Tải bản đầy đủ

NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ NHẰM ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ NGUỒN LỢI CÁ Ở NGÃ BA SÔNG HỒNG

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------------------------

NGUYỄN ĐÌNH TẠO

NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ NHẰM ĐỀ XUẤT
CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ NGUỒN LỢI CÁ
Ở NGÃ BA SÔNG HỒNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

HÀ NỘI – 2010

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------------------------------


NGUYỄN ĐÌNH TẠO

NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ NHẰM ĐỀ XUẤT
CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ NGUỒN LỢI CÁ
Ở NGÃ BA SÔNG HỒNG

Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 60 42 10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN XUÂN HUẤN

HÀ NỘI – 2010

2


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã
được sự quan tâm giúp đỡ của nhiều cán bộ, bạn bè và các cơ quan. Qua
đây, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
PGS. TS. Nguyễn Xuân Huấn, người thầy trực tiếp hướng dẫn, truyền
thụ, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cũng như kinh nghiệm trong nghiên
cứu khoa học.
PGS. TS. Hồ Thanh Hải, Trưởng phòng Sinh thái - môi trường nước đã
tạo điều kiện cho tôi học tập, nâng cao kiến thức chuyên môn, cũng như dìu
dắt, hướng dẫn tôi trong hoạt động nghiên cứu khoa học.
Các thầy cô và cán bộ Khoa Sinh học - trường Đại học Khoa học Tự
nhiên, ĐHQG Hà Nội đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp
cho tôi nguồn tri thức, tài liệu quý giá trong suốt quá trình học tập và nghiên
cứu tại trường.
Ban lãnh đạo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật; các anh chị đồng
nghiệp tại phòng Sinh thái - môi trường nước, bạn bè và người thân trong
gia đình- những người đã hết lòng quan tâm, khuyến khích, động viên và
giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, công tác cũng như thực hiện luận văn
này.
Hà Nội, ngày ..... tháng ..... năm 2010
Học viên

Nguyễn Đình Tạo


3


DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
Bảng 1: Dân số, diện tích các địa phương vùng lưu vực Ngã ba sông
Hồng

trang
25

Bảng 2: Các thông số thủy lý ở vùng Ngã ba sông Hồng ( 10/2009)

29

Bảng 3: Các thông số thủy hóa ở vùng Ngã ba sông Hồng (10/2009)
Bảng 4: Mật độ các nhóm ĐVN ở vùng Ngã ba sông Hồng
Bảng 5: Danh sách các loài cá đã biết ở vùng Ngã ba sông Hồng và phụ
cận
Bảng 6: Cấu trúc thành phần loài cá theo các bộ ở vùng Ngã ba sông
Hồng

30
33
35
42

Bảng 7: Danh sách các loài cá kinh tế ở vùng Ngã ba sông Hồng và phụ
cận

46

Bảng 8: Gía bán một số loài cá kinh tế (09/ 2009)
Bảng 9: Sự phân bố kích thước cá Mòi cờ hoa theo nhóm chiều dài

47

Bảng 10: Tương quan chiều dài - khối lượng cá Mòi cờ hoa di cư trên
sông Hồng

51

Bảng 11: Hệ số béo của cá Mòi cờ hoa di cư theo nhóm tuổi theo Fulton
(1902)
Bảng 12: Sự phát triển của tuyến sinh dục cá Mòi cờ hoa di cư theo
nhóm tuổi
Bảng 13: Sức sinh sản của cá Mòi cờ hoa di cư sinh sản trên sông Hồng

52

Bảng 14: Bãi đẻ một số loài cá quý hiếm, có giá trị kinh tế ở vùng Ngã
ba sông Hồng và vùng phụ cận
Bảng 15: Lực lượng lao động tham gia khai thác cá trên sông Hồng

4

49

53
54
57
64


DANH LỤC CÁC HÌNH
Tên hình
Hình 1: Sơ đồ vùng nghiên cứu
Hình 2: Tỷ lệ các nhóm TVN vùng Ngã ba sông Hồng và phụ cận

trang
17
31

Hình 3. Tỷ lệ các nhóm ĐVN vùng Ngã ba sông Hồng và phụ cận

33

Hình 4: Tỷ lệ các nhóm ĐVĐ vùng Ngã ba sông Hồng và phụ cận
Hình 5: Số loài cá ở vùng Ngã ba sông Hồng và phụ cận
Hình 6: Tỷ lệ loài của các bộ cá ở vùng Ngã ba sông Hồng và phụ cận

34
41
43
48

Hình 7: Thành phần các nhóm loài trong khu hệ cá vùng nghiên cứu
Hình 8: Đường cong phân bố của các nhóm kích thước cá Mòi cờ hoa di
cư.
Hình 9: Tương quan chiều dài - khối lượng cá Mòi cờ hoa di cư trên
sông Hồng
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐVKXS
BTTN
DD
ĐHTH
ĐTM
ĐVĐ
ĐVN
EN
EW
GHCP
NCHS
NN&PTNT
QCMT
QCVN
STTNSV
TP
TVN
UBND
VQG
VU

Động vật không xương sống
Bảo tồn thiên nhiên
Thiếu dẫn liệu
Đại học Tổng hợp
Đánh giá tác động môi trường
Động vật đáy
Động vật nổi
Rất nguy cấp
Tuyệt chủng ngoài tự nhiên
Giới hạn cho phép
Nghiên cứu Hải sản
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Quy chuẩn môi trường
Quy chuẩn Việt Nam
Sinh thái Tài nguyên sinh vật
Thành phố
Thực vật nổi
Ủy ban nhân dân
Vườn Quốc Gia
Sẽ nguy cấp

