Tải bản đầy đủ

Tình hình thực tế quản lí thu thuế giá trị gia tăng ở khu vực kinh tế cá thể trên địa bàn quận ba đình

www.luanvan.online

LỜI NÓI ĐẦU

Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, là công cụ quan
trọng để phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân.
Như vậy, có thể thấy rằng Thuế là một biện pháp kinh tế của mọi Nhà nước. Song
để biện pháp đó đạt hiệu quả sẽ rất cần đến một bộ phận chuyên trách, chất lượng
trong quá trình quản lý và hành thu.
Nhận thức được điều này, đồng thời để bắt nhịp được với bước chuyển
biến về cơ cấu, thành phần kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi cải cách hệ
thống Thuế bước hai. Trong đó, nổi bật nhất là việc thay thế 2 sắc thuế Doanh thu
và thuế Lợi tức bằng thuế Giá trị gia tăng và thuế Thu nhập doanh nghiệp được
thông qua tại kỳ họp thứ 11 và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1999. Đây là bước đi vô
cùng quan trọng, thể hiện sự mạnh dạn của Đảng ta trong công cuộc đổi mới nền
kinh tế. Tuy nhiên sự khởi đầu nào cũng đều có những chắc trở không thể tránh
khỏi, nhất là ở khu vực kinh tế cá thể cả nước nói chung và đặc biệt ở Quận Ba
Đình nói riêng. Để có thể tháo gỡ được những khó khăn này và tìm ra hướng đi
mới là cả một vấn đề nan giải đối với Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế và các cơ
quan hữu quan.
Quận Ba Đình là một trong 7 Quận nội thành của thành phố Hà nội.

Quận Ba Đình không rộng về diện tích nhưng có nhiều trụ sở, cơ quan trung ương
của Đảng, chính phủ, các cơ quan ngoại giao, đại sứ quán. Tuy nhiên hoạt động
sản xuất kinh doanh ở đây cũng rất phong phú. Qua thời gian thực tập ở Chi cục
Thuế quận Ba đình, được sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo và các cán bộ
công tác tại Chi cục, tôi đã đi sâu nghiên cứu và phân tích tình hình thực tế quản
lí thu thuế giá trị gia tăng ở khu vực kinh tế cá thể trên địa bàn Quận Ba
đình trong những tháng đầu triển khai luật thuế mới này.Từ đó cũng xin được đưa

Luanvan.online

Page 1


www.luanvan.online
ra một số phương hướng nhằm tăng cường công tác quản lí thu thuế giá trị gia
tăng ở khu vực kinh tế cá thể, góp phần tăng thu cho Ngân sách nhà nước.
Bắt nguồn từ những lí do trên nên đề tài có tên gọi là: “Bàn về công tác
quản lí thu thuế giá trị gia tăng ở khu vực kinh tế cá thể trên địa bàn quận Ba
đình" .
Toàn bộ đề tài được trình bày theo kết cấu sau:
Phần I: Sự cần thiết phải quản lý thuế giá trị gia tăng đối với thành phần
kinh tế cá thể hiện nay.
Phần II: Tình hình quản lý thu thuế giá trị gia tăng ở khu vực kinh tế cá
thể trên địa bàn quận Ba đình trong quý I năm 2003
Phần III: Một số phương hướng tăng cường quản lý thu thuế giá trị gia
tăng ở khu vực kinh tế cá thể ở quận Ba đình.
Vì thời gian thực tập và trình độ hạn hẹp nên bài viết không thể tránh khỏi
khiếm khuyết, sai sót. Rất mong được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô, các cán
bộ thuế và những người quan tâm.
Xin chân thành cảm ơn.

Luanvan.online

Page 2


www.luanvan.online

MỤC LỤC
PHẦN I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ

GIA TĂNG ĐỐI VỚI THÀNH PHẦN KINH TẾ CÁ THỂ HIỆN
NAY.
1. THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:
1.

Khái niệm, đặc điểm của thuế.

2.

Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường.

2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ÁP DỤNG THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở NƯỚC
TA HIỆN NAY:
1.

Sự cần thiết phải áp dụng thuế Giá trị gia tăng thay cho thuế

Doanh thu.

I.

2.

Thuế Giá trị gia tăng và những ưu điểm nổi bật.

3.

Nội dung cơ bản của luật thuế giá trị gia tăng.

Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA

TĂNG ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ CÁ THỂ:
1.

Vị trí, vai trò của kinh tế cá thể trong nền kinh tế thị

trường.
2.

Ý nghĩa của việc tăng cường quản lý thuế giá trị gia tăng đối với

khu vực kinh tế cá thể.

PHẦN II: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ
GIA TĂNG Ở KHU VỰC KINH TẾ CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN BA ĐÌNH QUÝ I NĂM 2003.
Luanvan.online

Page 3


www.luanvan.online

I.

ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ THU

THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH:

II.

1.

Một số nét về đặc điểm kinh tế xã hội.

2.

Công tác tổ chức bộ máy thu thuế trên địa bàn quận Ba Đình.

TÌNH HÌNH QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VỚI CÁC

HỘ KINH TẾ CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH TRONG
NHỮNG THÁNG ĐẦU THỰC HIỆN LUẬT THUẾ MỚI:
1.

Quản lý đối tượng nộp thuế.

2.

Quản lý căn cứ tính thuế.

3.

