Tải bản đầy đủ

Hiện trạng và hiệu quả kinh tế kỹ thuật của mô hình nuôi cá lóc đầu nhím ở phú tân – an giang

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: D620301

HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
KỸ THUẬT CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC ĐẦU
NHÍM Ở PHÚ TÂN – AN GIANG

Sinh viên thực hện
VÕ MINH QUÂN
MSSV: 1153040061
Lớp: NTTS K6

Cần Thơ, 2015
1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ

KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: D620301

HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
KỸ THUẬT CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC ĐẦU
NHÍM Ở PHÚ TÂN – AN GIANG

Cán bộ hướng dẫn

Sinh viên thực hện

PGS.TS. Nguyễn Văn Kiểm

VÕ MINH QUÂN
MSSV: 1153040061
Lớp: NTTS khóa 6

Cần Thơ, 2015
2


XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài: “Hiện trạng và hiệu quả kinh tế kỹ thuật của mô hình nuôi cá Lóc đầu nhím ở Phú
Tân – An Giang.”
Sinh viên thực hiện: Võ Minh Quân.
Lớp: Nuôi trồng thủy sản K6.
Khóa luận đã được hoàn thành theo yêu cầu của cán bộ hướng dẫn và hội đồng bảo vệ
khóa luận tốt nghiệp đại học Khoa Sinh học ứng dụng – Đại học Tây Đô.

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2015
Cán bộ hướng dẫn

Sinh viên thực hiện

PGS.TS Nguyễn Văn Kiểm


Võ Minh Quân

Chủ tịch hội đồng

3


LỜI CẢM TẠ
Trước hết em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Văn Kiểm và toàn thể
các thầy cô trong Khoa Sinh học Ứng dụng Trường Đại Học Tây Đô đã tận tình hướng dẫn
em trong suốt quá trình học tập và làm đề tài này.
Xin gửi lời cám ơn đến các cô chú, anh chị công tác tại phòng nông nghiệp huyện Phú Tân
đã tận tình giúp đỡ khi em thực hiện đề tài. Xin được cám ơn các bạn trong lớp Nuôi Trồng
Thủy Sản 6 đã khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập.
Cuối cùng xin gửi lời cám ơn chân thành đến gia đình đã tạo mọi điều kiện cũng như hỗ trợ
kinh phí cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm đề tài.
Với lòng biết ơn chân thành nhất!

Võ Minh Quân

4


TÓM TẮT
Đề tài được thực hiện nhằm khảo sát tình hình nuôi cá lóc thương phẩm ở huyện Phú Tân
tỉnh An Giang để đánh giá hiện trạng nuôi cá lóc và đề xuất được những giải pháp cơ bản
góp phần nâng cao hiệu quả của các mô hình nuôi cá lóc tại địa bàn nghiên cứu. Có 6 mô
hình nuôi cá lóc chủ yếu được khảo sát gồm: nuôi ao đất, nuôi trên bể lót bạt, bể xi-măng,
lồng bè, vèo ao và vèo sông.
Kết quả phân tích số liệu cho thấy:
Mật độ nuôi trung bình cao nhất là ở mô hình nuôi bể lót bạt và lồng bè với 120con/m2, thấp
nhất là ở mô hình nuôi ao với mật độ 30con/m2.
Tỷ lệ sống ở mô hình nuôi ao đất là cao nhất (54,98±10,8%), tỷ lệ sống mô hình nuôi trên bể
xi-măng là thấp nhất 35,6±6,4%.
Về năng suất thì cao nhất là 40,5kg/m2 ở mô hình nuôi bể lót bạt và thấp nhất là 14,03kg/m2
ở mô hình nuôi ao đất.
Giá mà người nuôi khi thu hoạch bán được bình quân 34.000±4.000 vnđ/kg.
Xét về tỷ suất lợi nhuận thì hộ nuôi lồng bè có tỷ suất lợi nhuận cao nhất đến 54,4%, và thấp
nhất là mô hình nuôi trên bể xi-măng với 5,6%.
Qua kết quả thu được thì 30/34 người dân nuôi cá lóc đầu nhím thương phẩm có lời.
Trong các mô hình nuôi còn tồn tại nhiều khó khăn như thiếu vốn, dịch bệnh lây lan, thiếu
kiến thức về kỹ thuật nuôi, giá đầu ra không ổn định, vấn đề thời tiết, nguồn thức ăn là
những vấn đề quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất. Từ đó một số giải
pháp cơ bản được đề xuất như: mong muốn được hỗ trợ vay vốn, tập huấn thêm kỹ thuật
nuôi, chờ giá bán cao hay tự tìm đầu ra khi sản phẩm thu hoạch…

5


MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ.................................................................................................................. i
TÓM TẮT ..................................................................................................................... ii
MỤC LỤC…………………………………………………………………………….iii
DANH SÁCH BẢNG .................................................................................................... v
DANH SÁCH HÌNH ....................................................................................................vi
DANH MỤC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT ...................................................... vii
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU .................................................................................................1
1.1Giới thiệu .................................................................................................................. 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................................2
1.3Nội dung nghiên cứu………………………………………………………………..2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................................ 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá lóc nói chung .................................................................. 3
2.1.1 Phân loại ................................................................................................................ 3
2.1.2 Hình thái ................................................................................................................ 4
2.1.3 Đặc điểm phân bố và sự thích nghi ...................................................................... 4
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng ............................................................................................ 4
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng ........................................................................................... 5
2.1.6 Đặc điểm sinh sản………………………………………………………………..5
2.2 Vấn đề khó khăn chung của thủy sản hiện nay ........................................................ 5
2.3 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long ................................... 6
2.4 Sơ lược về tình hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL ............................................................. 7
2.5 Tổng quan về tỉnh An Giang .................................................................................... 8
2.5.1 Điều kiện tự nhiên ................................................................................................. 8
2.5.2 Nguồn lợi và NTTS tỉnh An Giang ....................................................................... 9
2.5.3 Tổng quan về huyện Phú Tân ............................................................................... 9
2.6 Một số mô hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL................................................................... 11
2.6.1 Nuôi trong ao đất................................................................................................. 11
2.6.2 Nuôi cá lóc trong vèo (mùng lưới)...................................................................... 11
2.6.3 Nuôi cá lóc trên ruộng lúa ................................................................................... 12
2.6.4 Nuôi cá lóc trong rừng ........................................................................................ 12
2.6.5 Nuôi cá lóc trong lồng bè .................................................................................... 12
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................................... 14
3.1 Thời gian và phạm vi nghiên cứu .......................................................................... 14
3.2 Phương pháp thu thập số liệu ................................................................................. 14
3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu ................................................................. 14
3.4 Các thông tin chủ yếu trong nghiên cứu ................................................................ 15
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN ..................................................................... 16
4.1 Thông tin về chủ hộ nuôi cá lóc ............................................................................. 16
4.1.1 Độ tuổi................................................................................................................. 16
6