5

50
52


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................................... 11
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÁ NƯỚC NGỌT VIỆT NAM .................................. 11
1.1.1. Thời kỳ Pháp thuộc trước năm 1945............................................................... 11
1.1.2. Thời kỳ từ 1954 đến nay ................................................................................. 11
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ Ở HỆ THỐNG SÔNG HỒNG ......................... 13
1.2.1. Sơ lược về hệ thống sông Hồng ...................................................................... 13
1.2.2. Tình hình nghiên cứu khu hệ cá ...................................................................... 15
1.2.3. Nguồn lợi cá lưu vực sông Hồng .................................................................... 16
1.3. VÙNG NGÃ BA SÔNG HỒNG VÀ PHỤ CẬN .................................................. 17
1.3.1. Vị trí địa lý ...................................................................................................... 17
1.3.2. Tình hình nghiên cứu cá ................................................................................. 18
1.3.2.1. Khu hệ cá sông Lô – Gâm - Chảy ........................................................ 18
1.3.3.2. Khu hệ cá sông Đà .............................................................................. 19
1.3.3.3. Khu hệ cá sông Hồng – sông Thao ..................................................... 20
1.3.3. Những vấn đề còn tồn tại ................................................................................ 21
Chương 2. TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................... 23
2.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU ....................................................... 23
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu ....................................................................................... 23
2.1.2. Thời gian nghiên cứu ...................................................................................... 25
2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU ....................................... 25
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................... 25
2.2.2. Nguồn tài liệu.................................................................................................. 25
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................................................... 25
2.3.1. Phương pháp thu thập và xử lý mẫu vật ........................................................ 25
2.3.2. Phương pháp phân tích và định loại................................................................ 26
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................................. 28
3.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU
....................................................................................................................................... 28
3.1.1. Đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên ........................................................... 28
3.1.1.1. Đặc điểm địa lý .................................................................................... 28
3.1.1.2. Đặc điểm khí hậu ................................................................................. 28
3.1.1.3. Đặc điểm thuỷ văn ............................................................................... 29
3.1.2. Đặc điểm kinh tế -xã hội của các huyện thị ven lưu vực Ngã ba sông. .......... 31
3.1.2.1. Dân số .................................................................................................. 31
3.1.2.2. Cơ cấu ngành nghề và tình hình phát triển kinh tế .............................. 32
3.1.2.3. Văn hóa, giáo dục và y tế ..................................................................... 34
3.2. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ THUỶ SINH VẬT ...................................... 35
3.2.1. Đặc điểm thuỷ lý ............................................................................................. 35
3.2.2. Đặc điểm thuỷ hoá .......................................................................................... 36
3.2.3. Đặc trưng về thuỷ sinh vật .............................................................................. 37
3.2.3.1. Thực vật nổi (Phytoplankton) .............................................................. 37
3.2.3.2. Thực vật bám đáy (Periphyton) ........................................................... 39
3.2.3.3. Động vật nổi (Zooplankton)................................................................. 39

6


3.2.3.4. Động vật đáy (Zoobenthos) ................................................................. 40
3.3.
ĐẶC ĐIỂM KHU HỆ CÁ ................................................................................ 42
3.3.1. Đặc trưng về thành phần loài .......................................................................... 42
3.3.2. Đặc trưng về cấu trúc khu hệ cá...................................................................... 48
3.3.3. Các loài cá quý hiếm, nằm trong Sách Đỏ Việt Nam ..................................... 50
3.3.4. Các loài cá có giá trị kinh tế............................................................................ 52
3.3.4.1. Danh sách các loài cá kinh tế ............................................................... 52
3.3.4.2. Gía trị kinh tế ....................................................................................... 54
3.3.5. Đặc tính sinh học của cá Mòi cờ hoa. ............................................................. 55
3.3.6. Các đặc trưng về nơi cư trú, bãi đẻ, bãi giống ................................................ 61
3.3.6.1. Nơi cư trú ........................................................................................... 61
3.3.6.2. Các bãi đẻ, bãi giống ........................................................................... 63
3.4. HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ NGUỒN LỢI CÁ Ở
VÙNG NGÃ BA SÔNG HỒNG .................................................................................. 68
3.4.1. Hiện trạng nghề cá và nguồn lợi thuỷ sản....................................................... 68
3.4.1.1. Thời vụ - đối tượng khai thác .............................................................. 68
3.4.1.2. Ngư cụ khai thác ................................................................................. 69
3.4.1.3. Sản lượng, năng suất ............................................................................ 70
3.4.1.4. Nghề cá và những khó khăn của cộng đồng ngư dân ......................... 70
3.4.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lợi cá ..................................................... 73
3.4.2.1. Tác động từ việc xây dựng các công trình thuỷ điện ........................... 73
3.4.2.2. Ảnh hưởng từ phát triển công nghiệp .................................................. 74
3.4.2.3. Do khai thác nguồn lợi quá mức .......................................................... 74
3.4.2.4. Do nhận thức về hiện trạng và bảo vệ nguồn lợi còn hạn chế ............. 75
3.4.3. Đề xuất các giải pháp bảo vệ nguồn lợi cá ..................................................... 77
3.4.3.1. Bảo tồn đa dạng cá ............................................................................... 77
3.4.3.2. Khai thác hợp lý nguồn lợi cá. ............................................................. 78
3.4.3.3. Nâng cao năng suất sinh học cá ........................................................... 79
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................................... 83
Kết luận ......................................................................................................................... 83
Kiến nghị....................................................................................................................... 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................ 85
Tài liệu tiếng Việt ......................................................................................................... 85
Tài liệu tiếng Anh ......................................................................................................... 91