Quản lý khâu thu nộp tiền thuế.

PHẦN III: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ Ở KHU VỰC KINH
TẾ CÁ THỂ TẠI QUẬN BA ĐÌNH.
I.

QUẢN LÍ ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ:
3.

Quản lý những hộ đã quản lý được .

4.

Quản lý những hộ chưa quản lý được.

II.

QUẢN LÝ VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ:

III.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THU NỘP TRÊN THUẾ:
1.

Công tác xây dựng kế hoạch.

2.

Công tác đôn đốc thu nộp thuế.

Luanvan.online

Page 4


www.luanvan.online
3.
I.

Công tác kiểm tra và thanh tra thuế.

CÁC BIỆN PHÁP VỀ TỔ CHỨC CÁN BỘ:
1.

Chấn chỉnh bộ máy hoạt động của Chi cục thuế Quận Ba Đình.

2.

Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ một cách có hệ thống.

3.

Có chính sách về lương thoả đáng đối với cán bộ thuế.

4.

Tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cơ quan thuế và các cấp, các

ngành có liên quan.
IV.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHÁC:
1.

Từng bước đưa khoa học kỹ thuật vào quản lý thu thuế như ứng

dụng công cụ tin học.
2.

Làm thay đổi thói quen của người dân về việc sử dụng hoá đơn,

chứng từ.
3.

Kiến nghị về văn bản luật, chính sách của Nhà nước.

PHẦN I
SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ THUẾ GIÁ
TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI THÀNH PHẦN KINH
TẾ CÁ THỂ.
II.

THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG:

1.

Khái niệm, đặc điểm của Thuế:

Luanvan.online

Page 5


www.luanvan.online
Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước và sự phát triển tồn
tại của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ. Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ
để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình. Lịch sử
càng phát triển, các hệ thống thuế khoá, các hình thức thuế khoá và pháp luật
thuế ngày càng đa dạng và hoàn thiện cùng với sự phát triển của kinh tế thị
trường, các khoản đóng góp của người dân cho Nhà nước được xác định và
được quy định công khai bằng luật pháp của Nhà nước .
Các khoản thuế đóng góp của dân tạo thành quỹ tiền tệ của Nhà nước.
Cùng với sự hoàn thiện chức năng của Nhà nước, phạm vi sử dụng quỹ tiền tệ
của Nhà nước ngày càng mở rộng. Nó không chỉ đảm bảo chi tiêu để duy trì
quyền lực của bộ máy Nhà nước, mà còn để chi tiêu cho các nhu cầu phúc lợi
chung và kinh tế. Như vậy gắn liền với Nhà nước, thuế luôn là một vấn đề thời
sự nóng bỏng đối với các hoạt động kinh tế xã hội và với mọi tầng lớp dân cư.
Có rất nhiều các quan điểm nhìn nhận thuế dưới nhiều hình thức khác
nhau, nhưng đứng trên góc độ tài chính, có thể xem xét thuế dưới khái niệm
như sau:
Thuế là một trong những biện pháp tài chính bắt buộc nhưng phi hình
sự của Nhà nước nhằm động viên một số bộ phận thu nhập từ lao động, từ
của cải, từ vốn, từ các chi tiêu hàng hoá và dịch vụ, từ tài sản của các thể
nhân và pháp nhân nhằm tập trung vào tay Nhà nước để trang trải các
khoản chi phí cho bộ máy nhà nước và các nhu cầu chung của xã hội. Các
khoản động viên qua thuế được thể chế hoá bằng luật.
Với nhận thức như vậy, có thể thấy rõ sự khác nhau giữa thuế với các
hình thức phân phối khác dựa trên những đặc điểm chủ yếu sau đây:

• Đặc điểm thứ nhất : Thuế là một biện pháp tài chính của
Nhà nước mang tính quyền lực, tính cưỡng chế, tính pháp lý cao nhưng
sự bắt buộc này là phi hình sự.

Luanvan.online

Page 6


www.luanvan.online
Quá trình động viên nguồn thu từ thuế của Nhà nước là quá trình chuyển
đổi quyền sở hữu một bộ phận thu nhập của các pháp nhân và thể nhân thành
quyền sở hữu của Nhà nước. Do đó Nhà nước phải dùng quyền lực để thực
hiện quyền chuyển đổi. Tính quyền lực tạo nên sự bắt buộc là một tất yếu
khách quan, nhưng vì các hoạt động thu nhập của thể nhân và pháp nhân
không gây cản trở cho xã hội nên tính bắt buộc này là phi hình sự. Vì vậy có
thể nói việc đánh thuế không mang tính hình phạt.
Đặc điểm này được thể chế hoá trong hiến pháp của mọi quốc gia, việc
đóng góp thuế cho nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc
đối với công dân. Mọi công dân làm nghiã vụ đóng thuế theo những luật thuế
được cơ quan quyền lực tối cao quy định và nếu không thi hành sẽ bị cưỡng
chế theo những hình thức nhất định.
* Đặc điểm thứ hai: Thuế tuy là biện pháp tài chính của Nhà nước mang
tính bắt buộc, song sự bắt buộc đó luôn luôn được xác lập trên nền tảng kinh
tế-xã hội của người làm nhiệm vụ đóng thuế, do đó thuế bao giờ cũng chứa
đựng các yếu tố kinh tế xã hội.
+ Yếu tố kinh tế thể hiện : Hệ thống thuế trước hết phải kể đến thu nhập
bình quân đầu người của một Quốc gia, cơ cấu kinh tế, thực tiễn vận động của
cơ cấu kinh tế đó, cũng như chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước. Cùng
với yếu tố đó còn phải kể đến phạm vi, mức độ chi tiêu của Nhà nước nhằm
thực hiện các chức năng kinh tế của mình.
+ Yếu tố xã hội thể hiện : Hệ thống thuế phải dựa trên phong tục, tập
quán của quốc gia, kết cấu giai cấp cũng như đời sống thực tế của các thành
viên trong từng giai đoạn lịch sử. Mặt khác thuế còn thực hiện phân phối lại
thu nhập xã hội đảm bảo công bằng xã hội.

