Tải bản đầy đủ

ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO PHƯƠNG PHÁP HỌC

ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước vào ngưỡng cửa đại học là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời của mỗi
con người. Đó cũng là lúc chúng ta phải tự thay đổi chính mình để trở thành
những bạn trẻ tự tin và năng động để thích nghi với môi trường mới – môi
trường đại học đầy gian nan và thử thách. Trong những sự đổi thay ấy, cần có
sự thay đổi về phương pháp học tập bởi đó là yếu tố chính quyết định kết quả
học tập của mỗi sinh viên. Phương pháp học chính là “chìa khóa” của sự
thành công. Cũng vì tầm quan trọng của “chiếc chìa khóa vô hình” ấy mà
nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp học đã ra đời để mang lại cho
học sinh, sinh viên những phương pháp học hiệu quả.
Trong một thế giới bùng nổ thông tin như hiện nay, việc học tập chăm chỉ vẫn
chưa phải là giải pháp tối ưu, bởi khi có nhiều sự lựa chọn thì vấn đề không
chỉ là học cái gì mà còn là học như thế nào và sử dụng công việc gì. Các
phương pháp luận học tập đã đem lại thành công cho chúng ta trong quá khứ
đang gặp nhiều thách thức. Thông tin đa chiều và thực tế yêu cầu chúng ta
không chỉ có kiến thức mà còn có khả năng tạo ra giá trị gia tăng từ kiến
thức. Nếu ví thông tin như các yếu tố đầu vào, còn kiến thức, kỹ năng, thái độ
làm việc là yếu tố đầu ra thì “hộp đen” hay “bộ vi xử lý” chính là bộ não của

chúng ta. Thực tế, chúng ta có thể dành nhiều thời gian để học cách sử dụng
tốt một chiếc máy tính, nhưng lại ít quan tâm đến cơ chế hoạt động, xử lý
thông tin, phân tích, tổng hợp, sáng tạo… của cỗ máy kỳ diệu là bộ não.


Bản đồ tư duy là một hệ thống có tính cách mạng trong việc lập kế hoạch và
ghi chú nhanh những công việc cần làm đã giúp thay đổi cuộc sống của hàng
triệu người trên toàn thế giới. Bản đồ tư duy là một hệ thống kiến thức được
tóm tắt ngắn gọn bằng những “nhánh cây”, những ký hiệu và những hình ảnh
sinh động nhằm mô tả phần kiến thức mà ta muốn biểu thị. Vì đặc điểm ngắn
gọn mà người học có thể ghi nhớ kiến thức một cách nhanh chóng, và những
tri thức cũng được sắp xếp vào não bộ một cách hết sức khoa học. Bên cạnh
những đặc tính ưu việt trên, Bản đồ tư duy với sự phong phú về hình ảnh và
màu sắc đã kích thích trí tưởng tượng và niềm say mê, hứng thú của người
học, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não.
Ngành Khoa học quản lý là một ngành yêu cầu tính tổ chức, sắp xếp
và điều hành công việc cao. Tuy nhiên, việc học tập của sinh viên lớp
Khoa học quản lý K8, trường Đại học Khoa học từ trước tới nay chủ yếu
học tập, ghi chép những thông tin, bài giảng bằng chữ, ký tự, đường thẳng,
con số. Với cách học tập này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não –
não trái, mà chưa hề sử dụng kỹ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng ta xử
lý các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và sự mơ mộng. Hay nói
cách khác, chúng ta vẫn thường đang chỉ sử dụng 50% khả năng bộ não của
chúng ta khi ghi nhận thông tin. Những bài giảng nhiều chữ và khó ghi nhớ,
không tạo hứng thú và thu hút sinh viên. Việc học tập, ôn luyện mỗi kỳ thi trở
lên vô cùng vất vả, áp lực bài vở lớn.
Nhằm hướng đến một phương phương pháp học tập chủ động, tích cực.
Không chỉ giúp sinh viên khám phá các kiến thức mới mà còn giúp hệ thống
được những kiến thức đó. Từ đó, giúp sinh viên lớp KHQL K8 có được
phương pháp học tập tích cực, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát


triển tư duy. Tôi đã chọn đề tài “Thực trạng phương pháp học tập truyền
thống và giải pháp ứng dụng bản đồ tư duy để đổi mới phương pháp học
tập của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học” làm đề tài
nghiên cứu.
2. Tổng quan nghiên cứu
Trên thế giới hiện nay đang diễn ra những chuyển biến trong lĩnh vực giáo
dục. Xu hướng giáo dục đang phát triển với mục tiêu: đổi mới nội dung,
chương trình, phương pháp, phát huy tính tích cực, chủ động cũng như khả

năng tự học, tự nghiên cứu của người học.
Trong xu hướng đó, Giáo dục Việt Nam cũng đã và đang có nhiều thay đổi
mau lẹ, mạnh mẽ để hòa nhập với nền giáo dục hiện đại trên thế giới, đặc biệt
là vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà trường.
Tại Nghi quyết của hội nghị TW lần thứ 2 BCH TW Đảng khóa VIII (21996) có đoạn: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc
phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người
học” .
Cũng tại Khoản 2, Điều 5, Luật giáo dục 2005 cũng đã khẳng định: “Phương
pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo
của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực
hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” .
Hiện nay, học tập theo Bản đồ tư duy là một phương pháp học được

khuyến

khích áp dụng rộng rãi, nhất là đối với sinh viên. Trong xu thế hội nhập của
đất nước, vai trò của phương pháp học này càng trở nên quan trọng trong việc
góp phần nâng cao hiệu quả học tập của người học nói riêng và chất lượng
giáo dục nói chung.


