Tải bản đầy đủ

Lịch sử thể dục thể thao

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO
TP HỒ CHÍ MINH


CHUYÊN ĐỀ
MÔN HỌC : Lịch Sử Thể Dục Thể Thao
ĐỀ TÀI :Lịch sử phát triển thể dục thể thao thời kỳ cận đại, quan điểm ,
đường lối, của đảng và nhà nước về công tác thể dục thể thao trong giai
đoạn cách mạng mới. Những mặt tốt và chưa tốt của công tác thể dục thể
thao Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và những giải pháp thúc đẩy thể
dục thể thao Việt Nam phát triển.
Sinh Viên : Trần Khánh Linh
Lớp

TP HCM , 4 – 2016

: ĐH7D


I/LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TDTT THỞI KÌ CẬN ĐẠI
Thời đại phát triển của chủ nghĩa tư bản từ cuộc cách mạng tư sản

đầu tiên ở thế kỉ 17 đến trước cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ
đại gọi là thời cận đại.
Trong thời kỳ này nền kinh tế và văn hóa của chế độ xã hội mới đã
được phát triển, đã diễn ra cuộc đấu tranh giữa cái mới, tiến bộ vá cái cũ
phản động. Đồng thời, trong lý luận và thực tiễn giáo dục giáo dục chung
và giáo dục thể chất, của y học và một số ngành văn hóa khác có quan hệ
vớt tăng cường sức khỏe, phát triển và hoàn thiện con ngưởi đã đạt được
những thành tựu đáng kể.
1.Những cơ sở tư tưởng lý luận của giáo dục thể chất.
Thời kỳ này triết học duy vật, khoa học tự nhiên và lý luận giáo dục
mới có ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của cơ sở lý luận giáo dục
thể chất.
Giăng Giác Rútxô (1712- 1778) đã phát triển tư tưởng về vai trò quy định
của môi trường bên ngoài trong việc hình thành nhân cách con người.
Ông viết “ thân thể sinh ra trước tâm hồn, nên việc quan tâm đến thân thể
phải là việc trước tiên”. Bắt đầu là rèn luyện cơ thể, sau đó là các trò chơi
và các bài tập giáo dục thể chất.
Nhà giáo dục Thụy Sĩ Logan Petalốtxi ( 1746-1827) có công lớn trong
lĩnh vực giáo dục thể chất. Ông đã xoạn ra phương pháp phân tích, gọi là
các động tác ở khớp là động tác sơ đẳng, là cơ sở để giảng dạy động tác
phố hợp phức tạp.
Các nhà cách mạng tư sản Pháp ở cuối thế kỷ XVIII có công lớn trong cơ
sở lý luận cho giáo dục thể chất. Họ cho rằng cần phải đưa giáo dục thể
chất vào hệ thống giáo dục quốc dân.
2.Sự nảy sinh và phát triển của các hệ thống giáo dục thể chất quốc
gia.

2


Vào thế kỷ XIX hầu hết các nước tư bản, các hệ thống giao dục thể
chất quốc gia bắt đầu được xây dựng ở Đức, Thụy Điển, Pháp. Tất cả các
hệ thống ấy đều là nhửng hệ thống thể dục, bởi thể dục đã tạo các bộ phận
khác nhau của thân thể, huấn luyện các động tác và kỉ xảo cụ thể và củng
đáp ứng tốt hơn với phương thức chiến tranh trong thời gian ấy.
Hệ thống giáo dục thể chất ở Đức
Các đại biểu nổi tiến của hệ thống này là antôn phít và Lôgan Gútmút (
1763-1839) cho rằng phương tiện giáo dục thể chất gồm:
-


Rèn luyện chống thời tiết xấu và nhiệt độ thấp của không khí, biết

chiệu đựng đói, khát, mất ngủ.
-

Các bài tập phát triển các giác quan, chủ yếu trong lúc tham gia các

trò chơi đặc biệt.
-

Tất cả các bài tập Hy Lạp, trượt băng, mang vác vật năng.

-

Các trò chơi giải trí.

-

Các bài tập cởi ngựa, đấu kiếm, nhảy múa, trong đó có các bài tập

tên ngựa gỗ và một số dụng cụ khác.
-

Cá động tác đơn giản của từng bô phân cơ thể.

-

Lao động chân tay.

Công lao chính của Gútmút là soạn thảo kĩ thuật của các bài tập thể
dục và đưa vào trường học.
Hệ thống giáo dục thể chất của thủy điên