Luanvan.online

Page 7


www.luanvan.online
Như vậy mức động viên qua thuế trong GDP của một quốc gia phụ
thuộc vào nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các vấn đề kinh tế, xã hội của
quốc gia đó.
* Đặc điểm thứ ba: Thuế là một khoản đóng góp không mang tính chất
hoàn trả trực tiếp. Nghiã là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế
không đòi hỏi phải hoàn trả đúng bằng số lượng và khoản thu mà nhà nước thu
từ công dân đó như là một khoản vay mượn. Nó sẽ được hoàn trả lại cho người
nộp thuế thông qua cơ chế đầu tư của Ngân sách nhà nước cho việc sản xuất
và cung cấp hàng hoá công cộng.
Đặc điểm này làm nổi rõ sự khác nhau giữa thuế và lệ phí. Lệ phí được
coi là một khoản đối giá giữa Nhà nước với công dân, khi công dân thừa
hưởng những dịch vụ công cộng do nhà nước cung cấp phải trả một phần thu
nhập của mình cho nhà nước. Tuy nhiên việc trao đổi này thường không tuân
thủ theo hình thức trao đổi ngang giá dựa trên quy luật của thị trường.
Tóm lại, Thuế là một biện pháp kinh tế của mọi Nhà nước, nó được thực
thi khi hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập hoặc sử dụng nguồn thu nhập tạo ra.
Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường vai trò của Nhà nước ngày càng trở nên
quan trọng thì vai trò của thuế cũng chiếm vị trí không thể thiếu được trong
công tác quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

2. Vai trò của Thuế trong nền kinh tế thị trường:
Sử dụng cơ chế thị trường để giải quyết 3 vấn để cơ bản của nền kinh tế
(sản xuất cái gì, như thế nào, cho ai) là phát kiến vĩ đại của nhân loại, cơ chế
thị trường thông qua những yếu tố của nó đã tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất
phát triển, kích thích tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hiệu quả,

Luanvan.online

Page 8


www.luanvan.online
thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung
hoá sản xuất.
Bên cạnh những ưu điểm đó, cơ chế thị trường có nhược điểm là gây cho
xã hội những lãng phí về lao động, tài nguyên, vốn dẫn đến độc quyền thủ tiêu
cạnh tranh. Với cơ chế phân phối qua thị trường thường khoét sâu hố ngăn
cách giữa người giầu và người nghèo, tạo sự bất ổn định về kinh tế xã hội.
Từ những ưu, nhược điểm đó cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước
vào quá trình kinh tế -xã hội để phát huy những mặt tích cực của cơ chế thị
trường và hạn chế tối đa những nhược điểm của chúng. Để quản lý, điều hành
vĩ mô nền kinh tế xã hội, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ như: Kế hoặch hoá,
pháp luật, các chính sách tài chính tiền tệ..vv.. Trong các công cụ trên thì
chính sách tài chính tiền tệ đóng vai trò quan trọng nhất và Thuế là một công
cụ quan trọng trong chính sách tài chính tiền tệ, thuế được nhà nước sử dụng
để thực hiện vai trò quản lý vĩ mô kinh tế xã hội.
Có thể thấy rõ vai trò của Thuế nổi bật ở các mặt sau:
* Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước:
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào

nguồn thu

từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều
được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như:
vay mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác..vv.. Song
thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi
nhiều điều kiện. Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản
thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu
này càng tăng. Ở nước ta, Thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân

Luanvan.online

Page 9


www.luanvan.online
sách Nhà nước từ năm 1990. Điều này được thể hiện qua tỷ trọng số thuế trong
tổng thu ngân sách .
Biều 1: Tình hình tỉ lệ thuế và phí trong tổng thu ngân sách nhà nước ta
trong thời gian qua ( Tài liệu của Tổng cục thuế ).
Năm

Tổng số thuế và phí

% So với tổng thu

% So với GDP

1990
1991
1992
1993
1994

( tỷ đồng)
5906
9844
18514
28695
36629

NSNN
73.7
92.7
88.0
90.5
89.6

14.0
12.83
16.75
21.0
21.51

Qua biểu trên ta thấy số thu thuế và phí đã chiếm phần chủ yếu trong
tổng thu NSNN và tăng nhanh qua các năm, đã bảo đảm về cơ bản yêu cầu chi
thường xuyên ngày càng tăng của NSNN, giảm bội chi ngân sách, giảm lạm
phát, từng bước góp phần ổn định trật tự xã hội, giành một phần để tăng chi
cho tích luỹ. Như vậy, chứng tỏ thuế là nguồn thu quan trọng nhất của NSNN.
* Thuế, một công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của
Nhà nước:
Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần
cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng
việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản
xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát
triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt
mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.