Phương pháp học tập này đã được nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học nghiên
cứu, đề cập tới trong các công trình nghiên cứu của mình và đã đem lại
những đóng góp to lớn với những thành tựu đáng kể, giúp sinh viên tìm thấy
niềm đam mê, hứng thú và chủ động hơn trong quá trình học tập, tích lũy
kiến thức, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Nhưng nó vẫn còn mang
tính chung chung hoặc chỉ có thể áp dụng cho những đối tượng cụ thể, với
những môn học riêng lẻ.
Trường Đại học Khoa học mới bắt đầu tuyển sinh đào tạo trình độ đại học từ
năm 2002. Hiện chưa có một nghiên cứu nào cụ thể đề cập tới phương pháp
học tập theo Bản đồ tư duy cho sinh viên, nên đây là một hướng tiếp cận mới.
Nếu đưa ra những giải pháp thích hợp trong việc áp dụng hình thức học tập
này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên Khoa học quản lý
K8 nói riêng, Đại học Khoa học nói chung.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hướng đến việc làm rõ thực trạng phương pháp học tập truyền thống
và đề ra giải pháp ứng dụng bản đồ tư duy để đổi mới phương pháp học tập
của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài (sẽ giải quyết ở
chương 1):
+ Cơ sở lý luận (gồm: Khái niệm phương pháp học tập, phương pháp học
truyền thống, và đổi mới phương pháp học tập. Bản đồ tư duy: khái niệm,
lịch sử, tác dụng và cách thiết lập).


+ Cơ sở thực tiễn (gồm: Tổng quan chung về trường Đại học Khoa học. Tổng
quan về bộ môn Khoa học quản lý- Khoa Văn – Xã hội. Tổng quan về lớp
KHQL K8).
– Làm rõ thực trạng phương pháp học tập truyền thống của sinh viên lớp
KHQL K8 (sẽ được giải quyết ở chương 2):
+ Phương pháp học tập truyền thống của bản thân sinh viên lớp KHQL
K8 (gồm: phương pháp lập kế hoạch học tập, phương pháp ghi chép bài,
phương pháp thuyết trình, phương pháp đọc tài liệu, phương pháp tự học,
phương pháp học nhóm, phương pháp làm đề cương ôn tập).
+ Những hạn chế và nguyên nhân của phương pháp học tập truyền thống
(gồm: Những hạn chế còn tồn tại của phương pháp học tập truyền thống.
Nguyên nhân của những hạn chế đó).
– Đề xuất giải pháp pháp ứng dụng bản đồ tư duy để đổi mới phương pháp
học tập của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học (sẽ được làm
rõ ở chương 3):
+ Những giải pháp ứng dụng bản đồ tư duy để đổi mới phương pháp học tập
của sinh viên lớp KHQL K8 (gồm: Đổi mới phương pháp lập kế hoạch học
tập. Đổi mới phương pháp ghi chép bài. Đổi mới phương pháp thuyết trình.
Đổi mới phương pháp đọc tài liệu. Đổi mới phương pháp tự học. Đổi mới
phương pháp học nhóm. Đổi mới phương pháp làm đề cương ôn tập).
+ Những khuyến nghị (gồm: Những khuyến nghị liên quan đến sinh viên.
Những khuyến nghị liên quan đến tập thể lớp. Những khuyến nghị liên quan
đến giảng viên. Những khuyến nghị liên quan đến nhà trường).
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu


– Phương pháp học tập truyền thống của sinh viên lớp KHQL K8, trường
ĐHKH, Đại học Thái Nguyên
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi đối tượng:
– Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và giải pháp ứng dụng bản đồ tư duy
để nâng cao hiệu quả học tập trong sinh viên lớp Khoa học quản lý K8, Đại
học Khoa học.
Phạm vi không gian: Lớp KHQL K8, trường ĐHKH, Đại học Thái Nguyên.
Phạm vi thời gian:


Thời gian khảo sát số liệu: 2010- 2012



Thời gian thực hiện đề tài: 3/2012- 3/2013

5. Vấn đề nghiên cứu
– Vấn đề nghiên cứu 1: Thực trạng về phương pháp học tập truyền thống của
sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học hiện nay như thế nào?
– Vấn đề nghiên cứu 2: Giải pháp nào giúp ứng dụng bản đồ tư duy để đổi
mới phương pháp học tập của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa
học?
6. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu 1: Hiện nay, sinh viên lớp KHQL K8 đang sử dụng rất
nhiều các phương pháp học tập truyền thống, nhưng trong phạm vi đề tài này,
những phương pháp truyền thống mà chúng tôi quan tâm bao gồm:
– Phương pháp lập kế hoạch học tập
– Phương pháp ghi chép bài
– Phương pháp thuyết trình
– Phương pháp đọc tài liệu


