Tải bản đầy đủ

Ảnh hưởng của hàu thái bình dương và sò huyết đến môi trường nuôi tôm sú

XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Khóa luận: Nghiên cứu ảnh hưởng của hàu Thái Bình Dương và sò huyết đến môi
trường nuôi tôm sú.
Sinh viên thực hiện: Ngô Bích Trâm.
MSSV: 1153040095
Lớp: Nuôi trồng thủy sản K6.
Khóa luận đã được hoàn thành theo góp ý của hội đồng chấm khóa luận ngày 20 tháng
7 năm 2015.
Cần Thơ, ngày tháng

năm 2015

Cán bộ hướng dẫn

Sinh viên thực hiện

Th.S. Tăng Minh Khoa

Ngô Bích Trâm

Chủ tịch hội đồng


i


LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành biết ơn gia đình và bạn bè luôn hỗ trợ vật chất tinh thần để khóa luận
được hoàn thành.
Xin trân trọng cảm ơn thầy Tăng Minh Khoa đã chỉ dạy và hỗ trợ những trang thiết bị
để khóa luận có điều kiện hoàn thành.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa và các thầy cô Khoa
Sinh học Ứng Dụng – Trường Đại học Tây Đô đã tạo điều kiện, chỉ dạy và truyền đạt
cho em những kiến thức quý báu trong thời gian theo học tại trường.
Xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ!

i


LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam kết khóa luận này được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cứu của tôi
trong khuôn khổ đề tài “Ảnh hưởng của hàu Thái Bình Dương và sò huyết đến môi
trường nuôi tôm sú”. Kết quả này chưa được dùng ở bất cứ khóa luận nào khác.

Cần Thơ, ngày

tháng

Tác giả

Ngô Bích Trâm

ii

năm 2015


TÓM TẮT
Đề tài: “Ảnh hưởng của hàu Thái Bình Dương và sò huyết đến môi trường nuôi
tôm sú” được thực hiện nhằm đánh giá khả năng xử lý nước thải của hàu và sò cũng
như sự ảnh hưởng của hai đối tượng đến tăng trưởng và tỷ lệ sống (TLS) của tôm sú
khi nuôi ghép chúng trong môi trường nước thải từ trại tôm sú giống. Đề tài được tiến

hành với 7 nghiệm thức (NT), bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong xô nhựa 60 lít, mỗi
NT được lặp lại 3 lần, gồm NT đối chứng chỉ thả tôm giống postlarvae 12 với mật độ
50 con/50lít, ba NT bổ sung hàu TBD mật độ 5, 15 và 25 con/50lít, ba NT còn lại bổ
sung sò huyết với mật độ tương tự hàu. Nước thải từ trại nuôi tôm được cấp vào bể
một lần khi bắt đầu thí nghiệm và không thay nước trong suốt quá trình nuôi..
Kết thúc thí nghiệm, các NT nuôi kết hợp hàu với tôm sú đều cho kết quả lọc rất tốt về
môi trường, sự tăng trưởng và TLS của tôm: Độ kiềm dao động từ 121,66 – 136,73
mgCaCO3/L, TSS giảm từ 72,7 mg/l còn 29,77 – 48,7 mg/l, TLS đạt 72,7 - 93,3%.
Đặc biệt ở NT bổ sung hàu mật độ 15 con/50l (NT6) cho kết quả khả thi nhất. Độ kiềm
trung bình 122,68 mgCaCO3/l, TSS 48,7 mg/l (giảm 41,02%), chiều dài cuối cao nhất
3,66 ± 0,81 cm, tăng trưởng 0,08 ± 0,003 cm/ngày và TLS đạt cao nhất 93,3%, khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với NT1.
Ở NT nuôi kết hợp sò mật độ 5 và 15 con/50l cho kết quả lọc không cao, tuy nhiên
TLS vẫn đạt 66,7% và 66%, riêng NT bổ sung sò 25con/50l tôm có TLS 0%.
Các yếu tố nhiệt độ, pH hầu như nằm trong giới hạn cho phép cho sự phát triển của
tôm: Nhiệt độ trung bình 28,1 – 32,10C, pH từ 7,5 – 8,5.
Từ khóa: hàu Thái Bình Dương, sò huyết, tăng trưởng, tôm sú.

iii


MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM TẠ........................................................................................................ i
LỜI CAM KẾT ..................................................................................................... ii
TÓM TẮT ............................................................................................................. iii
MỤC LỤC ............................................................................................................. iv
DANH SÁCH BẢNG ............................................................................................ vii
DANH SÁCH HÌNH ............................................................................................. viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT................................................................................ ix
CHƯƠNG I GIỚi THIỆU .................................................................................... 1
1.1 Đặt vấn đề......................................................................................................... 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................................... 2
1.3 Nội dung nghiên cứu ......................................................................................... 2
CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU .............................................................. 3
2.1 Đặc điểm sinh học hàu Thái Bình Dương.......................................................... 3
2.1.1 Hệ thống phân loại ................................................................................... 3
2.1.2 Đặc điểm hình thái ................................................................................... 3
2.1.3 Phân bố và tập tính sống........................................................................... 4
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng ............................................................................... 5
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng ............................................................................... 5
2.1.6 Đặc điểm sinh sản .................................................................................... 6
2.1.7 Tình hình sản xuất giống và nuôi hàu TBD ở Việt Nam ........................... 7
2. 1.7.1 Tình hình sản xuất giống ............................................................. 7
2.1.7.2 Tình hình nuôi hàu thương phẩm .................................................. 8
2.2 Đặc điểm sinh học của sò huyết (Anadara granosa) ....................................... ..10
2.2.1 Đặc điểm hình thái, phân bố và tập tính sống ......................................... ..10
2.2.1.1 Đặc điểm về hình thái ................................................................... 10
2.2.1.2 Sự phân bố và tập tính sống ...........................................................11
iv


2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng ...............................................................................11
2.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng ...............................................................................11
2.2.4 Đặc điểm sinh sản ....................................................................................11
2.3 Đặc điểm sinh học của tôm sú (Penaeus monodon) ............................................12
2.3.1 Đặc điểm hình thái, phân bố và tập tính sống ............................................12
2.3.1.1 Đặc điểm về hình thái ....................................................................12
2.3.1.2 Sự phân bố và tập tính sống ...........................................................13
2.3.2 Đặc điểm sinh trưởng ...............................................................................14
2.3.3 Sự lột xác .................................................................................................15
2.3.4 Đặc điểm dinh dưỡng ...............................................................................15
2.4 Tình hình sản xuất giống tôm sú ở Việt Nam .....................................................16
CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................17
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu ......................................................................17
3.2 Vật liệu và trang thiết bị .....................................................................................17
3.3 Đối tượng nghiên cứu ........................................................................................17
3.4 Phương pháp nghiên cứu....................................................................................17
3.4.1 Chuẩn bị ...................................................................................................17
3.4.2 Phương pháp thí nghiệm ...........................................................................17
3.4.3 Chăm sóc và quản lí ..................................................................................18
3.5 Thu mẫu tỷ lệ sống và tăng trưởng của tôm........................................................18
3.6 Thu và phân tích mẫu các yếu tố môi trường ......................................................19
3.7 Phương pháp xử lý số liệu ..................................................................................20
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ..........................................................21
4.1 kết quả các yếu tố môi trường nước theo dõi trong thí nghiệm ...........................21
4.1.1 Sự biến động nhiệt độ và pH .................................................................... 21
4.1.1.1 Nhiệt độ ........................................................................................ 21
4.1.1.2 pH ............................................................................................... 22
4.1.2 Biến động độ kiềm, TSS, NH4+, NO2- trong thí nghiệm ........................... 22
v


