Tải bản đầy đủ

Kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn hoá học lớp 9

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ 5-6 TUỔI PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VĂN HỌC
TẠI TRƯỜNG MẦM NON HOA PHƯỢNG

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của
giáo dục mầm non. Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp, học tập, vui chơi, ngôn ngữ
giữ vai trò quyết định sự phát triển tâm lý trẻ em. Bên cạnh đó ngôn ngữ còn là
phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự phát triển về đạo đức,
tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành vi văn hóa...
Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ là phát triển khả năng nghe, hiểu ngôn
ngữ, khả năng trình bày có logic, trình tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có hình ảnh
một nội dung nhất định. Vì thế, sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc của lời nói rất cần
thiết, nó được phát triển ngay từ khi trẻ bắt đầu học nói.
Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ thực chất là rèn luyện khả năng tư duy
ngôn ngữ và sử dụng lời nói để giao tiếp bởi vì sự mạch lạc của ngôn ngữ chính là
sự mạch lạc của tư duy.
Việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng
tiếp cận với các môn khoa học khác như : Môn làm quen với môi trường xung
quanh, làm quen với toán, âm nhạc, tạo hình...mà điều tôi muốn nói ở đây đặc biệt

là thông qua bộ môn làm quen với tác phẩm văn học trẻ đọc thơ, Kể chuyên, đóng
kịch tạo điều kiện cho trẻ được hoạt động nhiều, giúp trẻ khả năng phát triển trí
nhớ, tư duy và ngôn ngữ, khả năng cảm thụ cái hay, cái đẹp, cái tốt, cái xấu của
mọi vật xung quanh trẻ. Qua làm quen tác phẩm văn học, vốn từ của trẻ được mở
rộng, trẻ làm quen với cách dùng từ, cách đặt câu, cách diễn đạt, lời nói có vần,
nhịp, nói có ngữ điệu…


Qua bộ môn văn học giúp trẻ phát triển năng lực tư duy, óc tưởng tượng sáng
tạo, biết yêu quý cái đẹp, hướng tới cái đẹp. Khi trẻ kể chuyện, ngôn ngữ của trẻ
phát triển, trẻ phát âm rõ ràng mạch lạc, vốn từ được mở rộng và phong phú hơn.
Trẻ biết trình bày ý kiến, suy nghĩ, kể về một sự vật hay sự kiện nào đó…bằng
chính ngôn ngữ của trẻ
Việc Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 – 6 tuổi là việc làm hết sức quan
trọng, để tạo tiền đề vững chắc cho trẻ trong việc học đọc, học viết khi vào lớp một
phổ thông. Đồng thời giúp trẻ biết diễn đạt rõ ràng những suy nghĩ mong muốn của
mình với mọi người và thể hiện cảm xúc với Môi trường xung quanh. Từ những
vấn đề trên, tôi quyết chon đề tài "Một số biện pháp giúp trẻ 5- 6 tuổi phát triển
ngôn ngữ thông qua môn làm quen văn học tại trường mầm non Hoa Phượng".
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là
bộ phận quan trọng trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ thành những con người có
ích, thành những con người mới. Làm tốt việc chăm sóc giáo dục thế hệ trẻ ngay từ
thời thơ ấu nhằm tạo ra cơ sở quan trọng của con người Việt Nam mới, người lao
động làm chủ tập thể, phát triển toàn diện nhân cách.
Hiện nay bậc học mầm non đã, đang tiến hành đổi mới chương trình giáo dục
trẻ mầm non trong đó đặc biệt coi trọng việc tổ chức các hoạt động phù hợp sự phát
triển của từng cá nhân trẻ, khuyển khích trẻ hoạt động một cách chủ động tích cực,
hồn nhiên, vui tươi, đồng thời tạo điều kiện cho giáo viên phát huy khả năng sáng
tạo trong việc lựa chọn và tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ một cách
linh hoạt, thực hiện phương châm "Học mà chơi - Chơi mà học" đáp ứng mục tiêu
phát triển của trẻ một cách toàn diện.
Trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt thì văn học là môn rất quan
trọng không thể thiếu đối với trẻ Mầm non, nó giúp trẻ hình thành nhân cách
con người và mang lại những hiểu biết về cuộc sống xung quanh qua những câu
chuyện thần thoại, chuyện cổ tích…Đặc biệt hấp dẫn trẻ, nhằm nuôi dương tâm hồn
trẻ như: tình yêu quê hương đất nước, yêu cuộc sống thiên nhiên, cảm nhận được
cái thiện, cái ác, cái hay, cái đẹp. Giúp trẻ phát triển năng lực tư duy, óc tưởng