4.1.2 Kinh nghiệm nuôi và trình độ chuyên môn ........................................................ 17
4.1.3 Trình độ văn hóa ................................................................................................. 18
4.2 Thông tin về vụ nuôi .............................................................................................. 19
4.2.1 Các mô hình nuôi cá lóc...................................................................................... 19
4..2.2 Lao động tham gia.............................................................................................. 20
4.2.3 Mùa vụ và thời gian thả nuôi ............................................................................. 21
4.2.4 Diện tích nuôi cá lóc ........................................................................................... 21
4.2.5 Nguồn nước ......................................................................................................... 22
4.3 Thông tin về con giống .......................................................................................... 24
4.3.1 Con giống và mật độ nuôi ................................................................................... 24
4.3.2 Ương giống ........................................................................................................ 25
4.4 Sử dụng thức ăn ..................................................................................................... 25
4.5 Quản lý dịch bệnh .................................................................................................. 26
4.6 Thu hoạch ............................................................................................................... 27
4.6.1 Thời gian nuôi ..................................................................................................... 27
4.6.2 Kích cỡ trung bình .............................................................................................. 28
4.6.3 Tỷ lệ sống ............................................................................................................ 28
4.6.4 Năng suất............................................................................................................. 29
4.7 Hình thức tiêu thụ .................................................................................................. 29
4.8 Phân tích các chỉ tiêu tài chính .............................................................................. 29
4.8.1 Chi phí cố định và chi phí biến đổi ..................................................................... 29
4.8.2 Tổng chi phí ........................................................................................................ 30
4.8.3 Tổng thu nhập ..................................................................................................... 31
4.8.4 Lợi nhuận và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi ................................................ 31
4.9 Nhận thức của người nuôi cá lóc ........................................................................... 31
4.9.1 Nhận thức về nguồn lợi thủy sản ........................................................................ 31
4.10 Thuận lợi, khó khăn và giải pháp ......................................................................... 32
4.10.1 Thuận lợi ........................................................................................................... 32
4.10.2 Khó khăn ........................................................................................................... 32
4.10.3 Giải pháp ........................................................................................................... 32
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT .................................................................. 33
5.1 Kết luận .................................................................................................................. 33
5.2 Đề xuất ................................................................................................................... 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................ 35
PHỤ LỤC ...................................................................................................................... A

7


DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1: Cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản của tỉnh 2008-2009 ............9
Bảng 2.2: Sản lượng thủy sản huyện Phú Tân giai đoạn 2005-2009 .................................10
Bảng 4.1 Trình độ văn hóa của các hộ nuôi .......................................................................18
Bảng 4.2 Hình thức nuôi được áp dụng ............................................................................. 20
Bảng 4.3 Nguồn lao động tham gia nuôi cá lóc ................................................................ 21
Bảng 4.4 Tần suất thay nước............................................................................................. 23
Bảng 4.5 Hóa chất dung trong cải tạo ao .......................................................................... 23
Bảng 4.6 Mật độ nuôi cá lóc thương phẩm ....................................................................... 24
Bảng 4.7 Tình hình ương con giống ..................................................................................25
Bảng 4.8 Loại thức ăn sử dụng ..........................................................................................26
Bảng 4.9 Thời gian nuôi.................................................................................................... 28
Bảng 4.10 Kích cỡ cá khi thu hoạch ..................................................................................28
Bảng 4.11 Tỷ lệ sống trung bình khi thu hoạch ................................................................. 29
Bảng 4.12 Vay vốn.............................................................................................................30

8


DANH SÁCH HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện nhóm tuổi của các hộ nuôi cá lóc ............................................16
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện kinh nghiệm nuôi cá lóc của các nông hộ................................ 17
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện trình độ văn hóa của các hộ nuôi cá lóc.................................. 18
Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện các mô hình nuôi cá lóc của nông hộ ..................................... 19
Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động của các nông hộ ............................................ 20
Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện diện tích nuôi cá lóc của các nông hộ ..................................... 22
Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện các bệnh thường gặp khi nuôi cá lóc ...................................... 26
Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện thời gian nuôi cá lóc của các nông hộ .....................................27
Hình 4.9 Biểu đồ thể hiện phần trăm các chi phí ...............................................................30

9


DANH MỤC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

NTTS:

Nuôi trồng thủy sản

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
ĐBSH:

Đồng bằng sông Hồng

NLTS:

Nguồn lợi thủy sản

VAC:

Vườn-Ao-Chuồng

Đvt:

Đơn vị tính

LĐ:

Lao động

10


CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1Giới thiệu
Từ lâu con người đã hướng tới việc khai thác và nuôi trồng thủy sản (NTTS), nhất là khi
dân số tăng nhanh và nhu cầu dinh dưỡng của con người tăng cao. Tuy nhiên cần phải
nói đến nguồn lợi thủy sản không phải là vô tận nếu khai thác không đi đôi với bảo vệ,
tái tạo và phát triển thì nguồn lợi sẽ cạn kiệt. Việt Nam là quốc gia có tiềm năng phát
triển thủy sản trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Với mạng lưới sông ngòi chằng
chịt từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau, Việt Nam có tiềm năng lớn cho phát triển NTTS với
2.192.878ha diện tích mặt nước, trong đó 1.161.740ha diện tích mặt nước ngọt và
1.011.138ha diện tích mặt nước lợ. Diện tích NTTS năm 2013 là 1,5 triệu ha trong đó
NTTS nước ngọt là 911.330ha với nhiều đối tượng nuôi và mô hình nuôi khác nhau
(Tổng cục Thủy sản 2013).
Diện tích đất tự nhiên của Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) năm 2013 là 849.430ha
và theo định hướng quy hoạch đến năm 2014 là 1 triệu ha (Tổng cục Thủy Sản 2013).
Trong những năm qua NTTS đã trở thành thế mạnh kinh tế quan trọng ở ĐBSCL. Năm
2013 sản lượng thủy sản đạt gần 3 triệu tấn tăng hơn năm 2012 là 170.000 tấn. Kim
ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước năm 2013 đạt hơn 6 tỷ USD, trong đó ĐBSCL đạt
hơn 60% giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước (Tổng cục thống kê, 2013).
Khi nói đến vấn đề gia tăng sản lượng nuôi thủy sản nước ngọt thì phải nói đến sự gia
tăng sản lượng cá da trơn (cá tra, cá basa), cá lóc, cá rô, tôm càng xanh,… Và cá lóc hiện
là đối tượng nuôi quan trọng trong cơ cấu đàn cá nuôi ở ĐBSCL (Nguyễn Văn Thường,
2004).
Cá lóc (Channa striata) là loài có phân bố rộng trong tự nhiên và thường thấy ở các thủy
vực nước ngọt, ngày càng được nuôi nhiều ở ĐBSCL. Cá có thể thích nghi cao với điều
kiện môi trường, tăng trưởng nhanh, ít dịch bệnh và nhất là thịt cá thơm ngon, ít xương
(Thủy sản Việt Nam, 2013). Cá lóc đầu nhím (Chana sp) còn gọi là cá lóc lai, được nhiều
người nuôi ưa chuộng bởi dễ nuôi, tăng trưởng nhanh hơn các loài cá lóc khác, thịt cá
thơm ngon, được người tiêu dùng ưa chuộng, ít bệnh và dị tật. Việc đầu tư đồng bộ, có
sự hỗ trợ của địa phương và các nhà khoa học, doanh nghiệp sẽ phát triển tiềm năng to
lớn của giống cá này.
Để phát huy những ưu thế trên một số tỉnh ở ĐBSCL như: An Giang, Hậu Giang, Cần
Thơ, Tiền Giang, Đồng Tháp,… đã đầu tư phát triển mạnh mẽ nghề nuôi cá lóc với nhiều
mô hình khác nhau như: nuôi bè trên sông, nuôi vèo trong ao và trên sông, nuôi trong
hầm đất, nuôi trong bể lót bạt,…
Tuy nhiên các mô hình nuôi cá lóc nêu trên chưa đạt hiệu quả tối ưu, các yếu tố kinh tế kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình nuôi cũng như sản lượng thu hoạch, lợi
11