4.1.2.1 Độ kiềm ....................................................................................... 23
4.1.2.2 Tổng vật chất lơ lững (TSS)......................................................... 24
4.1.2.3 Hàm lượng Amonium (N_NH4+) ................................................. 26
4.1.2.4 Hàm lượng Nitrite (N_NO2-)........................................................ 28
4.2 Tỷ lệ sống và tăng trưởng chiều dài của tôm sú ................................................. 30
4.2.1 Tỷ lệ sống ................................................................................................ 31
4.2.2 Tăng trưởng về chiều dài .......................................................................... 32
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ............................................................. 35
5.1 Kết luận. ........................................................................................................... 39
5.2 Đề xuất ............................................................................................................. 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 36
PHỤ LỤC A .......................................................................................................... A
PHỤ LỤC B .......................................................................................................... C
PHỤ LỤC C .......................................................................................................... F
PHỤ LỤC D .......................................................................................................... G
PHỤ LỤC E .......................................................................................................... I
PHỤ LỤC F........................................................................................................... K
PHỤ LỤC G .......................................................................................................... L
PHỤ LỤC H .......................................................................................................... M
PHỤ LỤC I ........................................................................................................... N

vi


DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Phương pháp thí nghiệm .......................................................................... 18
Bảng 2.2 Phương pháp thu, bảo quản và phân tích mẫu .......................................... 19
Bảng 4.1 Nhiệt độ và pH theo dõi trong quá trình thí nghiệm ................................. 21
Bảng 4.2 Kết quả thống kê các yếu tố môi trường trong thí nghiệm ........................ 22
Bảng 4.3 Độ kiềm theo dõi trong thí nghiệm........................................................... 23
Bảng 4.4 Hàm lượng TSS theo dõi trong thí nghiệm ............................................... 25
Bảng 4.5 Hàm lượng NH4+ theo dõi trong thí nghiệm ............................................. 27
Bảng 4.6 Hàm lượng NO2- theo dõi trong thí nghiệm .............................................. 29
Bảng 4.7 Tỷ lệ sống và chiều dài của tôm ở các nghiệm thức khi thu hoạch ........... 30

vii


DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1 Hình dạng ngoài của hàu Thái Bình Dương .............................................. 3
Hình 2.2 Hình dạng ngoài của sò huyết................................................................... 10
Hình 2.3 Hình dạng ngoài của tôm sú (Nguồn: google.com) ................................... 12
Hình 4.1 Biến động độ kiềm qua các đợt thu mẫu ................................................... 24
Hình 4.2 Biến động TSS qua các đợt thu mẫu ......................................................... 26
Hình 4.3 Biến động hàm lượng NH4+ qua các đợt thu mẫu ..................................... 28
Hình 4.4 Biến động hàm lượng NO2- qua các đợt thu mẫu ...................................... 30
Hình 4.5 Tỷ lệ sống của tôm sú khi thu hoạch......................................................... 31
Hình 4.6 Chiều dài tôm sú khi thu hoạch ................................................................ 33

viii


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

NT

Nghiệm thức

LG

Tăng trường chiều dài

ĐVTS

Động vật thủy sản

NBĐ

Nước ban đầu

ĐBSCL

Đồng bằng Sông Cửu Long

TLS

Tỷ lệ sống

TBD

Thái Bình Dương

TB

Trung bình

ĐLC

Độ lệch chuẩn

ix


CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng có diện tích mặt nước lớn nhất cả nước
với tổng diện tích 954.350 ha, có những điều kiện thuận lợi đưa nghề nuôi thủy sản
của vùng phát triển rộng khắp với quy mô và hình thức khác nhau. Nghề nuôi tôm sú
(Penaeus monodon) đã và đang trở thành một trong những ngành sản xuất chủ lực góp
phần mang lại hiệu quả kinh tế, mang lại nguồn thu lớn cho kim ngạch xuất khẩu cả
nước. Tuy nhiên, việc thâm canh hóa nghề nuôi tôm đã dẫn đến nhiều vấn đề bất cập
như ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, hiện tượng nhiễm bệnh đang ngày
càng tăng cao gây thiệt hại nặng nề cho nghề nuôi tôm (FAO, 2003 trích dẫn bởi Phạm
Thị Tuyết Ngân, 2012), hậu quả nhiều vùng nuôi tôm bị thất bại liên tục gây thiệt hại
nghiêm trọng cho đời sống nông dân và môi trường cũng bị suy thoái mà một trong
những nguyên nhân chính là do nguồn nước thải từ các ao nuôi tôm không được xử lý
triệt để trước khi thải ra môi trường.
Nhằm hạn chế tác hại từ nguồn nước nuôi thủy sản thải ra môi trường, nhiều biện pháp
nuôi thân thiện với môi trường, hạn chế sử dụng các loại thuốc và hóa chất đã được đề
xuất như chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, tăng cường quản lý chất lượng nước trại nuôi và
khống chế lượng chất thải (Boyd, 2003), nuôi ít thay nước (Menasveta, 2002 trích dẫn
bởi Nguyễn Văn Trai, 2009) hay nuôi kết hợp cũng được khuyến khích và áp dụng ở
nhiều nơi, trong đó nhiều loài nhuyễn thể đã được sử dụng như tác nhân lọc sinh học
mang lại hiệu quả đầy hứa hẹn.
Hàu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas Thunberg, 1793) và sò huyết (Anadara
ranosa) đang là những loài nhuyễn thể được quan tâm để nuôi xen ghép trong ao nuôi
tôm vì đây là những loài có giá trị kinh tế cao, đặc trưng của hai loài là ăn lọc sẽ góp
phần hạn chế ô nhiễm môi trường trong ao nuôi, hạn chế tác nhân gây bệnh giúp môi
trường ao nuôi sạch, tôm phát triển tốt hơn. Khi nuôi chúng xen ghép với ao nuôi tôm
chỉ tiêu tốn lượng thức ăn cho tôm nhưng khi thu có thể thu cùng lúc được cả ba đối
tượng nên lợi nhuận tăng cao hơn rất nhiều lần. Đề tài “ảnh hưởng của hàu Thái
Bình Dương và sò huyết đến môi trường nuôi tôm sú” được tiến hành nhằm đánh giá
khả năng xử lí nước thải của hàu và sò trong môi trướng nuôi kết hợp với tôm sú, xác
định tính ảnh hưởng của các mật độ nuôi khác nhau lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của
tôm, từ đó đề ra phương pháp nuôi xen ghép thích hợp nhất trong ao nuôi tôm sú thâm
canh nhằm sử dụng hiệu quả diện tích ao nuôi, nguồn thức ăn tự nhiên, giảm ô nhiễm
1