3


Dấu hiệu chủ yếu của bài tập thể dục thủy điển là tính đối xứng và
thẳng hàng. Tư thế đúng của tay chân và mình được đặc biệt chú ý .
trong thời gian tập có nhiều lần nghĩ giữa giờ. Thể dục Thủy Điển đã
đặt cơ sở cho sự phát triển thể dục phát triển chung.
Đến nay hệ thống thể dục Thủy Điển vẫn được áp dụng rộng rãi trong
nhà trường.
Hệ thống giáo dục thể chất của Pháp
Vào những năm 1770-1848 đại tá phơranxixcô Amôrốt và những
người kế tục ông có công lao to lớn trong việc xây dựng hệ thống giáo
dục ở Pháp. Các ông đã biên soạn hệ thống bài tập có tính chất ứng
dụng quân sự đào tạo binh sĩ.
Ông cho rằng bài tập thể dục tốt nhất là bài tập phát triển trong đời
sống, đặt biệt là trong chiến tranh như các bài tập đi, chạy, nhảy, mang
vác ở các địa hình tự nhiên. các bài tập thăng bằng, bò, leo trèo, bơi,
lặn,vật, ném, bắn, đấu kiếm, nhào lộn, hay các bài tập tay không, múa.
Quan điểm dạy của ông là không theo một sơ đồ nào mà dựa vào
nguyên tắc chung: vừa sức với người tập và đơn giản trong chừng
mực, có thể theo nguyên tắc từ dễ đến khó và chú ý đặc điểm cá nhân.
Đây là hệ thống giáo dục thể chất có tầm quan trọng trong giáo dục
Giáo dục thể chất và thể thao của các nước khác
Trường học ở một số nước như: Đan Mạch, Anh,Mỹ và một số nước
Đông Á, Đông Nam Á, đã trở thành những trung tâm chính phát triển
thể thao. Tại các trường học xuất hiện các nhóm thể thao nghiệp dư
như chạy, đấm bốc, bơi, chèo thuyền các môn bóng. Từ năm 30 của

4


thế kỷ XIX người ta tổ chức các cuộc thi thường xuyên về các môn thể
thao cho học sinh.
Tại các nước Đông Nam Á, trong các trường truyền đạo, giáo dục thể
chất gồm trò chơi, bơi các cuộc hành tiến...song việc giảng dạy các
trường này có trình độ thấp.
Các quan điểm của các nhà nhân đạo chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa
không tưởng bàn về giáo dục thể chất cho con người.
Tư tưởng cơ bản của các nhà nhân đạo chủ nghĩa sử dụng giáo dục thể
chất không những để huấn luyện quân sự để tăng cường sức khỏe, phát
triển sức mạnh thể chất cho con người. Đây là tư tưởng mới và tiến bộ
hơn trước. Hạn chế của quan điểm này là khuynh hướng giáo dục thể
chất nhầm bảo đảm hạnh phúc cá nhân của con người.
-

Nhà nhân đạo chủ nghĩa người Italia V.D.Phentrơ (1378-1446)

thành lập trường học có dạy thể dục, giáo dục thể chất được đưa vào
kế hoạch giảng dạy trong trường, dạy các bài tập cưỡi ngựa, đấu kiếm,
bơi, đua thuyền.
-

Nhà nhân đạo chủ nghĩa người Pháp Phơrăngxoa Rappolo (1494-

1553) vì coi trọng giáo dục thể chất nên ông đề nghị luân phiên giờ
học văn hóa và tập thể dục. Ông sử dụng các bài tập của giới quý tộc
và của cả người nghèo vào mục đích giáo dục con người.
-

Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Tômátmô (1478-1535)

người anh và Tômadô Campalena (1568-1639) người Italia là đỉnh cao
của sự pháp triển về giáo dục của các tư tưởng theo trường phái nhân
đạo chủ nghĩa. Các ông miêu tả về xã hội tương lai và đời sống hạnh

5


phúc con người.Theo các ông, mục đích của giáo dục là chuẩn bị kiến
thức cho trẻ em phục vụ xã hội, tăng cường giáo dục thể chất là điều
cần thiết để phát triển hài hòa tinh thần và thể chất của con người,
trong đó người lao động.
Học thuyết của các nhà sáng lập cộng sản chủ nghĩa khoa học giao dục
thể chất – một bộ phận của nền văn hóa chung đối với những người
lao động
Các nhà sáng lập cộng sản chủ nghĩa khoa học đã chỉ rõ tác động nguy
hại của chủ nghĩa tư bản đối với sức khỏe, đối với sư phát triển thể
chất và tinh thần của giai cấp công nhân. Ảnh hưởng của phân công
lao động đối với sự phát triển nhân cách cong người là những nguyê
nhân làm cho cong người không thể phát triển diện về thể chất và tinh
thần trong điều kiện xã hội tư bản.
Khi phân tích những điều kiện sốn cụ thể của giải cấp công nhân Ph.
Ăngghen đã viết trong cuốn “tình cảm cuả giải công nhân ở Anh” rằng
“giải cấp tư sản chỉ đem lại cho công nhân cuộc sống và học vấn
chừng nào điều đó cần cho lợi ích của nó , giải cấp tư sản hoàn toàn
không quan tâm tới sự pát triển thể chất và trí tuệ của công nhân”.
Các Mác viết: “chúng ta hiểu giáo dục gồm 3 việc: Thứ nhất là giáo
dục trí tuệ: Thứ hai là giáo dục thể chất, những gì đang được dạy ở các
trường thể dục và trung tâm huấn luyện quân sự; Thứ ba là giảng dạy
kỹ thuật, làm cho trẻ biết những nguyên tắc cơ bản của quá trình sản
xuất, đồng thời có kỹ năng sử dụng công cụ đơn giản nhất của tất cả
các nghành sản xuất”.