– Phương pháp tự học
– Phương pháp học nhóm
– Phương pháp làm đề cương ôn tập
Giả thuyết nghiên cứu 2: Để đổi mới phương pháp học tập của sinh viên lớp
KHQL K8 tác giả đề xuất giải pháp ứng dụng bản đồ tư duy trong:
– Đổi mới phương pháp lập kế hoạch học tập
– Đổi mới phương pháp ghi chép bài
– Đổi mới phương pháp thuyết trình
– Đổi mới phương pháp đọc tài liệu
– Đổi mới phương pháp tự học
– Đổi mới phương pháp học nhóm
– Đổi mới phương pháp làm đề cương ôn tập
7. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã áp dụng
những phương pháp cụ thể sau:
a. Phương pháp quan sát:
Phương pháp quan sát cho phép thu thập kết quả từ việc ghi chép, hoặc
những phương tiện công nghệ cao như: máy ghi âm, quay phim…Nhằm quan
sát thực tế phương pháp học tập truyền thống của sinh viên lớp KHQL K8,
trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên.
b. Phương pháp thu thập phân tích tài liệu:
– Tài liệu viết: Dựa vào vở ghi, đề cương ôn tập của sinh viên.
– Tài liệu thống kê: Dựa vào những số liệu, bảng thống kê về kết quả học tập
của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học, Đại học Thái
Nguyên.
c. Phương pháp phỏng vấn sâu:


Đối tượng phỏng vấn: Sinh viên lớp KHQL K8, giáo viên liên quan đến
lớp KHQL K8 trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên.
d. Phương pháp dùng bảng hỏi:
– Đối tượng: Sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học
Dự kiến phát 137 phiếu bảng hỏi
=> Mục đích nhằm thăm dò ý kiến, thái độ của sinh viên lớp KHQL K8 về
phương pháp học tập kiểu truyền thống, khảo sát về nhu cầu ứng dụng bản đồ
tư duy vào việc học tập của sinh viên lớp KHQL K8 và đánh giá những mặt
mạnh của việc ứng dụng bản đồ tư duy.
8. Ý nghĩa của đề tài
a. Ý nghĩa về mặt lí luận
– Hoàn thành đề tài cho đóng góp về mặt lí luận: làm phong phú thêm cơ sở
lý thuyết của việc ứng dụng bản đồ tư duy trong học tập.
b. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
– Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu đề tài có thể đưa ra những nhận định
đánh giá về phương pháp học tập truyền thống của sinh viên lớp KHQL K8,
đề xuất giải pháp ứng dụng bản đồ tư duy để đổi mới phương pháp học tập
của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học.
– Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm về phương
pháp học tập bằng bản đồ tư duy.

9. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
nội dung báo cáo chia làm 3 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài của đề tài


+ Chương 2: Thực trạng phương pháp học tập truyền thống của sinh viên lớp
KHQL K8, trường Đại hoc Khoa học
+ Chương 3: Những giải pháp và khuyến nghị nhằm ứng dụng bản đồ tư duy
để đổi mới phương pháp học tập của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại hoc
Khoa học

B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm phương pháp học tập, phương pháp học truyền thống, và
đổi mới phương pháp học tập
a, Khái niệm phương pháp học tập
i) Khái niệm phương pháp
Theo từ điển Tiếng Việt: “Phương pháp là cách thức tiến hành để có hiệu
quả”.
Theo quan điểm Triết học: “Phương pháp là hình thái chiếm lĩnh hiện thực,
sự chiếm lĩnh hiện thực trong các hoạt động của con người, đặc biệt là hoạt
động nhận thức và cải tạo thực tiễn”. (Bách khoa toàn thư triết học (Liên
Xô),tập III, tr409). Phương pháp chính là cách thức làm việc của chủ thể,
cách thức này tùy thuộc vào nội dung “Phương pháp là sự vận động bên
trong của nội dung” (Hêghen).


Thuật ngữ “Phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methodos) có nghĩa là
con đường để đạt mục đích. Theo đó, Phương pháp học tập là con đường để
đạt mục đích học tập.
Theo Lexicon der Padagogik: “Phương pháp giúp để trình bày có lý lẽ vững
vàng một chân lý đã xác định rồi hoặc để vạch ra một con đường tìm tòi một
chân lý mới”.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Phương pháp là các cách thức
được sử dụng để tìm kiếm luận cứ và tổ chức luận cứ để chứng minh luận
điểm (luận đề). Phương pháp là cách thức hành động được chủ thể sử dụng
nhằm thực hiện một mục đích nhất định nào đó”.
Như vậy, tóm lại có thể hiểu: “Phương pháp là cách thức, con đường,
phương tiện để đạt tới mục đích nhất định trong nhận thức và trong thực
tiễn”.
ii) Khái niệm học tập
Theo GS Nguyễn Ngọc Quang, nghiên cứu dạy học theo quan điểm quá
trình: “Học là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa
học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn
diện. Vai trò tự điều khiển của quá trình học thể hiện ở sự tự giác, tích cực,
tự lực và sáng tạo dưới sự điều khiển của thầy, nhằm chiếm lĩnh khái niệm
khoa học. Học có 2 chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển”.
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam – Viện ngôn ngữ
học: “Học tập là học và luyện tập để hiểu biết và có kỹ năng”.
Như vậy, ta có thể đi đến một khái niệm chung nhất về học tập là: “Học tập
là một loại hình hoạt động được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với