Luanvan.online

Page 10


www.luanvan.online
Ngày nay, hướng vào việc xử lý các mục tiêu của kinh tế vĩ mô là nhiệm
vụ trọng tâm của mọi chính phủ. Sự thành công hay thất bại của việc quản lý
Nhà nước, nền kinh tế là giải quyết các mục tiêu của kinh tế vĩ mô. Trong nền
kinh tế thị trường hiện đại, người ta thường xác định 4 mục tiêu cơ bản của
kinh tế vĩ mô mà mọi chính phủ phải theo đuổi. Bốn mục tiêu đó là:
- Đảm bảo thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý .
- Tạo được công ăn việc làm đầy đủ cho người lao động.
- Ổn định giá cả, tiền tệ, chống lạm phát.
-Thực hiện sự cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Với 4 mục tiêu trên ta có thể thấy rõ Thuế là một công cụ hết sức quan
trọng nhằm biến 4 mục tiêu đó thành hiện thực.
1. Thuế kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc

làm:

Để thực hiện các mục tiêu này, một trong những công cụ quan trọng mà
nhà nước sử dụng là chính sách thuế. Nội dung điều tiết của thuế gồn hai mặt:
Kích thích và hạn chế. Nhà nước đã sử dụng chính sách thuế một cách linh
hoạt trong từng thời kỳ nhất định, bằng việc tác động vào cung-cầu nhằm điều
chỉnh chu kỳ kinh doanh- một đặc trưng vốn có của nền kinh tế thị trường.
Khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi đầu tư ngừng trệ, sản xuất và tiêu
dùng đều giảm thì nhà nước dùng thuế để kích thích đầu tư và khuyến khích
tiêu dùng.
-

Bằng việc giảm thuế đánh vào sản xuất, giảm thuế đối với hàng sản
xuất ra để khuyến khích tạo lợi nhuận, kích thích việc đầu tư vào sản
xuất.

Luanvan.online

Page 11


www.luanvan.online
-

Bằng việc giảm thế đánh vào tiêu dùng nhằm khuyến khích tiêu
dùng.

-

Để hạn chế và gây áp lực đối với việc lưu giữ vốn không đưa vào
đầu tư, có thể tăng thuế đánh vào thu nhập về tiền gửi tiết kiệm và
thu nhập về tài sản dự trữ, từ đó sẽ khuyến khích việc đưa vốn vào
đầu tư, sản xuất kinh doanh.
Khi nền kinh tế hưng thịnh, để ngăn chặn nguy cơ một nền kinh tế

“nóng” phát triển dẫn đến lạm phát và khủng hoảng thừa thì nhà nước dùng
thuế để giảm tốc độ đầu tư ồ ạt và giảm bớt mức tiêu dùng của xã hội. Song
việc tăng thuế phải được xem xét trong một giới hạn cho phép để đảm bảo vừa
tăng nguồn thu cho NSNN vừa điều chỉnh cơ cấu ngành nghề hợp lý.
Như vậy, có thể thấy sự tác động của thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền
kinh tế, đến việc điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước. Thông qua thuế,
Nhà nước thực hiện định hướng phát triển sản xuất. Chính sách thuế có định
hướng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các
ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã hội và
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường xảy ra các chu kỳ
kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và tỷ lệ
lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm,
lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững là hướng
phấn đấu nỗ lực của mọi chính phủ nhằm san bằng chu kỳ kinh doanh, đưa giá
cả về mức ổn định.
2. Thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính, góp
phần đảm bảo công bằng xã hội:

Luanvan.online

Page 12


www.luanvan.online
Kinh tế thị trường làm ra tăng sự phân hoá giàu nghèo, sự phân hoá này
có những khi bất hợp lý và làm giảm tính hiệu quả kinh tế-xã hội. Do vậy, cần
phải có những biện pháp phân phối lại của cải xã hội nhằm hạn chế sự phân
hoá này, làm lành mạnh xã hội.
Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa người giàu và
người nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cộng.
Thông qua thuế thu nhập, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong
lĩnh vực tiền lương và thu nhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới
công bằng xã hội. Một khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh
thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu dùng: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
Giá trị gia tăng.
Với những hàng hóa dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho
người nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt. Trái lại
những mặt hàng xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ
phận thu nhập của người giàu trong xã hội. Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ
thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng
điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh và giảm khả
năng tăng trưởng kinh tế của đất nước.
3. Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát:
Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá
tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng. Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm
phát, ổn định giá cả thị trường. Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nước dùng thuế
để điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu
nhập để kích thích đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn.
Đồng thời tăng thuế đối với hàng hoá tiêu dùng để giảm bớt cầu. Nếu lạm phát

