Tải bản đầy đủ

Quản lý an toàn lao động tại các khách sạn 3 sao trên địa bàn Hà Nội

1

1

MỤC LỤC

1


2

2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATVSLĐ

: An toàn vệ sinh lao động

AT

: An toàn


BNN

: Bệnh nghề nghiệp

BVHTTDL : Bộ văn hóa thể thao du lịch
CSVC

: Cơ sở vật chất

CSVCKT

: Cơ sở vật chất kỹ thuật

GHP

: Good Hygiene Practice

GMP

: Good Manufacturing Pratice

HACCP

: Hazard Analysis Critical Control Point

ILO

: International Labour Organization

NLĐ

: Người lao động

NXB

: Nhà xuất bản




: Lao động

PCCC

: Phòng cháy chữa cháy

UNWTO

: United National World Tourist Organization

TNLĐ

: Tai nạn lao động

VS

: Vệ sinh

2


3

3

3


4

4

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
STT

4

Tên sơ đồ, bảng biểu

Trang

1

Sơ đồ 1.1. Bộ máy AT-VSLĐ tại các khách sạn 3 sao

12

2

Sơ đồ 1.2. Các nội dung quy định về công tác ATVSLĐ

14

3

Bảng 1.1: Định biên cán bộ AT-VSLĐ và cán bộ y tế

20

4

Bảng 2.2. Kết quả điều tra tình hình quản lý ATVSLĐ tại các khách sạn 3 sao trên địa bàn Hà Nội

35


5

5

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Thời gian qua, công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động đã được ngành dịch
vụ, lĩnh vực kinh doanh khách sạn quan tâm và đạt được những kết quả quan trọng,
nhưng cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém. Cùng với xu hướng của ngành các khách sạn
3 sao trên địa bàn Hà Nội cũng chú trọng hơn trong công tác an toàn vệ sinh lao động.
Tuy nhiên, nhiều khách sạn sử dụng lao động chưa nêu cao trách nhiệm, vi phạm các
quy định pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động. Phần lớn người lao động còn
hạn chế về kiến thức, kỹ năng và thiếu chủ động trong phòng ngừa tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp; chưa thực hiện đúng quy định về khám, kiểm tra sức khỏe định kỳ.
Tình trạng mất an toàn lao động, vệ sinh lao động trong các cơ quan, doanh nghiệp,
khu vực nông nghiệp, nông thôn, làng nghề xảy ra khá phổ biến; tai nạn lao động,
người bị tai nạn, người mắc bệnh nghề nghiệp có xu hướng gia tăng. Trong đó, có
nhiều vụ nghiêm trọng, gây tổn thất lớn về người và tài sản, để lại hậu quả nặng nề, lâu
dài cho người lao động và xã hội. Với sự phát triển không ngừng của xã hội, con người
không chỉ muốn thoả mãn nhu cầu cá nhân mà họ còn chú ý tới việc đảm bảo an toàn
về sức khoẻ, tính mạng.
Vấn đề ATVSLĐ ở các khách sạn 3 sao trên địa bàn Hà Nội cũng còn nhiều
bất cập. Hầu hết các khách sạn 3 sao đều chưa có bộ phận chuyên trách về an toàn vệ
sinh lao động, công tác quản lý còn nhiều hạn chế. Chính vì chưa có bộ phận chuyên
trách về ATVSLĐ nên công tác quản lý gặp nhiều khó khăn, việc kiểm tra giám sát
không chặt chẽ. Các nhà quản lí trong khách sạn cũng đã đưa ra những yêu cầu về vấn
đề ATVSLĐ, yêu cầu các cấp quản trị, nhân viên thực hiện đúng theo quy định tuy
nhiên vẫn chưa thật sự hiệu quả. Tại các khách sạn 3 sao trên địa bàn Hà Nội, các nhà
quản lý cũng đã mở các khoá học đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ của nhân viên,
cung cấp các kiến thức cần thiết để đảm bảo ATVSLĐ. Đối với mỗi bộ phận lại có
những yêu cầu, quy định riêng, nhưng về công tác kiểm tra, quản lý các bộ phận thực
hiện có đúng yêu cầu, quy định hay không thì vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong
muốn.
Chính vì những lý do đó, chúng tôi đưa ra đề tài: “Quản lý an toàn lao động tại
các khách sạn 3 sao trên địa bàn Hà Nội”. Chúng tôi hy vọng công trình nghiên cứu
sẽ đưa ra được những nhận xét chính xác và các giải pháp đưa ra sẽ khắc phục được
những tồn tại trong các khách sạn 3 sao trên địa bàn Hà Nội.

5


6

6

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Mục tiêu nghiên cứu đề tài:
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện
công tác quản lý an toàn vệ sinh lao động tại các khách sạn 3 sao trên địa bàn Hà Nội.
- Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
+ Hệ thống hóa những cơ sở lý luận cơ bản về quản lý an toàn vệ sinh lao động
trong khách sạn.
+ Tìm hiểu, đánh giá, phân tích về thực trạng quản lý an toàn vẹ sinh lao động
tại các khách sạn 3 sao trên địa bàn Hà Nội. . Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và xác
định nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế này để làm cơ sở cho việc đề xuất giải
pháp nhằm nâng cao công tác quản lý an toàn vệ sinh lao động tại các khách sạn 3 sao
trên địa bàn Hà Nội.
+ Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý an toàn vệ
sinh lao động tại các khách sạn 3 sao trên địa bàn Hà Nội.
3. Phạm vi nghên cứu đề tài
- Về nội dung: Quản lý an toàn vệ sinh lao động tại các khách sạn 3 sao
- Về không gian: Tại các khách sạn 3 sao trên địa bàn Hà Nội.
- Về thời gian: Các số liệu được lấy trong 2 năm 2012 – 2013 và phiếu điều tra
được phát từ 06/11/2013-15/02/2014. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất cho
năm 2014 và những năm tiếp theo.
4. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, quản lý an toàn vệ sinh lao động là công việc hết sức
quan trọng. Tuy nhiên, trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn có rất ít tài liệu giáo trình
viết về đề tài này mà chủ yếu là các quy định, chính sách pháp luật của Nhà nước về
an toàn vệ sinh lao động, ví dụ như:
- Bộ lao động - thương binh và xã hội, Cục an toàn lao động (12/2011), Tài liệu
huấn luyện an toàn - vệ sinh lao động.
- Tập hợp các văn bản hiện hành về an toàn vệ sinh lao động (gồm cả Bộ luật
lao động) – NXB Lao Động Hà Nội - 2011.
- Hướng dẫn hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động ILO – OSH 2001 –
NXB Lao Động Hà nội – 2011.