6


Ph.Awngghen đã viết: Chủ nghĩa xã hội sẽ tạo cho công nhân không
chỉ những điều kiện vật chất đầy đủ và ngày càn cải thiện để tồn tại mà
cả sự phát triển và sử dụng hoàn toàn tự do những năng lực thể chất và
trí tuệ của mình”.

II/ THỂ DỤC THỂ THAO TRONG GIAI ĐOẠN THỨ HAI
THỜI KÌ CẬN ĐẠI.
Giai đoạn thứ hai của thời kỳ cận đại bao gồm sựu kiện công xã Pari
năm 1871 đến cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại năm
1971.
1.Sự nảy sinh và phát triển phong trào TDTT công nhân
1.1 Sự xuất hiện các tổ chức thể dục đầu tiên của công nhân.
Trong quá trình đấu tranh bảo vệ lợi ích, giai cấp công nhân đã xây
dựng các tổ chức của mình. Liên đoàn những người cộng sản ( Là tổ
chức cộng sản đầu tiên trong lịch sử 1874 – 1852, tiền thân của quốc tế
thứ nhất) đã lãnh đạo hoạt động của các hội quần chúng khác nau của
giai cấp công nhân.
Những người cộng sản đã tham gia các tổ chức thể dục khác nhau và
xây dựng trong quần chúng các nhóm thể dục và ca hát mới. Về sau đã
trở thành một tổ chức quần chúng tự lập của những người lao động.
Ví dụ: Hội thể dục kỳ nghĩ hè của công nhân được thành lập ở Đức
năm 1850.
1.2.Phong trào thể thao của công xã Pari.

7


Sau công xã Pari, số lượng các tổ chức khác nhau của giai cấp công
nhân đã tăng lên. Trong số đó, có những tổ chức thể thao do công nhân
thành lập cho họ và con gái của họ. Có tổ chức hoạt động thể thao
không mang tính chất chính trị. Nhưng cũng có những tổ chức tích cực
tham gia chính trị, theo yêu cầu của tổ chức Đảng, trở thành trung tâm
tuyên truyền cổ động.
Sự phát triển rộng rãi thể thao của công nhân diễn ra vào cuối thế kỷ
XIX ở Đức, Pháp, Hungragy…phong trào trở thành một bộ phận lớn
của các lực lượng tiến bộ trong lịch sử thể thao.
Lo sợ trước sự phát triển này, nhiều xí nghiệp của các nhà tư bản đã
thành lập tổ chức thể thao cho công nhân để lôi kéo thanh niên công
nhân về phía mình, mục đích để họ lãng quên các tổ chức chính trị của
giai cấp công nhân.
Năm 1913 một số tổ chức thống nhất các tổ chức thể thao công nhân
các nước như Anh, Áo, Hungary, Đức, Pháp, Bỉ đã làm nền tảng cho
sự thống nhất quốc tế của các vận động viên công nhân. Song, do
chiến tranh thế giới thứ nhất nên bị gián đoạn, say cách mạng Tháng
Mười và Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, tổ chức thể thao quốc
tế mới ra đời.
1.3.Phong trào “ Chim ưng “ và thể dục “ Chim ưng “.
Để thu hút thanh niên, phong trào “ Chim ưng “ ở Tiệp Khắc đã soạn
thảo hệ thống và quy định các trang phục thống nhất, có nhạc đệm.
Bài tập được chia thành 4 nhóm:
Nhóm 1: Thể dục dụng cụ gồm có xà đơn, xà kép, ngựa gỗ…

8


Nhóm 2: Những động tác tay không.
Nhóm 3: Các động tác tập thể.
Nhóm 4: Các động tác chiến đấu gồm các vật, đấu gươm, thể dục quân
sự.
2.Những phát triển tiếp tục thể thao và hệ thống giáo dục thể chất.
Chính sách trong lĩnh vực thể thao của giai cấp tư sản và các chính
phủ tư sản càng ngày càng trở nên phản động.Thể thao đã được sử
dụng nhằm cũng cố chế độ tư bản và lôi kéo thanh niên và phía mình
và làm cho quần chúng xao nhãng đấu tranh giai cấp.Chúng đã khuyến
khích xây dựng các công trình thể thao, cải tiến các hệ thống giáo dục
thể chất.Nhưng chúng chỉ tập trung vào những hình thức có lợi cho
chúng.
2.1.Các tổ chức thể thao tư sản.
Giai cấp tư sản đã cố gắng mở rộng ảnh hưởng của chúng bằng cách
thành lập các hội và các câu lạc bộ thể thao mới, khuyến khích hoạt
động tổ chức khác nhau.
Vào năm 1911 Liên đoàn câu lạc bộ thể thao Thiên chúa giáo quốc tế
ra đời với mục đích tách thanh niên của đời sống chính trị chuẩn bị
cho họ phục vụ quân đội.
2.2.Sự xuất hiện các hình thức mới trong giáo dục thể chất.