hoạt động dạy, giúp người học lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, những
phương thức hành vi nhằm phát triển nhân cách toàn diện”.
iii) Phương pháp học tập
Tùy theo quan niệm về mối quan hệ trong quá trình học tập , đã có nhiều định
nghĩa khác nhau về phương pháp học tập. Từ khái niệm “phương pháp” và
“học tập” ta có thể định nghĩa về phương pháp học tập như sau: “ Phương
pháp học tập là hệ thống tác động liên tục của giáo viên và sinh viên nhằm tổ
chức hoạt động nhận thức và thực hành của sinh viên để lĩnh hội vững chắc
các thành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã định” hay
nói một cách khái quát chung: “Phương pháp học tập là con đường để đạt
mục đích học tập”
b, Khái niệm đổi mới , đổi mới phương pháp học tập
i) Khái niệm đổi mới
Theo từ điển Tiếng Việt, năm 2008: “ Đổi mới là thay đổi hoặc làm cho thay
đổi tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước, đáp ứng yêu cầu của sự phát
triển”. Đổi mới là cải cách cái lỗi thời, cái cũ thay vào đó là thừa kế cái tốt
thay cái mới hợp với thời đại mới. Đó là con đường tiến hóa của nền văn
minh. Đổi mới không bao giờ là đủ cả, nó kéo dài theo chiều dài của lịch sử.
Đó là kết luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin về tính biện chứng của quá trình
phát triển, về tính phản tương thích giữa thượng tầng kiến trúc và cơ sở hạ
tầng xã hội cũng như sự đấu tranh thường xuyên giữa chúng để thúc đẩy tiến
trình lịch sử đi lên.
Như vậy: “Đổi mới là thay đổi, kế thừa cái cũ và tiếp thu những cái mới một
cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh để đáp ứng yêu cầu của xã
hội trong giai đoạn hiện nay”.


ii) Khái niệm đổi mới phương pháp học tập
Đổi mới phương pháp học tập có thể hiểu là “con đường tốt nhất để đạt chất
lượng và hiệu quả học tập cao”.Đổi mới phương pháp học tập về bản chất là
sự đổi mới cách thức tổ chức học tập theo quan điểm phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của người học.
* Quan điểm về đổi mới phương pháp học tập
Đổi mới giáo dục nói chung, và đổi mới phương pháp học tập nói riêng là
quy luật tất yếu của chính bản thân người làm công tác giáo dục, của giáo
viên và sinh viên trongđiều kiện mới.
Đổi mới phương pháp học tập là thay đổi, kế thừa các phương pháp học tập
truyền thống và tiếp thu các phương pháp học tập mới một cách linh hoạt,
phù hợp với điều kiện. Hoàn cảnh, để đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai
đoạn hiện nay.
Đổi mới không phải thay cái cũ bằng cái mới. Nó là sự kế thừa, sử dụng một
cách có chọn lọc và sáng tạo hệ thống phương pháp học tập truyền thống hiện
còn có giá trị tích cực trong việc hình thành tri thức, rèn luyện kỹ năng, kinh
nghiệm và phát triển thái độ tích cực đối với đời sống, chiếm lĩnh các giá trị
xã hội. Đổi mới phương pháp học tập theo hướng khắc phục những phương
pháp lạc hậu, tăng cường vận dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật,
CNTT, nhằm tạo điều kiện cho người học hoạt động tích cực, độc lập và sáng
tạo.
1.1.2. Khái niệm bản đồ tư duy, lịch sử hình thành, tác dụng và cách thành
lập bản đồ tư duy
a, Khái niệm bản đồ tư duy


Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Bản đồ tư duy (Mindmap) là
phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả
năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng
hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân
nhánh. Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ
theo 1 trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của 1 câu
truyện) thì não bộ còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau.
Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của bộ não”.
Phương pháp này có lẽ đã được nhiều người Việt biết đến nhưng nó chưa bao
giờ được hệ thống hóa và được nghiên cứu kĩ lưỡng và phổ biến chính thức
trong nước mà chỉ được dùng tản mạn trong giới sinh viên học sinh trước các
mùa thi.
Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép. Bằng cách dùng giản đồ ý,
tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng
thì liên hệ với nhau bằng các đường nối. Với cách thức đó, các dữ liệu được
ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn.
Thay vì dùng chữ viết để miêu tả một chiều biểu thị toàn bộ cấu trúc chi tiết
của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều. Nó chỉ ra dạng thức của đối
tượng, sự quan hệ hỗ tương giữa các khái niệm (hay ý) có liên quan và cách
liên hệ giữa chúng với nhau bên trong của một vấn đề lớn.
Theo Tony Buzan, người đầu tiên tìm hiểu và sáng tạo ra bản đồ tư duy
thì: “Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh
để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay một
hình ảnh trung tâm. Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển
bằng các nhánh tượng trưng cho các ý chính và đều được nối với các ý trung