nhuận. Tình hình sử dụng cá tạp để làm thức ăn chính cho đối tượng nuôi này đã làm
giảm đáng kể nguồn lợi tự nhiên.
Từ những lý do đã nêu giúp em có ý tưởng thực hiện đề tài “Hiện trạng và hiệu quả
kinh tế kỹ thuật của mô hình nuôi cá lóc đầu nhím ở Phú Tân – An Giang.”. Qua đề
tài này em sẽ cơ bản đánh giá được vai trò cũng như hiện trạng mô hình, đồng thời phân
tích các yếu tố kinh tế - kỹ thuật ảnh hưởng tới năng suất và lợi nhuận của mô hình nuôi
cá lóc thương phẩm ở huyện Phú Tân – An Giang. Từ đó đề xuất các giải pháp cơ bản để
cải thiện hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, góp phần nâng cao năng suất và lợi nhuận, mang lại
hiệu quả kinh tế cho mô hình và góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được hiện trạng của các mô hình nuôi cá lóc đầu nhím đang được áp dụng
tại huyện Phú Tân - An Giang.
- Phân tích được các yếu tố kinh tế - kỹ thuật ảnh hưởng tới năng suất và lợi nhuận của
mô hình nuôi cá lóc đầu nhím thương phẩm.
- Phân tích tình hình sử dụng thức ăn là cá tạp có tác động như thế nào đối với nguồn
lợi tự nhiên sau này.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để cải thiện hiệu quả kinh tế - kỹ thuật góp phần
nâng cao năng suất và lợi nhuận, mang lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ nguồn lợi thủy
sản.
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Phân tích đánh giá các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật cơ bản trong các mô hình nuôi được
khảo sát.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận của các mô hình nuôi ở
địa bàn nghiên cứu.
- Nhận thức của người nuôi về các vấn đề môi trường, nguồn lợi tự nhiên trong quá
trình nuôi.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả của các mô hình nuôi.

CHƯƠNG 2
12


TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá lóc nói chung
2.1.1 Phân loại
Cá lóc trong tiếng Anh được gọi là cá “đầu rắn” (Snakehead) ám chỉ đến cái đầu thuôn và
tròn trông giống như đầu rắn. Họ cá lóc Channidae bao gồm 2 chi là Channa phấn bố chủ
yếu ở châu Á và chi Parachanna phân bố chủ yếu ở châu Phi. Chi Channa có 26 loài và chi
Parachanna có 3 loài. Phía trên nắp mang của cá lóc có một cấu trúc nắp mang gọi là mang
phụ (Suprabranchial organ), qua đó ô-xi từ không khí có thể thẩm thấu trực tiếp vào mạch
máu, nhờ vậy mà cá lóc có thể tồn tại trong môi trường nghèo ô-xi hoặc bò trên cạn, vượt
qua rào cản để thâm nhập vào các vùng nước mới. ở chi Parachanna cũng có mang phụ
nhưng lại đơn giản hơn chi Channa chức năng của nó cũng tương tự như mê lộ ở những loài
thuộc họ Osphronemidae, chẳng hạn như: cá rô đồng, cá sặc rằn nhưng không phát triển
bằng.
Cá lóc ở Việt Nam chỉ có chi Channa gồm 8 loài như: cá trèo đồi (Channa ariatica), cá lóc
bông (Channa micropellets), cá chuối (Channa maculata), cá lóc đen (Channa striatus), cá
dày (Channa licius), cá quả (Channa melaroma), cá chành dục (Channa gachua), cá trầu mắt
(Channa marullus) sống trong các ao hồ sông ngồi ở ĐBSCL và ĐBSH (Nguyễn Văn Hảo,
2005 trích bởi Nguyễn Văn Hòa, 2008)
Ở ĐBSCL cá lóc có 4 loài thuộc chi Channa được nhận biết là cá lóc bông (Channa
micropellets), cá lóc đen (Channa striatus), cá dày (Channa licius), cá chành dục (Channa
gachua) thịt thơm ngon và giá trị dinh dưỡng cao. Hiện nay các loài trên đang được phát
triển nuôi ở nhiều địa phương ở ĐBSCL (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
Cá lóc nuôi ở ĐBSCL hiện nay thuộc:
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Perciformes
Họ: Channidac
Chi: Channa
Loài: Channa sp
Tên Tiếng Việt: Cá lóc đầu nhím
Cá lóc được nghiên cứu trong đề tài này là cá lóc đầu nhím có tên khoa học là Channa sp.
Vào những năm 80 của thế kỉ 20 ở ĐBSCL có xuất hiện thêm giống cá lóc môi trề, cá lóc
đầu vuông, cá lóc đầu nhím phân bố ở các tỉnh thượng nguồn như Đồng Tháp, An Giang,
Cần Thơ… Đây là nhóm cá lai có kích cở lớn, giá trị cao được nuôi khá phổ biến và mang
lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi (Nguyễn Văn Hòa, 2008).

2.1.2 Hình thái
13


Cá lóc có đầu lớn, đỉnh đầu rất rộng, dẹp bằng. Miệng to hướng lên, rạch xuyên và kéo dài
qua đường thẳng kẻ từ bờ sau của mắt, răng bén nhọn, hàm dưới và vòm miệng có xen kẻ
một số răng sắc nhọn, răng hàm trên không có răng sắc nhọn. Cá không có râu, lỗ mũi trước
mở ra ngoài bằng một ống ngắn. Mắt lớn và nằm lệch về phía trên của đầu rất gần chóp
mõm và xa điểm cuối của xương nắp mang. Thân dài, hình trụ ở phần trước và dẹp bên ở
phần sau. Vẩy lược lớn phủ khắp phần thân và đầu. Có một số vẩy nhỏ phủ lên khắp vi đuôi
và vi ngực, gốc vi lưng rất dài, khởi điểm của vi lưng ở trên vẩy đường bên thứ năm và chấm
dứt ở gần gốc vi đuôi ở vẩy đường bên thứ 48-52. Vi hậu môn ngắn hơn vi lưng (Trương
Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Theo Mai Đình Yên (1983), vi lưng và vi hậu môn không có gai, kéo dài về phía sau gần tới
gốc vi đuôi, vi ngực rộng, vi bụng nhỏ, gắn liền nhau ở mặt dưới của thân, vi đuôi tròn.
2.1.3 Đặc điểm phân bố và sự thích nghi
Vùng phân bố của cá lóc khá rộng từ Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Ấn Độ, Campuchia và
vùng ĐBSCL Việt Nam. Cá có thể sống trong các loại hình thủy vực trên sông, kênh rạch,
đồng ruộng, lung, trũng… Nhiệt độ thích hợp từ 20-35oC. Cá cũng có thể sống được trong
điều kiện kiềm tính hoặc đất phèn. Tuy cá là loài sống chủ yếu ở nước ngọt nhưng có khả
năng sống và phát triển ở vùng nhiễm mặn (Dương Nhựt Long, 2003).
Cá lóc thích sống ở vùng nước đục có nhiều rong cỏ, thường nằm ở dưới đáy
vùng nước nông. Tính thích nghi với môi trường xung quanh rất mạnh, nhờ có cơ quan hô
hấp phụ nên cá vẫn sống được trong thủy vực có hàm lượng ô-xi hòa tan thấp và có thể thở
được ô-xi trong không khí. Đôi khi, cá có thể sống trong điều kiện môi trường bất lợi như
nguồn nước bị cạn kiệt chỉ cần da và mang cá có độ ẩm nhất định vẫn có thể sống được thời
gian khá lâu (Tạp chí khoa học và công nghệ thủy sản, 1/2009).
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá lóc là loài cá dữ có kích thước tròn dài. Lược mang dạng hình núm. Thực quản ngắn,
vách dầy, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn. Dạ dày to hình chữ Y (Dương Nhựt Long,
2005).
Sau khi tiêu hết noãn hoàng cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài và thức ăn chủ yếu của
giai đoạn này là: luân trùng, giáp xác chân chèo, trứng nước. Khi cá đạt chiều dài từ 5-6 cm
chúng đã có thể đuổi bắt các loài tép và cá có kích cỡ nhỏ hơn chúng. Khi chiều dài cá đạt
trên 10 cm, cá có tập tính ăn tương tự như cá giai đoạn trưởng thành. Cá lóc là loài cá dữ
thức ăn chủ yếu là động vật, phân tích thức ăn trong ống tiêu hóa của cá lóc trưởng thành
cho thấy: cá chiếm 63,0%; tép 35,9%; ếch nhái 1,03% và 0,02% là bọ gạo, côn trùng và mùn
bã hữu cơ. Trong điều kiện ương giống cá lóc sử dụng được thức ăn chế biến kết hợp với
trùn chỉ cho tỷ lệ sống 97-97,5% (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004).
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
14