6


7

7

5. Kết cấu công trình nghiên cứu
Ngoài các phần như: lời cảm ơn; danh mục bảng, biểu; mục lục; danh mục sơ
đồ, mở đầu; danh mục từ viết tắt. Nội dung chính của khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý an toàn vệ sinh lao động tại
các khách sạn 3 sao.
Chương 2: Thực trạng quản lý an toàn vệ sinh lao động tại các khách sạn 3 sao
trên địa bàn Hà Nội.
Chương 3: Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý an toàn lao
động tại các khách sạn 3 sao trên địa bàn Hà Nội

7


8

8

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢNLÝ
AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI CÁC KHÁCH SẠN 3 SAO
1.1. Lý luận cơ bản về quản lý an toàn vệ sinh lao động tại các khách sạn 3 sao
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm khách sạn và tiêu chuẩn khách sạn 3 sao
a. Khách sạn
Khách sạn là một loại hình cơ sở lưu trú du lịch. Theo thông tư 88/2008TTBVHTTDL, khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch, có quy mô mười buồng ngủ trở lên,
đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch vụ cần thiết phục vụ khách
lưu trú và sử dụng dịch vụ.
Khách sạn là loại hình kinh doanh có đặc điểm toàn cầu, dựa trên tiêu chuẩn và
thông lệ quốc tế. Xu hướng phát triển của các khách sạn là không ngừng nâng cao chất
lượng dịch vụ lưu trú và tăng cường các dịch vụ bổ sung nhằm thỏa mãn cao nhất nhu
cầu của khách du lịch.
Như vậy, khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu, đảm bảo tiêu chuẩn chất
lượng và tiện nghi cần thiết phục vụ khách du lịch lưu trú, đáp ứng một số yêu cầu của
khách về: nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác.
b. Tiêu chuẩn khách sạn 3 sao
Tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn du lịch của Việt Nam được xây dựng trên cở sở
tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn tại phân vùng châu Á- Thái Bình Dương của UNWTO,
kết hợp tham khảo quy định, tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn của một số nước. Khách
sạn đạt tiêu chuẩn xếp hạng từ 1 đến 5 sao là khách sạn có cơ sở vật chất, trang thiết
bị, chất lượng phục vụ cao, đáp ứng chu cầu đa dạng của khách du lịch về ăn uống,
ngủ nghỉ, sinh hoạt, giải trí theo tiêu chuẩn của từng hạng, phù hợp với tiêu chuẩn
quốc tế, được đánh giá thông qua các chỉ tiêu:Vị trí, kiến trúc; trang thiết bị, tiện nghi
phục vụ; dịch vụ và mức độ phục vụ; nhân viên phục vụ; vệ sinh.
Bên cạnh những yêu cầu chung của khách sạn thì khách sạn 3 sao cần phải có
những yếu tố sau:
Thứ nhất, yêu cầu về vị trí, kiến trúc bao gồm: vị trí giao thông thuận tiện, môi
trường cảnh quan sạch đẹp; thiết kế kiến trúc xây dựng đẹp, vật liệu xây dựng tốt, nội
ngoại thất được thiết kế hợp lý; khách sạn có tối thiểu 50 buồng; có sân vườn cây
xanh(không bắt buộc đối với các khách sạn ở trung tâm thành phố); có khu vực gửi xe
cho khách ngoài khu vực khách sạn; cócác phòng ăn, bar và cóphòng làm việc của
Giám đốc, Phó Giám đốc; phòng tiếp khách; các phòng nghiệp vụ, chuyên môn kí

8


9

9

thuật; phòng trực tầng; phòng cho nhân viên phục vụ bao gồm phòng thay quần áo
riêng chon nam và nữ và phòng tắm, vệ sinh riêng cho nam và nữ- khu giặt là; kho để
đồ; khu bếp, kho bảo quản thực phẩm; khu bếp tường phải ốp gạch men sứ, cao tối
thiểu 2 m, sàn lát vật liệu chống trơn, khu vực chế biến thức ăn nóng, nguội được tách
riêng, có hệ thống thông gió tốt.
Thứ hai, yêu cầu về trang thiết bị, tiện nghi bao gồm: chất lượng mỹ thuật các trang
thiết bị trong các khu vực (tiếp tân, buồng, phòng ăn, bếp và các dịch vụ khác) thì phải
đồng bộ chất lượng tốt, bài trí hài hòa, trang trí nội thất hài hòa, đủ ánh sáng, trang
thiết bị đồng bộ; có thảm trải toàn bộ trong buồng ngủ; có điều hòa nhiệt độ ở khu vực
công cộng;từ tầng 3 trở lên có thang máy riêng cho khách, cho nhân viên phục vụ và
hàng hóa; trang thiết bị buồng ngủ như 2 sao nhưng có thêm bàn salon, 2 ghế; bàn
trang điểm, ghế vàti vi cho 100% tổng số buồng; điều hoà nhiệt độ cho 100 % tổng số
buồng; tủ lạnh (mini bar) cho 100% tổng số buồng; thiết bị báo cháy kèm theo đó là
tranh treo tường; bộ đồ ăn hoa quả, dụng cụ mở bia, rượu;mút đánh giầy. Và trang
thiết bị vệ sinh cũng như 2 sao nhưng có thêm bồn tắm nằm (hoặc phòng tắm kính)
cho 50 % tổng số buồng;điện thoại;máy sấy tóc; màn che bồn tắm; mũ tắm; nước gội
đầu; dao cạo râu; bông ngoáy tai; túi ni lông để bỏ giấy vệ sinh phụ nữ.
Thứ ba,yêu cầu các dịch vụ trong khách sạn và mức độ phục vụ. Đối với phục vụ
buồng cần đồng bộ, chất lượng tốt; bài trí hài hoà; đối với buồng ngủ trang trí nội thất
hài hoà, đủ ánh sáng; trang thiết bị đồng bộ. Còn với phục vụ ăn uống thì số giờ phục
vụ ăn, uống, giải khát từ 6 đến 24 giờ;phục vụ ăn uống tại buồng nếu khách có yêu
cầu; các dịch vụ ăn, uống (phục vụ các món ăn Âu, Á, tiệc với số lượng phong phú,
chế biến được các món ăn có kỹ thuật cao, đảm bảo chất lượng tốt; phục vụ nước giải
khát các loại ). Ngoài ra còn có các dịch vụ bổ sung khácnhư 2 sao có thêm : cho thuê
văn hoá phẩm, dụng cụ thể thao; phòng họp; phòng khiêu vũ; dịch vụ xe taxi (có xe ô
tô của khách sạn);các dịch vụbán tem, gửi thư, fax, rửa ảnh, đánh máy, photocopy;
dịch vụ thông tin; điện thoại trong buồng ; bể bơi (vùng biển); xe đẩy cho người tàn tật
Và cuối cùng là yêu cầu về nhân viên phục vụ cần cóchuyên môn, nghiệp vụ, hình
thức và chất lượng phục vụ và thái độ phục vụ tốt. Cụ thể đối với cán bộ quản lý khách
sạn (Giám đốc) cần có trình độ Đại học và đã qua khoá học quản trị kinh doanh khách
sạn hoặc quản lý kinh tế du lịch tối thiểu 6 tháng (nếu không phải là đại học chuyên
ngành); đã tham gia công tác quản lý (từng phần) trong khách sạn tối thiểu 2 năm. Phải
biết một ngoại ngữ thông dụng (bằng C), giao tiếp thông thạo và không có dị tật,
phong cách giao tiếp lịch sự, sang trọng. Còn đối với nhân viên phục vụ thì tỷ lệ được
đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ (trừ những lao động đơn giản) là 100%, với nhân viên