7


MỞ ĐẦU
Việt Nam có diện tích mặt nước ngọt nội địa rất lớn, bao gồm nhiều
loại thuỷ vực, trong đó có khoảng 2360 con sông lớn nhỏ, nhiều ao, hồ tự
nhiên và nhân tạo. Những thuỷ vực này cung cấp nguồn thuỷ sản chính phục
vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Ở các loại thuỷ vực Việt Nam đã
biết khoảng 782 loài ĐVKXS ở nước ngọt và từ biển di nhập vào, 544 loài
cá nước ngọt với nhiều loài có giá trị kinh tế [8], [21], [34]. Hiện nay, nguồn
lợi thuỷ sản bị khai thác quá mức, đang bị suy thoái nhanh. Mặc dù đã áp
dụng nhiều biện pháp bảo vệ khác nhau nhưng vẫn chưa đạt được hiệu quả.
Hệ thống sông Hồng là hệ thống sông lớn thứ 2 ở Việt Nam (chỉ sau
hệ thống sông Mekong). Trên hệ thống sông Hồng, vùng nước Ngã ba sông
Hồng là khu vực hợp lưu của các dòng sông lớn như sông Đà, sông Thao và
sông Lô - Gâm. Vị trí hợp lưu này nằm ở Việt Trì, Phú Thọ là đỉnh của tam
giác châu đồng bằng bắc Bộ [21], [34], [35], [40]. Do các sông này có chế
độ thuỷ văn và đặc tính môi trường nước khác nhau, nên khi hợp lưu tại
vùng Ngã ba Việt Trì, đặc tính thuỷ văn và môi trường có nhiều xáo trộn,
biến đổi. Mặt khác, khu vực này được xem là nơi cư trú, nơi phân bố kiếm
mồi, đồng thời là bãi đẻ, bãi giống của của nhiều loài thuỷ sinh, đặc biệt
trong đó, có nhiều loài cá quý, hiếm, có giá trị kinh tế được ghi trong Sách
Đỏ Việt Nam (2007) như cá Lăng, cá Chiên, Rầm xanh, Anh vũ, cá Mòi cờ
hoa, cá Cháy, cá Măng,... [4], [5], [6].
Vùng nước Ngã ba sông Hồng và phụ cận từ lâu được xem là thuỷ
vực quan trọng, cung cấp nguồn thực phẩm hàng ngày cho con người, đồng
thời cũng được xem là một trong những thành phần tạo nên nguồn tài
nguyên đa dạng sinh học của Việt Nam. Tiềm năng thủy sản tự nhiên ở khu
vực này rất lớn, đồng thời nghề khai thác thủy sản trên sông đã có truyền
8


thống từ lâu đời. Nhiều khu vực sông ở đây, nghề khai thác thủy sản đã trở
thành nghề chính, thu hút nhiều lao động.
Thời gian gần đây, do áp lực gia tăng dân số, việc khai thác nguồn lợi
thuỷ sản ở vùng Ngã ba sông Hồng và phụ cận với cường độ ngày càng cao.
Mặt khác, trong bối cảnh phát triển kinh tế-xã hội với tốc độ nhanh chóng,
nhiều nhà máy, xí nghiệp phát triển trên vùng lưu vực, xả các chất thải chưa
qua xử lý ra sông, nhiều công trình xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là xây
dựng các đập thuỷ điện, thuỷ lợi, hồ chứa trên các sông, đã có những ảnh
hưởng nhất định tới môi trường sống, đa dạng thuỷ sinh vật, nguồn lợi thuỷ
sản và hệ sinh thái sông ở khu vực này.
Với những lí do trên, chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu khu hệ
cá nhằm đề xuất các giải pháp bảo vệ nguồn lợi cá ở ngã ba sông Hồng"
nhằm điều tra, nghiên cứu thành phần loài, cấu trúc khu hệ và nguồn lợi cá,
đặc biệt là các loài cá quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng ở vùng Ngã ba sông
Hồng, từ đó đề xuất các giải pháp bảo vệ nguồn lợi cá.
Mục đích của đề tài:
¾ Xác định thành phần loài cá, cấu trúc phân loại trong khu hệ cá vùng
Ngã ba sông Hồng và các loài cá quý hiếm, các loài cá kinh tế.
¾ Nghiên cứu đặc điểm sinh học của một loài cá kinh tế quan trọng.
¾ Xác định các đặc trưng về nơi cư trú, bãi đẻ, bãi cá giống có trong
vùng Ngã ba sông Hồng.
¾ Đánh giá hiện trạng nghề cá, nguồn lợi cá ở vùng Ngã ba sông Hồng.
¾ Đề xuất các giải pháp bảo vệ, phục hồi và phát triển nguồn lợi cá.

9


Nội dung nghiên cứu của đề tài:
¾ Thành phần loài cá, cấu trúc phân loại khu hệ cá và các loài cá quý
hiếm, có giá trị kinh tế.
¾ Đặc điểm sinh học của loài một loài cá tiêu biểu.
¾ Nơi cư trú, bãi đẻ, bãi giống của các loài cá.
¾ Hiện trạng nghề cá, nguồn lợi cá.
¾ Các giải pháp để bảo vệ, phục hồi và phát triển nguồn lợi cá, các loài
cá quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao.

10


Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÁ NƯỚC NGỌT VIỆT NAM
1.1.1. Thời kỳ Pháp thuộc trước năm 1945
Việc nghiên cứu phân loại cá ở Việt Nam được thực hiện từ khá sớm, từ
năm 1881 của Sauvage trong tập "Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu và mô tả
một số loài mới ở Đông Dương" đã thống kê 139 loài cá chung cho toàn
Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở Miền Bắc Việt Nam, sau đó là Tirant
(1883) công bố và mô tả 70 loài cá ở sông Hương (Thừa Thiên Huế) trong
đó có 5 loài mới, Sauvage (1884) thu thập 10 loài, trong đó mô tả 7 loài mới
ở Hà Nội; Vaillant (1881-1904) thu thập 6 loài, trong đó mô tả 4 loài mới ở
Lai Châu; Chevey (1930 -1937); Pellegrin và Chevey (1934-1941). Năm
1937, công trình "Góp phần nghiên cứu các loài cá nước ngọt Bắc Bộ Việt
Nam" của Chevey và Lemasson đã giới thiệu 98 loài cá thuộc 71 giống, 17
họ và 10 bộ cá ở miền Bắc Việt Nam. Đây là công trình lớn và có giá trị nhất
về khu hệ cá nước ngọt thời kỳ này [8], [25], [65].
Như vậy có thể coi thời kỳ này, công tác nghiên cứu cá chủ yếu do các
tác giả nước ngoài tiến hành. Các nghiên cứu ở giai đoạn này mới chỉ dừng
lại ở mức mô tả, thống kê thành phần loài. Các nghiên cứu về sinh học và
nguồn lợi cá chưa được thực hiện.
1.1.2. Thời kỳ từ 1954 đến nay
Do trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945- 1954) công
tác nghiên cứu cá bị gián đoạn. Phải đến tận khi miền Bắc hoàn toàn giải
phóng (1954), công tác nghiên cứu cá mới lại được tiếp tục. Thời kỳ này chủ
yếu do các nhà khoa học Việt Nam tiến hành [8], [26], [27].
Thời kỳ 1955- 1975: các công tác điều tra về cá ở miền Bắc do các cơ
quan như Trạm nghiên cứu cá nước ngọt thuộc Tổng Cục thuỷ sản, Khoa