môi trường ao nuôi, giúp tôm phát triển tốt góp phần nâng cao năng suất cho người
nuôi, ứng dụng rộng rãi mô hình nuôi nhằm mang đến hiệu quả kinh tế cao, đẩy mạnh
sự nghiệp đa dạng hóa mô hình cũng như đối tượng trong nuôi thủy sản, đưa ngành
thủy sản Việt Nam ngày càng phát triển.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tính ảnh hưởng của hàu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas, Thiunberg,
1793) và sò huyết (Anadara granosa) đến môi trường ao nuôi tôm sú, từ đó xác định
khả năng ứng dụng mô hình nuôi kết hợp hàu hoặc sò huyết trong ao nuôi tôm sú thâm
canh.
1.3 Nội dung nghiên cứu
Nuôi hàu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas) với mật độ 5 con/50lít, 15 con/50lít,
25 con/50lít và sò huyết (Anadara granosa) với mật độ 5 con/50lít, 15 con/50lít, 25
con/50lít ghép với tôm sú postlarvae 12 trong môi trường nước thải tôm sú giống.
Kiểm tra sự thay đổi của một số yếu tố môi trường nuôi, từ đó rút ra nhận xét về khả
năng lọc cũng như sự ảnh hưởng của hàu và sò đến sự thay đổi các yếu tố môi trường
nước, tốc độ tăng trưởng về chiều dài và tỷ lệ sống của tôm sú trong môi trường nuôi
kết hợp hàu hoặc sò ở các mật độ khác nhau.

2


CHƯƠNG II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của hàu Thái Bình Dương
2.1.1 Hệ thống phân loại
Hàu Thái Bình Dương được Thunberg phân loại năm 1793 như sau:
Ngành nhuyễn thể: Mollusca
Lớp hai mảnh vỏ: Bivalvia
Lớp phụ: Pteriomorphia
Bộ cơ lệch: Anisomiarya
Họ hàu: Ostreidae
Giống hàu: Crassostrea
Loài: Crassostrea gigas

Hình 2.1 Hình dạng ngoài của hàu Thái Bình Dương
2.1.2 Đặc điểm về hình thái
Hàu Thái Bình Dương có hai vỏ úp lại với nhau và khép mở nhờ cơ khép vỏ, hai vỏ
này rất cứng, thô, khác nhau về hình dạng và kích thước: vỏ phải thì nhỏ, nông nằm ở
trên còn vỏ trái thì cứng, lớn nằm ở dưới để bám vào vật thể. Hình dạng của vỏ rất
khác nhau phụ thuộc vào môi trường sinh sống. Nếu hàu sống riêng rẽ trên nền đáy
mềm thì vỏ nhẵn và kéo dài. Nếu phân bố trên nền đáy cứng, vỏ có hình ống, nhăn, vỏ
3


trái tròn hơn và lõm sâu. Khi hàu phân bố tập trung, vỏ có hình dạng méo mó. Hàu
không có răng bản lề ở bên trong, cơ khép vỏ màu tím hoặc nâu, màng áo màu đen.
Đặc điểm dễ nhận biết hàu Thái Bình Dương là hàu có kích thước tương đối lớn hơn
hàu cửa sông, hai mép lưng bụng của hàu gần như song song với nhau (Gosling,
2003).
Hàu Thái Bình Dương có kích thước trung bình từ 8 – 20 cm, sức sinh trưởng nhanh
có thể đạt 100 mm trong 12 tháng đầu đời, tuổi thọ có thể đạt 13 năm. Hàu Thái Bình
Dương có dạng giống với hàu cửa sông (C.rivularis), tuy nhiên hàu Thái Bình Dương
có tỉ lệ chiều cao và chiều dài lớn hơn từ 1/2 - 1/3 hàu cửa sông. Vỏ hàu Thái Bình
Dương có kích thước tương đối lớn và không đều nhau, chúng dài và có hình Oval,
những sọc đối xứng của 2 vỏ bắt đầu từ những mấu lồi. Cơ khép vỏ có hình bầu dục.
Trên bề mặt phần trước bụng và phần lưng của vỏ thường có những hốc lõm sâu. Màu
vỏ ngoài hơi trắng vàng và có những sọc màu nâu, phía trong vỏ màu trắng sữa.
2.1.3 Phân bố và tập tính sống
Hàu Thái Bình Dương phân bố rộng trên toàn thế giới nhưng chủ yếu ở vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới như Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc, Anh, Mỹ, Canada, Bắc Úc, Brazil,
biển Nam Trung Hoa, biển Tây Ấn Độ... trong đó có Việt Nam, Hàu Thái Bình Dương
được nhập vào Mỹ 1920, Pháp năm 1966, đến năm 2003 chúng có mặt ở 64 nước trên
thế giới ở cả 5 Châu lục. Những năm gần đây, hàu Thái Bình Dương được di nhập về
Việt Nam và được sản xuất giống, nuôi thương phẩm phổ biến ở các vùng biển thuộc
tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Khánh Hòa. Hàu Thái Bình Dương phân bố từ
30 – 45 vĩ độ Bắc đến 107 – 124 độ kinh Đông, phân bố chủ yếu vùng cửa sông, eo,
đầm phá nơi nước lưu thông, độ mặn 10 – 30‰. có khà năng thích ứng rộng, chúng có
thể sống được ở nhiệt độ 18 - 35°C (thích hợp 25 - 28°C) và độ mặn dưới 5‰ hoặc
trên 35‰ (thích hợp 20 - 25‰), đặc biệt ở - 5°C chúng vẫn tồn tại, độ trong thích hợp
< 60 cm, pH 7,5 – 8,5, chất đáy thích hợp là cát, cát bùn, cát san hô vụn.
Theo chiều thẳng đứng, hàu trưởng thành không có tơ chân và bám vào vật cứng như
đá hay vỏ của động vật thân mềm. Chúng thiên về sống vùng cửa sông hay những
vùng duyên hải gần bờ, xuất hiện nơi có độ sâu khoảng 40 m nước nhưng mật độ ít và
sinh trưởng kém (Gosling, 2003 trích dẫn bởi Nguyễn Thị Nguyệt Ánh, 2008).
Giai đoạn ấu trùng sống phù du có khả năng bơi lội nhờ hoạt động của vành tiêm mao
hay đĩa bơi. Giai đoạn trưởng thành hàu sống bám trên các giá thể (cố định) trong suốt
đời sống của chúng.