9


10

10

trực tiếp phục vụ biết 1 ngoại ngữ thông dụng ở mức độ thông thạo và có ngoại hình
cân đối, không có dị tật, có khả năng giao tiếp (đặc biệt đối với nhân viên trực tiếp
phục vụ)
1.1.1.2. Khái niệm an toàn-vệ sinh lao động(AT-VSLĐ)
Công tác AT-VSLĐ dựa trên các quy định pháp luật; thông qua việc thực hiện
các chế độ, chính sách, các biện pháp về khoa học kỹ thuật, về tổ chức, hành chính, về
kinh tế- xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất, tạo
nên một điều kiện lao động(LĐ) tiện nghi, thuận lợi và môi trường LĐ ngày càng được
cải thiện tốt hơn nhằm bảo vệ sức khỏe và tính mạng người lao động(NLĐ), góp phần
tăng năng suất LĐ và giảm thiệt hại cho doanh nghiệp(DN) cũng như NLĐ đồng thời
ngăn ngừa tai nạn lao động(TNLĐ) và bệnh nghề nghiệp(BNN), hạn chế ốm đau và
giảm sút sức khỏe cũng như những thiệt hại khác đối với NLĐ.
Trong khách sạn 3 sao, mục tiêu chủ yếu của AT-VSLĐ là cải thiện điều kiện
LĐ, phải xử lý ô nhiễm không khí, nước thải,…tại khu vực hoạt động của khách sạn.
Công tác AT-VSLĐ, vì thế không chỉ là công việc của doanh nghiệp mà của toàn xã
hội.
Các yếu tố gây mất AT-VSLĐ chính là các nhân tố gây nguy hiểm hay còn gọi là
tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
a. An toàn lao động(ATLĐ)
Việc đảm bảo ATLĐ trong khi làm việc chính là làm giảm các yếu tố gây
ngauy hiểm trong quá trình làm việc hay còn gọi là tai nạn lao động(TNLĐ).
TNLĐ có thể được hiểu là tai nạn xảy ra do tác động bởi các yếu tố nguy hiểm,
độc hại trong lao động gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể
NLĐhoặc gây tử vong trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện công việc,
nhiệm vụ lao động, kể cả trong thời gian khác theo quy định của Bộ Luật Lao động
như: nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho
con bú, đi vệ sinh, thời gian chuẩn bị, kết thúc công việc tại nơi làm việc.
TNLĐ xảy ra do hậu quả của sự tác động của các yếu tố nguy hiểm có hại, làm
chết người hoặc làm tổn thương hoặc phá huỷ chức năng hoạt động bình thường của
một bộ phận nào đó của cơ thể. Khi NLĐbị nhiễm độc đột ngột với sự xâm nhập vào cơ
thể một lượng lớn chất độc, có thể gây chết người ngay tức khắc hoặc huỷ hoại chức
năng nào đó của cơ thể thì gọi là nhiễm độc cấp tính và cũng được coi là TNLĐ.
Ngoài ra, những trường hợp sau được coi là TNLĐ: tai nạn xảy ra đối với
NLĐkhi đi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi làm việc đến nơi ở vào thời gian và tại địa

10


11

11

điểm hợp lý (trên tuyến đương đi và về thường xuyên hàng ngày) hoặc tai nạn do
những nguyên nhân khách quan như thiên tai, hoả hoạn và các trường hợp rủi ro khác
gắn liền với việc thực hiện các công việc, nhiệm vụ lao động.
b. Bệnh nghề nghiệp(BNN)
Yếu tố môi trường làm việc ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe của NLĐ. Cụ thể
BNN phản ánh một phần những tác động xấu mà môi trường làm việc gây ra.
Bệnh nghề nghiệp có thể được hiểu là bệnh phát sinh do các yếu tố điều kiện lao
động có hại của nghề nghiệp tác động tới NLĐ theo Danh mục các loại bệnh nghề
nghiệp được bảo hiểm ở Việt Nam do Bộ Y tế ban hành sau khi có sự thỏa thuận của
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng LĐLĐ Việt Nam.
Từ khi tham gia lao động, con người cũng bắt đầu phải chịu ảnh hưởng tác hại
của nghề nghiệp và do đó có thể bị bệnh nghề nghiệp. Các nhà khoa học đều cho rằng
NLĐbị bệnh nghề nghiệp được hưởng các chế độ bù đắp về vật chất, để có thể bù lại
phần nào sự thiệt hại của họ về thu nhập từ tiền công lao động do bị bệnh nghề nghiệp
đã làm mất đi một phần sức lao động. Phải giúp họ khôi phục sức khoẻ và phục hồi
chức năng y học có thể làm được.
Các quốc gia đều công bố danh mục các BNN được bảo hiểm và ban hành
các chế độ đền bù hoặc bảo hiểm. Tổ chức lao động quốc tế đã xếp BNN thành 29
nhóm gồm hàng trăm BNN khác nhau.
1.1.1.3. Khái niệm quản lý an toàn vệ sinh lao động
Quản lý AT-VSLĐ có thể được thực hiện ở cấp nhà nước cũng và ngay tại các
khách sạn. Nhưng do hạn hạn chế trong khả năng nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu
cần tập trung nên chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề thuộc quản lý của
khách sạn.
Xuất phát từ các góc độ khác nhau mà có rất nhiều những quan điểm về quản lý
và chúng tôi xin đưa ra quan điểm chung nhất như sau: Quản lý là sự tác động có tổ
chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử
dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt được mục tiêu đạt
ra trong điều kiện môi trường luôn biến động.
Từ đó ta có thể hiểu quản lý AT-VSLĐ là việc tác động có tổ chức, có hướng
đích của chủ thể quản lý lên các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất,
tạo nên một điều kiện LĐ tiện nghi, thuận lợi và môi trường LĐ ngày càng được cải
thiện tốt hơn nhằm bảo vệ sức khỏe và tính mạng NLĐ, góp phần tăng năng suất LĐ