Luanvan.online

Page 13


www.luanvan.online
do chi phí tăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá
cả đầu vào tăng, nhà nước dùng thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách cắt giảm
thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng năng suất lao động.
4. Thuế góp phần bảo hộ sản xuất trong nước và tạo điều
kiện hoà nhập nền kinh tế thế giới:
Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước tránh khỏi sự cạnh tranh
khốc kiệt từ bên ngoài được coi là hết sức cần thiết đối với các nước. Điều này
được thể hiện rõ nét thông qua thuế xuất nhập khẩu. Để kích thích sản xuất
trong nước phát triển, kích thích sản xuất hàng hoá xuất khẩu, nhà nước đánh
thuế rất thấp hoặc không đánh thuế vào hàng xuất khẩu. Khuyến khích xuất
khẩu hàng hoá đã qua chế biến, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô. Đánh thuế
nhập khẩu thấp đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước chưa sản xuất
được và đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong
nước đã sản xuất được hoặc hàng hoá tiêu dùng xa xỉ.
Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế đang phát triển mạnh mẽ ở trong
khu vực và trên thế giới. Sự ưu đãi, các hiệp định về thuế, tính thông lệ quốc tế
của chính sách thuế có thể làm gia tăng sự hoà nhập kinh tế giữa một số quốc
gia với khu vực và cộng đồng quốc tế.
Trước sự đổi mới mạnh mẽ của cơ chế thị trường đòi hỏi hàng loạt các
chính sách kinh tế, tài chính phải thay đổi cho phù hợp, trong đó có chính sách
thuế khoá. Kỳ họp thứ XI Quốc hội khoá IX nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt nam đã thông qua hai luật thuế quan trọng là Luật thuế Giá trị gia tăng và
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 thay thế cho
Luật thuế doanh thu, lợi tức. Vấn đề đặt ra là ngành thuế cũng như các đối
tượng sản xuất kinh doanh phải nắm vững và thực hiện nghiêm chỉnh 2 luật

Luanvan.online

Page 14


www.luanvan.online
thuế này giúp cho Thuế ngày càng có sức khả thi, hiệu quả hơn trong nền kinh
tế thị trường.

III.

SỰ CẦN THIẾT PHẢI ÁP DỤNG THUẾ THUẾ GIÁ TRỊ
GIA TĂNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY:

1.

Sự cần thiết phải áp dụng thuế Giá trị gia tăng thay cho
thuế Doanh thu:
Chỉ có sản xuất mới tạo ra của cải vật chất cho xã hội và nguồn thu cho

NSNN. Do đó, Nhà nước có trách nhiệm quan tâm, tạo môi trường thuận lợi
cho sản xuất phát triển, lưu thông được thông suốt. Một môi trường đầu tư
được coi là thuận lợi nếu trong đó, những cơ chế chính sách được quy định
phù hợp, rõ ràng, ổn định, ít có biến động để tạo cho doanh nghiệp yên tâm bỏ
vốn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh.
Ở nước ta, đến thời điểm này, Nhà nước thấy cần thiết phải áp dụng
thuế Giá trị gia tăng để thay thế cho thuế doanh thu vì các lý do sau:
Với Việt Nam, Thuế doanh thu đã được áp dụng từ rất lâu, trước đây
có tên là Thuế doanh nghiệp, từ khi cải cách thuế bước một (từ năm 1990)
được đổi tên là Thuế doanh thu. Thuế doanh thu có đặc trưng cơ bản là có
nhiều mức thuế suất, phân biệt theo nghành hàng và mặt hàng. Thuế thu hàng
tháng và tính trên tổng doanh thu bán hàng, không có khấu trừ thuế đã nộp ở
khâu trước. Thuế suất được quy định thấp.
Thuế doanh thu có ưu điểm là tính toán đơn giản, thu dứt điểm từng
lần bán hàng mà không phải theo dõi thoái trả số thuế đã nộp ở khâu trước. Vì
vậy, nguồn thu của các cấp ngân sách và giữa các địa phương cũng tương đối
ổn định.

Luanvan.online

Page 15


www.luanvan.online
Tuy nhiên, thuế doanh thu có nhiều nhược điểm, trong đó, nhược điểm
lớn nhất là thu thuế trùng lắp. Thuế doanh thu quy định cứ mỗi lần bán hàng là
một lần phải nộp Thuế doanh thu nên càng chuyên môn hoá sâu thì càng phải
nộp nhiều thuế. Ngược lại, nếu tổ chức sản xuất khép kín kiểu tự cấp tự túc thì
phải nộp ít thuế hơn. Do đó, thuế doanh thu không phù hợp với yêu cầu Công
nghiệp hoá- Hiện đại hoá. Mặt khác, cơ chế thuế có nhiều mức thuế suất để
bảo hộ đến từng ngành hàng, mặt hàng chỉ phù hợp với thời kỳ kế hoặch hoá,
thời kì mà giá cả đại bộ phận hàng hoá đều do Nhà nước thống nhất quản
lý.Việc quy định quá nhiều thuế suất làm cho sắc thuế phức tạp, tạo kẽ hở để
trốn thuế, lách thuế. Mặt khác thuế Doanh thu quy định quá nhiều các trường
hợp miễn giảm thuế, nhiều khi không đúng tính chất của thuế gián thu, gây
phức tạp cho quá trình thực hiện, quản lý.
Sang cơ chế kinh tế thị trường, giá cả hàng hoá do cung- cầu trên thị
trường quyết định, nếu vẫn duy trì cơ chế nhiều thuế suất thì chỉ làm tăng thêm
khó khăn, phức tạp trong quản lý và tạo nhiều kẽ hở cho trốn lậu thuế... Chính
vì vậy, trong cải cách thuế bước II này, Quốc hội đã quyết định ban hành thuế
Giá trị gia tăng để áp dụng từ 1/1/2003 thay thế cho thuế doanh thu.