9


Trong lĩnh vực thể thao có những nhà hoạt động tiến bộ, họ nhìn thấy
thể thao là phương tiện tốt nhất để giáo dục đạo đức và thể chất cho
thanh niên, tăng cường hữu nghị giữa các dân tộc.
Trong thời kỳ này, có các hệ thống thể dục của người Pháp Gióocgiơ
Đêmêri (1850-1971) và Gióoc – Ebe.
2.1.Thể thao Gióocgiơ Đêmêri.
Thể dục Gióocgiơ Đêmêri đã có những cống hiến lớn vào việc xây
dựng cơ sở khoa học thể dục, thể thao, trò chơi.Ông tập trung nghiên
cứu về sinh lý học, giáo dục và giáo dục thể chất.Ông phê phán một số
hạn chế của trường phái thể dục Thủy Điển và cho rằng.
Bài tập thể dục phải động chứ không tĩnh.Thể lực phải cải thiện khả
năng, chức năng cơ thể và các hệ thống cơ quan, nâng cao năng lực
phối hợp động tác và khéo léo.Khi thực hiện các bài tập phải biết thả
lỏng cơ bắp đã tham gia hoạt động. Các bài tập phải tuân theo các
nguyên tắc chung, đảm bảo về mặt sinh lý vận động, giáo dục và phát
triển các tố chất thể lực và các tố chất tâm lý, ý chí. Tuy nhiên còn hạn
chế về mặt nhìn nhận sinh lý học trong giáo dục thể chất.
2.2.Phương pháp tự nhiên của Gióoc – Ebe.
Ông đề nghị tiến hành các bài tập trên địa hình tự nhiên, không cần
trang thiết bị chuyên môn. Tùy theo hoàn cảnh, giáo viên phải biết
sang tạo các bài tập trong hoàn cảnh khác nhau kể cả tạo ra chướng
ngại vật nhân tạo. Ông tập trung vào phương pháp tập luyện nam mà
không nêu phương pháp tập luyện nữ.
2.3.Thể dục cơ bản của Ninxơ Búc.

10


Ông sử dụng rộng rãi các dụng cụ thể dục sáng tạo như thang dóng,
ghế bang, khung treo…Ông đã làm cho thời gian thời gian động của
giờ học đạt giới hạn. Cho đến nay, phương pháp này vẫn được áp
dụng.
3.Những quan điểm giáo dục thể chất tiến bộ ở nước nga trước
cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng 10.
Các nhà khoa học Nga đã có vai trò to lớn trong việc phát triển các
quan điểm khoa học đúng đắn về giáo dục thể chất:
Nhà sư phạm kiệt suất Coontantin Usinxky là người đầu tiên đề nghị
cho trẻ em tập luyện thân thể 5 phút trong thời gian học lý thuyết để
nâng cao hiệu quả học tập.
P.Létsgap là nhà khoa học đầu tiên tìm hiểu quá trình thể dục thể chất
bằng phương pháp khoa học ở những điểm sau:
- Giáo dục trí tuệ và giáo dục thể chất phải chuẩn bị cho con người lao
động có năng suất cao, vì hạnh phúc của toàn xã hội.
- Nhiệm vụ quan trọng của giáo dục thể chất là trao dồi kỹ năng lĩnh
vực các kết quả thu được từ các bài tập cũng như kỹ năng phân tích
chung.
- Chỉ có giáo dục phát triển con người hài hòa mới có năng suất và
hiệu quả cao.
Ông cho rằng: Phá triển hài hòa là phát triển đúng đắn phát triển trí óc
với sức mạnh thể chất của con người. Sự phát triển hài hòa chỉ có thể

11


có khi tuân thủ các nguyên tắc lien tục, có tính đến đặc điểm lứa tuổi,
giới tính và cá biệt hóa trong sự phát triển thể chất của mỗi người.
Sự phát triển thể chất đúng đắn chỉ có thể thực hiện với sự hộ trợ của
hệ thống giáo dục thể chất có luận chứng khoa học.
Bản thân hệ thống giáo dục thể chất phải gồm một sự không nhiều các
động tác tự nhiên được áp dụng trong các điều kiện khác nhau và dưới
các hình thức khác nhau.
Những quan điểm của ông đã được chứng minh và vận dụng trong thể
dục thể chất ở Liên Xô ngày sau Cách mạng Tháng Mười.
III/ QUAN ĐIỂM, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
VỀ CÔNG TÁC TDTT TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG
MỚI.
Khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng, cách mạng nước ta chuyển sang
một giai đoạn mới, Ban bí thư trung ương đảng đã ra chỉ thị số 227
CT/TƯ ngày 18/11/1975 chỉ thị nhậ định: trong những năm qua, từ khi
có chỉ thị 180 CT/TƯ 28/8/1970 công tác thể dục thể thao phát triển
đúng hướng, góp phần tích cực phục vụ sản xuất, chiến đấu, đời sống
và xây dựng con người mới. trong tình hình mới chỉ thị yêu cầu ngành
thể dục thể thao “ phấn đấu vươn lên, đưa phong trào quần chúng rèn
luyện thân thể, và nền nếp phát triển công tác thể dục thể thao có chất
lượng, có tác dụng tích cực nhằm mục tiêu khôi phục và tăng cường
sức khỏe của nhân dân, góp phần xây dựng con người mới phát triển
toàn diện”.
Để thực hiện mục tiêu này, chỉ thị đã nêu ra 4 phương hướng là:

12


-Kết hợp thể dục thể thao lấy thể dục làm cơ sở, kết hợp thể dục với
vệ sinh phòng chống bệnh, kết hợp thành tựu hiện đại của thế giới với
kinh nghiệm truyền thông của dân tộc, tập trung phục vụ phong trào cơ
sở.
-Tập luyện thể dục thể thao phải phù hợp với từng lứa tuổi nam nữ,
ngành nghề, sức khỏe của từng người và phù hợp với điều kiện kinh
tế, hoàn cảnh địa lí tự nhiên và
truyền thống từng vùng. thực hiện kiểm tra y học và đảm bảo an toàn
trong tập luyện và thi đấu.
-Kết hợp việc phát triển phong trào quần chúng với việc xây dựng lực
lượng nòng cốt bao gồm Cán bộ, huấn luyện viên, trọng tài, giáo
viên, hướng dẫn Viên, và vận động viên thể dục thể thao.
-Triệt để sử dụng những điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất có sẵn, dựa
vào lực lượng của nhân dân.
-Trải qua 20 năm thực hiện chỉ thị 227 CT/TƯ Ban Bí thư trung ương
đảng đã đánh giá:
Những năm gần đây Thể dục Thể thao Đã được mở rộng với nhiều
hình thức, nhiều môn thể thao dân tộc đã được khôi phục và phát triển,
nhiều môn thể thao đã đạt được thành tích khá khích lệ, cơ sở vật chất
đã được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới.
Tuy nhiên thể dục thể thao ở nước ta còn ở trình độ thấp, số người tập
luyện thể dục thể thao còn ít, thanh thiếu niên tham gia chưa tích cực,
giáo dục thể chất trong nhà trường, lực lượng vũ trang còn thấp..
Để thực hiện tốt và khắc phục được từ các ngành thể dục thể thao phải:
Coi thể dục thể thao là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát
triển kinh tế - xã hội của Đảng và nhà nước ta, nhằm phát huy nhân tố
con người.

13


Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học, làm cho việc
tập luyện thể dục thể thao trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết
học sinh, sinh viên, thanh niên, chiến sĩ lực lượng vũ trang và một bộ
phận nhân dân.
Kiện toàn hệ thống đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ khoa học, huấn
luyện viên, giáo viênthể dục thể thao, kiện toàn tổ chức ngành thể dục
thể thao các cấp.nâng cấp.Xây dựng mới và hiện đại hóa một số cơ sở
nghiên cứu ứng dụng khoa học Y học Thể dục Thể thao, tạo điều kiện
cho sự phát triển mạnh mẽ của nền thể thao Việt Nam vào đầu thế kỷ
XXI.
IV/ NHỮNG MẶT CHƯA TỐT VÀ TỐT CỦA TDTT TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY..
1.Những mặt chưa tốt của TDTT hiện nay.
Phong trào TDTT quần chúng phát triển mạnh nhưng chưa đều, chất
lượng chưa cao; Công tác giáo dục thể chất trong nhà trường và các hoạt
động thể thao ngoại khóa của học sinh, sinh viên chưa được coi trọng,
chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho học sinh; Công
tác quản lý ngành còn ảnh hưởng bởi cơ chế bao cấp, chưa bắt kịp với
tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay; cơ chế, chính sách nguồn
nhân lực thể thao còn hạn chế, bất cập; Công tác giáo dục tư tưởng, đạo
đức trong thi đấu, thưởng thức thể thao chưa được quan tâm đúng mức;
Tỷ trọng ngân sách nhà nước đầu tư cho phát triển ngành TDTT còn
thấp. Hoạt động của một số liên đoàn, hiệp hội TDTT còn bị động, phụ
thuộc vào sự hỗ trợ của cơ quan quản lý nhà nước; thiếu các quy định
pháp lý về việc tham gia thực hiện một số hoạt động tác nghiệp trong
lĩnh vực TDTT; Hợp tác quốc tế về TDTT chưa tương xứng với tiềm
năng của ngành.