tượng, sáng tạo là phương tiện phát triển ngôn ngữ cho trẻ và giúp trẻ phát triển
ngôn ngữ mạch lạc, diễn đạt lưu loát, biết sử dụng từ đúng lúc đúng chỗ.
3. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua môn làm
quen văn học tại trường Mầm non Hoa phượng
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Học sinh 5- 6 tuổi trường Mầm non Hoa phượng
5. Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp điều tra
+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp trao đổi đàm thoại
+ Phương pháp dùng tình cảm động viên, khích lệ.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ

ý u n

Bác Hồ của chúng ta đã dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô
cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, tôn trọng nó”. Do đó, việc
dạy tiếng mẹ đẻ cho trẻ tuổi mầm non có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngôn
ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ giúp cho trẻ nhận thức và giao tiếp tốt góp phần quan
trọng vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ.
Sự phát toàn diện của trẻ bao gồm cả phát triển về đạo đức, chuẩn mực hành
vi văn hóa. Điều gì tốt, điều gì xấu, cần phải ứng xử, giao tiếp cho phù hợp…không
chỉ là sự bắt chước máy móc. Ngôn ngữ phát triển sẽ giúp trẻ mở rộng giao tiếp.
Ngôn ngữ phát triển giúp trẻ sớm tiếp thu những lời hay, ý đẹp trong thơ ca,
chuyện kể. Sự tác động của những lời nói, ngữ điệu giọng của cô giáo khi truyền
cảm xúc của tác phẩm văn học là phương tiện tốt nhất để phát triển ngôn ngữ cho
trẻ. Lứa tuổi Mầm non là giai đoạn phát triển ngôn ngữ mạnh nhất.


Phát triển ngôn ngữ cho trẻ được tích hợp trong tất cả các hoạt động giáo dục
trẻ, và nhất là trong hoạt động Làm quen văn học. Vì vậy, dạy cho trẻ mầm non nói
chung và cho trẻ 5-6 tuổi nói riêng biết cảm nhận văn học là cực kỳ quan trọng
trong việc giáo dục ngôn ngữ cho trẻ. Vì thế giáo viên cần có những kiến thức, kỹ
năng, phương pháp , biện pháp , linh hoạt trong khi tổ chức hoạt động làm quen
Văn học để vận dụng vào việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách tốt nhất.
Văn học là một loại hình nghệ thuật đến với trẻ rất sớm và c ng được trẻ yêu
thích. Nó không chỉ giúp trẻ cảm nhận được nghệ thuật mà qua đó giúp trẻ phát
triển ngôn ngữ, nhận thức, năng lực cảm xúc, tưởng tượng, tính sáng tạo, sự tập
trung chú ý, khả năng diễn tả đạt... Khác với các môn học khác văn học hoàn toàn
xác định rõ những hình ảnh và ngôn ngữ cụ thể, cùng với thời gian đã thu hút, làm
th a mãn nhu cầu, mong muốn, tình cảm của trẻ .
Văn học là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh, phát triển lời
nói, quan hệ giao tiếp, trao đổi tình cảm ....đối với trẻ. Văn học là một thế giới kỳ
diệu đầy màu sắc, đầy cảm xúc. Trẻ mầm non dễ xúc cảm, vốn ngây thơ, trong sáng
nên tiếp xúc với văn học là một nhu cầu không thể thiếu đối với trẻ.
Mục tiêu của công tác chăm sóc giáo dục mầm non phát triển và hình thành
nhân cách cho trẻ, việc dạy trẻ tiếp cận với tác phẩm văn học là cho trẻ cơ hội được
thể hiện mình, tự tin, mạnh dạn và trẻ phát triển vốn từ, trẻ nói đúng ngữ pháp.
2. Thực trạng
2.1. Thuận lợi – khó khăn
* Thuận lợi
Trường Mầm non Hoa Phượng đóng trên địa bàn thị trấn, điều kiện cơ sở vật
chất tương đối đầy đủ giáo viên có trình độ chuyên môn trên chuẩn, nhiệt tình, yêu
nghề, mến trẻ; có khả năng học h i để nâng cao trình độ chuyên môn; hiểu được
đặc điểm tâm sinh lý của trẻ.
Được sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu, nhà trường đã thường xuyên
tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và các đợt chuyên đề văn học, hội thi đồ dùng, đồ
chơi cho giáo viên học tập và rút kinh nghiệm.