4


Khi nuôi hàu nên chú ý tránh vùng có dòng chảy mạnh, khu vực có nhiều nhánh sông
đổ ra trực tiếp, nên nuôi ở vùng ít song gió, nước chảy nhẹ để đảm bảo lượng thức ăn
cung cấp đủ cho hàu.
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Hàu Thái Bình Dương có tốc độ sinh trưởng nhanh (có thể sinh trưởng hơn 75mm
trong vòng 12 tháng đầu tiên). Tuy nhiên tại vùng nước Wadden (Đan Mạch) hàu có
thể sinh trưởng đạt 100 mm sau 12 tháng nuôi đầu tiên. Hàu Thái Bình Dương có thể
sống đến 10 năm và đạt kích cỡ trung bình khoảng 150 – 200mm (Spenser, 2002).
Nhiệt độ, thức ăn và độ mặn là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát
triển của ấu trùng. Khi nhiệt độ thấp, hàu sinh trưởng và biến thái chậm, thời gian phù
du kéo dài, khoảng nhiệt độ 19 – 20°C giai đoạn phù du của hàu kéo dài 3 tuần, ở vùng
nhiệt độ ấm áp tốc độ sinh trưởng của hàu rất nhanh, sinh trưởng diễn ra quanh năm, ví
dụ loài Crassostrea paraibansis có thể đạt chiều cao 15 cm trong một năm (Singaraja,
1980). Ở vùng ôn đới sinh trưởng diễn ra mùa xuân hè, mùa thu đông hàu gần như
không sinh trưởng. Độ mặn trong giai đoạn này có thể dao động 14 - 37‰ nhưng thích
hợp nhất là 15 - 25‰. Nếu ấu trùng được cung cấp thức ăn đầy đủ và các yếu tố môi
trường được duy trì thích hợp thì kích thước của ấu trùng có thể đạt tới 1,5 mm. Sinh
trưởng của hàu còn phụ thuộc mật độ, khi mật độ quá cao hàu sẽ chậm lớn và ngược
lại. Một đặc điểm nổi bậc của hàu vùng nhiệt đới là sinh trưởng rất nhanh trong 6 – 12
tháng đầu tiên.
2.1.5 Nhu cầu dinh dưỡng của hàu Thái Bình Dương
Thức ăn của hàu tương đối đa dạng như: thực vật phù du, mùn bã hữu cơ, vi sinh, vi
khuẩn, sinh vật nhỏ, tảo... Các loài tảo thường gặp như: Chaetoceros calcitran,
Chaetoceros muelleri, Nitzschia, Sketetonema, Melosira… Hàu là loài sống bám cố
định vì vậy chúng có phương thức bắt mồi thụ động theo hình thức lọc nhiều lần
(Chestinnt, 1960). Hàu bắt mồi trong quá trình hô hấp dựa vào cấu tạo đặc biệt của
mang. Khi hô hấp nước có trong mang theo thức ăn qua bề mặt mang, các hạt thức ăn
được giữ lại ở mang nhờ các tiêm mao và dịch nhờn được tiết ra ở các tiêm mao. Các
hạt thức ăn có kích thước nhỏ sẽ được dịch nhờn của các tiêm mao cuốn dần về phía
miệng, còn hạt thức ăn quá lớn tiêm mao không giữ được sẽ bị dòng nước mang đi
khỏi bề mặt mang, sau đó tập trung ở mép màng áo và bị màng áo đẩy ra ngoài. Như
vậy, hàu có thể chọn lọc thức ăn theo kích thước (FAO, 2003).
Quá trình chọn lọc thức ăn được thực hiện 4 lần theo phương thức: lần 1 xảy ra trên bề
mặt mang, lần 2 xảy ra trên đường vận chuyển, lần 3 xảy ra trên đường xúc biện, lần 4
5


xảy ra trên manh nang chọn lọc thức ăn. Thức ăn sau khi được chọn lọc sẽ đưa đến dạ
dày để tiêu hóa, tại đây thức ăn được tiêu hóa một phần nhờ men như: Amilase,
Lactase, Glycogenase, Lipase, Maltase, Protease. Các thức ăn không thích hợp sẽ
được đẩy xuống ruột và ra ngoài hậu môn.
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Giống tất cả các loại hàu khác, hàu Thái Bình Dương thay đổi giới tính trong vòng đời.
Khi mới trưởng thành thường là con đực và sau đó chuyển sang con cái. Các yếu tố
môi trường có thể ảnh hưởng tới sự hình thành giới tính của hàu, đặc biệt là thức ăn.
Hàu sinh sản quanh năm, tập trung từ tháng 4 – 6. Hàu vùng nhiệt đới sau một năm đã
thành thục và tham gia sinh sản. Tác nhân chính kích thích đến quá trình thành thục và
sinh sản của hàu là nhiệt độ, nồng độ muối và thức ăn có trong môi trường (Trương
Quốc Phú, 1999).
Tuổi thành thục: Hàu Thái Bình Dương tham gia sinh sản lần đầu sau khoảng 1 năm
kích thước 70 – 100 mm và một con hàu cái có thể sinh sản ra 50 – 100 triệu trứng
trong một lần đẻ, quá trình thụ tinh diễn ra bên trong môi trường nước và phải mất
khoảng 10 -15 phút sau khi đẻ trứng ở nhiệt độ 25°C (Nimpis, 2002; Reise, 1998).
Phương thức sinh sản: tùy theo loài mà hình thức sinh sản khác nhau. Giống
Crassostrea và Saccotrea thì đẻ trứng và tinh trùng ra môi trường nước, quá trình thụ
tinh và phát triển ấu trùng diễn ra trong nước. Đối với nhóm Ostrea thì quá trình thụ
tinh và phát triển ấu trùng diễn ra bên trong màng áo của cơ thể mẹ đến giai đoạn diện
bàn, hoặc muộn hơn mới ra khỏi cơ thể mẹ.
Hàu Thái Bình Dương là loài lưỡng tính, lúc mới sinh ra là đực, trong quá trình sống
thì giới tính thay đổi phụ thuộc vào môi trường sống. Trong vùng thức ăn phong phú
thì đàn hàu cái chiếm ưu thế. Khi môi trường nước có nguồn thức ăn nghèo về số
lượng và thành phần loài thì chúng lại chuyển thành đực. Theo Spenner (2002) thì
nhiệt độ đẻ trứng của hàu Thái Bình Dương dao động trong khoảng 22 - 25°C. Trong
mùa sinh sản, tuyến sinh dục phát triển mạnh, trọng lượng có thể đạt 50% trọng lượng
cơ thể, hàu cái đẻ 50 – 200 triệu trứng/lần đẻ. Trứng có thể tồn tại trong nước 10 – 15
giờ, sau 3 – 4 tuần phát triển thành Spat. Cũng như loài hàu cửa sông của Việt Nam,
thời gian đầu, ấu trùng sống phù du trong cột nước, sau thời gian biến thái sẽ lắng đáy
và bám vào vật bám. Lúc này kích thước ấu trùng đạt 300 - 330µm. Thời gian biến thái
của hàu phụ thuộc vào nhiệt độ, thức ăn, độ mặn.