14


Xác định những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân giúp cho chúng ta có
cái nhìn tổng thể, khách quan và toàn diện nhằm định hướng tốt công
tác tuyên truyền góp phần đưa phong trào TDTT phát triển phù hợp với
yêu cầu khách quan của xã hội trong giai đoạn hiện nay.
Xét về nguyên nhân khách quan là những nhân tố bên ngoài tác động
đến sự phát triển TDTT bao gồm nguồn lực, cơ chế, chính sách đầu tư
cho TDTT còn nhiều bất cập. Hiện nay ngân sách nhà nước và cộng
đồng xã hội cho phát triển TDTT còn thấp; cơ sở vật chất kỹ thuật, trang
thiết bị TDTT còn thiếu thốn, lạc hậu; khoa học, công nghệ và y học thể
thao chưa được chú trọng đầu tư đúng mức. Trong khi đó nhu cầu xã
hội về TDTT ngày càng tăng, xu thế hội nhập theo con đường giao lưu
TDTT được xã hội hóa ngày càng nhiều. Mâu thuẫn giữa nhu cầu với cơ
chế, chính sách sẽ làm cho sự phát triển TDTT gặp nhiều khó khăn,
đứng trước nhiều thách thức. Thách thức về nguồn lực con người và khó
khăn về cơ sở vật chất. Đó là việc đầu tư giáo dục năng khiếu TDTT,
năng lực quản lý, ứng dụng KHCN vào TDTT chưa được chú trọng làm
cho chất lượng nguồn nhân lực TDTT thiếu về số lượng, yếu về chất
lượng. Đồng thời cơ sở vật chất thiếu và lạc hậu gây khó khăn trong
công tác đào tạo, luyện tập và quá trình phát triển phong trào TDTT
trong xã hội.

15


Bên cạnh đó, tỷ trọng đầu tư của Nhà nước và xã hội hiện nay vẫn chưa
đáp ứng nhu cầu phát triển TDTT trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng
gay gắt về thành tích thi đấu giữa các quốc gia trong khu vực, châu lục
và thế giới.

Xét về nguyên nhân chủ quan là nguyên nhân cơ bản tác động trực tiếp
đến sự phát triển TDTT của nước ta hiện nay được thể hiện chủ yếu trên
các mặt như: công tác tuyên truyền còn hạn chế; vai trò lãnh đạo, chỉ
đạo của các cấp ủy, chính quyền chưa thường xuyên và thiếu sâu sát;
chiến lược phát triển TDTT còn thiếu và bất cập; công tác giáo dục

16


chính trị, tư tưởng, đạo đức đối với nguồn nhân lực phục vụ sự phát
triển TDTT chưa được quan tâm đúng mức…
Một khía cạnh khác hiện nay vẫn còn chưa có lời giải cho một số VĐV
sau chế độ thi đấu về hưu chưa được quan tâm đúng mức, sẵn sàng loại
bỏ những VĐV trong chế độ tập luyện gặp chấn thương mà không có bù
đắp. Những hoàn cảnh éo le rất cần được quan tâm sau giải nghệ báo lên
hồi chuông về sự thờ ơ của lãnh đạo TDTT hiện nay.
Ngoài ra thực tế hơn nữa là tại trường DH SP TDTT, một số hạn chế về
sân bãi tập luyện dành cho sinh viên ngoài giờ rèn luyện sau khi tiếp thu
lý thuyết trên lớp hoặc sau giờ thực hành. Các dụng cụ tdtt có thể là đã
hơi cũ cũng góp phần nào gây ảnh hưởng tới sự phát triển của tdtt của
cá nhân nói riêng và tdtt nước nhà nói chung.
2.Những mặt tốt của TDTT hiện nay.
Năm 2015 trôi qua, có thể nói Thể thao Việt Nam đã đạt được
những mặt tích cực rất tốt đẹp. Trước hết, là những thành tựu của
Thể thao quần chúng có rất nhiều khởi sắc, đánh dấu sự phát triển
rõ nét phong trào TDTT trong quần chúng nhân dân. Đặc biệt,
phong trào thể thao quần chúng đã có những chuyển biến tích cực,
98% các huyện, thị, xã phường đã tổ chức Đại hội và 99% các
huyện đã tổ chức thành công Đại hội TDTT cấp huyện, 100% các
tỉnh tổ chức hiệu quả Đại hội TDTT. Thông qua Đại hội TDTT lần
này đã thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia tập luyện
thi đấu. Bên cạnh việc tổ chức Đại hội TDTT thì hoạt động TDTT
quần chúng ở các xã phường, CLB Thể thao đã có những bước tiến
bộ mạnh về chất lượng thông qua kế hoạch phát triển xây dựng
nông thôn mới.

17


Cũng chính từ Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VII, có rất nhiều
VĐV đạt thành tích cao và nhiều kỷ lục quốc gia đã được phá. Đối
với các giải Thể thao quốc tế, ngay từ đầu năm 2014, Thể thao Việt
Nam đã tham gia Đại hội Olympic trẻ thế giới lần thứ II tại Trung
Quốc và giành được 1 HCV của VĐV Nguyễn Thị Ánh Viên (môn
Bơi), 1 tấm HCB của Thạch Kim Tuấn (Cử tạ).