Cá lóc là loài có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh. Giai đoạn nhỏ cá tăng chủ yếu về chiều
dài, cá càng lớn thì sự tăng trọng cũng nhanh hơn. Trong tự nhiên tốc độ tăng trưởng của cá
không đều mà phụ thuộc vào nhiệt độ, lượng thức ăn có sẵn trong môi trường sống, cụ thể
khi nhiệt độ trên 20oC sinh trưởng nhanh, dưới 15oC sinh trưởng chậm. Bình quân cá lóc
trong tự nhiên sau một năm có trọng lượng từ 0,5-0,8kg, đạt tỷ lệ sống cao và ổn định (Tạp
chí khoa học và công nghệ thủy sản, 1/2009).
Theo Dương Nhựt Long, 2005 cá lóc đầu nhím là loài có tốc độ sinh trưởng nhanh. Trong
điều kiện nuôi với nguồn thức ăn cung cấp chủ động và có chế độ chăm sóc tốt cá sẽ lớn
nhanh, sau chu kỳ 6 tháng cá có thể đạt trọng lượng dao động từ 0,8-1,2 kg/con, tỷ lệ sống
dao động từ 75-85% và năng suất cá nuôi có thể đạt dao động từ 30-60 tấn/ha. Cá lớn nhanh
từ tháng nuôi thứ 4, thứ 5 lúc này cá ăn rất mạnh và lớn nhanh vào mùa xuân hè. Trong cùng
giai đoạn phát triển của cá lóc đầu nhím cá đực có tốc độ tăng chiều dài nhanh hơn cá cái
nhưng ngược lại khối lượng của cá đực lại tăng chậm hơn của cá cái.
Sau khi cá lóc nở luân trùng Brachionus plicatilis được xem là thức ăn đầu tiên tốt nhất của
cá bột. Ngoài ra có thể cho cá bột ăn nấm men lòng đỏ trứng hay thức ăn tổng hợp dạng bột.
Giai đoạn kế tiếp cho ăn trứng nước (Moina), Daphnia hay trùng trỉ, ấu trùng muỗi đỏ.tuy
nhiên Moina vẫn là thức ăn tốt nhất cho cá trong 3 tuần lễ đầu. Giai đoạn cá giống sâu gạo
hay dòi là thức ăn ưa thích của cá . Giai đoạn cá lớn thường cho ăn cá tạp, thức ăn công
nghiệp, phụ phế phẩm từ các nhà máy chế biến thủy sản.
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Cá lóc 1-2 năm tuổi bắt đầu đẻ trứng, mùa vụ sinh sản từ tháng 4-8, tập trung chủ yếu
vào tháng 4-5. Cá thường đẻ vào sáng sớm sau những trận mưa rào, nơi yên tỉnh có nhiều
thực vật thủy sinh. Số lượng trứng cá đẻ phụ thuộc vào kích cỡ cá cái. Sức sinh sản tương
đối của cá cái từ 8.000-10.000 trứng/lần đẻ đối với cá cái nặng 0,5 kg. Sau khi đẻ xong, cá
cái không rời khỏi ổ mà cùng với cá đực nằm dưới đáy bảo vệ trứng cho đế khi nở thành con
mới rời ổ và dẫn đàn con tìm thức ăn (Tạp chí khoa học và công nghệ thuỷ sản, 1/2001). Ở
nhiệt độ 20-30oC sau 2 ngày trứng nở thành cá bột, trong 3 ngày kế tiếp cá tiêu hết noãn
hoàn và bắt đầu ăn thức ăn tự nhiên bên ngoài (Dương Nhựt Long, 2005).
2.2 Vấn đề khó khăn chung của thủy sản hiện nay
Nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam và trên thế giới đã và đang trên đà phát triển mạnh mẽ trong
những năm gần đây sản lượng và diện tích liên tục tăng. Tuy nhiên đứng về góc độ quản lý
ngành NTTS Việt Nam và thế giới đang đối mặt với nhiều vấn đề. Ngoài các vấn đề kỹ thuật
nuôi và sản xuất giống để có thể nâng cao năng suất và chất lượng thủy sản nuôi đa dạng hóa
đối tượng nuôi, loại hình nuôi, sản xuất thức ăn phù hợp, các biện pháp phòng trị bệnh,
phương pháp bảo quản sau thu hoạch…còn rất nhiều vấn đề mà bất cứ một nhà nghiên cứu
hay quản lý NTTS nào cũng phải nhận thức sâu sắc và tìm cách tháo gỡ. Trong đó việc phát
triển NTTS một cách bền vững là một vấn đề được quan tâm trước hết. Nếu những người
15