tâm. Với phương thức tiến dần từ trung tâm ra xung quanh, bản đồ tư duy
khiến tư duy con người cũng phải hoạt động tương tự. Từ đó các ý tưởng của
con người sẽ phát triển”.
Hình 1.1. Bản đồ tư duy trong kế hoạch công việc hằng ngày
Như vậy ta có thể đi đến một khái niệm chung nhất về bản đồ tư duy
là: “Bản đồ tư duy (MindMap) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu,
mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,
… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc,
chữ viết với sự tư duy tích cực. Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu
tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh,
mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn
đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới
dạng Bản đồ tư duy theo một cách riêng. Do đó, việc lập Bản đồ tư duy phát
huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người”.
b, Lịch sử hình thành bản đồ tư duy
Phương pháp này được phát triển vào cuối thập niên 60 (của thế kỉ 20)
bởi Tony Buzan như là một cách để giúp học sinh “ghi lại bài giảng” mà chỉ
dùng các từ then chốt và các hình ảnh. Cách ghi chép này sẽ nhanh hơn, dễ
nhớ và dễ ôn tập hơn.
Đến giữa thập niên 70 Peter Russell đã làm việc chung với Tony và họ đã
truyền bá kĩ xảo về giản đồ ý cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các học
viện giáo dục
c, Tác dụng (lợi ích) của việc ứng dụng bản đồ tư duy
* Trong cuộc sống:


– Ghi chú: Khi thông tin được gợi ra, Bản đồ tư duy (Mind maps) giúp tổ
chức thông tin theo một hình thức mà dễ dàng được xuất hiện và ghi nhớ.
Được sử dụng để ghi chú tất cả các loại sách vở, bài giảng, hội họp, phỏng
vấn, và đàm thoại.
– Gợi nhớ, hồi tưởng: Bất cứ khi nào thông tin được xuất hiện từ trong bộ
não thì Mind maps cho phép các ý tưởng được ghi lại rất nhanh ngay sau khi
nó được sinh ra vào một hệ được tổ chức. Vì thế chẳng cần phải viết cả một
câu. Nó như một phương tiện nhanh và hiệu quả trong việc tổng quát và vì
thế có thể giữ lại các hồi tưởng rất nhanh gọn.
– Sáng tạo: Bất cứ khi nào bạn muốn khuyến khích sự sáng tạo, Mind maps
sẽ giúp bạn giải phóng cách suy diễn cổ điển theo phương thức ghi chép sự
kiện theo dòng cho phép các ý tưởng mới được hình thành nhanh chóng theo
luồng tư duy xuất hiện.
Hình 1.2. Sử dụng bản đồ tư duy giúp phát huy tính sáng tạo
– Giải quyết vấn đề: Khi bạn gặp trở ngại với một vấn đề, Mind maps có thể
giúp bạn nhìn nhận tất cả các vấn đề và làm thế nào để liên kết chúng lại với
nhau. Nó cũng giúp bạn có được cái nhìn tổng quát là bạn có thể nhìn nhận
vấn đề dưới góc độ nào và sự quan trọng của nó.
– Trình bày (trình diễn): Mind maps không chỉ giúp ta tổ chức các ý kiến hợp
lý, dễ hiểu mà còn giúp ta trình bày mà không cần phải nhìn vào biên bản có
sẵn.
* Trong giáo dục, đào tạo:
– BĐTD giúp sinh viên học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương
pháp học tập cho sinh viên không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy


học mà còn là mục tiêu dạy học. Thực tế cho thấy một số sinh viên học rất
chăm chỉ nhưng vẫn học kém, nhất là môn toán, các em này thường học bài
nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các
kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những
phần sau. Phần lớn số HS này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không
biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của
mình. Sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học HS sẽ học được phương
pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
– BĐTD giúp sinh viên học tập một cách tích cực: Một số kết quả nghiên
cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do
chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử
dụng BĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng
của bộ não.
Hình 1.3. Bản đồ tư duy trong học môn văn học
– BĐTD giúp sinh viên ghi chép có hiệu quả: Do đặc điểm của BĐTD nên
người thiết kế BĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp, bố cục để
“ghi” thông tin cần thiết nhất và lôgic, vì vậy, sử dụng BĐTD sẽ giúp HS dần
dần hình thành cách ghi chép có hiệu quả.
Tác giả Stella Cottrell đã tổng kết cách “ghi chép” có hiệu quả trên BĐTD:
1). Dùng từ khóa và ý chính; 2). Viết cụm từ, không viết thành câu; 3). Dùng
các từ viết tắt. 4).Có tiêu đề. 5). Đánh số các ý; 6). Liên kết ý nên dùng nét
đứt, mũi tên, số, màu sắc,… 7). Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra
cứu lại dễ dàng. 8). Sử dụng màu sắc để ghi.