6


2.1.7 Tình hình sản xuất giống và nuôi hàu Thái Bình Dương ở Việt Nam
2.1.7.1 Tình hình sản xuất giống
Nghề nuôi hàu Thái Bình Dương chỉ phát triển ở vài quốc gia vùng nhiệt đới. Ở Việt
Nam, nghề khai thác hàu đã có lịch sử lâu đời nhưng nó chỉ mới được phát triển trong
thời gian gần đây. Hàu Thái Bình Dương phân bố ở những vùng bãi triều thấp tới độ
sâu 10m nước ở những vùng nước thuộc tỉnh Quang Ninh, Hải Phòng (Hà Quang
Hiến, 1983). Khi điều tra đánh giá tình hình phân bố của động vật thân mềm hai mảnh
vỏ trong đầm phá Nam Trung Bộ Việt Nam đã tìm thấy hàu Thái Bình Dương phân bố
ở đầm Cù Mông và đầm Ô Loan nhưng với tần số bắt gặp rất thấp (Nguyễn Văn
Chung, 2001).
Việt Nam là một nước có nghề nuôi hàu chậm phát triển, các nghiên cứu về phát triển
nghề nuôi hàu chỉ mới thực hiện trong những năm cuối của thế kỉ XX với con giống
chủ yếu thu vớt từ tự nhiên. Năm 2001 – 2003. Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy
Sản I tiến hành thử nghiệm thành công sản xuất giống nhân tạo hàu Thái Bình Dương
bằng công nghệ của Úc. Tuy nhiên việc nuôi hàu giống thành hàu thương phẩm còn
gặp nhiều khó khăn do hàu có hiện tượng chết hàng loạt (Đồng Xuân Vĩnh, 2004).
Nhiều nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo phục vụ cho nghề nuôi hàu cũng đã được
tiến hành. Năm 2001 – 2004 trong khuôn khổ nguồn kinh phí của Bộ Khoa Học và
Công Nghệ, đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất hàu giống và nuôi hàu Crassostrea
sp thương phẩm“ do Hà Đức Thắng làm chủ nhiệm đã được thực hiện nghiên cứu sản
xuất giống trên 3 đối tượng hàu phân bố khắp cả nước: hàu Crassostrea rivularis vùng
cửa sông ở miền Bắc do Hà Đức Thắng, hầu C. lugubris ở miền Trung do Lê Trọng
Phấn phụ trách, hàu C. belcheri ở miền Nam do Lê Minh Viễn đảm nhiệm. Đề tài đã
xây dựng thành công quy trình sản xuất giống, hoàn toàn chủ động trong các khâu của
quy trình, thu được hàng triệu con giống có chất lượng tốt và số lượng lớn hàu thương
phẩm, tạo tiền đề cho sự phát triển nghề nuôi hàu ở nước ta.
Năm 2003 – 2007, con giống ưu thế lai đã được Công Ty TNHH Nuôi Trồng Thủy
Sản & Thương Mại Viễn Thành sản xuất thành công với số lượng ban đầu là 4 triệu
con giống. Con giống ưu thế lai, sức đề kháng cao, chịu đựng qua nhiều đợt dịch vào
các năm 2003 – 2005 – 2006 – 2007.
Năm 2008, Trung Tâm Khuyến Nông – Khuyến Ngư quốc gia, đã cấp kinh phí thực
hiện dự án “nhập công nghệ hàu tứ bội thể để sản xuất hàu tam bội thể”, ơ quan tiếp
nhận công nghệ là Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản III, Công Ty Nuôi Trồng
Thủy Sản & Thương Mại Viễn Thành. Đề tài được thực hiện trên đối tượng là hàu
7


C.gigas, C.rivularis, C.belcheri, và C.iredalei. Qua 2 năm thực hiện thử nghiệm (2008
và 2009), đơn vị tiếp nhận đã sản xuất được 2 triệu con giống đơn (bằng phương pháp
vỏ hàu xay nhỏ và hóa chất Epinephrine) loài hàu C.gigas và C.iredalei. Trong đó,
phương pháp dùng hóa chất cho hàu đơn với tốc độ sinh trưởng chậm hơn hàu đơn
bằng vỏ hàu xay nhỏ (Phùng Bảy, 2009). Dự án đã tạo được 5.000 con hàu tam bội với
kích thước hiện tại 6-8 cm của 2 loài hàu Thái Bình Dương và C.iredalei vẫn đang tiếp
tục đến năm 2011.
Năm 2010, Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản III đã phối hợp cùng Trung Tâm
Khuyến Nông – Khuyến Ngư Bình Định và Trung Tâm giống Thủy Sản Bình Định,
thực hiện đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống bám đơn và thử nghiệm nuôi
thương phẩm hàu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas) và hàu muỗng (Crassostrea
sp) tại Bình Định”. Đề tài do Phùng Bảy chủ nhiệm với mục đích: xây dựng quy trình
kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm từ con giống bám đơn hàu Thái Bình
Dương và hàu muỗng, nhằm góp phần phát triển nghề nuôi hàu và nuôi trồng thủy sản
theo hướng bền vững tại các đầm tỉnh Bình Định.
Hiện nay nghề nuôi hàu đã và đang phát triển mạnh và rộng khắp tại các tỉnh ven biển
Việt Nam như Bà Rịa – Vũng Tàu, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Định, Khánh Hòa,
Nghệ An, Trà Vinh. Ở miền Nam, nghề nuôi hàu phát triển nhất là vùng Long Sơn
thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Trong tổng sản lượng ước tính 2.000 tấn hàu của cả
nước hiện nay thì nghề nuôi hàu của Long Sơn chiếm khoảng 1.500 tấn. Dụng cụ nuôi
hàu khá đơn giản và đa dạng, giá thể cho hàu bám từ lóp xe phế thải, fibro xi măng, vỏ
hàu sâu chuỗi nuôi trên bè di động cho đến hàu bám đơn nhân tạo nuôi lồng lưới nhiều
tầng dạng vuông, dạng tròn treo bè hoặc thả đáy bãi triều.
2.1.7.2 Tình hình nuôi hàu thương phẩm
Hiện nay, hàu được nuôi ở cả 3 miền miền Bắc, Trung, Nam với các loài có giá trị
kinh tế như:
Hàu cửa sông C.rivularis được các chuyên gia Trung Quốc, Nhật Bản nuôi thử nghiệm
lần đầu tiên vào năm 1967 trên hệ thống sông Bạch Đằng – Quảng Ninh. Kết quả đạt
sản lượng nuôi 40 tấn, song do ảnh hưởng của chiến tranh nên việc thí nghiệm nuôi
hàu bị gián đoạn.Việc nuôi và khai thác hàu ở nước ta sau đó chỉ tập trung từ vùng
biển Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế với sản lượng hàng năm đạt 10.000-12.000 tấn
từ con giống và phát triển tự nhiên (Hồ Công Hường, 2005; Nguyễn Hữu Phụng, Võ
Sĩ Tuấn, 1996).