2. Thuế Giá trị gia tăng và những ưu điểm nổi bật:
Thuế Giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của
hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình từ sản xuất, lưu thông
đến tiêu dùng.
Vì chỉ tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ ở từng
khâu bán hàng, không đánh vào phần giá trị đã chịu thuế ở khâu trước, cho nên
cách tính thuế Giá trị gia tăng là rất khoa học, rất cần thiết đối với phát triển

Luanvan.online

Page 16


www.luanvan.online
sản xuất theo hướng Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá và phù hợp với yêu cầu
hội nhập quốc tế.
Với bản chất đó, Thuế Giá trị gia tăng có nhiều ưu điểm hơn so với
thuế doanh thu, như sau:
+ Thuế Giá trị gia tăng không thu trùng lắp cho nên góp phần khuyến
khích chuyên môn hoá, hợp tác hoá để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá
thành sản phẩm.
+ Thuế Giá trị gia tăng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm, không tính
vào vốn, nên góp phần khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn ra đầu tư
phát triển sản xuất, kinh doanh, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế ở
nước ta trong thời gian tới.
+ Thuế Giá trị gia tăng góp phần khuyến khích mạnh mẽ việc sản xuất
hàng xuất khẩu, vì hàng hoá xuất khẩu chẳng những không phải chịu thuế Giá
trị gia tăng ở khâu xuất khẩu mà còn được thoái trả lại toàn bộ số thuế đã thu ở
các khâu trước.
+ Thuế Giá trị gia tăng được thu tập trung ngay ở khâu đầu tiên là khâu
sản xuất hoặc khâu nhập khẩu hàng hoá và thu ở mỗi khâu đều có thể kiểm tra
được việc thu nộp thuế ở khâu trước, cho nên hạn chế được thất thu hơn so với
thuế doanh thu.
+ Thuế Giá trị gia tăng được thực hiện thống nhất và chặt chẽ theo
nguyên tắc căn cứ vào hoá đơn mua, bán hàng để khấu trừ số thuế đã nộp ở
khâu trước. Điều đó có nghĩa là, nếu không có hoá đơn mua hàng ghi rõ số
thuế Giá trị gia tăng đã nộp ở khâu trước thì không được khấu trừ thuế. Vì vậy,
Thuế Giá trị gia tăng khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh khi mua
hàng phải đòi hoá đơn, và khi bán hàng phải có hoá đơn theo đúng quy định.
Với nguyên tắc thuế thu ở khâu sau được khấu trừ số thuế đã nộp ở khâu

Luanvan.online

Page 17


www.luanvan.online
trước, Thuế Giá trị gia tăng sẽ góp phần hạn chế được những sai sót, gian lận
trong việc ghi chép hoá đơn. Hoạt động mua-bán hàng hoá, cung ứng lao vụ,
dịch vụ có hoá đơn, chứng từ được đưa vào nề nếp thành thói quen trong nền
kinh tế sẽ là tiền đề cho việc tin học hoá quá trình quản lý sản xuất kinh doanh,
hạn chế bớt những sai sót, tiêu cực và mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế.
+ Thuế Giá trị gia tăng phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện cho
Việt nam hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Rõ ràng, thuế Giá trị gia tăng có nhiều ưu điểm nổi trội hơn thuế doanh
thu. Mục đích chủ yếu của việc áp dụng thuế Giá trị gia tăng là tạo thêm thuận
lợi cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh phát triển, chứ không nhằm tăng mức
động viên, càng không phải là làm cho doanh nghiệp khó khăn.

2.

Nội dung cơ bản của Luật thuế Giá trị gia tăng:
Theo luật thuế Giá trị gia tăng đã được quốc hội khoá IX thông qua tại

kỳ họp thứ 11.
Nghị định số 28/2003/NĐ-CP.
Thông tư số 89/2003/TT-BTC.
• Phạm vi áp dụng :

a. Đối tượng chịu thuế : Hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh
doanh và tiêu dùng ở Việt nam là đối tượng chịu thuế Giá trị gia tăng, trừ các
đối tượng không thuộc diện chịu thuế đã quy định trong luật.
Do những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định trong từng thời kỳ, luật thuế
Giá trị gia tăng quy định 26 nhóm, mặt hàng không thuộc diện chịu thuế Giá

Luanvan.online

Page 18


www.luanvan.online
trị gia tăng. Đặc điểm của những hoạt động không phải chịu thuế Giá trị gia
tăng là:
-

Những hoạt động nhà nước cần khuyến khích phát triển nhưng đang
gặp khó khăn. Ví dụ: Nhà ở thuộc sở hữu nhà nước do nhà nước bán
cho người đang thuê.

-

Những hoạt động liên quan đến vốn đầu tư. Ví dụ: Dịch vụ tín dụng
và quỹ đầu gồm hoạt động cho vay vốn, cho thuế tài chính..

-

Những hoạt động sản xuất hàng hoá dịch vụ thiết yếu. Ví dụ: Sản
phẩm trồng trọt, chăn nuôi chưa qua chế biến hoặc chỉ sơ chế..

-

Những hoạt động không mang tính kinh doanh. Ví dụ: Vũ khí, khí tài
phục vụ quốc phòng an ninh..