11


Sinh vật trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, trường Đại học Thủy sản thực
hiện. Các nghiên cứu này đã tiến hành điều tra ở hầu hết các vùng sinh thái
như Đông Bắc, Tây Bắc và Khu bốn cũ; ở các loại hình vực nước khác nhau
như sông, suối, hồ chứa, hồ tự nhiên, ao, đầm ruộng... Ở các vùng sâu, vùng
xa như Lai Châu, Hà Giang, Cao Bằng, Móng Cái, Quảng Bình còn khá
nhiều điểm chưa được điều tra. Các công trình tiêu biểu gồm: Dẫn liệu sơ bộ
ngư giới sông Bôi (1959), dẫn liệu sơ bộ ngư giới Ngòi Thia (1960) của Đào
Văn Tiến, Mai Đình Yên; Điều tra nguồn lợi sinh vật Hồ Tây của Đặng
Ngọc Thanh, Mai Đình Yên (1961); Sơ bộ điều tra thành phần, nguồn gốc và
phân bố của chủng quần cá sông Hồng của Mai Đình Yên( 1962) [17], [53].
Các công trình nghiên cứu ở Miền Nam thời kỳ này phải kể đến nghiên
cứu của các tác giả như Trần Ngọc Lợi, Nguyễn Cháu (1964), Fourmanvir
(1965), Yamamura (1966), Kawamoto, Nguyễn Viết Trương, Trần Tuý Hoa
(1972), Taki (1975) [29].
Các công trình nghiên cứu về sinh học và sinh thái học cũng được
nghiên cứu, tiêu biểu như Đào Văn Tiến, Mai Đình Yên (1960) mô tả hình
thái, sinh học, kinh tế cá Mòi sông Hồng; Sinh thái cá Ngạnh sông Lô của
Nguyễn Dương (1963); Hình thái sinh học cá Mè trắng của Phan Trọng Hậu,
Mai Đình Yên, Trần Tới (1963); Nghiên cứu đặc điểm và sinh học cá Mòi di
cư vào sông Hồng của Vũ Trung Tạng (1991) [25].
Công tác điều tra nguồn lợi và nghề cá thời kỳ này cũng được tiến hành
chủ yếu trên sông Hồng (Trần Công Tam, 1959); Ý nghĩa kinh tế ngư giới
sông Hồng (Mai Đình Yên, 1963); Nguồn lợi cá hồ Ba Bể (Nguyễn Văn
Hảo, 1964); Nguồn lợi thuỷ sản của sông Lạch Trường và sông Mã (Nguyễn
Anh Tạo, 1964) [31].
Thời kỳ từ 1975 đến nay, các điều tra khu hệ cá đã tiến hành mở rộng
đến hầu hết các điểm trắng mà thời kỳ trước chưa có điều kiện điều tra. Các
12


kết quả tiêu biểu thời kỳ này có thể kể như: Thành phần loài cá sông Hương
của Nguyễn Hữu Dực (1982) [14]; Khu hệ cá sông Lam của Nguyễn Thái
Tự [58]; Thành phần loài cá các sông Thu Bồn, sông Trà Khúc, sông Vệ,
sông Côn, sông Ba, sông Cái của Nguyễn Hữu Dực, 1995 [13], [14]; Mai
Đình Yên và nnk (1992) [64] nghiên cứu thành phần loài cá các sông Tiền,
Hậu, Vàm Cỏ, Sài Gòn, Đồng Nai; Nghiên cứu thành phần loài cá một số
sông suối của Tây Nguyên của Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Dực (1994)
[13]; Võ Văn Phú (1995) [36], [37] nghiên cứu thành phần loài cá đầm phá ở
Thừa Thiên Huế,...
Các công trình tổng hợp các nghiên cứu qua các thời kỳ được công bố
là: Định loại cá nước ngọt phía Bắc Việt Nam của Mai Đình Yên (1978)
[65]; Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ của Mai Đình Yên và nnk
(1992) [64]; Định loại cá nước ngọt vùng ĐBSCL của Trương Thủ Khoa và
Trần Thị Thu Hương (1993). Đặc biệt công trình có tính chất tổng kết các
kết quả nghiên cứu từ trước đến nay là "Nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam" của
Bộ Thuỷ sản (1996) [8], với sự tham gia của nhiều nhà khoa học trong và
ngoài ngành Thuỷ sản. Theo kết quả của nghiên cứu này, khu hệ cá nước
ngọt Việt Nam có gồm 544 loài thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ.
Về đặc trưng phân bố và đặc điểm địa động vật của cá nước ngọt Việt
Nam có nghiên cứu của các tác giả như Mai Đình Yên (1973); Nguyễn Thái
Tự (1983), Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991), Nguyễn Văn Hảo
(1993, 1998), Nguyễn Hữu Dực (1995) [14], [58].
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ Ở HỆ THỐNG SÔNG HỒNG
1.2.1. Sơ lược về hệ thống sông Hồng
Hệ thống sông Hồng là hệ thống sông lớn nhất ở miền Bắc và đứng thứ
2 của Việt Nam sau hệ thống sông Mekong. Sông Hồng bắt nguồn từ dãy

