tú Xương vào loại đỉnh thơ Nôm, thì “Sông Lấp” chính là bóng
cây hiên ngang trên sườn non đó vậy”…(Thời và thơ Tú Xương); hoặc nhà văn Chế Lan Viên
đã đánh giá vị trí và ý nghĩa độc đáo của thơ Hàn Mặc Tử như sau: “Trước không có ai, sau
không có ai, Hàn Mặc Tử như ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi lòa chói
rực rỡ của mình” (Tuyển tập Hàn Mặc Tử)
c. Yêu cầu về giọng văn và sự thay đổi giọng văn trong bài viết: để có lời văn hay, yêu cầu
người viết hình thành một giọng văn và thay đổi giọng văn trong quá trình viết bài. Giọng văn
là sự thể hiện màu sắc biểu cảm của người viết trước một vấn đề. Đó là tư tưởng, tình cảm, thái
độ của mình trước một vấn đề mà mình thảo luận. Để tránh nhàm chán cho người đọc, tạo sinh
động cho bài viết, người viết cần linh hoạt trong việc hành văn. Tránh một kiểu viết, một giọng
đều đều từ đầu chí cuối, gây cảm giác đơn điệu.
Để đạt được giọng văn sinh động, hấp dẫn, người viết thay đổi giọng điệu bằng cách sử dụng
linh hoạt hệ thống từ nhân xưng với nhiều màu sắc biểu cảm và hết sức phong phú.
Ví dụ: khi biểu thị ý kliến riêng mình, người viết có thể dùng: Tôi cho rằng, tôi nghĩ rằng,
theo chỗ tôi được biết…Để lôi kéo sự đồng tình, đồng cảm, người viết có thể sử dụng cách
xưng: chúng tôi, ta, chúng ta, như mọi người đã biết, như mọi người đã thấy, ai cũng thừa
20
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

nhận rằng..Khi phân tích một nhân vật hoặc gọi tên một tác giả, người viết cần xác định một
đại từ cho phù hợp, tránh sự đơn điệu, lặp lại, luôn dùng từ thay thế, đổi khác như: khi phân
tích nhân vật Chí Phèo ( Chí Phèo-Nam Cao) có thể dùng: Thằng chuyên rạch mặt ăn vạ, Con
quỹ dữ làng Vũ Đại, Thằng cùng nhất trong đám cùng đinh, y, gã, hắn, Đứa con hoang…
nhưng khi nói đến một Chí Phèo lương thiện, phải dùng: anh, anh ta…Hay chẳng hạn viết về
Tố Hữu: khi là nhà thơ, Tố Hữu, Anh Lành, Người con xứ Huế, người nghệ sĩ, người chiến
sĩ, thi sĩ, tác giả tập “Từ ấy’’, nhà thơ..nếu chưa xác định được lứa tuổi, tốt nhất dùng là: nhà
văn, nhà thơ.
Giọng văn linh hoạt còn thể hiện ở cách dùng các tiêu từ: Vâng, đúng thế..không, điều ấy
đã rõ, như vậy, như thế; có khi dùng từ phủ định: không, hoàn toàn không, chẳng phải
thế..sẽ tạo được ấn tượng như người viết đang tranh luận, đối thoại trực tiếp với người đọc.
d. Ngoài ra để diễn đạt được lời văn hay, bài văn cần vận dụng các thao tác lập luận, cách
triển khai lập luận, cách sử dụng dẫn chứng.
Người viết cần vận dụng thao tác lập luận so sánh văn học, lối lập luận phải sắc sảo chặt chẽ,
cách dùng dẫn chứng phong phú, tiêu biểu và trình bày dẫn chứng phù hợp cùng với việc triển
khai lập luận chặt chẽ với nhiều PP: diễn dịch, quy nạp, so sánh, tương phản…
3.4. Đo lường
Sử dụng kết quả bài kiểm tra chất lượng đầu năm học (đề chung thống nhất trong toàn tổ)
làm kết quả kiểm tra trước tác động . Bài kiểm tra sau tác động được tiến hành sau các tiết trả
bài viết. Lấy bài thi HKI để đánh giá kết quả học tập của HS.
Tiến hành kiểm tra và chấm bài.
Trong quá trình giảng dạy, thực hiện việc hướng dẫn HS nhận biết các lỗi viết văn cơ bản,
hướng dẫn HS cách sửa chữa, định hướng cho các em kĩ năng viết một bài văn hoàn chỉnh,
(qua các tiết trả bài ) chúng tôi thực hiện bài kiểm tra HKI ( Đề và đáp án xem ở phụ lục 2,
Tr31) và tiến hành tổ chức chấm bài theo đáp án chung của tổ.
Bảng 3. Kết quả khảo sát: Bảng điểm của bài kiểm tra
LỚP 12G