NTTS không có được những giải pháp nhanh chóng, hiệu quả và đồng nhất thì không thể
phát triển NTTS một cách bền vững được. Sự phát triển vùng nuôi thiếu quy hoạch và đầu tư
lâu dài đã trở thành một nguy cơ trước mắt đối với nhiều nước phát triển NTTS quá nhanh,
trên hết là sự cạnh tranh gay gắt trên thương trường đòi hỏi các nước phải liên tục tăng chất
lượng và hạ giá thành sản phẩm trong khi vẫn giữ được sự phát triển bền vững, đồng thời
phải hết sức nhanh nhạy trong những thay đổi để dần chiếm lĩnh được thị trường.
2.3 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng đất thấp rộng có khoảng 4 triệu ha, chiếm 12% diện
tích cả nước, có mạng lưới sông rạch chằng chịt, đất đai màu mỡ. ĐBSCL cũng được biết
đến như một nơi có sự phong phú về đa dạng sinh học, đặc biệt là các loài thủy sinh vật
trong thủy vực nước ngọt và nước lợ mặn (Lâm Vĩnh Toàn, 2008).
Nhiều năm qua nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thủy sản đã trở thành thế mạnh đặc biệt ở
ĐBSCL, biến nơi đây thành một vùng trọng điểm về NTTS cho tiêu dùng và xuất khẩu trên
cả nước. ĐBSCL là 1 trong bảy vùng kinh tế trọng điểm của cả nước có khoảng 1.720.800ha
(2010) mặt nước nuôi thủy sản với tổng sản lượng hàng năm lên đến hơn 2,5 triệu tấn, chiếm
hơn 75% lượng thủy sản nuôi của cả nước. Là vùng nuôi thủy sản lớn nhất cả nước diện tích
nuôi trồng chiếm đến 65% diện tích nuôi cả nước sản lượng nuôi trồng chiếm 67% của cả
nước và giá trị xuất khẩu chiếm 52% của cả nước. Năm 2010 giá trị xuất khẩu thủy sản đạt
xấp xỉ 1 tỷ USD (Báo kinh tế 2011).
Với bờ biển dài 735 km, đất có khả năng NTTS là 1.100.000ha, tạo điều kiện thuận lợi cho
ĐBSCL phát triển mạnh về khai thác và nuôi trồng, góp phần quan trọng vào nền kinh tế của
khu vực và cả nước. Hàng năm ngành NTTS ở ĐBSCL đã đóng góp khoảng 50% tổng sản
lượng thủy sản cả nước, 60% sản lượng thủy sản xuất khẩu, đặc biệt là 80% sản lượng cho
tôm xuất khẩu (Lâm Vĩnh Toàn, 2008).
Nguồn lợi thủy sản (NLTS) của ĐBSCL rất dồi dào về chủng loại. Hàng năm có khoảng một
triệu ha đất ngập lũ trong 2-4 tháng, vì vậy NLTS rất phong phú. Theo bộ thủy sản (2005)
công bố “sản lượng khai thác nội địa của Việt Nam đạt khoảng 190.000 tấn trong đó ĐBSCL
đóng góp khoảng 71%”. Theo kết quả điều tra khoa học, xác định được 544 loài cá nước
ngọt phân bố ở Việt Nam (Lâm Vĩnh Toàn, 2008).
Sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL trong thời kỳ đổi mới vừa qua được đánh giá là phát triển
tốt, nhất là ngành sản xuất lúa và NTTS. Nguyên nhân chính là do ĐBSCL đã có sự chuyển
đổi cơ bản của các thành phần kinh tế, trong đó nông dân đã thật sự trở thành đơn vị tự chủ
sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp và thủy sản, do vậy các hộ đã yên tâm đầu tư thêm
lao động, vốn, sử dụng hiệu quả diện tích đất đai, mặt nước nhằm tạo thêm nhiều sản phẩm
hàng hóa cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Gần đây, chương trình chuyển dịch cơ cấu
sản xuất nông nghiệp và NTTS của các tỉnh ở vùng ĐBSCL đã và đang thực hiện đạt được
kết quả tốt (Dương Nhựt Long, 2005). Lượng cá, tôm đánh bắt được ở các vùng ngập lũ
16


của ĐBSCL chủ yếu từ giữa tháng 8 đến giữa tháng 11 âm lịch (tương ứng với mức thời
gian có mực lũ cao nhất trong năm). Trung bình một hộ có thể đánh bắt bình quân
237 kg/năm. Nhìn chung, sản lượng cá, tôm tự nhiên thu được bởi các hộ tham gia khai thác
có thể được sử dụng theo nhiều cách, trong đó để lại ăn trong gia đình chiếm khoảng 38%,
phần lớn được đem bán ra ngoài chiếm 58,9% và còn khoảng 3,1% còn lại dùng để cho bà
con hàng xóm (Lê Xuân Sinh và ctv, 2000).
An Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp là những tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL có nghề nuôi cá lóc
phát triển. Người dân nuôi cá lóc bằng những mô hình khác nhau, cụ thể là tỉnh An Giang
các mô hình nuôi cá Lóc như: bể lót bạt chiếm 25,4%; lồng bè 20,3%; ao đất 23,7%; vèo ao,
vèo sông 30,5%. Trong đó nuôi cá lóc thương phẩm đạt 78%, ương và nuôi giống 16,1%,
sản xuất giống và ương giống 3,6% (Nguyễn Đặng Thùy, 2009).
Mục tiêu của phát triển NTTS ở ĐBSCL là đưa ngành này phát triển thành một ngành sản
xuất hàng hóa quan trọng của vùng trên cơ sở hiệu quả, bền vững về kinh tế, xã hội và môi
trường sinh thái, hòa nhập với sự phát triển thủy sản cả nước, khu vực và quốc tế, góp phần
tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản và xóa đói giảm nghèo (http://www.vncold.vn).
2.4 Sơ lược về tình hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL
Từ xưa đến nay nghề nuôi cá nước ngọt ở ĐBSCL phát triển như nuôi trong ao hay lồng bè.
Vào những năm 1960 nghề nuôi cá lóc lồng bè đã xuất hiện ở Châu Đốc (An Giang) và
Hồng Ngự (Đồng Tháp). Từ năm 1990 đến nay, nghề nuôi cá lóc ở vùng ảnh hưởng lũ trở
nên phổ biến. Cá lóc nuôi tương đối dễ có thể nuôi ở dạng bán thâm canh, thâm canh với
nhiều hình thức như: nuôi trong ao đất, nuôi trong bể lót bạc, trong lồng bè, nuôi vèo, trên
mương hay trên ruộng lúa.
Cá lóc đen lớn nhanh, thu hoạch sau 4-5 tháng nuôi nên có thể nuôi 2 vụ/năm. Cá lóc bông
thu hoạc với kích thước lớn hơn nên thường thu hoạch sau 7-8 tháng nuôi. Nhiều hộ dân
tham gia nuôi cá lóc trong đó phần lớn là nông hộ nuôi với quy mô nhỏ lẻ sử dụng lao động
gia đình để lấy công làm lời có thêm thu nhập.
Cá lóc đầu nhím là con lai giữa cá lóc môi trề và cá lóc đen. Ngoài tự nhiên cá phân bố ở
nhiều loại thủy vực nước ngọt, lợ pH dao động từ 6,3-7,5, nhiệt độ thích hợp để tăng trưởng
là 25-350C. Chúng là loài cá ăn thịt, có tập tính bắt mồi nhưng trong điều kiện nuôi cá sẽ
quen dần với cách ăn tỉnh và ăn được nhiều loại thức ăn như (cá tạp, phế phẩm nhà máy chế
biến, thức ăn công nghiệp…) Sau 4-5 tháng nuôi cá lóc đầu nhím đạt trung bình 0,7kg/con, tỉ
lệ sống 70-80%, hệ số chuyển hóa thức ăn FCR 1.4 (Trung tâm khuyến nông khuyến ngư
Bến Tre, 2011).
Cá lóc có thể nuôi với nhiều quy mô khác nhau từ quy mô nhỏ để cải thiện bữa ăn gia đình,
xóa đói giảm nghèo đến nuôi quy mô lớn, thâm canh ở mật độ cao. Hiện nay các mô hình
nuôi cá lóc sử dụng thức ăn tươi sống như cá tạp, ốc bươu vàng, cua đồng… vừa thiếu chủ
động vừa gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và nguồn lợi tự nhiên.Việc sử dụng thức ăn
17