11


12

12

và giảm thiệt hại cho DN cũng như NLĐ. Đồng thời ngăn ngừa TNLĐ và BNN, hạn
chế ốm đau và giảm sút sức khỏe cũng như những thiệt hại khách đối với NLĐ.
1.1.2. Một số lý thuyết liên quan
1.1.2.1. Các tiêu chuẩn đánh giá an toàn vệ sinh lao động tại khách sạn 3 sao
Mỗi khách sạn có các tiêu chuẩn đánh giá khác nhau nhưng nhìn chung đều có
các tiêu chuẩn như sau:
Đối với nhân viên: Phòng làm việc của người quản lý và các bộ phận chức năng
phải có bảo vệ; phòng trực buồng cần đảm bảo an toàn và các vật dụng luôn được
kiểm tra; phòng thay quần áo đảm bảo tính riêng tư; phòng vệ sinh nam và nữ riêng
tránh tình trạng quấy rối tình dục; phòng tắm phải kín đáo, phòng tắm nữ cần có những
ngăn riêng cho mỗi người; đồng phục chất liệu phải tốt, mát về mùa hè ấm về mùa
đông và không quá gợi cảm.
Đối với môi trường, an ninh, phòng chống cháy nổ và an toàn thực phẩm: an
ninh trật tự phải đảm bảo an toàn tính mạng cho các nhân viên và đảm bảo, can thiệp
kịp thời nếu có sự gây rối của khách hàng; phòng chống cháy nổ phải đảm bảo có hệ
thống báo động, các dụng cụ PCCC đầy đủ; chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
được cấp giấy chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm theo quy định; vệ sinh môi
trường xung quanh đảm bảo không bị ô nhiễm nguồn nước, không khí đảm bảo sức
khỏe cho nhân viên; vệ sinh trang thiết bị đảm bảo hoạt động theo đúng chức năng.
Đối với nhà bếp: dụng cụ và chất tẩy rửa vệ sinh; thiết bị chắn lọc rác, mỡ cho
các chậu rửa trong bếp; thùng rác có nắp; hệ thống thoát nước chìm đảm bảo vệ sinh;
hệ thống hút mùi, thông gió đúng tiêu chuẩn và hoạt động tốt; ánh sáng hoặc chiếu
sáng tốt.
Đối với kho chứa: có kho bảo quản nguyên vật liệu, thực phẩm và thiết bị dự
phòng; có các kho lạnh theo loại thực phẩm; kho cần có hệ thống PCCC tốt, lối thoát
hiểm nhanh chóng để đảm bảo an toàn cho nhân viên kho.
1.1.2.2. Các phương pháp đánh giá an toàn vệ sinh lao động
Để có thể biết được mức độ thực hiện công tác ATVSLĐ các nhà quản lý cần
phải có những phương pháp đánh giá. Mỗi phương pháp lại có những ưu điểm và
nhược điểm khác nhau vì vậy mà nhà quản lý cần dựa vào điều kiện thực tiễn của
khách sạn để có thể áp dụng một cách tối ưu nhất.
a. Các phương pháp chung
`

12

* Đánh giá TNLĐ


13

13

TNLĐ là tai nạn xảy ra do tác động bởi các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong LĐ
gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể NLĐ hoặc gây tử vong
trong quá trình LĐ gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụLĐ, kể cả trong
thời gian khác theo quy định của Bộ Luật Lao động như: nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn
bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, thời gian
chuẩn bị, kết thúc công việc tại nơi làm việc.
TNLĐ xảy ra do hậu quả của sự tác động của các yếu tố nguy hiểm có hại, làm
chết người hoặc làm tổn thương hoặc phá huỷ chức năng hoạt động bình thường của
một bộ phận nào đó của cơ thể. Khi NLĐ bị nhiễm độc đột ngột với sự xâm nhập vào cơ
thể một lượng lớn chất độc, có thể gây chết người ngay tức khắc hoặc huỷ hoại chức
năng nào đó của cơ thể thì gọi là nhiễm độc cấp tính và cũng được coi là TNLĐ.
Ngoài ra, những trường hợp sau được coi là TNLĐ: tai nạn xảy ra đối với NLĐ
khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi làm việc đến nơi ở vào thời gian và tại địa điểm
hợp lý (trên tuyến đương đi và về thường xuyên hàng ngày) hoặc tai nạn do những
nguyên nhân khách quan như thiên tai, hoả hoạn và các trường hợp rủi ro khác gắn
liền với việc thực hiện các công việc, nhiệm vụLĐ.
Theo tình trạng chấn thương, TNLĐ được phân ra là chết người, TNLĐ nặng,
TNLĐ nhẹ. Viên phân loại TNLĐ nặng, nhẹ là căn cứ tình trạng thương tích được ban
hành kèm theo Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT/BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày
8/3/2005 của Liên tịch Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Tổng liên đoàn
Lao động Việt Nam.
Để đánh giá tình hình TNLĐ, người ta sử dụng hệ số "tần suất TNLĐ K" tính
trên 1000 lao động.
K=

n.1000
N

Trong đó:
n: Số người bị TNLĐ;
N: Tổng số người lao động;
K: Được tính cho đơn vị, địa phương hay cho một ngành hoặc chung cho cả nước, nếu
n và N được tính trong đơn vị, địa phương, ngành hoặc trên phạm vi cả nước.
K: là hệ số tần suất TNLĐ chết người, nếu n là số người bị chết do TNLĐ.
Thông qua phân tích hệ số K mà các nhà chuyên môn trong lĩnh vực này có thể
đánh giá được tình hình TNLĐ ở một doanh nghiệp, một ngành hoặc một quốc gia,

13


14

14

cao hay thấp, tăng hay giảm. Hiện nay có một số nước trên thế giới đang đề ra chiến
dịch "K = 0", nghĩa là phấn đấu tiến đến không để xảy ra TNLĐ.
* Đánh giá an toàn thực phẩm
Chế độ kiểm tra định kỳ như sau: 01 lần/03 năm đối cơ sở được cấp chứng chỉ
GMP, GHP, HACCP hoặc hệ thống tương đương. Còn 01 lần/năm và Giấy xác nhận
của các cơ quan kiểm tra nhà nước về chất lượng của các lô hàng thực phẩm đặc biệt
nhập khẩu.
Phương thức lấy mẫu kiểm tra định kỳ. Lấy mẫu hàng hóa nhập vào, thức ăn, đồ
uống đến các phòng phân tích hoặc trung tâm nghiên cứu của Bộ Y tế, sở Y tế của tỉnh
thành phố.Mẫu các sản phẩm để kiểm nghiệm có thể tiến hành tại khách sạn hoặc
khách sạn gửi mẫu đến các phòng thử nghiệm nhưng phải chịu hoàn toàn tính đại diện
của mẫu tự lấy như sau:Đối với các sản phẩm thực phẩm sản xuất trong nước do Bộ Y
tế (Cục An toàn vệ sinh thực phẩm) quản lý cấp số chứng nhận, Trung tâm Y tế dự
phòng tỉnh chịu trách nhiệm kiểm tra định kỳ tại cơ sở sản xuất đóng trên địa bàn có
thể tự lấy mẫu đối với sản phẩm cần bảo quản đặc biệt hoặc niêm phong mẫu để
thương nhân chịu trách nhiệm gửi đi kiểm nghiệm.Sở Y tế phân công, phân cấp kiểm
tra các cơ sở sản xuất trong nước đóng trên địa bàn cho các đơn vị y tế dự phòng tỉnh
và huyện.Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh chịu trách nhiệm kiểm nghiệm, nếu vượt quá
khả năng thì mẫu phải được gửi đến Viện chức năng khu vực hay phòng thử nghiệm
được công nhận để kiểm nghiệm.
Kiểm tra, thanh tra đột xuất. Bộ phận quản lý thanh kiểm tra đột xuất các khâu
nhập hàng, chế biến thức ăn, đồ uống để xem xét về việc vi phạm các quy định về chất
lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm hay không. Để có thể khắc phục và kiểm điểm từng
cá nhân có liên quan.
* Đánh giá việc kiểm tra sức khỏe cho NLĐ
Đánh giá xem khách sạn 3 sao hiện nay có thực hiện việc chăm sóc sức khỏe
cho NLĐtheo quy định tạiThông tư số 19/2011/TT-BYT ngày 05/6/2011 của Bộ Y tế
hướng dẫn thực hiện quản lý vệ sinh lao động, sức khỏe NLĐvà bệnh nghề nghiệp, cu
thể như sau:
Kiểm tra sức khỏe khi tuyển dụng như khám, phân loại sức khỏe trước khi
tuyển và bố trí công việc phù hợp với sức khỏe người lao động và lập hồ sơ quản lý
sức khỏe tuyển dụng của người lao động.
Kiểm tra sức khỏe định kỳ bao gồm: Khám sức khỏe định kỳ hằng năm cho
nhân viên khách sạn, kể cả người học nghề, thực tập nghề. Khám sức khỏe định kỳ 6
tháng 1 lần cho nhân viên khách sạn,quy trình khám sức khỏe định kỳ và việc ghi chép