Đây là kết quả rất đáng biểu dương, ghi nhận sự nỗ lực của những
gương mặt VĐV trẻ Việt Nam khi tham dự dự sân chơi dành cho
các VĐV trẻ xuất sắc nhất thế giới.
Ở Asiad 17 (Incheon - Hàn Quốc), mặc dù đoàn Thể thao Việt
Nam không hoàn thành chỉ tiêu như kế hoạch ban đầu đề ra là
giành được từ 2 - 3 tấm HCV nhưng nhìn tổng thể về thành tích của
đoàn Thể thao Việt Nam cho thấy có sự tiến bộ rõ nét. Cụ thể,
chúng ta đã giành được tổng số 36 huy chương các loại, trong đó
có 5 môn Thể thao Olympic mà lần đầu tiên Việt Nam giành được
huy chương đó là các môn Bơi lội, TDDC, Đấu kiếm, Đua xe đạp
và Wushu.

18


Tại Đại hội Thể thao người khuyết tật châu Á lần thứ IV, đoàn Thể
thao NKT Việt Nam thi đấu xuất sắc giành thành tích rất cao, đứng
vị trí thứ 10 trên 42 quốc gia, vùng lãnh thổ thuộc châu Á. Tiêu
biểu, có VĐV Lê Văn Công đã phá kỷ lục thế giới hay VĐV Võ
Thanh Tùng giành 5 huy chương giá trị ở các nội dung thi đấu của
môn Bơi lội trong khuôn khổ Đại hội. Và kỳ thi đấu cuối cùng của
năm là Đại hội TDTT Bãi biển châu Á lần thứ V (Phuket - Thái
Lan) đoàn Việt Nam thi đấu ấn tượng với thành tích cao để giành vị
trí thứ 5 trên 43 quốc gia vùng lãnh thổ tham gia thi đấu.
V/NHỮNG GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TDTT VIỆT NAM
PHÁT TRIỂN.
Để đáp ứng yêu cầu khách quan ngày càng cao của xã hội đối về
TDTT, cần tập trung giải quyết tốt các nhiệm vụ sau:
1.Thứ nhất, cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận
thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về phát triển TDTT nhằm
phục vụ sức khỏe nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ
quốc, hội nhập quốc tế. Trong thực tiễn chúng ta thấy, để chủ trương,

19


chính sách, nghị quyết, chỉ thị…đi vào cuộc sống trước hết phải học
tập, quán triệt, hướng dẫn, triển khai, tuyên truyền. Tuyên truyền
phải đảm bảo đúng các nguyên tắc: tính đảng, tính giai cấp; tính
khoa học và thực tiễn; tính chiến đấu; tính phổ thông, đại chúng. Từ
đó xác định mục đích, đối tượng, nội dung, phương pháp, phương
thức, phương tiện tuyên truyền và nguồn lực bảo đảm cho công tác
tuyên truyền cũng như tổ chức công tác tuyên truyền phù hợp để
nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền TDTT vào đời sống xã hội
một cách thiết thực.
2.Thứ hai, vai trò của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp là yếu tố
không thể thiếu để lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý công tác TDTT. Hoạt
động TDTT diễn ra thường xuyên, liên tục với nhiều hình thức đa
dạng, phong phú và thu hút nhiều thành phần tham gia.

Vì vậy cấp ủy đảng, chính quyền các cấp cần quan tâm kịp thời, lãnh đạo,
chỉ đạo, quản lý phong trào TDTT cơ sở theo đúng quan điểm chỉ đạo của
đảng.

20


Một mặt góp phần động viên, phát hiện và phát triển thế mạnh thể
thao của địa phương, mặt khác hạn chế những tiêu cực nảy sinh
trong quá trình hoạt động.
Các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
chính trị - xã hội cần quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về
công tác TDTT, trên cơ sở đó có chủ trương phù hợp để lãnh đạo, chỉ
đạo công tác TDTT ở từng địa phương, cơ sở. Quan tâm chỉ đạo
công tác tuyên truyền đúng mức, giáo dục, tạo sự chuyển biến sâu
sắc về nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội đối với công
tác TDTT. Đồng thời cần đặc biệt chăm lo xây dựng tổ chức và bố trí
cán bộ có phẩm chất và năng lực để lãnh đạo, quản lý công tác
TDTT; quy hoạch đất và huy động nguồn lực để xây dựng các cơ sở
tập luyện TDTT ở xã, phường, thị trấn gắn với trường học; hỗ trợ
phát triển TDTT ở các địa phương có điều kiện kinh tế, xã hội khó
khăn.
3.Thứ ba, để TDTT phát triển đúng hướng, việc lập kế hoạch,
chương trình, dự án TDTT (đặc biệt là thể thao thành tích cao, thể
thao chuyên nghiệp) theo từng giai đoạn cụ thể là nhiệm vụ cơ
bản nhằm phát huy thế mạnh TDTT trên cơ sở tình hình thực tế theo