13


Nguỵ Sơn, Vân Nam (Trung Quốc), chảy vào Việt Nam ở Hà Khẩu với
chiều dài dòng chính là 1.126 km (đoạn ở Việt Nam dài 510 km). Diện tích
toàn lưu vực là 145.965 km2, riêng ở Việt Nam là 70.722 km2 (chiếm 42,6%
diện tích toàn Miền Bắc) [34], [35], [40].
Mực nước mùa cạn trung bình là 2,8 m; vào mùa lũ là 9 m (tại Hà Nội).
Mực nước tối đa lên đến 14,1 m (8/1945) và tối thiểu xuống đến 1,76 m
(1956). Đầu năm 2010, mực nước sông Hồng xuống thấp chỉ còn 0,9 mthấp nhất trong vòng 100 năm qua [34], [49].
Lưu lượng trung bình nhiều năm ở Sơn Tây là 3.880 m3/s; vào mùa cạn
là 1.610 m3/s; mùa lũ là 7.020 m3/s. Lưu lượng tối thiểu có năm xuống tới
840 m3/s (29/4/1940) và tối đa lên đến 32.550 m3/s (19/8/1945).
Tổng lượng nước trung bình nhiều năm là 122.109 m3, trong đó sông Đà
cung cấp 48 %, sông Lô 27 %, sông Thao 25 %. Mùa lũ (tháng 6-10) chiếm
74,4 % tổng lượng nước, riêng tháng 8 chiếm 21 %. Mùa cạn (tháng 11-5)
chiếm 25,6 %, riêng tháng 3 chỉ có 2,6 %. Tổng lượng nước tối đa là
158,4.109 m3 (năm 1929) và tối thiểu là 68,4.109 m3 (năm 1906).
Sông Đà là một phụ lưu lớn của sông Hồng. Chiều dài dòng chảy trên
lãnh thổ nước ta là 540 km với diện tích toàn lưu vực là 52.000 km2 (bằng
1/3 diện tích lưu vực sông Hồng). Tổng lượng nước sông Đà gần bằng 1/2
của hệ thống sông Hồng, còn mùa lũ sông Đà chiếm đến 55 % tổng lượng lũ
của hệ thống sông Hồng.
Các phân lưu chính của sông Hồng là sông Đáy, sông Đuống, sông
Luộc, Trà Lý, sông Đào và sông Ninh Cơ. Vào mùa lũ, sông Đuống nhận
20-30 % lượng nước sông Hồng (tại Sơn Tây); sông Luộc 10-11 %, Trà Lý
11-12 %, sông Đào 20-27%, Ninh Cơ 8 %. Như vậy sông Hồng đổ ra của Ba
Lạt khoảng 20-40% [34], [49].

14


Hệ thống sông Thái Bình có tổng lượng nước bình quân năm tại Phả
Lại là 8,26 km3 ứng với lưu lượng bình quân là 318 m3/s và modun dòng
chảy năm là 25,2 l/s/km2. Tổng lượng phù sa 1,1 triệu tấn/năm. Hằng năm,
vào mùa lũ, hệ thống sông Thái Bình nhận từ sông Hồng khoảng 32% lượng
nước (tại Sơn Tây) và 27.106 tấn phù sa (Trần Tuất, Nguyễn Đức Nhật,
1980) [49].
1.2.2. Tình hình nghiên cứu khu hệ cá
Các nghiên cứu về khu hệ cá các sông, suối thuộc hệ thống sông Hồng
đã được điều tra nghiên cứu từ rất sớm và khá đầy đủ do các cán bộ khoa
học thuộc Tổng cục Thuỷ sản trước đây, các Viện nghiên cứu, các trường
Đại học trong nước và một số chuyên gia nghiên cứu của nước ngoài. Các
công trình nghiên cứu tiêu biểu có thê kể như: Dẫn liệu sơ bộ ngư giới sông
Bôi; Dẫn liệu sơ bộ ngư giới Ngòi Thia của Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên
(1959, 1960); Sơ bộ điều tra thành phần nguồn gốc và phân bố của chủng
quần cá sông Hồng của Mai Đình Yên (1962); Kết quả điều tra nguồn lợi cá
sông Thao của Hoàng Duy Hiệp và Nguyễn Văn Hảo (1964); Mô tả hình
thái, sinh học, giá trị kinh tế của cá Mòi sông Hồng của Đào Văn Tiến và
Mai Đình Yên (1960); Sinh học cá Ngạnh sông Lô của Nguyễn Dương
(1963); Phan Trọng Hậu, Mai Đình Yên, Trần Tới (1963) nghiên cứu về
hình thái sinh học cá Mè trắng sông Hồng; Hoàng Đức Đạt (1964) nghiên
cứu về hình thái một số loài cá ở sông Lô – Gâm; Mai Đình Yên (1964)
nghiên cứu về đặc điểm sinh học một số loài cá trên sông Hồng; Mai Đình
Yên, Đoàn Văn Đẩu (1966) nghiên cứu đặc điểm sinh học một số loài cá
ruộng ở đồng bằng miền Bắc Việt Nam; Vũ Trung Tạng (1991) nghiên cứu
về đặc điểm và sinh học cá Mòi di cư vào sông Hồng [26].

15


Gần đây có các công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo, Võ Văn
Bình (1999) [28] nghiên cứu thành phần và phân bố cá sông Lô. Nguyễn
Văn Hảo, nghiên cứu thành phần loài, phân bố nguồn lợi cá ở sông Đà.
Nguyễn Hữu Dực, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Văn Chiến
(2001) đã nghiên cứu khu hệ cá sông Đà thuộc 2 tỉnh Lai Châu và Sơn La
[15], [30].
Thuộc hệ thống sông Hồng, thống kê từ các kết quả nghiên cứu cho
thấy thành phần các loài cá của các sông như sau: sông Đà 129 loài, sông
Gâm 107 loài, sông Năng 32 loài, sông Chảy 43 loài, sông Thao 100 loài,
sông Đáy 78 loài, sông Châu Giang 30 loài, sông Ninh Cơ 84 loài, sông Thái
Bình 107 loài, sông Lạch Tray có 31 loài, sông Cầu 95 loài. (Vũ Trung
Tạng, 2008) [49].
1.2.3. Nguồn lợi cá lưu vực sông Hồng
Nguồn lợi cá hệ thống sông Hồng mang tính nhiệt đới gió mùa, phong
phú về thành phần loài, nhưng năng suất và sản lượng thấp [8].
Về điều kiện đặc điểm tự nhiên của hệ thống sông Hồng khác với sông
Mekong là có hệ thống đê dọc theo hai bên bờ để ngăn lũ, gây lụt lội ở vùng
đồng bằng. Do đó sự liện hệ giữa sông và đồng không có sự lưu thông tự do,
nên nguồn nước và cá ở sông và đồng chỉ giao lưu với nhau qua hệ thống
cống và hệ thống các trạm bơm điều tiết nước suốt dọc theo hai ven sông.
Dựa theo đặc điểm tự nhiên và sinh thái học có thể chia nguồn lợi cá lưu vực
sông Hồng thành các khu hệ sau:
Khu hệ cá sông gồm 216 loài của 125 giống và 30 họ, chủ yếu các loài
trong họ cá Chép và bộ cá Nheo có khoảng hơn 40 loài cá kinh tế. Sản lượng
cá sông Hồng ước tính khoảng 1.200 tấn/ năm (Mai Đình Yên, 1963, 1991)
bao gồm các nhóm:

16


- Các loài cá di cư vào sông (cá Mòi, cá Cháy, cá Lành canh,...) khoảng
650 tấn.
- Nhóm cá Da trơn: 140 tấn.
- Nhóm cá nuôi: Mè, Trôi, Trắm đến 100 tấn.
- Các loài trong họ cá Chép: 200 tấn.
- Các loài cá tự nhiên khác: 50 tấn
Khu hệ cá đồng gồm có 33 loài, chủ yếu là nhóm cá đen như cá Qủa, cá
Chuối hoa, cá Rô, cá Trê, Lươn và các loài cá thuộc họ cá Chép,...Sản lượng
ước tính khoảng 2000 tấn/năm.
Khu hệ cá đầm hồ: Ở các đầm hồ lớn khoảng gần 100 loài, hồ trung
bình có khoảng 50-60 loài, hồ nhỏ có khoảng 20-30 loài. Khu hệ cá đầm hồ
chủ yếu là cá có kích thước lớn, tuổi thọ cao, gồm nhiều nhóm tuổi khác
nhau. Sản lượng cá ở các hồ tự nhiên chủ yếu là cá tầng đáy và ăn tạp, còn ở
các hồ chứa chủ yếu là cá ăn nổi, mùn bã hữu cơ,...
Sản lượng cá hàng năm ở lưu vực sông Hồng khai thác tự nhiên khoảng
4.000 tấn cá nước ngọt (Mai Đình Yên, 1994). Tiềm năng cá nước ngọt khai
thác tự nhiên trước đây là 5.000 tấn/năm, nay giảm đến mức báo động, chỉ
còn khoảng 1.000 tấn/năm và 100-200 triệu cá bột/năm (Viện Quy hoạch
thuỷ sản, 1992). Về kết cấu sản lượng cá nội địa ở đồng bằng sông Hồng từ
năm 1986 – 1990 biến động từ 35.497 - 45.782 tấn/năm, trung bình 39.384
tấn /năm, chiếm từ 42,41-53,7% tổng sản lượng vùng [7].
1.3. VÙNG NGÃ BA SÔNG HỒNG VÀ PHỤ CẬN
1.3.1. Vị trí địa lý
Vùng Ngã ba sông Hồng nằm ở khu vực ngã ba của các sông Đà, sông
Lô và sông Thao. Khu vực này có 2 chỗ hợp lưu cách nhau khoảng 10km: 1)
chỗ hợp lưu sông Đà - sông Thao, sau đó gọi là sông Hồng và 2) chỗ hợp

17


lưu giữa sông Hồng - sông Lô. Sau hai chỗ hợp lưu này được gọi là sông
Hồng tiếp tục chảy xuôi về hạ lưu và đổ ra biển Đông ( xem hình 1).
Phía bắc khúc sông giữa 2 chỗ hợp lưu là tỉnh Phú Thọ (TP. Việt Trì và
huyện Lâm Thao), phía nam là Hà Nội (huyện Ba Vì). Khúc sông Đà, phía
tây giáp tỉnh Phú Thọ (các huyện Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn), phía
đông giáp Ba Vì, Hà Nội. Khúc sông Lô nằm giữa 2 tỉnh Phú Thọ (Phong
Châu) và Vĩnh Phúc (Lập Thạch). Khúc sông Hồng, phía đông giáp với tỉnh
Vĩnh Phúc (huyện Vĩnh Tường), phía tây giáp Hà Nội (huyện Ba Vì).
1.3.2. Tình hình nghiên cứu cá
1.3.2.1. Khu hệ cá sông Lô – Gâm - Chảy
Trong các sông trên, sông Chảy bắt đầu được nghiên cứu sớm từ
những năm 1962-1966 để phục vụ cho quy hoạch xây dựng hồ thuỷ điện
Thác Bà (Đoàn điều tra Viện Thuỷ sản Đình Bảng và ĐHTH Hà Nội, Trần
Văn Vỹ và nnk, 1971) [60]. Các nghiên cứu liên tục hồ Thác Bà từ 19711975 của Viện Thuỷ sản Đình Bảng ( Nguyễn Hữu Tường, 1985). Nghiên
cứu hồ Thác Bà sau 20 năm sử dụng của Viện STTNSV (Hồ Thanh Hải và
nnk, 1993,1997) [18].
Các nghiên cứu về thủy sinh học nghề cá ở sông Gâm (khu vực Na
Hang - Tuyên Quang) phục vụ cho lập báo cáo ĐTM nhà máy thủy điện Na
Hang và chương trình động vật chí dược thực hiện bởi Hồ Thanh Hải và nnk
(1998, 2000). Năm 2000, Hồ Thanh Hải và nnk đã nghiên cứu thủy sinh học
nghề cá sông Chảy (khu vực Lào Cai, Hà Giang) trong ĐTM nhà máy thủy
điện Na Le [19].
Về thành phần loài, theo Nguyễn Kiêm Sơn (2001) [44], khu hệ cá
sông Gâm, sông Năng chảy từ phía hồ Ba Bể ra sông Lô ở khu vực Na Hang
có 73 loài. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và Võ Văn Bình
18