14


15

15

trong Sổ khám sức khỏe định kỳ, quản lý và thống kê tình hình bệnh tật của NLĐhằng
quý và lập hồ sơ quản lý sức khỏe của người lao động.
Nếu các khách sạn 3 sao thực hiện việc kiểm tra sức khỏe khi tuyển dụng cũng
như kiểm tra sức khỏe định kỳ cho nhân viên theo đúng quy định của bộ Y tế như đã
nêu trên thì việc kiểm tra sức khỏe cho NLĐđược đánh giá là tốt và ngược lại.
* Đánh giá hệ thống quản lý môi trường theo bộ tiêu chuẩn ISO 14000
ISO 14001:2004 Hệ thống quản lý môi trườnglà tiêu chuẩn trong bộ ISO 14000
quy định cụ thể yêu cầu cho một hệ thống quản lý môi trường để cho phép một tổ chức
phát triển và thực hiện chính sách và các mục tiêu môi trường đáp ứng được các yêu
cầu pháp lý và các yêu cầu khác. Mục đích của bộ tiêu chuẩn này là giúp các tổ chức
sản xuất / dịch vụ bảo vệ môi trường ngăn ngừa ô nhiễm và cải tiến liên tục hệ thống
quản lý môi trường của mình để đảm bảo sức khỏe cho nhân viên và tạo môi trường
làm việc tốt hơn.Giúp tổ chức/doanh nghiệp xác định và quản lý các vấn đề môi
trường một cách toàn diện;Chủ động kiểm soát để đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của
pháp luật về môi trường;Phòng ngừa rủi ro, tổn thất từ các sự cố về môi trường. Vì vậy
việc áp dụng bộ tiêu chuẩn ISO 14000 rất có lợi đối với doanh nghiệp.Đánh giá hệ
thống quản lý môi trường của khách sạn: thực hiện thủ tục đánh giá hệ thống quản lý
môi trường và các hoạt động của khách sạn nhằm xác nhận sự tuân thủ với hệ thống
quản lý môi trường và với tiêu chuẩn ISO 14001. Cần báo cáo kết quả đánh giá tới
lãnh đạo cấp cao. Thông thường chu kỳ đánh giá là một năm/ 1 lần nhưng tần suất có
thể thay đổi phụ thuộc vào mức độ quan trọng của các hoạt động.
* Đánh giá theo quy định quản lý của luật
Các khách sạn 3 sao có quy mô lao động nhỏ hơn 300 người. Theo quy định của
luật thì các khách sạn này phải có ít nhất 1 cán bộ chuyên trách về AT-VSLĐ và có
hợp đồng chăm sóc sức khỏe với cơ quan y tế địa phương. Bộ phận AT-VSLĐ có
nhiệm vụ lập kế hoạch AT-VSLĐ và phối hợp với các bộ phận có liên quan để tổ chức
thực hiện các công việc về AT-VSLĐ. Và đề xuất với người sử dụng lao động các biện
pháp quản lý, chăm sóc sức khoẻ lao động. Đề xuất tham gia kiểm tra việc chấp hành
các quy định về AT-VSLĐtrong phạm vi cơ sở lao động. Đề xuất với người sử dụng
lao động biện pháp khắc phục các tồn tại về AT-VSLĐ. Như vậy dựa vào đây chúng ta
có thể đánh giá AT-VSLĐ tại các khách sạn 3 sao dựa vào việc các khách sạn này có
tuẩn thủ theo quy định của luật hay không.
b. Phương pháp WISE(Work Improvement in Small Enterprises)
Dựa trên thựa trạng của các khách sạn 3 sao để cải thiện điều kiện lao động,
tăng năng suấtlao động và hiệu quả sản xuất trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông

15


16

16

qua việc triển khai một số giải pháp hiệu quả với chi phí thấp, dựa trên những kinh
nghiệm của địa phương và của doanh nghiệp. Chúng tôi xin được đưa ra phương pháp
WISE với nội dung như sau:
Nội dung kỹ thuật của phương pháp WISE định huớng tới những giải pháp hơn
là chú ý đến bản thân của vấn đề, đưa ra những kinh nghiệm hay (bằng hình ảnh) làm
điển hình tốt để áp dụng rộng rãi, không có những vấn đề tồn tại được đưa ra để phê
phán.
Nội dung kỹ thuật của WISE được phân theo các chủ đề có liên quan đến
những vấn đề chung của doanh nghiệp vừa và nhỏ về điều kiện lao động và năng suất
lao động. Những chủ đề về kỹ thuật bao gồm:
Thứ nhất, các nguyên tắc về sắp xếp và vận chuyển vật liệu bao gồm: Cải tiến
sắp xếp, vận chuyển vật liệu các trang thiết bị, đồ dùng chất tẩy rửa của các nhân viên
phục vụ buồng được sắp xếp trên các xe đẩy giúp nhân viên có thể mang theo được
những vật dụng cần thiết và làm việc một cách hiệu quả hơn. Đồng thời cũng cần hạn
chế và thu ngắn sự vận chuyển như đối với các nguyên liệu thực phẩm được bảo quản
gần ngay khu vực bếp để có thể tiện cho việc chế biến và thu hẹp thời gian vận chuyển
các nguyên liệu. Hạn chế và tăng hiệu quả cho các thao tác di chuyển ở khách sạn với
các bộ phận khác nhau lại có kho chứa riêng để thuận tiện cho việc phục vụ.
Thứ hai an toàn máy móc là việc bảo đảm an toàn máy móc thiết bị nhằm hạn
chế nguy hiểm do sử dụng máy, không phải là tốn kém mà thông thường có thể còn
tăng năng suất lao động. Những nguy hiểm do sử dụng máy thường tồn tại ở nhiều vị
trí khác nhau khi làm việc.Các giải pháp đảm bảo an toàn máy, thiết bị gồm:.Chọn
mua máy thật an toàn về khả năng hoạt động và sự phù hợp của máy móc đối với việc
sử dụng như máy pha chế cà phê có bị bắn nước ra ngoài không.Sử dụng đúng loại che
chắn đối với các đầu bếp để tránh các loại dầu mỡ thì họ luôn được trang bị mũ, gang
tay, tạp dề. Và thường xuyên bảo trì các trang thiết bị như máy hút bụi, máy thông gió
để máy có thể hoạt động hiệu quả tránh gây lãnh phí.
Thứ ba, thiết kế nơi làm việc phù hợp. Hầu hết các công việc được thực hiện tại
nơi làm việc mà ở đó NLĐ lặp đi, lặp lại một công việc hàng trăm lần mỗi ngày. Vì
vậy, chỉ một sự cải thiện nhỏ sẽ mang lại lợi ích gấp nhiều lần. Vị trí và tư thế làm
việc không hợp lý sẽ làm cho năng suất và chất lượng sản phẩm kém hơn và NLĐ làm
việc sẽ chóng bị mệt mỏi. Các cải thiện đơn giản, sẽ góp phần cải thiện điều kiện lao
động, sức khoẻ người lao động, tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Để
vật liệu, dụng cụ, nút điều khiển ngay tầm với của công nhân để tiết kiệm thời gian và
công sức như tại quầy lễ tân thì các dụng cụ văn phòng phẩm cũng như máy quẹt thẻ,