-

Những hoạt động cần ưu đãi nhưng ở mức độ vừa phải. Ví dụ: Hàng
miễn thuế bán tại cảng, ga, sân bay..

-

Những hàng hoá mang tính chất xử lý về mặt kĩ thuật đánh thuế. Ví
dụ: Hàng hoá dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

-

Những hàng hoá không mang tính chất gia tăng, tiêu dùng tại Việt
nam hoặc theo những quan hệ kinh tế đối ngoại. Ví dụ: Hàng chuyển
khẩu, quá cảnh..

Những hàng hoá thuộc diện chịu thuế Giá trị gia tăng không phải nộp
thuế Giá trị gia tăng đầu vào, nhưng không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT
đầu ra.

b. Đối tượng nộp thuế: Các tổ chức cá nhân, sản xuất kinh doanh hàng
hóa dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ
chức cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế Giá trị gia tăng ( gọi
chung là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế Giá trị gia tăng.

Luanvan.online

Page 19


www.luanvan.online

• Căn cứ tính thuế và phương pháp tính thuế:
a. Căn cứ tính thuế Giá trị gia tăng : là giá tính thuế và thuế suất:
- Giá tính thuế :
Nguyên tắc chung: Giá tính thuế là giá chưa có thuế Giá trị gia
tăng
+ Đối với hàng hoá dịch vụ do cơ sở sản xuất kinh doanh bán ra hoặc
cung ứng cho đối tượng khác, giá tính thuế Giá trị gia tăng là giá bán chưa có
thuế Giá trị gia tăng.
+ Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế
nhập khẩu.
+ Đối với hàng hoá dịch vụ để trao đổi sử dụng nội bộ biếu tặng, giá
tính thuế Giá trị gia tăng được xác định theo giá tính thuế của từng hàng hoá
dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các loại hoạt động
này.
+ Đối với hoạt động cho thuê tài sản, giá tính thuế Giá trị gia tăng là
tiền cho thuê trong từng kỳ.
+ Đối với gia công hàng hoá, giá tính thuế Giá trị gia tăng là giá gia
công chưa có thuế bao gồm: Tiền công, tiền nhiên liệu, động lực vật liệu phụ
và chi phí khác để gia công.
+ Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt giá tính thuế Giá trị gia tăng là
giá xây dựng, lắp đặt chưa có thuế Giá trị gia tăng.

Luanvan.online

Page 20


www.luanvan.online
+ Đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ hưởng tiền công hoặc tiền hoa
hồng, giá tính thuế Giá trị gia tăng là tiền công hoặc tiền hoa hồng đựơc hưởng
chưa trừ khoản phí tổn nào.
+ Đối với hoạt động vận tải, bốc xếp giá tính thuế Giá trị gia tăng là giá
cước vận tải, bốc xếp chưa có thuế Giá trị gia tăng.
+ Đối với hàng hoá, dịch vụ đặc thù được xác định như sau:
Giá tính
thuế

Giá thanh toán
= -------------------------------------

giá trị gia tăng
-

1+ Thuế suất(%) thuế GTGT

Thuế suất:
Luật thuế Giá trị gia tăng quy định 4 mức thuế suất:

0%,5%,10%,20%.
Mục đích của việc quy định 4 mức thuế suất này là nhằm khắc phục
nhược điểm của thuế Doanh thu, là một bước giảm bớt đáng kể sự phức tạp và
kém hiệu quả của cơ chế đa thuế suất. Đồng thời thể hiện chính sách điều tiết
thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng đối với hàng hoá, dịch vụ của nhà nước.
+ Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu.
+ Mức thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hoá và dịch vụ thiết yếu,
phục vụ trực tiếp cho sản xuất và tiêu dùng.
+ Mức thuế suất 10% là thuế suất phổ thông áp dụng đối với hàng hoá
dịch vụ thông thường nhằm đảm bảo số thu cho NSNN.
+ Mức thuế suất 20% áp dụng đối với hàng hoá dịch vụ không thiết yếu
mà nhà nước cần điều tiết:
. Vàng bạc đá quý do cơ sở kinh doanh mua vào bán ra.

Luanvan.online

Page 21


www.luanvan.online
. Khách sạn du lịch ăn uống
. Xổ số kiến thiết.
. Đại lý tàu biển.
. Dịch vụ môi giới.

b. Phương pháp tính thuế:
Có 2 phương pháp tính thuế Giá trị gia tăng:
Phương pháp khấu trừ và phương pháp tính trực tiếp trên Giá trị gia
tăng.

@

Phương pháp khấu trừ thuế:

- Đối tượng và điều kiện áp dụng: Phương pháp khấu trừ thuế được áp
dụng cho tất cả các cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu về mở
và ghi sổ kế toán, chấp hành đầy đủ các quy định của chế độ hoá đơn, chứng
từ.
- Cách tính thuế GTGT phải nộp:
Thuế Giá trị gia tăng
phải nộp

Thuế GTGT
=

Thuế Giá trị gia tăng
đầu ra

=

Thuế Giá trị gia tăng

-

đầu vào

Giá tính thuế của

Thuế suất thuế

HH,DV bán ra

x gtgt HH,DV đó.