(1999) [28] ở sông Gâm cho biết, từ Bắc Mê có 52 loài cá, xuống đến đoạn
sông Gâm ở thị trấn Na Hang có 87 loài và xuôi dòng xuống thị xã Tuyên
Quang (sông Lô) có 70 loài. Ngô Sỹ Vân (2007) [59] có nêu khu hệ cá sông
Chảy ở vùng Lào Cai - Yên Bái có 112 loài, sông Lô - Gâm ở vùng Hà
Giang – Tuyên Quang có 41 loài.
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, qua thời gian, đã có sự thay đổi cấu
trúc thành phần loài cá. Các loài cá của họ cá Trích, cá Trỏng, cá Ngần, cá
Bơn, cá Nóc bắt gặp trong thời kỳ 1962 - 1965 thì nay không gặp trên sông
Lô và sông Gâm (Tuyên Quang). Các loài cá kinh tế nhập nội như Mè trắng,
Mè hoa, Trắm cỏ, cá Rôhu và Mrigan, Rô phi trở nên chiếm ưu thế trong khi
các loài cá bản địa ngày càng suy giảm. Trên sông Gâm, cá Chiên, cá Lăng,
Anh vũ, cá Bỗng vẫn còn tương đối nhiều. Tổng kết các tư liệu đã ghi nhận
được trên sông Lô - Gâm có 189 loài cá thuộc 26 họ, 11 bộ, trong đó có tới
16 loài thuộc diện cá quý hiếm đang bị đe dọa hoặc đã biến mất (Nguyễn
Kiêm Sơn, 2005) [41].
1.3.3.2. Khu hệ cá sông Đà
Khu hệ cá sông Đà được chú ý nghiên cứu từ rất sớm: Vaillant (1891),
Norman (1925), Pellegrin và Chevey (1935, 1936), Chevey và Lemasson
(1937), Nguyễn Văn Hảo và Đoàn Thị Hoa (1969). Các công trình nghiên
cứu phục vụ cho quy hoạch xây dựng thuỷ điện Hoà Bình được thực hiện
bởi Đoàn điều tra Viện Thuỷ sản Đình Bảng và ĐHTH Hà Nội ( Mai Đình
Yên và nnk, 1985). Tiếp theo đó, năm 1987-1988, Viện STTNSV đã điều tra
khảo sát thủy sinh học sông Đà trước khi hình thành công trình thuỷ điện
Hoà Bình. Nghiên cứu Thủy sinh học, nghề cá vùng lưu vực sông Đà còn có
Đề tài Nhà nước KC.08.04 của Viện STTNSV [20]. Ngoài ra, có nhiều khảo
sát về thủy sinh vật và nghề cá trên sông Đà ở khu vực thượng lưu hồ Hòa

19


Bình để lập các báo cáo ĐTM các công trình thủy điện ở đây như Sơn La,
Lai Châu...do Viện STTNSV thực hiện [19].
Về thành phần loài cá ở sông Đà đã có một số công trình nghiên cứu
như: Kết quả khảo sát nguồn lợi và nghề cá trên sông Đà của Nguyễn Văn
Hảo (1964), Huỳnh Văn Nguyên (1972) đã thống kê được 123 loài cá thuộc
79 giống, 19 họ. Mai Đình Yên, Phạm Ngọc Luận khảo sát khu hệ cá sông
Đà tại Lai Châu (1970), Tạ Khoa (1963) và Hoà Bình (1969) đã thu được 80
loài. Nguyễn Văn Hảo (1996-1998) đã khảo sát 4 điểm trên sông Đà thu
được 129 loài cá. Gần đây, Nguyễn Thị Hoa (2001) khảo sát sông suối của
hai tỉnh Sơn La, Lai Châu đã thống kê và thu thập tổng cộng được 177 loài
[30]. Ngô Sỹ Vân (2007) có nêu khu hệ cá sông Đà ở vùng Lai Châu - Sơn
La - Hoà Bình có 137 loài [59].
1.3.3.3. Khu hệ cá sông Hồng – sông Thao
Từ 1959-1960 đã có nghiên cứu bước đầu về khu hệ cá tại Ngòi Thia,
trên sông Hồng tại Yên Bái của Mai Đình Yên (1959), từ đó phát hiện một
số bãi đẻ trứng của loài cá Cháy (Hilsa reeversii). Sau đó, Hồ Thế Ân và
nnk. (1971) đã nghiên cứu một số đặc tính sinh học của loài cá Cháy tham
gia di cư đẻ trứng trên sông Hồng [2]. Các tác giả cũng xác định một số bãi
đẻ trứng chính của loài cá Cháy trên sông Hồng, sông Đà. Trên dòng chính
sông Hồng ở gần Hà Nội, đã có một số nghiên cứu hình thái cá bột, đặc
điểm sinh học một số loài cá kinh tế (Mai Đình Yên và nnk., 1971), cá Mòi
(Vũ Trung Tạng, 1971). Gần đây, trong "Nghiên cứu xây dựng các giải pháp
khôi phục, bảo vệ và phát triển nguồn lợi cá Mòi cờ hoa (Clupanodon
thrissa, Linnaeus 1758) ở vùng biển Việt Nam" do Viện NCHS Hải Phòng
(2008) thực hiện cũng đã nghiên cứu nguồn lợi cá Mòi cờ trên hệ thống sông
Hồng [1], [32]

20


Cũng đã có một số nghiên cứu về thành phần loài cá ở sông Hồng sông Thao. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Kiêm Sơn và nnk (2001)
khu hệ cá tại khu vực Ấm Thượng và Ao Châu, Hạ Hoà có 49 loài cá, trong
đó khu hệ cá sông Thao ở khu vực Ấm Thượng, Hạ Hoà là 37 loài. Ngô Sỹ
Vân (2007) có nêu khu hệ cá ở dòng chính sông Hồng từ Lào Cai – Yên Bái
– Phú Thọ – Vĩnh Phúc – Hưng Yên – Nam Định có 205 loài [41], [59].
Kết quả tổng hợp từ các nghiên cứu của Mai Đình Yên (1971, 1978,
1992, 1994); Vũ Trung Tạng (1971, 1975, 1976, 1988, 1994); Hồ Thế Ân
(1971); Phan Trọng Hậu (1971) ở khu hệ cá sông Hồng và vùng đồng bằng
sông Hồng đã thống kê được 102 loài, trong đó khu hệ cá sông Hồng 75 loài
(Nguyễn Kiêm Sơn, 1999) [41].
Về nguồn lợi cá, theo điều tra nghiên cứu về hiện trạng và biện pháp
bảo vệ, phục hồi một số loài cá hoang dã quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng
trên hệ thống sông Hồng của Phạm Báu, Nguyễn Đức Tuân, Bùi Đình Đặng,
Nguyễn Công Thắng (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I) cho biết: có 4
loài cá quý hiếm là: Cá Lăng chấm (Hemibagrus gutattus Lacepede, 1803),
cá Chiên (Bagarius yarrelli Sykes, 1839), cá Bỗng (Spinibarbichthys
denticulatus Oshima, 1926) và cá Anh vũ (Semilabeo obscous Lin., 1981)
đang có nguy cơ tuyệt chủng, cần được bảo vệ. Sản lượng khai thác của 4
loài cá này đã giảm xuống, chỉ bằng 10-15% sản lượng những năm 1970,
1980; trong đó cá Bỗng chỉ còn khoảng 1% [4], [5].
1.3.3. Những vấn đề còn tồn tại
Như vậy cho đến nay, đã có khá nhiều khảo sát, nghiên cứu về cá
trong các sông thuộc hệ thống sông Hồng. Tuy nhiên, các nghiên cứu này
mới chỉ đề cập đến khu hệ cá và nghề cá. Các dẫn liệu về các bãi đẻ trứng
của các loài cá kinh tế, đặc biệt các loài cá di cư sông biển, cũng như vùng