21


từng vùng, miền, địa phương, đơn vị. Trong quá trình hội nhập và
phát triển ngày càng diễn ra mạnh mẽ, phong trào TDTT Việt Nam
hiện nay vẫn chưa theo kịp những nguyên tắc kế hoạch phát triển
ngắn hạn và chiến lược phát triển lâu dài. Vì vậy, sự phát triển TDTT
chưa được bền vững. Đây là thực trạng cần phải cảnh báo để cấp ủy
đảng, chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo, quản lý thường xuyên,
nhằm phát huy vai trò TDTT vào sự nghiệp xây dựng và phát triển
quê hương, đất nước.
Việc lập kế hoạch chiến lược với các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn là
cơ sở để đầu tư, huy động xã hội, hợp tác quốc tế trong giáo dục,
quản lý, phát triển phong trào TDTT quần chúng, thể thao thành tích
cao và thể thao chuyên nghiệp theo chiều rộng, nâng cao chất lượng
của TDTT Việt Nam.
4.Thứ tư, để phát triển thể thao thành tích cao cần phải tập trung
đẩy mạnh hơn nữa việc đầu tư phát triển từ tâm lý học thể thao, y
học thể thao đến kinh tế thể thao trên cơ sở huy động mạnh mẽ
các nguồn lực xã hội cho thể thao. Từ những mục tiêu kế hoạch,
chiến lược của thể thao, đặc biệt là thể thao thành tích cao, việc thực
hiện các giải pháp giáo dục, quản lý, chăm sóc sức khỏe, thể chất và
xác định đúng đầu tư mũi nhọn cho hoạt động TDTT là điều kiện
quan trọng nhằm khẳng định vị trí của TDTT Việt Nam ở trong khu
vực và quốc tế.
Việc giáo dục phát triển thể thao thành tích cao phải bao gồm giáo
dục năng khiếu và giáo dục tâm lý học thể thao. Giáo dục năng
khiếu, kỹ thuật thể thao là nhiệm vụ thường xuyên để phát triển
TDTT, song song với quá trình đó là việc hướng dẫn, huấn luyện các
chiến thuật thi đấu hợp lý, chủ động, bình tĩnh và tự tin, vững vàng
trong mọi tình huống nhằm đạt kết quả thi đấu cao nhất. Giáo dục

22


tâm lý học thể thao sẽ giúp cho các VĐV bản lĩnh thể thao, “thắng
không kiêu, bại không nản”, thể hiện đúng bản sắc văn hóa của thể
thao Việt Nam truyền thống và hiện đại. Bên cạnh đó, việc chăm sóc
sức khỏe, thể lực cho các VĐV có vai trò rất quan trọng để duy trì độ
dẻo dai, sức bền, hạn chế tối đa những chấn thương trong thi đấu của
các VĐV. Vì vậy phát triển y học thể thao góp phần giải quyết nhiều
vấn đề thực tiễn: tuyển chọn, kiểm tra đánh giá trình độ luyện tập của
VĐV, khám và chữa trị các bệnh lý chấn thương và bệnh lý do luyện
tập thể thao gây nên, tư vấn và hướng dẫn dinh dưỡng thể thao và
tham gia phục vụ tốt công tác y tế của các giải thi đấu thể thao trong
nước và quốc tế.
Để phát triển thể thao thành tích cao đòi hỏi phải có sự đầu tư hợp lý,
hiệu quả. Muốn vậy cần xác định các môn thể thao thế mạnh, mũi
nhọn để ưu tiên đầu tư kinh phí, huy động nguồn lực xã hội vào quá
trình phát triển. Từ đó có phương pháp đào tạo, chế độ chăm sóc phù
hợp, có chính sách, chế độ hỗ trợ nguồn lực phục vụ phát triển thể
thao thành tích cao.
5.Thứ năm, việc giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp phát triển TDTT Việt Nam.
Nguồn nhân lực TDTT là lực lượng bao gồm các HLV, VĐV, trọng
tài, cán bộ quản lý… Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng khẳng định: “Công tác tư tưởng đã góp phần nâng cao
nhận thức, tính tích cực của cán bộ, đảng viên, nâng cao lòng tin của
nhân dân vào đường lối đổi mới, tạo sự nhất trí trong Đảng và sự
đồng thuận trong xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giữ
vững ổn định chính trị- xã hội”.
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu về rèn luyện sức khoẻ, hưởng
thụ văn hoá, TDTT trong xã hội sẽ gia tăng. Văn hóa, đạo đức trong

23


TDTT được coi trọng và công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ngành
TDTT luôn được Đảng, Nhà nước và lãnh đạo ngành TDTT thường
xuyên quan tâm, chăm lo
Trước thực trạng đó đòi hỏi cần tăng cường công tác giáo dục chính
trị, tư tưởng trong ngành TDTT nhằm nâng cao phẩm chất chính trị,
đạo đức, lối sống, trình độ văn hóa cho cán bộ, HLV, VĐV và trọng
tài là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp TDTT Việt
NAM
6.Thứ sáu, thực tế các hoạt động tdtt tại địa phương, mở rộng sân
bãi dụng cụ tập luyện.

Muốn có gốc, nền tảng TDTT phải bắt đầu từ quá trình đầu tư sân
bãi dụng cụ. Đó là hạn chế lớn nhất gây cản trở sự phát triển TDTT
điạ phương là một phần nhân tố bí ẩn cho các tài năng tìm thấy.
Thường xuyên liên tục tổ chức các hoạt động nhằm duy trì, phát triển
con người hơn.

24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×