Tổng thuế GTGT đã thanh toán ghi trên
=

đầu vào

đầu ra

Thuế GTGT

hoá đơn GTGT mua hàng hoá dịch vụ
hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng hoá,
nhập khẩu

Luanvan.online

Page 22


www.luanvan.online
@ Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT:
- Đối tượng và điều kiện áp dụng: Là các cá nhân, tổ chức kinh doanh
chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ để làm căn
cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ, các cơ sở kinh doanh mua bán vàng,
bạc, đã quý, ngoại tệ. Giá bán hàng hoá, dịch vụ ghi trên hoá đơn bán hàng là
giá đã có thuế GTGT.
- Cách tính thuế :
Số thuế GTGT
phải nộp

GTGT của hàng hoá
=

dịch vụ chịu thuế

Thuế suất GTGT
x của hàng hoá DV

Trong đó:
GTGT của hàng hóa Giá thanh toán của
=
dịch vụ

Giá TT của hàng hoá
-

hàng hoá DV bán ra DV mua vào tương ứng

c. Khấu trừ thuế Giá trị gia tăng đầu vào:
+ Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh
hàng hoá dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng thì được khấu trừ toàn bộ .
+ Thuế đầu vào của hàng hoá dịch vụ dùng đồng thời cho sản xuất
kinh doanh hàng hoá dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng và không chịu thuế giá
trị gia tăng thì chỉ được khấu trừ số thuế đầu vào của hàng hoá dịch vụ dùng
cho sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng.
+ Thuế đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai khấu trừ khi
xác định số thuế phải nộp của tháng đó.

Luanvan.online

Page 23


www.luanvan.online
+ Thuế đã trả cho hàng hoá, vật tư, tài sản cố định, dịch vụ mua vào
để sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế Giá trị
gia tăng thì không được khấu trừ.
+ Riêng với tài sản cố định, nếu có số thuế đầu vào được khấu trừ
lớn thì được phép khấu trừ dần hoặc được hoàn thuế.

d. Hoàn thuế:
Việc hoàn thuế Giá trị gia tăng chỉ áp dụng cho các đối tượng nộp thuế
theo phương pháp khấu trừ thuế trong các trường hợp sau:
+ Được xét hoàn thuế khi cơ sở kinh doanh có số thuế Giá trị gia tăng
đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế Giá trị gia tăng đầu ra phát sinh 3
tháng liên tục.Việc hoàn thuế Giá trị gia tăng đầu vào được thực hiện trong
đầu quý tiếp theo.
+ Được hoàn thuế Giá trị gia tăng theo từng kỳ hoặc theo tháng khi
cơ sở kinh doanh xuất khẩu mặt hàng theo thời vụ hoặc xuất khẩu theo từng
lần với số lượng lớn phát sinh số thuế đầu vào được khấu trừ lớn.
+ Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu
trừ thuế có đầu tư, mua sắm tài sản cố định có số thuế Giá trị gia tăng đầu vào
được khấu trừ lớn thì được xét hoàn thuế:
. Cơ sở đầu tư mới, đã đăng ký nộp thuế Giá trị gia tăng nhưng chưa
có phát sinh doanh thu bán hàng để tính thuế Giá trị gia tăng đầu ra. Nếu thời
gian đầu tư từ một năm trở lên, thuế Giá trị gia tăng đầu vào sẽ được xét hoàn
thuế theo từng năm. Trường hợp cơ sở kinh doanh xác định số thuế phải hoàn
có số thuế Giá trị gia tăng đầu vào của tài sản đầu tư được hoàn lớn, thuế Giá
trị gia tăng đầu vào sẽ được xét hoàn thuế theo từng quý.
. Cơ sở kinh doanh đầu tư mở rộng, đầu tư theo chiều sâu, có số
thuế Giá trị gia tăng đầu vào của tài sản đầu tư đã được khấu trừ trong 3 tháng

Luanvan.online

Page 24


www.luanvan.online
( kể từ tháng phát sinh thuế đầu vào của tài sản đầu tư) mà vẫn chưa được
khấu trừ hết thì số thuế Giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ sẽ được
hoàn lại.
+ Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sát nhập, chia tách, giải thể,
phá sản có số thuế giá trị gia tăng nộp thừa.
+ Cơ sở kinh doanh có quyết định xử lý hoàn thuế của cơ quan có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

e. Miễn giảm thuế:
Đơn vị những cơ sở sản xuất, vận tải, xây dựng, thương mại, du
lịch, ăn uống trong những năm đầu áp dụng thuế Giá trị gia tăng mà bị lỗ do
số thuế GTGT phải nộp lớn hơn số thuế tính theo mức thuế doanh thu trước
đây thì được xét giảm thuế GTGT phải nộp. Mức thuế được xét giảm đối với
từng cơ sở kinh doanh tương ứng với số lỗ do nguyên nhân nêu trên nhưng tối
đa không quá số thuế GTGT mà cơ sở kinh doanh phải nộp của năm được xét
giảm thuế.
Cơ sở kinh doanh hàng hoá, dịch vụ dưới đây khi tính thuế
GTGT đầu ra được giảm 50% mức thuế quy định:
-

Than đá.

-

Máy cày, máy kéo, máy bơm nước, máy công cụ, máy động lực.

-

Một số chất hoá học được quy định rõ tại Thông tư 175/1998 TTBTC.

-

Hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt của các cơ sở kinh doanh thương
mại nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế mua vào, bán ra.

-

Khách sạn, du lịch, ăn uống.

-

Dịch vụ, phần mềm và sản phẩm phần mềm

Luanvan.online

Page 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×