Lớp có tương đối đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi phục
vụ cho các môn học.
Được sự tín nhiệm, tin tưởng của phụ huynh học sinh.
* Khó khăn
Một số trẻ phát âm còn ngọng chưa rõ tiếng Việt. Khả năng chú ý của trẻ còn
hạn chế, không đồng đều;
Một số trẻ chưa mạnh dạn còn nhút nhát, thiếu tự tin, 50% là trẻ em dân tộc
thiếu số(Ê đê)
Kinh nghiệm sống còn nghèo nàn, nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ
chức các hoạt động làm quen văn học.
Khi tổ chức hoạt động nhiều lúc cô chưa phát huy hết tính sáng tạo của trẻ.
Trong lúc dạy trẻ đọc thơ hay kể chuyện sáng tạo giáo viên còn lúng túng
trong việc sử dụng đồ dùng, chưa biết vận dụng tích hợp các môn học khác và khả
năng thể hiện diễn cảm còn hạn chế.
2.2. Thành công - hạn chế
* Thành công
Trẻ rất hứng thú với các hoạt động đặc biệt là hoạt động làm với văn học, trẻ
tập trung chú ý khi nghe cô giáo đọc thơ, kể chuyện, trẻ hứng thú, thích thế hiện
diễn cảm và kể chuyện sáng tạo...
Giáo viên nắm được phương pháp của môn làm quen với văn học, hiểu đặc
điểm tâm sinh lý của trẻ.
* Hạn chế
Tuy nhiên bên cạnh những thành công vẫn còn có những hạn chế nhất định
như; một số trẻ còn thụ động, chưa thật sự mạnh dạn phát âm chưa rõ, trong quá
trình kể chuyện thế hiện diễn cảm và ng điệu giọng chưa phù hợp hay còn nói
ngọng, nói tiếng địa phương


Một số trẻ chưa mạnh dạn còn nhút nhát, thiếu tự tin, nhận thức hạn chế…
dẫn đến khả năng tiếp thu văn học chưa cao.
Giáo vên đôi lúc chưa thật sự linh hoạt, chất giọng kể còn hạn chế.
2.3. Mặt mạnh, mặt yếu
* Mặt mạnh
Đồ dùng và trang thiết bị phục vụ cho hoạt động làm quen văn học tương
đối đầy đủ.
Giáo viên nhiệt tình, yêu thương trẻ, chịu khó học h i để nâng cao chất
lượng hoạt động làm quen văn học.
Học sinh hứng thú với hoạt động làm quen văn học đặc biệt là giờ kể chuyện;
Trẻ có cơ hội để thể hiện mình trước mọi người, được kể chuyện, được thảo
luận với bạn.
Rèn cho trẻ kỹ năng kể chuyện mạch lạc và diễn cảm để phát triển ngôn ngữ
* Mặt yếu
Khả năng chú ý tiếp thu của trẻ còn hạn chế, một số trẻ chưa mạnh dạn,
thiếu tự tin, kinh nghiệm sống của trẻ còn nghèo nàn.
Giáo viên chưa thật sự linh hoạt, sáng tạo trong khi tổ chức hoạt động
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Phương pháp cho trẻ làm quen văn học còn rập khuôn, cứng nhắc, chưa
đồng loạt trong quá trình tổ chức cho trẻ làm quen với văn học nói chung xoay
quanh chủ đề .
Giáo viên thường tổ chức cho trẻ chơi để nhằm đạt một số kỹ năng theo yêu
cầu bài học.
Trong khi dạy trẻ giáo viên thường hay chú ý đến kết quả dạy trẻ, để nhận
xét, đánh giá mà chưa chú ý đến quá trình hoạt động của trẻ.
* Khảo sát đầu năm về khả năng thể hiện ngôn ngữ của trẻ