– Sử dụng BĐTD giúp GV chủ nhiệm, cán bộ quản lí nhà trường lập kế
hoạch công tác và có cái nhìn tổng quát toàn bộ kế hoạch từ chỉ tiêu, phương
hướng, biện pháp,…và dễ theo dõi quá trình thực hiện đồng thời có thể bổ
sung thêm các chỉ tiêu, biện pháp,…một cách rất dễ dàng so với việc viết kế
hoạch theo cách thông thường thành các dòng chữ.
Hình 1.4. Bản đồ tư duy tóm lược 5 nội dung của phong trào thi đua “xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
BĐTD có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các
nhà trường hiện nay. Có thể thiết kế BĐTD trên giấy, bìa, bảng phụ,… hoặc
cũng có thể thiết kế trên phần mềm bản đồ tư duy.
Việc sử dụng BĐTD giúp cán bộ quản lí có cái nhìn tổng quát toàn bộ vấn
đề, giúp GV đổi mới PPDH, giúp sinh viên học tập tích cực đó chính là một
trong những cách làm thiết thực triển khai nội dung dạy học có hiệu quả – nội
dung quan trọng nhất trong năm nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng
Trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo phát
động.
d, Cách thành lập bản đồ tư duy
Cho dù vẽ bằng tay hay bằng máy chúng ta đều có thể thực hiện theo các
bước sau:
– Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang) hoặc
trên máy.
+ Người vẽ sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Hình ảnh có thể
thay thế cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng của


mình. Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ
ràng.
+ Nên sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh.
+ Có thể dùng từ khóa, kí hiệu, câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn tượng
sâu sắc về chủ đề.


Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm.
+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm

nổi bật.
+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm.
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ
tỏa ra một cách dễ dàng.
– Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ.
+ Khi vẽ các ý chính và các chi tiết hỗ trợ chỉ nên tận dụng các từ khóa và
hình ảnh.
+ Nên dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và
thời gian.
+ Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên
nhánh.

Trên

mỗi

khúc

nên

chỉ



tối

đa

một

từ

khóa.

+ Sau đó nối các nhánh chính cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các
nhánh cấp 2 đến các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2…
bằng đường kẻ. Các đường kẻ càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm
hơn.
+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻ cong
được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn.


+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu. Chúng ta
thay đổi màu sắc khi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn.
– Bước 4: Người vẽ có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng
thêm nổi bật cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tổng quan chung về trường Đại học Khoa học
a, Khái quát về trường ĐHKH
Trường Đại học Khoa học thuộc Đại học Thái Nguyên tiền thân là Khoa
Khoa học Tự nhiên, được thành lập năm 2002 theo Quyết định số 1286/QĐBGD&ĐT-TCCB ngày 28/ 03/ 2002 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ
GD&ĐT).Đến tháng 11/ 2006, để phù hợp với sự mở rộng của quy mô và
ngành đào tạo, Giám đốc ĐHTN đã ký Quyết định số 803/QĐ-TCCB đổi tên
Khoa Khoa học Tự nhiên thành Khoa Khoa học Tự nhiên và Xã hội. Tháng
12/ 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1901/QĐ – TTg ngày
23/ 12/ 2008 về việc thành lập trường Đại học Khoa học trên cơ sở nâng cấp
khoa Khoa học Tự nhiên và Xã hội thuộc ĐHTN.
Trường ĐHKH có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu khoa
học (NCKH), ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh
vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội ở khu vực trung du và miền núi
phía Bắc. Trường là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có con
dấu và tài khoản riêng.
Nhiệm vụ của trường là đào tạo cán bộ có trình độ đại học và sau đại học
phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội của khu vực và đất nước. Triển
khai các đề tài NCKH, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuyển giao
công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội phục vụ cho sự phát


triển kinh tế – xã hội của khu vực và đất nước. Trường thực hiện nhiệm vụ
quản lý đào tạo, NCKH, tổ chức cán bộ, cơ sở vật chất và các mặt công tác
khác của trường theo quy định của Nhà nước, Bộ GD&ĐT và sự phân cấp
của ĐHTN; Là đơn vị dự toán và kế toán hành chính sự nghiệp cấp 3 thuộc
ĐHTN.
Hình 1.5. Trường Đại học Khoa học, ĐHTN
Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển, hiện nay trường ĐHKH đang đào tạo
các chuyên ngành sau: Cử nhân Toán, Toán-Tin, Lý, Hóa, Khoa học Môi
trường, Sinh học, Công nghệ sinh học, Lịch sử, Văn học, Khoa học quản lý,
Công tác xã hội, Du lịch, Báo chí, Luật học, thạc sỹ ngành Toán, Sinh, Tiến
sỹ ngành Hóa Sinh. Các thế hệ cán bộ giảng viên của nhà trường đã góp phần
đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ các tỉnh trong cả nước, đặc
biệt là vùng trung du và miền núi phía Bắc.
Trong thời gian tới, Nhà trường sẽ điều chỉnh xây dựng các chuyên ngành
đào tạo sau đại học theo hướng nhu cầu của xã hội và hội nhập quốc tế. Chủ
trương của Nhà trường là giữ vững quy mô đào tạo đại học chính quy ở mức
ổn định phù hợp với quy mô ngành nghề. Chú trọng tăng cường đào tạo trình
độ sau đại học với chất lượng cao, đồng thời đáp ứng yêu cầu đào tạo của hệ
không chính quy, văn bằng 2, liên thông với chỉ tiêu tuyển sinh và quy mô
đào tạo thích hợp. Quy mô sinh viên nhập học trong 3 năm gần đây cho thấy
số lượng đều tăng lên hàng năm.
b, Cơ sở vật chất của nhà trường
Tổng diện tích xây dựng là 3482 m2 gồm: 1563 m2 phòng học, 534 m2 khu
văn phòng, 875 m2 phòng thí nghiệm, 71 m2 thư viện, 02 phòng máy tính với