viên còn rất hạn chế mặc dù điều này sẽ làm giảm lượng khai thác cá tạp tự nhiên, giảm
nguy cơ ô nhiễm, người nuôi hoàn toàn có thể chủ động về mùa vụ và có thể nuôi thâm canh
với năng suất cao không phụ thuộc vào nguồn cung cấp thức ăn. Ban đầu khi mới nuôi cá lóc
người ta thường dựa vào lợi thế mùa lũ tận dụng nguồn nước và thức ăn tự nhiên (thường là
các loài cá trắng có kích cở nhỏ). Dần dần nghề nuôi cá lóc phát triển gây nên không ít lo
ngại nuôi cá lóc dẫn đến đe dọa các giống loài thủy sản khác. Các nhà nghiên cứu cho biết
để đạt 1 kg cá lóc phải cần đến ít nhất 3kg cá tạp (Huỳnh Văn Hiền, 2012).
Cứ như thế với sản lượng cá lóc nuôi ĐBSCL năm 2012 là 30.000 tấn thì phải sử dụng
50.000 tấn cá tạp nước ngọt và 40.000 tấn cá tạp biển, tương ứng với 30% sản lượng khai
thác nội địa và 9% sản lượng khai thác hải sản của ĐBSCL năm 2012. Đó thật sự là vấn đề
lớn đáng lo ngại đối với NLTS và an ninh thực phẩm cho cộng đồng, nhất là những nông
thôn nghèo.
2.5 Tổng quan về tỉnh An Giang
2.5.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý:
An Giang có vị trí đầu nguồn sông Cửu Long, thuộc địa phận Việt Nam. Phía Đông Bắc giáp
tỉnh Đồng tháp, Tây Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài gần 100km, phía Nam và
Tây Nam giáp với Kiên Giang và phía Đông giáp với thành phố Cần Thơ. Diện tích tự nhiên
3.506 km2. Khí hậu nhiệt đới gió mùa: mùa mưa và mùa khô.
An Giang ngoài đồng bằng do phù sa sông Mê Kông trầm tích tạo nên còn có vùng đồi núi
Tri Tôn-Tịnh Biên. Do đó địa hình An Giang có hai dạng chính đó là đồng bằng và đồi núi.
Ngoài các sông lớn An Giang còn có một hệ thống sông rạch tự nhiên rải rác khắp địa bàn
của tỉnh với độ dài từ vài km đến 30km, độ rộng từ vài m đến 100m và độ uốn khúc quanh
co khá lớn. Các rạch nối liền sông Tiền và sông Hậu thường lấy nước từ sông Tiền chuyển
sang sông Hậu. Các rạch nằm trong hữu ngạn sông Hậu thì lấy nước từ sông Hậu chuyển sâu
vào nội đồng vùng trũng tứ giác Long Xuyên. Điều kiện tự nhiện thuận lợi là một yếu tố
quan trọng giúp An Giang có một nền kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh với sản lượng lúa
và thủy sản nước ngọt cao nhất cả nước.
Đặc điểm khí hậu:
An Giang nằm trong vòng đại nội chí tuyến Bắc Bán Cầu, gần xích đạo, khí hậu
nhiệt đới gió mùa và chia thành hai mùa rõ rệt:
Mùa mưa có gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11.
Mùa khô có gió Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Đất đai:
Có hai nhóm đất chính là đất đồi núi và đất phù sa, diện tích của hai nhóm đất này
chiếm khoảng 70% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh.
Sông ngòi:
18


Tỉnh An Giang nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long có hệ thống kênh rạch chằng chịt chi
phối bởi hai chế độ thủy triều, nằm giữa một mạng lưới sông ngòi như: sông Tiền, sông Hậu.
Thủy văn:
Tình trạng ngập lũ: so với các tỉnh khác ở ĐBSCL, lũ ở An Giang thường đến nhanh, rút
nhanh và cường suất lớn. Tuy nhiên do tỉnh An Giang nằm ở đầu nguồn nên mỗi năm đều
nhận được lượng phù sa sông và thủy sản tự nhiên rất lớn.
Tình trạng xâm nhập mặn: thời gian xâm nhập hàng năm chỉ khoảng 1-2 tháng với
nồng độ mặn dưới 3g/l, có thể tận dụng nguồn nước lợ này để nuôi trồng thủy sản (Sở
Nông nghiệp và phát triển Nông Thôn An Giang, 2006-2020).
2.5.2 Nguồn lợi và NTTS tỉnh An Giang
An Giang là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi địa hình tương đối thấp và bằng phẳng, khí hậu
ôn hòa, có nguồn nước ngọt phong phú, hệ thống sông ngòi chằng chịt, tạo ra nhiều dạng
thủy vực khác nhau, thích hợp cho sự phát triển của nhiều loài thủy sản. Sau thế mạnh
cây lúa, NTTS là thế mạnh thứ hai trong chương trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh (Lê
Thị Thùy Dung, 2009).
Theo số liệu thống kê của tỉnh năm 2007 An Giang có diện tích ngập nước quanh
năm và theo thời vụ khoảng 125.000 ha, trong đó có 54.000 ha có thể đưa vào nuôi
thủy sản. Nghề NTTS trong những năm gần đây chiếm tỷ trọng nhỏ trong sản xuất nông
nghiệp của tỉnh, nhưng theo số liệu thống kê cho thấy đây là nghề có tiềm năng rất lớn và
phát triển nhanh.
Bảng 2.1: Cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản của tỉnh 2008-2009
Cơ cấu (%)
2008
2009
Nông nghiệp

89,93

Thủy sản
Lâm nghiệp

9,77
1,30

88,28
10,35
1,37
(Cục thống kê tỉnh An Giang, 2008)

2.5.3 Tổng quan về huyện Phú Tân
Phú Tân là một huyện của tỉnh An Giang. Tổng diện tích của huyện là 230 km2
với tổng dân số là 96.500 người (Hoàng Chí Hùng, 2010).
Huyện có địa bàn khá thuận lợi về vị trí địa lý: nằm ở phía Đông của An Giang; phía
Bắc giáp huyện Tân Châu; Nam giáp huyện Chợ Mới; Tây giáp huyện Châu Phú; Đông giáp
tỉnh Đông Tháp. Ở Phú Tân nông nghiệp phát triển chủ yếu bằng nghề trồng lúa, chăn nuôi
gia súc, gia cầm và thủy sản. Sau 10 năm thành lập, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân
hàng năm của huyện đạt khoảng 11,1%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ
trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp-xây dựng, thương mại-dịch vụ (Hoàng Chí
Hùng, 2010).
19