8


Hàu C.lugubris phân bố ở các đầm phá miền Trung, có nhiều ở phá Tam Giang (Thừa
Thiên – Huế), được nuôi ở đầm Lăng Cô từ năm 1997 đến năm 2001 với sản lượng đạt
được 171.285 kg (Lê Thị Mai Anh, 2009).
Hàu C.belcheri phân bố ở Nam miền Trung, khu vực Cần Giờ (TP.Hồ Chí Minh) và
Long Sơn (Bà Rịa – Vũng Tàu). Hiện nay, chúng đang được phát triển nuôi mạnh ở
các địa phương này, sau đó phát triển sang Cà Mau. Hàu được nuôi bằng nhiều
phương thức và vật liệu bám khác nhau như đóng cọc, thả vật liệu bám, treo lồng, nuôi
ngoài sông, trong ao đầm, bằng bè phao hoặc giàn cọc cố định.
Năm 2007, Việt Nam kết hợp với công ty Khoa học kỹ thuật thủy sản Pauchen Đài
Loan, chuyên gia Cục thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ khảo sát một số khu vực tại
vùng vịnh Bái Tử Long – Quảng Ninh. Đoàn đã xác định vùng này có điều kiện thuận
lợi dể phát triển nuôi hàu Thái Bình Dương đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đạt
tiêu chuẩn xuất khẩu vào nhiều thị trường kể cả Mỹ và EU. Viện Nghiên Cứu Nuôi
Trồng Thủy Sản I phối hợp với Công ty đầu tư và phát triển sản xuất Hạ Long –
Quảng Ninh đã nhập giống hàu Thái Bình Dương từ Đài Loan về thăm dò tại vịnh Bái
Tử Long. Hàu Thái Bình Dương nuôi tại đây có tốc độ tăng trưởng rất nhanh. Trong
thời gian 8-10 tháng nuôi hàu đã đạt kích cỡ thương phẩm trung bình từ 65 – 75
mm/con, trọng lượng 70 – 80 g/con và tỷ lệ sống đạt từ 54 - 63%. Trong khi đó, ở các
nước khác phải nuôi từ 18- 30 tháng mới đạt kích cỡ thương phẩm. Để nuôi 2.500 tấn
hàu chỉ cần đầu tư một bè nuôi bằng tre hoặc gỗ bạch dàn. Tổng đầu tư ban đầu
khoảng 7-10 triệu đồng sẽ thu được lợi từ 40 – 50 triệu đồng, giá bán hàu vỏ tại Quảng
Ninh hiện nay dao động khoảng 30.000 – 40.000 đ/kg. Sản lượng hàu nuôi của Việt
Nam tăng khá nhanh từ 792 tấn năm 2002 lên 2.743 tấn năm 2007. Trong đó, hàu được
nuôi chủ yếu tại các tỉnh Quảng Ninh và Bà Rịa - Vũng Tàu, với sản lượng lần lượt là
900 tấn và 1.364 tấn năm 2007, chiếm tới 88,9% tổng sản lượng hàu nuôi toàn quốc.
Năng suất bình quân giai đoạn 2002 – 2007 đạt 7,1 tấn/ha. Trong đó, nuôi đáy năng
suất 10- 12 tấn/ha, nuôi giàn bè 3 – 5 tấn/giàn, nuôi khay 6 – 8 kg/khay (Lê Minh Viễn
và Phạm Cao Vinh, 2005).

9


2.2 Đặc điểm sinh học của sò huyết (Anadara granosa)
2.2.1 Đặc điểm hình thái, phân bố và tập tính sống
Theo National Center for Biotechnology Information sò huyết có khóa phân loại:
Ngành nhuyễn thể: Mollusca
Lớp hai mảnh vỏ: Bivalvia
Lớp phụ: Pteriomorphia
Bộ: Arcoida
Họ: Arcoidea
Chi: Anadara
Loài: granosa (Linnaeus, 1785)

Hình 2.2 Hình dạng ngoài cùa sò huyết
2.2.1.1 Đặc điểm về hình thái
Sò huyết có vỏ dày, chắc, có dạng hình trứng, hai vỏ đối xứng, viền bụng tròn, là loài
có máu màu đỏ. Mặt ngoài của vỏ có các gờ phóng xạ rất phát triển, mỗi vỏ có khoảng
18 – 21 gờ, trên mỗi gờ phóng xạ có nhiều hạt hình chữ nhật, đối với những cá thể già
ở xung quanh mép vỏ những hạt này không rõ lắm. Bản lề hình thoi, rộng, màu nâu
đen, có nhiều đường đồng tâm hình thoi, mặt trong của vỏ có màu trắng sứ, mép vỏ có
nhiều mương sâu tương ứng với những đường phóng xạ của mặt ngoài. Mặt khớp

10


thẳng, có nhiều răng nhỏ, vết cơ khép vỏ sau hình tứ giác, vết cơ khép vỏ trước hình
tam giác (Nguyễn Khắc Lâm, 2003 trích dẫn bởi Nguyễn Văn Mẫn, 2013).
2.2.1.2 Sự phân bố và tập tính sống
Sò huyết phân bố ở nhiều quốc gia trên thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ,
Myanma, Úc… Ở Việt Nam sò huyết phân bố ở nhiều vùng triều như Quảng Ninh,
Hải Phòng, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu… Trong đó Kiên Giang là nơi có sản lượng
sò huyết lớn nhất cả nước (Hoàng Thị Bích Đào, 2003).
Sò huyết sống nơi có bãi bùn mềm, ít sống gió, nước lưu thong tốt, các bãi sò thường
gần cửa sông, độ mặn thích hợp từ 15 – 25‰. Sò nhỏ thường sống trên mặt bùn, sò lớn
hơn vùi sâu trong bùn khoang 1 – 3 cm, chất đáy tốt nhất là đáy bùn pha cát mịn, nơi
thích hợp nhất là vùng triều thấp.
2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng
Sò huyết có khả năng thích nghi rộng, khi nồng độ muối dưới 10‰ sò sẽ vùi sâu
xuống bùn, sò nhỏ thường sinh trưởng nhanh hơn sò lớn. Nhiệt độ càng cao thì lượng
bắt mồi càng lớn, tốc độ tăng trưởng càng nhanh. Phạm vi thích ứng nhiệt độ của sò
cũng rất rộng từ 20 – 300C. Theo Ngô Thị Thu Thảo (2009) tỷ lệ sống của sò huyết
chịu ảnh hưởng mạnh bởi nồng độ muối, sò nuôi ở độ mặn 20‰ cho tỷ lệ sống cao
hơn sò nuôi ở độ mặn 10‰ và 30‰, sò 1 năm tuổi có chiều dài vỏ trung bình 2 cm, 3
tuổi vỏ khoảng 3,2 cm, năm đầu và năm thứ hai sò lớn nhanh hơn các năm sau (Ngô
Trọng Lư, 2004).
2.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Sò huyết bắt mồi thụ động bằng cách tạo dòng nước qua mang để lấy thức ăn, thức ăn
lọc được nhờ tiêm mao đưa đến xúc tu vào miệng, cường độ bắt mồi phụ thuộc vào
nhiệt độ, khi nhiệt độ càng tăng thì cường độ bắt mồi càng cao. Sò trưởng thành sử
dụng thức ăn có kích thước 10 – 100 µm, thức ăn phụ thuộc hoàn toàn vào môi trường.
Sò ăn chủ yếu là mùn bã hữu cơ, vi sinh vật, vi tảo sống đáy, cứ 1 – 2 phút sò lại khép
kín vỏ ngoài một lần, đưa thức ăn không thích hợp cùng với nước trong xoang áo phun
ra ngoài.
2.2.4 Đặc điểm sinh sản
Sò huyết đẻ trứng, là loài phân tính, không phân biệt được đực cái qua hình dạng ngoài
mà phải dựa vào giải phẫu tuyến sinh dục. Con cái có tuyến sinh dục màu hồng hoặc
đỏ, con cái có tuyến sinh dục màu trắng, đục. Quá trình thành thục xuất hiện ở giai
đoạn khoảng 6 – 7 tháng tuổi, chúng đẻ trứng quanh năm, mùa sinh sản chính là vào
11