diện tích 175 m2, Hội trường có diện tích 526 m2, 2110 m2 ký túc xá.
Trường đã được nhận 73.532 m2 đất đã được đền bù giải phóng trong tổng số
21,1 ha đất đã quy hoạch cho trường. Là trường thành viên của Đại học Thái
Nguyên nên trường có thể được sử dụng hệ thống cơ sở vật chất của các đơn
vị thành viên khác trong Đại học Thái Nguyên để phục vụ cho cho quá trình
đào tạo, vì vậy cơ sở vật chất cơ bản đã đáp ứng được nhiệm vụ đào tạo.
Để phục vụ cho đào tạo, nghiên cứu khoa học, trường đã có một hệ thống các
phòng thí nghiệm thuộc các chuyên ngành: Hoá học; Vật lý; Sinh học; Công
nghệ sinh học; Khoa học Trái đất; Khoa học Môi trường. Các phòng thí
nghiệm của trường đã được cung cấp các trang thiết bị từ các dự án “Dự án
nâng cao chất lượng giáo dục đại học – Mức 2 QIG B”; Các dự án chương
trình mục tiêu năm 2008; năm 2009, Đây là hệ thống các thiết bị thí nghiệm
đồng bộ, đáp ứng được với các chương trình đạo tạo do Bộ GD&ĐT đặt ra.
Giai đoạn 2010 đến 2015:
– Giải phóng toàn bộ diện tích đất đã được phê duyệt theo Quy hoạch để có
thể xây dựng Giảng đường; Thư viện; Phòng thí nghiệm; Văn phòng; Ký túc
xá, Nhà ăn cho sinh viên; Sân chơi, bãi tập; Hội trường, nhà thi đấu…
– Xây dựng các dự án chương trình mục tiêu và dự án tăng cường năng lực
để củng cố và bổ sung thêm trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm đã có,
xây dựng thêm một số phòng thí nghiệm chuyên ngành đáp ứng được với sự
phát triển của trường.
– Củng cố và tăng cường các trang thiết bị về công nghệ thông tin đủ đáp ứng
cho nhu cầu quản lý, nhu cầu dạy và học theo phương pháp tiên tiến, nghiên
cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế.
Giai đoạn 2016 đến 2020:


– Xây dựng thêm giảng đường trung tâm thí nghiệm và nghiên cứu khoa học
để đáp ứng với quy mô phát triển của trường.
– Xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống ký túc xá, nhà ăn, sân chơi, bãi tập.
– Tăng cường năng lực công nghệ thông tin.
* KẾ HOẠCH XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA TRƯỜNG NHƯ SAU:

T. gian khởi T.gian hoàn
TT

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14

công
01/2010
06/2009
05/2010
05/2010
05/2011
06/2009
01/2011
05/2011
05/2011
05/2014
05/2014
05/2015
05/2015
05/2015

thành
12/2015
06/2010
05/2011
05/2011
05/2012
08/2014
10/2011
05/2012
05/2013
05/2015
05/2015
05/2016
05/2016
05/2018

Diện
Tên hạng mục công trình
Giải phóng mặt bằng theo Quy hoạch
Nhà Giảng đường 5 tầng ( Nhà B2)
Nhà Giảng đường 5 tầng ( Nhà B1)
Nhà Giảng đường 5 tầng ( Nhà B3)
Nhà Hiệu bộ + nghiên cứu
06 Nhà ký túc xá SV
Nhà ăn sinh viên
Thư viện( phòng đọc 150 chỗ )
Xây dựng cơ sở hạ tầng ban đầu
Trung tâm thí nghiệm, NCKH
Hội trường 1200 khán giả
Trung tâm GDTC
Sân bóng đá
Hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật

* Về trang thiết bị:
– Xây dựng các dự án chương trình mục tiêu từng năm nhằm tăng cường
trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm.
– Tích cực xây dựng các dự án tăng cường năng lực:

( m2
130.800

6
1
1
3


+ Năm 2010-2011 hoàn thiện dự án và chuẩn bị cơ sở để tiếp nhận trang
thiết bị của dự án tăng cường năng lực cho ngành Khoa học Môi trường với
tổng kinh phí là 3,3 tỷ đồng.
+ Từ 2011-2013: Xây dựng và xin phê duyệt dự án tăng cường năng
lực cho ngành Công nghệ Sinh học với tổng kinh phí là 7.5 tỷ đồng.
+ Từ 2014-2020: Xây dựng và xin phê duyệt dự án thành lập trung tâm thí
nghiệm Vật lý hiện đại bằng nguồn vốn xây dựng cơ bản với kinh phí từ 30
đến 40 tỷ đồng.
– Tăng cường tiết kiệm, tích cực tìm nguồn huy động vốn đề không ngừng bổ
sung, đổi mới trang thiệt bị phục vụ cho mọi hoạt động của nhà trường.
c, Đội ngũ cán bộ giảng viên và sinh viên của nhà trường
* Đội ngũ cán bộ giảng viên
Hiện tại trường gồm có 6 Khoa chuyên môn, 2 Bộ môn với đội ngũ cán bộ
giảng viên trẻ, sáng tạo, nhiệt tình. Có thể thấy: đội ngũ cán bộ giáo viên của
trường không ngừng tăng lên về số lượng cũng như chất lượng. Trình độ của
cán bộ, giáo viên được nâng cao.
Có nhiều giảng viên được cử đi học cao học, nghiên cứu sinh ở trong và
ngoài nước. Tuy nhiên, về mặt số lượng cán bộ giảng viên thì mức tăng qua
các năm là tương đối chậm so với quy mô đào tạo của trường. Nếu 2006 tổng
số lượng cán bộ, giảng viên là 93 người thì tới năm 2011 mức này tăng lên
277 người. Mặt khác với 18 chuyên ngành đào tạo khác nhau, số lượng sinh
viên ngày càng tăng thì mức tăng như hiện tại về số lượng cán bộ, giảng viên
sẽ không đáp ứng nhu cầu đào tạo của trường, nhiều môn chuyên ngành phải
mời giảng viên từ các trường khác đến giảng dạy. Bên cạnh đó, nhà trường
chưa có cán bộ giảng viên có trình độ giáo sư, số lượng cán bộ, giảng viên là