Thế mạnh thứ hai sau cây lúa của huyện là mô hình NTTS (Phạm Thanh Vũ - Trạm
Khuyến Nông Phú Tân, 2008). Tổng diện tích NTTS của huyện tăng nhanh vào năm
2008, với sản lượng thu hoạch đạt gần 4.060 tấn (Phan Dũng và Hà Thanh, 2009).
Bảng 2.2: Sản lượng thủy sản huyện Phú Tân giai đoạn 2005-2009
Năm
2005
2006
2007
2008
2009
Sản lượng thủy sản (tấn)
2.030
2.879
2.413
4.060
4.995
(Địa điểm điều tra: huyện Phú Tân; Nguồn: Cục thống kê An Giang hàng năm)
Nhìn chung, từ năm 2008 phong trào nuôi thủy sản của toàn huyện phát triển khá
nhanh, sản lượng đã tăng lên so với năm 2007 (từ 2.413 tấn lên 4.060 tấn), đây là
ngành có tiềm năng mang lại thu nhập cho nông dân khá lớn trong phát triển kinh tế
gia đình. Năm 2009, diện tích thả nuôi thủy sản của toàn huyện khoảng 432ha, tăng
gấp 3 lần so với năm 1999 (Phan Dũng và Hà Thanh, 2009). Sản lượng thủy sản
không ngừng tăng lên, từ khi áp dụng các mô hình nuôi chuyên canh cá rô đồng, cá lóc, theo
hình thức công nghiệp. Ông Nguyễn Văn Vui, Phó Chủ tịch UBND huyện Phú Tân, phân
tích: “Tiềm năng thủy sản trên địa bàn huyện còn rất lớn (khoảng 20.000 ha mặt nước chưa
được khai thác). Trong thời gian qua, diện tích, sản lượng thủy sản tăng nhanh nhờ sự góp
sức của công tác chuyển giao kỹ thuật từ trường Đại Học Cần Thơ, Đại Học An Giang và
các sở, ngành, tỉnh, sự tìm tòi học hỏi của bà con nông dân, rồi từng bước mở rộng quy mô,
tăng dần diện tích”. Tuy nhiên, nếu nuôi thâm canh ồ ạt, sẽ kéo theo ô nhiễm môi trường
nước. Vì vậy, cần phải có quy hoạch vùng nuôi bền vững mà UBND huyện đã và đang tính
đến (Phan Dũng và Hà Thanh, 2009).
Ngoài các mô hình sản xuất như: 2 vụ lúa xen 1 vụ cá; vườn ao chuồng (VAC) thì
hiện nay huyện còn có các mô hình nuôi chuyên canh theo quy trình nuôi bán công
nghiệp-công nghiệp, cá lồng bè rãi rác ở các xã, thị trấn. Đặc biệt trong thời gian
gần đây, mô hình nuôi cá lóc thương phẩm trong vèo trên sông đang là hướng phát
triển mới của huyện. Tuy nhiên, các mô hình nuôi còn khá đơn giản, chưa có quy
hoạch cụ thể, nuôi trong vèo trên sông là chủ yếu và chưa được đầu tư đúng mức, với
diện tích chiếm khoảng 5% tổng diện tích các đối tượng thủy sản nuôi của huyện
(Phan Dũng và Hà Thanh, 2009).
Nhìn chung, cho đến nay các đối tượng cá đồng như cá lóc, cá rô đồng…được nuôi
với hình thức thương phẩm khá nhiều. Tuy nhiên những số liệu điều tra về các đối
tượng này còn hạn chế. Do đó cần có những nghiên cứu sâu hơn, tổng thể hơn nhằm
phát triển nghề nuôi các đối tượng cá đồng. Đó cũng là một trong những lý do để thực
hiện đề tài này.
2.6 Một số mô hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL
2.6.1 Nuôi trong ao đất
20


Ao nuôi có diện tích trung bình từ 400-500m2, độ sâu nước 2,5-3m. Bờ ao cao và chắc chắn
có cống cấp và thoát nước. Mật độ dao động từ 15-50 con/m2 (Phạm Văn Khánh, Lý Thị
Thanh Loan, 2004) có thể ghép thêm một số loài cá khác để tận dụng thức ăn dư thừa như
trê phi, rô đồng.... Thức ăn cho cá lóc là tép, cá tạp, cá biển, cua, ốc… Trong 4 tháng đầu
thức ăn được xay nhuyễn và trộn thêm chất kết dính, vitamin, các chất khoáng và được cho
ăn trong sàn ăn. Từ tháng 5 trở đi cá ăn được thức ăn bâm nhỏ. Hàng ngày bơm nước mới bổ
sung vào ao cứ 5-10 ngày thay nước một lần mỗi lần thay 1/3-1/2 thể tích nước trong ao. Sau
6-8 tháng cá đạt trọng lượng 0,7-0,8kg/ con. Cá thường thu hoạch 1 lần bằng cách kéo lưới.
Với mô hình nuôi này thì ĐBSCL là nơi nuôi đạt hiệu quả nhất trung bình 300-400
tấn/ha/vụ, đặc biệt có thể lên đến 500-550 tấn/ha/vụ (Phạm Văn Khánh, Lý Thị Thanh Loan,
2004).
Tuy nhiên với phương pháp này cá nuôi chậm lớn, kích cỡ cá khi thu hoạch không đồng đều,
tốn nhiều công lao động trong thu hoạch và cải tạo ao, tỷ lệ hao hụt lớn. Trong nhiều trường
hợp nếu thu hoach không đúng cách cá có thể chết nhiều do ngạt sình. Ngoài ra các chi phí
thức ăn, thuốc hóa chất, chi phí thay nước khá cao trong mỗi vụ nuôi.
2.6.2 Nuôi cá lóc trong vèo (mùng lưới)
Hàng năm khi lũ về với nguồn nước dồi dào và thức ăn tự nhiên rất đa dạng như: các loài
phiêu sinh vật, động vật đáy, các loài tôm, cá, cua, ốc…rất thuận lợi cho mô hình nuôi cá lóc
trong vèo. Bên cạnh đó trong những năm trở lại đây nghề nuôi cá lóc trong vèo cũng phát
triển mạnh ở các tỉnh như: An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang. Người dân nuôi cá lóc đã nghỉ
đến dung lưới thưa để tiện cho việc quản lý, dễ quan sát khi cho cá ăn, giảm chi phí đầu tư
và thu hoạch.
Vèo nuôi có diện tích trung bình khoảng 6-10m2, chiều cao khoảng 2m. Vèo nuôi cá lóc có
thể đặt trong ao hoặc trên sông mức nước cao hơn 2m. Nếu vèo đặt trên sông thì đặt nơi có
dòng chảy nhẹ 0,3-0,4m/s, có ánh sáng và gió nhẹ, tránh nơi sóng to gió lớn, xa khu công
nghiệp vị trí đặt vèo thuận lợi cho chăm sóc cá. Loài cá phổ biến cho nuôi vèo là cá lóc đầu
vuông hoặc cá lóc đầu nhím. Thức ăn là những loài cá tạp, cua, ốc, thức ăn công nghiệp.
Ngày cho ăn 2-3 lần, thức ăn được đặt trên sàn ăn để tránh thất thoát, kích thước thức ăn phù
hợp với cỡ miệng của cá để cá dễ bắt mồi.
Mô hình này có thể nuôi quanh năm nhưng phù hợp nhất là vào tháng 5-9. Tuy nhiên cần
xem xét nhu cầu thị trường và nguồn cung cấp thức ăn để bố trí thời gian nuôi thích hợp.
Việc nuôi cá lóc trong vèo giảm được chi phí đầu tư ban đầu và dễ áp dụng cho những nông
hộ nghèo ít đất. Ngoài ra vèo nuôi ít ảnh hưởng bởi nước lũ, nước dâng đến đâu có thể nâng
vèo lên đến đó.Nếu nuôi trong ao thì có thể tận dụng khoảng không còn lại để nuôi các loài
cá khác, tận dụng được thức ăn, giảm ô nhiễm môi trường, tăng thêm thu nhập.
Sau 5-6 tháng nuôi thì thu hoạch trọng lượng trung bình 0,7-0,8kg/con nếu nuôi tốt, nhìn
chung đây là mô hình nuôi đã mang lại rất nhiều thu nhập cho người dân tạo công ăn việc
21