mùa thu. Theo Trương Quốc Phú (2012) sò 1 – 2 năm tuổi có thể tham gia sinh sản, tỷ
lệ thành thục cao nhất vào tháng 4 và tháng 9 hằng năm, sò kích thước càng lớn thì tỷ
lệ là sò cái càng cao, mùa vụ sinh sản của sò tập trung tháng 3 – 4 và tháng 8 – 9, con
cái có thể đẻ 518.400 – 3.788.00 trứng/cá thể, sò đẻ trứng và tinh trùng vào nước,
trứng thụ tinh sau 5 – 7 giờ sẽ phát triển thành ấu trùng.
2.3 Đặc điểm sinh học của tôm sú (Penaeus monodon)
2.3.1 Đặc điểm hình thái, phân bố và tập tính sống
Theo Hothuis (1980) trích dẫn bởi Thạch Thanh (2005) thì tôm sú được phân loại :
Ngành: Arthropoda
Lớp: Malacostraca
Bộ: Decapoda
Họ: Penaeidae
Giống: Penaeus
Loài: Penaeus monodon

Hình 2.3 Hình dạng ngoài của tôm sú (Nguồn: www.google.com)
2.3.1.1 Đặc điểm về hình thái
Tôm sú là loài kinh tế, kích cở lớn nhất trong nhóm tôm he, cơ thể có thể dài đến
360mm (Tăng Minh khoa, 2010). Tôm sú có màu xanh thẫm, có khoang trắng ở thân,
khoang vàng ở chân ngực, ngón chân màu đỏ hồng hoặc da cam (Nguyễn Văn Bình,
2012). Cơ thể tôm gồm 2 phần là phần đầu ngực và phần bụng:
Phần đầu ngực: trên chủy có 6 – 8 gai, dưới chùy có 2 – 3 gai, chủy cong xuống rất ít,
râu là cơ quan khứu giác giúp giữ thăng bằng cho cơ thể, giáp đầu ngực bảo vệ phần
12


đầu ngực, 5 đôi chân bò, 3 đôi chân hàm có nhiệm vụ nhai thức ăn và hỗ trợ hô hấp,
mắt dung để quan sát.
Phần bụng: gồm 6 đốt bụng và 1 đốt đuôi, mỗi đốt có 1 vòng vỏ, 5 đôi chân bơi. Tôm
sú đực thường nhỏ hơn con cái. Khi tôm trưởng thành ta dễ dàng phân biệt được đực
cái thông qua cơ quan sinh dục bên ngoài:
Tôm sú đực: cơ quan sinh dục chính của con đực nằm ở phần đầu ngực, bên ngoài có
cơ quan giao phối phụ nằm ở nhánh ngoài đôi chân ngực thứ hai, lỗ sinh dục đực mở
ra hốc háng đôi chân ngực thứ năm, tinh trùng được chứa trong túi.
Tôm sú cái: buồng trứng nằm dọc theo mặt lưng phía trên, hai ống dẫn trứng mở ra ở
khớp hang đôi chân ngực thứ ba, bộ phận chứa túi tinh gồm hai tấm phồng lên ở đôi
chân ngực thứ tư và năm.
2.3.1.2 Sự phân bố và tập tính sống
Tôm sú có phạm vi phân bố rộng từ Ấn Độ Dương qua hướng Nhật Bản, Đài Loan,
châu Úc, Hawaii, Đông Nam Á, Nam Á, Tây Phi, Thái Bình Dương, bán đảo Ả Rập,
vùng Địa Trung Hải, bờ biển Đại Tây Dương (Racek, 1955), phân bố từ kinh độ 30oE
đến 155oE và từ vĩ độ 35oN đến 35oS xung quanh các vùng xích đạo như: Philipines,
Malaysia, Indonesia và Việt Nam, sống ở độ sâu từ 0 – 162 m, có nền đáy bùn cát, tôm
trưởng thành sống ở biển nhưng ấu niên sống ở cửa sông.
Ở Việt Nam tôm sú phân bố dọc bờ biển Đông cả 3 miền, tập trung nhiều ở vùng
Duyên Hải miền Trung. Tôm chủ yếu sống vùng nước lợ, cửa sông. Giai đoạn nhỏ tôm
chủ yếu sống gần bờ, ven vùng ngập mặn, khi trưởng thành tôm di chuyển ra vùng
nước sâu hơn để sinh trưởng.
Tùy thuộc vào tấng nước, thức ăn, độ đục mà màu sắc trên cơ thể khác nhau từ xanh lá
cây, nâu, đỏ. Lưng xen kẽ giữa màu xanh hoặc đen và màu vàng. Tôm thành thục có
thể đạt 33 cm chiều dài, tôm cái thường lớn hơn tôm đực.
Nhiệt độ là yếu tố quang trọng ảnh hưởng đến mọi hoạt động sống của tôm. Khi nhiệt
độ thấp dưới mức nhu cầu sinh lý của tôm sẽ ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa vật
chất bên trong cơ thể, biểu hiện bên ngoài là sự ngừng bắt mồi, ngừng hoạt động và
nếu kéo dài có thể tôm sẽ chết, khi nhiệt độ quá giới hạn tôm bị rối loạn sinh lý và sẽ
chết, biểu hiện là tôm nằm yên, ít hoạt động, ngừng ăn. Tôm con có khả năng chịu
đựng nhiệt độ kém hơn tôm trưởng thành. Nền đáy thích hợp cho tôm là đáy cát, cát
bùn. Độ mặn dao động từ 0 - 40‰, thích hợp cho tôm sú từ 15 - 25‰, nhiệt độ thích
hợp 28 - 30oC, pH từ 7,5 – 8,5 (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009).
13