16


17

17

máy in được bố trí ngăn lắp thuận lợi cho các nhiên viên lễ tân khi làm việc. Cải tiến
tư thế làm việc để đạt hiệu quả cao hơn như đối với các nhân viên phục vụ buồng
trước kia họ phải dùng khăn lau nhưng bây giờ mọi khách snaj đã thay thế bằng các
cây lau nhà để tránh đau lưng cho các nhân viên cũng như giúp công việc trở nên hiệu
quả hơn. Sử dụng các thiết bị để tiết kiệm thời gian và sức lực như các loại xe đẩy
trong việc vận chuyển các loại hàng hóa, dụng cụ. Và nguyên tắc dễ phân biệt để hạn
chế sai sót tại các quầy bar có rất nhiều các loại đồ uống khác nhau để có thuận tiện
trong việc pha chế thì các loại đồ uống này được phân ra các loại có cồn, không cồn
rồi theo từng loại khác nhau nếu không gian quầy bar rộng.
Thứ tư,tổ chức công việc là việc lập kế hoạch và tổ chức cách thức sản xuất phù
hợp có thể tác động lớn đến năng suất lao động, làm cho công việc tiến hành có hiệu
quả và thuận lợi hơn, chất lượng sản phẩm cao hơn, độ linh hoạt cao, giảm thời gian
chết của máy móc, thiết bị; giảm bớt khâu kiểm tra, giám sát... Tổ chức công việc tốt
sẽ tăng sức cạnh tranh của khách sạn, giúp cho các khách sạn nhỏ hơn tồn tại và phát
triển.Nội dung bao gồm: Loại bớt những thao tác hoặc công đoạn thừa.Tránh đơn điệu
để NLĐluôn tỉnh táo như các nhân viên phục vụ bàn có thể tiếp đón khách hoặc thu
dọn bát đĩa đi lại làm cho nhân viên cảm thấy đỡ nhàm chán trong công việc.Thiết lập
ngăn tồn trữ để công việc được thực hiện một cách trôi chảy. Phân công công việc thật
phù hợp, linh hoạt và gắn với trách nhiệm đối với lịch làm việc trong tuần thì các giám
sát nhà hàng lập chúng trước thứ 5 hàng tuần mỗi người có nhiệm vụ riêng và từ đó
làm căn cứ quyết định tới trách nhiệm. Xây dựng các nhóm làm việc theo hình thức tự
quản trong khách sạn sẽ chia thành các bộ phận tới các tổ để có thể tự quản lý. Tổ
chức sản xuất phù hợp với mục tiêu kinh doanh đối với khách sạn 3 sao thì chủ yếu
kinh doanh dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống và một số dịch vụ bổ sung khác như
massage.
Thứ năm là kiểm soát các chất độc hại.Môi trường làm việc bị ô nhiễm sẽ gây
cản trở cho sản xuất, hơn nữa việc tiếp xúc với nhiều chất hoá học có thể gây ra mệt
mỏi, đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, hoa mắt, sưng tấy mắt... dẫn đến suy giảm sức
khoẻ người lao động, giảm năng suất và chất lượng sản phẩm.Có nhiều biện pháp đơn
giản, không tốn kém có thể áp dụng để kiểm soát phần lớn các chất gây nguy
hiểm:Thay thế một chất gây nguy hiểm bằng chất ít gây nguy hiểm hơn ví dụ thay
bằng các chất tẩy rửa thông thường thì khách sạn có thể sử dụng các sản phẩm của
Away tốt cho da tay người dùng.Đảm bảo vệ sinh đối với các loại tẩy rửa trước trong
và sau khi sử dụng để tránh mất vệ sinh an toàn cho nhân viên cũng như khách hàng.
Sử dụng hệ thống quạt gió trong nhà bếp, phòng ở cũng như hành lang trong khách
sạn. Sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân như khẩu trang, gang tay,..để giúp nhân viên

17


18

18

tránh các chất độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe. Không ăn uống tại nơi làm việc tránh
những rủi ro đáng tiếc và hợp vệ sinh.
Thứ sáu là điều kiện chiếu sáng. Chúng ta biết 80% thông tin được thu nhận qua
mắt. ánh sáng kém sẽ làm giảm năng suất lao động và chất lượng sản phẩm cũng như
gây căng thẳng mắt, mệt mỏi và đau đầu cho người lao động. Việc cải thiện điều kiện
chiếu sáng ở doanh nghiệp sẽ làm tăng 10% năng suất lao động và giảm 30% các sai
sót. Sử dụng ánh sáng bên ngoài có thể làm tăng ánh sáng và giảm chi phí về điện.Các
nguyên tắc giúp cải thiện ánh sáng bao gồm:ánh sáng đầy đủ bằng việc tăng cường sử
dụng ánh sáng tự nhiên và sử dụng màu sáng cho tường và trần nhà.Tìm vị trí thích
hợp cho nguồn sáng;tránh chói từ cửa sổ và ánh đèn. Đồng thời thường xuyên bảo trì
nguồn sáng thông qua việc thay và sửa các bóng đèn ở mọi nơi.
Thứ bảy là nơi làm việc có các biện pháp cải thiện ít tốn kém mà vẫn đảm bảo
hiệu quả để tạo ra nơi làm việc tốt hơn sau: Làm tốt thông khí bằng các hệ thống thông
gió; loại trừ hoặc cách ly nguồn ô nhiễm như khu chất rác thải của khách sạn phải ở xa
tầm nhìn của khách và đảm bảo vệ sinh cho khách sạn; xây dựng nơi làm việc thuận
tiện như tại các nhà hàng trong khách sạn có khu vực bếp phục vụ khách tại nhà hàng
vàphòng chống tai nạn do hoả hoạn và điện có thể lắp đặt các bình cứu hỏa tại một số
vị trí trong khách sạn.
Cuối cùng là các dịch vụ và phúc lợi tại nơi làm việc. Các phương tiện phúc lợi
là một phần thiết yếu trong bất kỳ một doanh nghiệp nào. Trong mỗi một ngày làm
việc, NLĐcần nước uống, có chỗ giải khát, ăn giữa ca, rửa tay, đi vệ sinh hay nghỉ
ngơi để phục hồi sức khoẻ tránh mệt mỏi. Đảm bảo các dịch vụ và phúc lợi xã hội là
cần thiết ngay cả khi các điều kiện khác chưa thoả mãn và năng suất lao động chưa
cao. Các dịch vụ và phúc lợi xã hội là điều kiện cơ bản để tăng sức khoẻ, tinh thần,
động lực và sự hài lòng của người lao động; thể hiện văn minh, đạo đức và động lực
của doanh nghiệp.Nội dung bao gồm:Đảm bảo các phương tiện phúc lợi phục vụ đúng
mục tiêu; sẵn sàng cho việc cấp cứu và thu hút lưu giữ công nhân giỏi bằng phương
tiện phúc lợi
1.2. Nội dung quản lý an toàn vệ sinh lao động trong các khách sạn 3 sao
Cũng giống như việc quản lý trong các doanh nghiệp khác các nhà quản trị
trong khách sạn cũng tiến hành quy trình quản lý ATVSLĐ theo 5 bước: chính sách,
lập kế hoạch thực hiện, tổ chức triển khai kế hoạch, đánh giá va hành động cải thiện.
1.2.1. Tổ chức bộ máy quản lý
Tổ chức bộ máy và phân công trách nhiệm tại các khách sạn 3 sao được thể hiện
theo sơ đồ dưới đây:

18


19

19

Công đoàn

NSDLĐĐ
Hội đồng AT-VSLĐ

Khối trực tiếp phục vụ
Quản đốc
Tổ trưởng
An toàn vệ sinh
Người lao động
Khối phòng ban

19

Công đoàn bộ phận (Tổ công đoàn)


20

20

Sơ đồ 1.1. Bộ máy AT-VSLĐ tại các khách sạn 3 sao
Quan hệ giữa công đoàn với chuyên môn
Quan hệ chỉ đạo trực tiếp
Hội đồng BHLĐ kiểm tra khối trực tiếp sản xuất
Tư vấn
Hội đồng BHLĐ ở các khách sạn 3 sao là tổ chức tư vấn về các hoạt động ATVSLĐ ở cơ sở LĐ và để bảo đảm quyền được tham gia và kiểm tra giám sát về công
tác BHLĐ, AT-VSLĐ của tổ chức công đoàn. Đối với khách sạn có tổng số lao động
trực tiếp trên 1.000 người thì phải thành lập Hội đồng BHLĐ. Đối với các khách sạn
khác thì có thể thành lập Hội đồng BHLĐ, nếu thấy cần thiết và đủ điều kiện để hoạt
động.
Số lượng thành viên Hội đồng BHLĐ tuỳ thuộc vào số lượng LĐ và quy mô
của khách sạn nhưng không quá 09 người và phải bảo đảm các quy định sau: đại diện
người sử dụng lao động làm Chủ tịch Hội đồng; đại diện của Ban chấp hành công đoàn
cơ sở hoặc đại diện NLĐ nơi chưa có tổ chức công đoàn làm Phó chủ tịch Hội đồng;
trưởng bộ phận hoặc cán bộ AT-VSLĐ của cơ sở là uỷ viên thường trực kiêm thư ký
Hội đồng; nếu cán bộ AT-VSLĐ là hợp đồng thuê từ tổ chức khác thì ủy viên thường
trực kiêm thư ký Hội đồng sẽ do người sử dụng LĐ chỉ định.
Hội đồng BHLĐ tham gia, tư vấn với người sử dụng LĐ và phối hợp các hoạt
động trong việc xây dựng quy chế quản lý, chương trình hành động, kế hoạch ATVSLĐ và các biện pháp AT-VSLĐ, cải thiện điều kiện LĐ, phòng ngừa tai nạn LĐ và
BNN của cơ sở LĐ; Tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện công tác AT-VSLĐ ở cơ sở
LĐ theo định kỳ 6 tháng và hằng năm. Trong kiểm tra, nếu phát hiện thấy nguy cơ mất
an toàn, có quyền yêu cầu người sử dụng LĐ thực hiện các biện pháp loại trừ nguy cơ
đó.
1.2.2. Tổ chức thực hiện an toàn vệ sinh lao động trong các khách sạn 3 sao
Cũng giống như việc quản lý các yếu tố khác việc quản lý ATVSLĐ trong
khách sạn được các nhà quản trị tiến hành theo 5 bước: chính sách, lập kế hoạch thực
hiện, tổ chức triển khai kế hoạch, đánh giá và hoạt động cải thiện.
1.2.2.1. Chính sách quản lý an toàn vệ sinh lao động trong các khách sạn 3 sao
Công tác vệ sinh, an toàn lao động là một trong những tiêu chí rất quan trọng và
tiên quyết trong hoạt động của khách sạn. Với tiêu chí đó các khách sạn luôn có kế
hoạch cụ thể để đánh giá về những điều kiện an toàn, VSLĐ và chăm sóc sức khỏe cho

20


21

21

người lao động cũng như có các giải pháp kịp thời để có thể giải quyết những vấn đề
gặp phải.
Để có thể thực hiện tốt công tác quản lý AT-VSLĐ thông thường các khách sạn
căn cứ theo các yếu tố sau:
Thứ nhất là chi phí công tác AT-VSLĐ năm trước, nhiệm vụ, phương hướng kế
hoạch sản xuất kinh doanh và tình hình lao động của năm kế hoạch, mục tiêu của công
tác quản lý AT-VSLĐ. Các nhà quản lý cần xác định chính xác các chi phí và kế
hoạch thực hiện công tác AT-VSLĐ để có thể đem lại hiệu quả cao với chi phí thấp
nhất.
Thứ hai là những thiếu sót tồn tại trong công tác AT-VSLĐ được rút ra từ các
sự cố, vụ tai nạn LĐ, cháy nổ, BNN, các báo cáo kiểm điểm việc thực hiện công tác
AT-VSLĐ năm trước. Từ đó có thể giảm thiểu được các yếu tố nguy hiểm trog quá
trình làm việc của người lao động.
Thứ ba là các kiến nghị của NLĐ, của tổ chức công đoàn và các đoàn thanh tra
kiểm tra. Họ chính là những người hiểu rõ nhất tình hình về AT-VSLĐ trong khách
sạn và cũng là đối tượng mà nhà quản lý cần quan tâm chăm sóc đến đời sống vật chất
và tinh thần của họ.
Cuối cùng là các quy định của pháp luật hiện hành về AT-VSLĐ, BHLĐ. Các
quy định nhằm bảo đảm và thúc đẩy thực hiện công tác ATVSLĐ: Phân công trách
nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về ATVSLĐ. Hướng dẫn việc tổ chức thực
hiện công tác ATVSLĐ cấp cơ sở (bao gồm cả trách nhiệm và quyền hạn của NSDLĐ,
NLĐ). Chương trình, nội dung cụng tỏc huấn luyện, đào tạo về ATVSLĐ. Thanh tra,
kiểm tra về ATVSLĐ. Khai bổ, Điều tra, thống kê, bỏo cỏo TNLĐ, bệnh nghề nghiệp.
Thông tin về ATVSLĐ. Xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về ATVSLĐ. Khen
thưởng việc thực hiện tốt công tác ATVSLĐ.