LỚP 12A
21

Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

Stt
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29

Họ và tên
Trần Thị Cẩm
Dương Thu
Nguyễn Th. Ngọc
Võ Thị Hạ
Nguyễn Thị
Nguyễn Thị
Nguyễn Thị Mỹ
Huỳnh Thị Kim
Nguyễn Thị Mỹ
Trương Thị Thu
Bùi Thị Cẩm
Trần Thị Kim
Nguyễn Ngọc
Trần Văn
Huỳnh Thị Kim
Nguyễn Thị Tiểu
Nguyễn Hoài
Nguyễn Thị
Nguyễn Thị
Đỗ Kim
Hồ Thị Mỹ
Lê Thị Thu
Phan Minh
Phạm Thị Kim
Nguyễn Thị Kim
Võ Thị Bích
Ngô Minh
Ngô Thanh
Võ Thị Thu

Điểm
trước

Bích
5.5
Bông 5.0
Cẩm
6.0
Chi
5.0
Đào
6.0
Hằng 5.0
Hằng 4.0
Hồng 4.0
Hồng 6.0
Hồng 4.0
Linh
5.0
Loan 5.0
Mai
5.0
Minh 4.0
Mi
5.0
Mi
6.0
Như
5.0
Nở
4.0
Quân 5.0
Thái
6.0
Thanh 6.0
Thảo 5.0
Thi
5.0
Thi
4.0
Thoa 5.0
Thủy 5.0
Trang 6.0
Tuấn 5.0
Y
6.0

Điểm
sau

6.5
6.5
7.0
7.0
6.0
4.5
6.5
5.0
6.5
4.5
6.5
6.0
6.0
5.5
7.0
7.0
6.0
6.0
7.0
7.0
4.5
6.0
7.0
6.0
5.0
7.0
7.5
6.5
6.5

Họ và tên
Lê Thị Lan
Phạm Đỗ Tố
Lê Thị Kim
Phạm Thị Kim
Nguyễn Tr H. Trúc
Nguyễn Thị Thúy
Lê Anh
Nguyễn Thị
Nguyễn Thị
Nguyễn Thị Thu
Võ Thị
Huỳnh Thị Ngọc
Phan Thị Mỹ
Phan Thị
Trần Kim
Huỳnh Thị
Đào Thị Kim
Võ Thị Ngọc
Nguyễn Thị
Nguyễn Văn
Nguyễn Văn
Nguyễn Thị
Phạm Xuân
Nguyễn Thị Bích
Tôn Trọng
Nguyễn Thị Thanh
Nguyễn Khắc
Huỳnh Tấn
Nguyễn Công

Anh
Anh
Ánh
Ải
Chi
Diễm
Đài
Giang
Hằng
Hằng
Hương
Lam
Linh
Linh
Luận
Lượm
Nhơn
Quý
Sang
Tâm
Thái
Thắm
Thắng
Thu
Tín
Trang
Trí
Trực
Tuấn

Điểm
trước

6.0
5.0
4.0
5.0
6.0
5.0
5.0
5.0
4.0
5.0
5.0
5.0
5.0
6.0
5.0
6.0
5.0
6.0
5.0
5.0
5.0
4.0
4.0
5.0
4.0
5.0
4.0
4.0
6.0

Điểm
sau TĐ
6.0
6.0
6.0
5.5
7.0
8.0
5.0
4.0
4.0
5.0
6.0
6.0
4.0
5.5
6.5
5.0
5.0
6.5
6.0
4.0
5.0
4.5
4.5
6.0
5.0
5.0
4.0
4.0
5.0

Để kiểm tra độ tin cậy của dữ liệu, chúng tôi tiến hành cho HS kiểm tra nhiều lần qua các bài
viết trong thời gian HKI. Kết quả cho thấy, sự chênh lệch về điểm số không cao, điều đó chứng
minh rằng dữ liệu thu được là đáng tin cậy.
Để kiểm chứng độ giá trị của dữ liệu, tôi dùng PP kiểm tra độ giá trị nội dung. Trong từng
bài viết, tôi chú ý đến mở bài,dùng từ, viết câu, lối diễn đạt của HS. Kết quả là HS đã khắc
phục được những lỗi viết văn thường gặp, kĩ năng viết văn của HS được thực hiện thành thạo
hơn. Điều đó đã phản ánh, khái quát được vấn đề, quá trình của bản thân nghiên cứu.

22
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

Việc hướng dẫn HS nhận biết những lỗi viết văn thường gặp, hướng dẫn cách sửa, hướng
dẫn kĩ năng diễn đạt, viết một văn bản hoàn chỉnh được tiến hành sau một thời gian áp dụng tôi
nhận thấy kết quả HS học tập bộ môn Ngữ văn đã khả quan hơn. Phần lớn HS khắc phục được
những lỗi sai cơ bản, các em đã tự tin chủ động hơn khi viết một bài văn. Tâm lí chán nản, sợ
học môn văn không còn. HS tỏ ra thích thú hơn khi học tập bộ môn.
4. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
4.1. Phân tích dữ liệu
Bảng 4. Mô tả dữ liệu của nhóm thực nghiệm
Kiểm tra trước tác động-TN
Trung bình