phó giáo sư và tiến sỹ còn ít. Chiếm đa số trong tổng đội ngũ giáo viên là
trình độ thạc sỹ. Hiện nay, số lượng cán bộ giảng viên có trình độ cử nhân
chiếm khá nhiều. Để đáp ứng với sự phát triển của nhà trường, yêu cầu đặt ra
đó là phải không ngừng nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ cán bộ giảng
viên.
Vì thế, song hành với công tác tuyển chọn cán bộ, giảng viên chuyên ngành
một số môn, nhà trường cũng cần đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên
ngành, năng lực chuyên môn cho cán bộ, giảng viên trong trường
* Sinh viên nhà trường
Hiện nay, trường ĐHKH đang tiến hành đào tạo 4 hệ chính: hệ chính quy, hệ
địa chỉ, hệ liên thông, hệ vừa học vừa làm. Với số lượng sinh viên là 5362
sinh viên, trong đó hệ chính quy có 3476 sinh viên, hệ địa chỉ có 1171 sinh
viên, hệ liên thông có 492 sinh viên, hệ vừa học vừa làm là 223 sinh viên.
Năm học 2008 – 2009 nhà trường đã triển khai, áp dụng hình thức đào tạo
theo học chế tín chỉ – một phương thức giúp làm tăng tính chủ động của
người học, tự tìm tòi, nghiên cứu kiến thức, phân tích và giải quyết vấn đề.
Điều này giúp sinh viên nhà trường nâng cao được tính chủ động, từ đó nâng
cao được chất lượng đào tạo của nhà trường. Trong những năm qua kết quả
học tập của sinh viên đã được cải thiện đáng kể, thể hiện cụ thể trong kết quả
học tập của sinh viên không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên số lượng sinh
viên học lực trung bình và yếu vẫn tăng lên. Điều này cho thấy chất lượng
đào tạo của nhà trường còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân đầu vào tuyển sinh
không cao, nhiều bộ phận sinh viên chưa thích ứng được với hình thức đào
tạo theo tín chỉ, thiếu tính chủ động trong việc học tập và nghiên cứu.
1.2.2. Tổng quan về bộ môn Khoa học quản lý


Được thành lập năm 2006, đến nay, bộ môn KHQL đã và đang đào tạo
khoảng 600 sinh viên hệ chính quy ngành Khoa học Quản lý với 2 chuyên
ngành là Quản lý nguồn nhân lực và Quản lý các vấn đề xã hội và chính sách
xã hội. Dự kiến, trong thời gian tới, bộ môn sẽ đưa thêm 1 số chuyên ngành
mới vào chương trình đào tạo như Quản lý văn hóa – dân tộc và tôn giáo, Bảo
hộ sở hữu trí tuệ, Quản lý khoa học và công nghệ để theo kịp với sự phát
triển của xã hội.
* Đào tạo:
Với mục tiêu đào tạo những cử nhân vững vàng về kiến thức chuyên môn,
nghiệp vụ, có khả năng thực hành nghề, chương trình đào tạo của BM được
thiết kế đảm bảo tính mới, cập nhật, mềm dẻo, linh hoạt. Đội ngũ cán bộ trẻ,
năng động, tận tâm với công việc và không ngừng học tập, bồi dưỡng nâng
cao trình độ là một lợi thế để bộ môn KHQL có những bước tiến vượt bậc kể
từ khi thành lập đến nay. Cùng với việc áp dụng những phương pháp giảng
dạy tiên tiến kết hợp trang thiết bị hiện đại, giảng viên của bộ môn đã tạo ra
những tiết học thực sự lý thú và bổ ích với sinh viên.
Bên cạnh hoạt động giảng dạy, hoạt động nghiên cứu khoa học cũng được bộ
môn chú trọng quan tâm. Hàng năm, có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học của
cán bộ, sinh viên được triển khai và nghiệm thu đạt kết quả cao. Nhiều đề tài
trong số đó đã trở thành nguồn học liệu quan trọng cho cán bộ, giảng viên
của ngành trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu.
* Thực tập, thực tế
Theo học ngành Khoa học quản lý, sinh viên còn có nhiều điều kiện, cơ hội
thâm nhập, tìm hiểu thực tiễn quản lý thông qua các chuyến thực tập, thực tế
tại các cơ quan, đơn vị như các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, các


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×