21


22

22

22


23

23

Chế độ, chính sách cho NLĐ

Chế độ đối với lao động đặc thù

23


24

24

Sơ đồ 1.2. Các nội dung quy định về công tác AT-VSLĐ
1.2.2.2. Lập kế hoạch thực hiện an toàn vệ sinh lao động trong các khác sạn 3 sao
Kế hoạch AT-VSLĐ phải bao gồm cả nội dung, biện pháp, kinh phí, thời gian
hoàn thành, phân công tổ chức thực hiện Đối với các công việc phát sinh trong năm kế
hoạch phải được xây dựng kế hoạch bổ sung phù hợp với nội dung công việc. Kinh phí
trong kế hoạch AT-VSLĐ được hạch toán vào chi phí hoạt động thường xuyên, chi phí sản
xuất kinh doanh của cơ sở lao động và là chi phí hợp lý khi tính thuế, nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp theo quy định hiện hành của pháp luật về Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Nội dung của kế hoạch AT-VSLĐ ít nhất phải có các thông tin sau:
a. Các biện pháp về kỹ thuật an toàn và phòng chống cháy nổ
Chế tạo, sửa chữa, mua sắm các thiết bị, bộ phận, dụng cụ nhằm mục đích che,
chắn, hãm, đóng, mở các máy, thiết bị, bộ phận, công trình, khu vực nguy hiểm, có
nguy cơ gây sự cố, TNLĐ; Các giá để nguyên vật liệu, thành phẩm; Hệ thống chống
sét, chống rò điện; Các thiết bị báo động bằng màu sắc, ánh sáng, tiếng động; Đặt biển
báo;Mua sắm, sản xuất các thiết bị, trang bị phòng cháy, chữa cháy;Tổ chức lại nơi
làm việc phù hợp với người lao động; Di chuyển các bộ phận sản xuất, kho chứa các
chất độc hại, dễ cháy nổ ra xa nơi có nhiều người qua lại; Kiểm định máy, thiết bị, vật
tư có yêu cầu nghiên ngặt về AT-VSLĐ; Các biện pháp khác phù hợp với tình hình
thực tế của cơ sở.
b. Các biện pháp về kỹ thuật VSLĐ phòng chống độc hại, cải thiện điều kiện lao động,
bảo vệ môi trường
Lắp đặt các quạt thông gió, hệ thống hút bụi, hút hơi khí độc; Nâng cấp, hoàn thiện
làm cho nhà xưởng thông thoáng, chống nóng, ồn và các yếu tố độc hại lan truyền;
Xây dựng, cải tạo nhà tắm; Lắp đặt máy giặt, máy tẩy chất độc; Đo đạc các yếu tố môi
trường lao động; Thực hiện việc xử lý chất thải nguy hại; Nhà vệ sinh;Các biện pháp
khác phù hợp với tình hình thực tế của cơ sở.
c. Mua sắm trang thiết bị bảo vệ cá nhân
Dây an toàn; mặt nạ phòng độc; tất chống lạnh; tất chống vắt; ủng cách điện; ủng
chịu xít; mũ bao tóc, mũ chống chấn thơng sọ não; khẩu trang chống bụi; bao tai
chống ồn; quần áo chống phóng xạ, chống điện từ trường, quần áo chống rét, quần áo
chịu nhiệt v.v. . .
Các trang thiết bị khác phù hợp với tình hình thực tế của cơ sở.
d. Chăm sóc sức khoẻ người lao động

24


25

25

Khám sức khoẻ khi tuyển dụng; Khám sức khoẻ định kỳ; Khám phát hiện bệnh
nghề nghiệp; Bồi dưỡng bằng hiện vật; Điều dưỡng và phục hồi chức năng cho người
lao động;...
e. Tuyên truyền giáo dục, huấn luyện về AT-VSLĐ
Tổ chức huấn luyện về AT-VSLĐcho người sử dụng lao động, người lao động;
Chiếu phim, tham quan triển lãm AT-VSLĐ; Tổ chức thian toàn vệ sinh viên giỏi; Tổ
chức thi viết, thi vẽ đề xuất các biện pháp tăng cờng công tác AT-VSLĐ; Kẻ pa nô, áp
phích, tranh ATLĐ; mua tài liệu, tạp chí AT-VSLĐ; Phát các bản tin về AT-VSLĐtrên
các phương tiện truyền thông của cơ sở lao động; Các biện pháp, hình thức tuyên
truyền giáo dục, huấn luyện về AT-VSLĐ khác phù hợp với tình hình thực tế của cơ
sở.
1.2.2.3. Tổ chức triển khai kế hoạch

BVCN

Xây dựng và hoàn chỉnh các chính sách AT-VSLĐ áp dụng phương pháp quản
lý theo quá trình để thiết lập các biện pháp kiểm tra hoạt động của các bộ phận

Điều phối các nguồn lực một cách hợp lý đảm bảo cho việc thực hiện ATVSLĐ đạt hiệu quả
Tổ chức tốt dòng thông tin từ dưới cơ sở, các bộ phận phòng ban để để nắm bắt
kịp thời và xử lý những sự cố trong AT-VSLĐ.
b. Đối với nhà quản trị cấp cơ sở, các phòng ban chức năng

Tổ chức triển khai hoạt động của bộ phận mình phụ trách theo đúng kế hoạch
về thời gian và đảm bảo chất lượng. Trưởng các bộ phận phòng không trực tiếp quản
lý AT-VSLĐ cần kiểm tra đôn đốc trong triển khai các công việc phục vụ kế hoạch

25

Trang bị PT BVCN

Bồi dưỡng hiện vật

Đôn đốc các bộ phận triển khai kế hoạch AT-VSLĐ

Bồi thường, trợ cấp TNLĐ, BNN

a. Đối với nhà quản trị cấp cao

Quản lý sức khỏe (Khám sức khỏe, khám BNN...)

Nhiệm vụ tổ chức triển khai kế hoạch phải được phân định rõ cho các bộ phận
chức năng theo kế hoạch. Ngay sau khi kế hoạch AT-VSLĐ được phê duyệt cán bộ
phòng, ban được người sử dụng lao động giao nhiệm vụ phải phối hợp với bộ phận
AT-VSLĐ và bộ phận y tế để tổ chức triển khai, đồng thời đôn đúc kiểm tra việc thực
hiện. Vấn đề tổ chức triển khai chính là nhiệm vụ quản lý theo quá trình của các nhà
quản trị. Trong đó lãnh đạo doanh nghiệp cần căn cứ vào mục tiêu kế hoạch để phân
định theo tháng, quý, năm hay là kỳ tổ chức. Việc thực hiện kế hoạch AT-VSLĐ phải
được kiểm điểm, đánh giá và thông báo kết quả cho NLĐtrong cơ sở lao động biết.
Theo đó các cấp quản trị cũng như các phòng ban cần làm tốt các nhiệm vụ sau đây:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×