Mean

Trung vị

Median

Mode
Độ lệch
chuẩn

Mode
Standard Deviation

5.08

Kiểm tra sau tác động-TN
Mean

6.2

5

Median

6.5

5

Mode
Standard
Deviation

0.71

7
0.84

Bảng 5. Mô tả dữ liệu của nhóm đối chứng
Kiểm tra trước tác động-ĐC

Kiểm tra sau tác động-ĐC

Trung bình

Mean

Mean

Trung vị

Median

5

Median

5

Mode
Độ lệch
chuẩn

Mode

5

Mode
Standard
Deviation

6

Standard Deviation

4.96

0.68

5.31

1.01

Bảng 6. So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
Điểm trung bình
Độ lệch chuẩn
Giá trị p của T – test
Chênh lệch giá trị TB chuẩn
(SMD)

Đối chứng
5.31
1.01

Thực nghiệm
6.2
0.84
0.0002
0.8

Như trên đã chứng minh rằng kết quả 2 nhóm trước tác động là tương đương
(p=0.2553>0.05). ( xem Bảng 1. Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương)

23
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

Sau tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình (ĐTB) bằng T-Test cho kết quả p =
0.0002 < 0.05, cho thấy: sự chênh lệch giữa ĐTB nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng rất có
ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả ĐTB nhóm thực nghiệm cao hơn ĐTB nhóm đối chứng là
không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = ( 6.2 – 5.41 )/1.01 = 0.8.
Theo bảng tiêu chí cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0.8 cho thấy mức độ
ảnh hưởng của tác động là rất lớn đối với nhóm thực nghiệm.
Giả thuyết của đề tài nghiên cứu đã được kiểm chứng.

Biểu đồ so sánh ĐTB trước tác động và sau tác động

4.2. Bàn luận
Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của nhóm TN là TBC = 6.2, kết quả bài kiểm tra tương
ứng của nhóm ĐC là TBC = 5.31. Độ chênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 0.89; Điều đó cho
thấy điểm TBC của hai lớp ĐC và TN đã có sự khác biệt rõ rệt rất có ý nghĩa, lớp được tác
động có điểm TBC cao hơn lớp ĐC.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0,8. Theo bảng tiêu chí
Cohen cho thấy mức độ ảnh hưởng của việc hướng dẫn HS nhận biết các lỗi viết văn thường
24
Người thực hiện: Đỗ Thông


Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

mắc, hướng dẫn HS cách sửa, và kĩ năng viết một văn bản đúng và hay có tác động đến kết quả
học tập của nhóm TN là lớn.
Phép kiểm chứng T-test ĐTB sau tác động của hai lớp là p=0.0002< 0.001. Kết quả này
khẳng định sự chênh lệch ĐTB của hai nhóm không phải là do ngẫu nhiên mà là do tác động,
nghiêng về nhóm thực nghiệm.
5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
Có lẽ trong nhà trường không có môn khoa học nào có thể thay thế được môn văn. Đó là
môn học vừa hình thành nhân cách vừa hình thành tâm hồn. Trong thời đại hiện nay, khoa học
kĩ thuật phát triển rất nhanh, môn văn sẽ giữ lại tâm hồn con người, giữ lại những cảm giác
nhân văn để con người tìm đến với con người, trái tim hòa cùng nhịp đập trái tim. Việc nâng
cao CLHT bộ môn cho HS là một công việc rất cần thiết trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo
nhân tài. Công việc ấy đòi hỏi sự kiên trì, tâm huyết và trí tuệ đối với mỗi GV. Thấy được tầm
quan trọng của việc đào tạo thế hệ trẻ đối với đất nước, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
đã khẳng định “Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Chính vì thế trong những năm qua
giáo dục đã có những bước cải cách , đổi mới liên tục.
Thực tiễn dạy-học bộ môn, việc chú trọng đổi mới cách chấm - trả bài, quan tâm đến việc
hướng dẫn HS nhận biết những lỗi sai thường gặp, hướng dẫn cho các em kỉ năng viết đúng và
viết hay một văn bản hoàn chỉnh có ý nghĩa đẩy mạnh được phong trào học tập bộ môn của HS
ở nhà trường. HS ngày càng có ý thức cao và chăm chỉ trong việc học tập bộ môn văn. Hiệu
quả, chất lượng viết văn nâng lên rõ rệt. Nhiều HS đam mê yêu thích văn chương, các em đã
thấy được tầm quan trọng của bộ môn ngữ văn trong nhà trường. Cùng với việc học tập để
tham gia các kì thi, rất nhiều HS đã trưởng thành nhanh chóng, năng lực tiếp nhận và tạo lập
văn bản của các em được nâng cao. HS được có một nền móng kiến thức vững vàng, tiếp tục
thi vào các trường đại học, chuyên nghiệp ngày càng có kết quả cao. Mặt khác, chúng tôi nhận

25
Người thực hiện: Đỗ Thông


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×