làm trong mùa lũ. Theo (Nguyễn Văn Dính, 2004) thì nuôi cá lóc trong mùng lưới là giải
pháp xóa đói giảm nghèo nhanh nhất cho nông dân.
Tuy nhiên hình thức nuôi này vẫn gặp không ít khó khăn trong khâu quản lý chất lượng
nước, kỹ thuật nuôi, nguồn thức ăn và giá cả trên thị trường. Mặt khác ảnh hưởng của hình
thức nuôi này lên môi trường xung quanh như: ô nhiễm môi trường nước, ảnh hưởng nguồn
lợi tự nhiên cũng chưa được đánh giá.
2.6.3 Nuôi cá lóc trên ruộng lúa
Diện tích vuông ruộng nuôi cá lóc từ 0,5-3ha phải có mương và bờ bao xung quanh. Mương
rộng từ 1,5-2m, sâu 0,8-1m. Phải có hệ thống cống cấp thoát nước khi cần thiết. Mật độ thả
nuôi từ 0,5-1con/ m2 và thời gian nuôi 6-7 tháng. Trong mô hình này thường không cần cho
cá ăn nhưng để cá phát triển nhanh hơn người ta thường thả kết hợp một số loài cá khác như:
cá mè vinh, cá rô phi để nâng cao năng suất của ruộng nuôi.
Nhìn chung cách nuôi này đòi hỏi diện tích ruộng khá lớn, tốn nhiều chi phí thiết kế vuông
ruộng và khâu thu hoạch, khó quản lý và chăm sóc cá nuôi, cá chậm lớn.
2.6.4 Nuôi cá lóc trong rừng
Từ việc làm đìa nhử cá tự nhiên, nay con người đã biết đưa những diện tích rừng vào nuôi cá
gần 4.000ha, tập trung nhiều ở rừng U minh, khu Tràm Chim, các rừng nước ngọt, sông cụt,
nước kém lưu thông là nơi nuôi và dưỡng cá lóc tự nhiên. Nơi đây có điều kiện sống thích
hợp cho cá lóc, thức ăn tự nhiên rất phong phú có tại chỗ. Có thể nuôi cá 2-3 năm, cá đạt vài
kg mỗi con (Dương Tấn Lộc, 2011).
Rừng thích hợp để nuôi cá lóc là rừng có nhiều lung bào trũng, cây thưa vừa phải hoặc đất
có khoảng trống và cây dày đặc, có nơi ngập từ 0,3m trở lên trong suốt thời gian 5-7 tháng
hay quanh năm. Diện tích rừng 50-5.000ha có thể thiết kế cho một vuông nuôi. Cỡ cá giống
thả có chiều dài 8-10cm và mật độ 0,5-1con/m2 mặt nước. Nguồn thức ăn của cá lóc chủ yếu
có từ tự nhiên như: cá sặc, cá rô đồng, cá tạp nhỏ, ốc nhái, cào cào, động vật phù du, ấu
trùng muỗi…Để tăng sinh khối lúc thu hoạch cá lóc người ta thường thả nuôi thêm cá sặc, cá
rô đồng…Thu hoạch cá bằng lưới chụp đìa, mỗi năm thu 1-2 lần.
Với cách nuôi này có thể tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có trong thời gian nuôi, tuy
nhiên mô hình này cũng gặp một số trở ngại như: tỷ lệ hao hụt cao, năng suất cá không ổn
định, diện tích nuôi quá rộng nên khó khăn trong khâu quản lý, dễ xảy ra trộm cắp và các
động vật ăn thịt cá lóc nuôi.
2.6.5 Nuôi cá lóc trong lồng bè
Năng suất và tỷ lệ mắc bệnh của cá lóc nuôi trong lồng bè phụ thuộc rất nhiều vào vị trí đặt
bè. Bè nuôi nên đặt những nơi có dòng nước tốt, không bị ô nhiễm, dòng nước chảy chậm,
có mực nước sâu, giao thông thuận tiện, đồng thời gần nơi tiêu thụ sản phẩm. Kích cở bè
nuôi thường là 4x3, 5x2,5m. Cỡ cá từ 6-10cm/con, mật độ thả trung bình là 120-130con/m3
(Đại học An Giang, 2003). Thức ăn chính là cá băm nhỏ, phế phẩm ở các chợ như đầu cá,
22


ruột cá…xay nhuyễn đặt lên sàn ăn cho cá ăn. Thường sau 5 tháng nuôi cá đạt trọng lượng
1kg/con.(Ngô Trọng Lư, 2003)
Ưu điểm của phương pháp này là cá lớn nhanh, nhưng nhược điểm là tốn chi phí đầu tư ban
đầu cho việc đóng bè, tìm vị trí đặt bè thích hợp, chụi ảnh hưởng nhiều bởi các điều kiện tự
nhiên, khó quản lý dịch bệnh và nguồn nước, dễ thất thoát nếu bè có hư hỏng.

CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
23


3.1 Thời gian và phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 3/2015 đến tháng 6/2015.
Công tác thu số liệu được thực hiện ở huyện Phú Tân tỉnh An Giang. Tập trung điều tra và
thu mẫu tại các xã dọc hai bờ sông Tiền và sông Hậu như: Thị trấn Phú Mỹ, xã Phú Thọ, xã
Tân Trung, xã Tân Hòa, xã Phú Hưng, xã Bình Thạnh Đông. Công tác nhập, xử lý, phân tích
số liệu và viết báo cáo được thực hiện tại Khoa Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Tây
Đô.
Đối tượng nghiên cứu: là mô hình nuôi cá lóc đầu nhím (Channa sp) thương phẩm tại huyện
Phú Tân tỉnh An Giang.
3.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Thông tin thu thập gồm hai loại:
+ Thông tin thứ cấp: các nghiên cứu trước đây, các báo cáo của huyện cùng với các tài liệu
có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Đối với thông tin thứ cấp: liên hệ với các cơ quan, ban ngành, cán bộ ở địa bàn nghiên cứu
để thu thập các thông tin như: diện tích nuôi, sản lượng, mật độ thả, FCR, tỷ lệ sống, hiệu
quả kinh tế.
+ Thông tin sơ cấp: được thu trực tiếp từ các hộ nuôi cá lóc đầu nhím thương phẩm ở địa bàn
nghiên cứu thông qua phiếu điều tra nông hộ.
Đối với thông tin sơ cấp: phỏng vấn trực tiếp nông hộ để biết các vấn đề mới mà nông dân
đang mắc phải, chia sẽ những kinh nghiệm được nông hộ rút ra trong quá trình nuôi.
Số mẫu điều tra:
Tổng cộng là 34 mẫu và được phân bố như sau:







Xã Bình Thạnh Đông thu được 6 mẫu
Xã Phú Hưng thu được 3 mẫu
Thị trấn Phú Mỹ thu được 2 mẫu
Xã Phú Thọ thu được 5 mẫu
Xã Tân Hòa thu được 7 mẫu
Xã Tân Trung thu được 11 mẫu

3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Số liệu thu về sẽ được kiểm tra, điều chỉnh và mã hóa trước khi nhập vào máy tính.
Sau khi nhập vào máy tính số liệu được kiểm tra lần cuối trước khi tiến hành xử lý và phân
tích thống kê.

24


3.4 Các thông tin chủ yếu trong nghiên cứu
Thông tin chung: tên hộ nuôi, trình độ kỹ thuật, tuổi…
Thông tin về kỹ thuật:
Về mô hình nuôi cá lóc: tổng diện tích nuôi, thời điểm thả giống, thời điểm thu hoạch.
Quản lý ao nuôi: về sên vét chế độ thay nước, mật độ thả, kích cỡ giống, tổng lượng thức ăn
trên từng ao nuôi.
Thu hoạch: phương pháp thu hoạch, kích cỡ và trọng lượng khi thu hoạch
Thông tin về khoa học - kỹ thuật:
Chi phí cố định: chi phí mua đất, chi phí thuê đất, chi phí đào ao, máy móc, hệ thống cấp
thoát nước. Từ đó tính tổng chi phí cố định của vụ nuôi.
Chi phí biến đổi: chi phí sên vét, cải tao ao, vôi, con giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản và
các chi phí phụ khác.
Tổng thu: tổng sản lượng cá thương phẩm bán ra, giá cá thương phẩm.
Những thuận lợi và khó khăn của người nuôi
Từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục khó khăn, những đề xuất giúp nghề nuôi phát triển
hơn.

CHƯƠNG 4
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×