2.3.2 Đặc điểm sinh trưởng
Vòng đời của tôm sú trải qua các giai đoạn phát triển gồm 6 thời kỳ:
Thời kỳ phôi: Trứng tôm sú có hình cầu, màu vàng xanh, đường kính trung bình
0,3mm. Ở điều kiện nhiệt độ 28oC sau 14 – 15 giờ sẽ nở thành ấu trùng Nauplius.
Thời kỳ ấu trùng gồm có các giai đoạn phụ:
Naupllius: có 6 giai đoạn, kéo dài khoảng 36 – 51 giờ sau thụ tinh, qua 5 lần lột xác
biến đổi dần và trở nên dài ra, các nauplli bơi theo đoạn ngắn, sống phù du trôi nổi ở
tầng trên, dinh dưỡng bằng noãn hoàng, vận động theo kiểu zíc zắc, không định
hướng, không liên tục, hướng quang mạnh. Cuối Nauplius hệ tiêu hóa bắt đầu hình
thành.
Zoea: gồm 3 giai đoạn: Z1 dài khoảng 1 mm, ở giai đoạn này chủy xuất hiện, cuống
mắt kép, phần bụng phân đốt và sự phát triển của gai cứng, xuất hiện bụng rõ rệt; Z2
dài khoảng 1,9 mm; Z3 dài khoảng 2,7 mm, xuất hiện gai trên bụng. Giai đoạn zoea
dài khoảng 105 – 120 giờ, các zoea bơi liên tục gần mặt nước, lột vỏ 2 lần, mỗi lần
khoảng 36 giờ, thức ăn là phiêu sinh thực vật.
Mysis: có 3 giai đoạn: M1 dài khoảng 3,4 mm, có hình dạng giống tôm trưởng thành,
xuất hiện các cặp chân bụng, đuôi, các gai bụng thu nhỏ lại; M2 dài khoảng 4 mm, sự
thay đổi không đáng kể so với M1; M3 dài khoảng 4,4 mm, chân bụng dài hơn, phân
đốt, xuất hiện răng trên chủy.
Postlarvae: giai đoạn gần trưởng thành nhưng chưa hoàn thiện về màu sắc. Postlarvae
bơi thẳng, có định hướng về phía trước, hoạt động bơi lội chủ yếu nhờ vào chân bụng.
Cơ thể có 1 đường sắc tố kéo dài ở mặt bụng từ đầu râu đến cuối telson. Lúc đầu
đường sắt tố có màu đỏ sau chuyển sang màu đen. Tuổi của Postlarvae được tính theo
ngày kể từ biến thành Postlarvae đầu tiên. Từ PL1 – PL4 chúng sống trôi nổi, từ PL5
trở đi chúng chuyển sang sống đáy.
Thời kỳ ấu niên: Từ postlarvae 5 trở đi bắt đầu sống đáy, giai đoạn này tôm bắt đầu bò
bằng chân bò và bơi bằng chân bơi, thường khi quan sát trong bể ương sẽ thấy tôm
bám vào thành bể.
Thời kỳ thiếu niên: Tôm bắt đầu ổn định về tỷ lệ đực cái và có thể phân biệt giới tính
tôm dựa vào cơ quan sinh sản petasma ở con đực và thelycum ở con cái.
Thời kỳ tiền trưởng thành: Thời kỳ đặc trưng bởi sự phát triển của tuyến sinh dục.
Tôm bắt đầu thành từng đàn di cư đến bãi giao vĩ, sau đó di chuyển ra vùng nước sâu
hơn để đẻ trứng.
14


Thời kỳ trưởng thành: Thời kỳ này sự chín sinh dục đã hoàn toàn, con cái bắt đầu sinh
sản ở ngoài khơi, đôi khi thì chúng cũng đẻ vùng nước nông ở cửa sông nơi có độ sâu
mực nước khoảng 10m.
Có hai đặc điểm cần lưu ý trong vòng đời của tôm sú:
Tăng trưởng từ hậu ấu trùng đến lúc trưởng thành xảy ra vùng cửa sông.
Sự chín sinh dục, kết cặp, đẻ trứng và sự phát triển ấu trùng đều xảy ra ở ngoài khơi
nơi có nồng độ muối dao động từ 28 – 32‰ và ổn định.
2.3.3 Sự lột xác
Trong quá trình tăng trưởng, khi trọng lượng và kích thước tăng lên mức độ nhất dịnh,
tôm phải lột bỏ lớp vỏ cũ để lớn lên, gọi là quá trình lột xác của tôm, quá trình lột xác
tùy thuộc điều kiện dinh dưỡng, môi trường nước, giai đoạn phát triển của cá thể. Giai
đoạn tôm con chu kỳ lột xác sẽ ngắn hơn tôm trưởng thành. Quá trình này thường diễn
ra ban đêm như sau: lớp biểu bì giữa khớp đầu ngực và phần bụng nứt ra, các phần phụ
của đầu ngực rút ra trước, theo sau là phần bụng và các phần phụ phía sau rút ra khỏi
lớp vỏ cứng với động tác uốn cong toàn cơ thể. Lớp vỏ mềm sẽ cứng lại sau 1 – 2 giờ
với tôm nhỏ, 1 – 2 ngày với tôm lớn. Ngay sau khi lột xác vỏ tôm còn mềm nên rất
nhạy cảm với môi trường nước và dễ bị tấn công.
Hormone hạn chế sự lột xác lột xác (MIH, molt - inhibiting hormone) được tiết ra do
các tế bào trong cơ quan của cuống mắt, truyền theo sợi trục tuyến xoang, chúng tích
luỹ lại và chuyển vào trong máu, nhằm kiểm tra chặt chẽ sự lột xác. Các yếu tố bên
ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn, điều này có ảnh hưởng tới tôm đang lột xác.
2.3.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2008) thì tôm sú là loại ăn tạp thiên về động vật,
thích ăn các động vật sống và di chuyển chậm như ốc, nhuyễn thể. Tập tính và loại
thức ăn sẽ khác nhau theo giai đoạn phát triển của tôm: giai đoạn ấu trùng tôm bắt mồi
thụ động, thức ăn ưa thích là tảo khuê, luân trùng, vật chất hữu cơ có nguồn gốc thực
vật. Giai đoạn trưởng thành tôm chủ yếu ăn tạp thiên về động vật, thức ăn ưa thích là
giáp xác sống đáy, hai mảnh vỏ, giun nhiều tơ, ấu trùng các loài động vật đáy.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự bắt mồi của tôm:
Nhiệt độ: Cường độ bắt mồi của tôm sú lớn nhất từ 28 – 320C, nhiệt độ < 20 hay >
300C tôm bắt mồi giảm và nhiệt độ < 15 hay > 350C tôm ngưng bắt mồi.
Ánh sáng: Tôm sú thích ánh sang yếu, cường độ bắt mồi của tôm lớn nhất vào chiều
tối và gần sang, ngoài ra hoạt động sinh sản, giao vĩ cũng diễn ra vào ban đêm. Khi
15


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×