21


nước nuôi dưỡng cá con cũng chưa được xác định một cách đầy đủ và đã cũ,
từ những năm 1960-1970 của thế kỷ trước. Thời gian qua với nhịp độ phát
triển kinh tế-xã hội trên hai bờ sông Hồng diễn ra rất nhanh, đồng thời với
sự phát triển xây dựng đập, hồ chứa thuỷ điện trên các sông Đà, sông Lô Gâm, cùng với sự khai thác quá mức nguồn lợi thuỷ sản, đã và đang trở
thành những nhân tố tác động rất lớn tới môi trường sống và khu hệ cá ở hệ
thống sông Hồng.
Ngoài ra, dưới góc độ sinh thái học, kiểu hệ sinh thái hợp lưu Ngã ba
sông của các sông lớn như sông Thao, sông Đà và sông Lô thuộc hệ thống
sông Hồng tại Việt Trì từ lâu đã được xem là khu vực bãi đẻ, bãi sinh trưởng
của nhiều loài cá quý hiếm có giá trị kinh tế như: cá Mòi, cá Cháy, cá Lăng,
Chiên, Rầm xanh,... Tuy nhiên, khu vực Ngã ba sông này ít được nghiên cứu
một cách toàn diện về cấu trúc khu hệ cá theo chiều dọc sông từ vùng
thượng lưu của mỗi sông cho tới vùng hợp lưu sông (không gian) cũng như
theo mùa (thời gian).
Mặt khác, các đối tượng thuỷ sản có giá trị kinh tế hàng ngày đang
chịu sự tác động của con người (khai thác quá mức, gây ô nhiễm môi
trường) và sự thay đổi của các điều kiện tự nhiên. Nguồn lợi thuỷ sản chỉ có
thể tồn tại và phát triển trong điều kiện môi trường sống của thuỷ vực được
bảo đảm cân bằng dù cho có những tác động của tự nhiên và con người. Do
vậy, để có được cơ sở khoa học và tính khả thi, cần tiến hành nghiên cứu
một cách toàn diện đa dạng cá ở vùng nước Ngã ba sông Hồng tại Việt Trì
và phụ cận nhằm bổ sung, cập nhật các dẫn liệu đầy đủ hơn về thành phần
loài, cấu trúc phân loại khu hệ cá, đặc điểm phân bố, các bãi đẻ trứng, kiếm
mồi và nuôi dưỡng cá con, tình hình khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản
có giá trị kinh tế, đặc biệt các loài quý hiếm có trong Sách Đỏ Việt Nam.

22


Chương 2. TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu
Toàn bộ vùng nước Ngã ba sông Hồng và phụ cận. Giới hạn toạ độ
địa lý từ 21o12' đến 21o23' vĩ độ Bắc và từ 105o19' đến 105o28' kinh độ
Đông. Khu vực nghiên cứu được mở rộng về 4 phía:
¾ Trên dòng sông Lô: từ vùng bến phà Đức Bác theo dòng sông Lô trở
về xuôi.
¾ Trên dòng sông Thao: từ cầu Phong Châu trở về xuôi.
¾ Trên dòng sông Đà: từ phía trên cầu Trung Hà, hay xã Thái Hoà,
huyện Ba Vì, Hà Nội trở về xuôi.
¾ Phía hạ lưu trên dòng sông Hồng: từ bãi cát bồi của xã Phú Thịnh
(huyện Vĩnh Tường) ngược dòng lên Việt Trì (Hình 1) .

23


Hình 1: Sơ đồ vùng nghiên cứu
24


2.1.2. Thời gian nghiên cứu
Tiến hành 3 đợt điều tra, khảo sát ngoài thực địa:
¾ Đợt 1: từ ngày 31/9 - 04/10/2009, (thời điểm nước cạn)
¾ Đợt 2: từ ngày 09/4 - 14/4/2010, (thời gian sinh sản của một số loài
cá di cư như cá Mòi, cá Cháy, các loài quý hiếm, quan trọng khác).
¾ Đợt 3: từ ngày 10/6/ -17/6/2010, (thời điểm nước đầy).
2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Khu hệ cá ở vùng ngã ba sông Hồng và các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan tại vùng nghiên cứu.
2.2.2. Nguồn tài liệu
- Các mẫu cá kèm theo ảnh chụp thu được qua 3 đợt điều tra, khảo sát ở
vùng Ngã ba sông Hồng.
- Nhật ký ảnh và các ghi chép ngoài thực địa.
- Các số liệu từ 200 mẫu phiếu câu hỏi điều tra phỏng vấn về kinh tế, xã
hội cư dân sống quanh khu vực, hiện trạng nghề cá, nguồn lợi cá,...
- Các số liệu điều tra, khảo sát về điều kiện tự nhiên, khí tượng thuỷ
văn; các số liệu do Chi cục thủy sản Phú Thọ, Vĩnh Phúc cung cấp; số liệu
trong Niên giám thống kê và các cổng thông tin điện tử (website) của các
tỉnh thuộc địa bàn nghiên cứu (Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hà Nội).
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Phương pháp thu thập và xử lý mẫu vật
Đánh bắt trực tiếp, thu mua của các hộ ngư dân và ở các chợ cá. Ngoài
ra còn tiến hành phỏng vấn trực tiếp các ngư dân làng chài, người câu

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×