+ Khi chưa thực hiện
Khả năng

Phát âm rõ ràng,

Sĩ ố

Số trẻ

Tỉ ệ %

Số trẻ

đạt yêu

chưa đạt

cầu

yêu cầu

Tỉ ệ %

32

17

53 %

15

47 %

32

16

50 %

16

50 %

32

10

31 %

22

69 %

đúng ngữ pháp
Hứng thú kể chuyện,
đọc thơ
Biết thể hiện ngữ
điệu, hoàn cảnh khả
năng diễn đạt ngôn
ngữ mạch lạc...
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
Qua quá trình cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học tôi nhận thấy rằng; trẻ
mầm non chưa biết cầm sách và tự đọc chuyện. Để cảm nhận được câu chuyện, bài
thơ trẻ phải nhờ vào người lớn. Vì vậy cô giáo là người trung gian là chiếc cầu nối
để giúp trẻ. Do đó lời đọc thơ, kể câu chuyện là phương pháp quan trọng nhất khi
cho trẻ đọc thơ hoặc kể chuyện. Lời đọc, kể càng hay càng hấp dẫn bao nhiêu thì
giúp trẻ phát triển ngôn ngữ bấy nhiêu. Đó là thước đo để đánh giá mức độ phát
triển ngôn ngữ của trẻ. Nhưng trong quá trình dạy trẻ chúng ta chưa chú ý đến sở
thích, nhu cầu hay khả năng cảm nhận của trẻ mà mới chú ý đến việc thực hiện
đúng chương trình, áp đặt trẻ phải thế hiện máy móc theo sự suy nghĩ của giáo
viên, trẻ thụ động ngồi nghe ít có cơ hội hoạt động.
Trong chương trình giáo dục mầm non hiện nay giáo viên phải lựa chọn các
phương pháp, hình thức phù hợp với yêu cầu của từng tiết dạy để thu hút sự chú ý
tập trung của trẻ, tạo hứng thú cho trẻ trong tiết học, giúp cho giờ học đạt hiệu quả
cao. Muốn vậy cô giáo phải; lấy trẻ làm trung tâm phát huy tính tích cực của trẻ,
dạy trẻ theo hướng lồng ghép tích hợp.


Một yêu cầu đối với giáo viên khi dạy trẻ làm quen với văn học là kiến thức
truyền đạt đến trẻ phải ngắn gọn, dễ hiểu, luôn sáng tạo, đổi mới, ngoài ra để tạo
hứng thú và sự tập trung chú ý của trẻ thì cô giáo phải có nghệ thuật lên lớp, ngôn
ngữ diễn đạt phải diễn cảm, logic...
3. Giải pháp, biện pháp
3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Khi dạy trẻ một bài thơ hoặc câu chuyện , cô giáo phải nghiên cứu kỹ bài
thơ, câu chuyện đó trước khi đọc, kể cho trẻ nghe để thể hiện giọng, ngữ điệu phù
hợp với diễn biến tâm trạng, hành động của mỗi nhân vật để truyền đạt cho trẻ một
cách hấp dẫn, sinh động, tạo sự hứng thú cho trẻ , để trẻ lắng nghe và lĩnh hội trọn
vẹn câu chuyện, bài thơ một cách tốt nhất.
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Để giải quyết được những vấn đề trên, trước mỗi tiết dạy cô phải chuẩn bị
chu đáo giáo án, đồ dùng trực quan phong phú để gây hứng thú cho trẻ như tranh
ảnh, con rối, mô hình, sưu tầm các bài vè, bài thơ dân gian, bài hát dân ca, câu đố,
giáo dục môi trường phù hợp để lồng ghép vào từng tiết dạy.
Tự học, tự rèn luyện để có kỹ năng đọc, kể tự tin, diễn cảm… dành nhiều
thời gian để nghiên cứu tác phẩm, xem nội dung tác phẩm đó giáo dục trẻ những gì,
đó có thể là con người c ng có thể là các loài vật với những tính cách đạo đức khác
nhau như: hiền hay ác, nhanh hay chậm, nhút nhát hay d ng cảm, khiêm tốn hay
kiêu ngạo, … để lồng ghép giáo dục một cách nhẹ nhàng mà có hiệu quả.
Ví dụ: Bài thơ "Hoa kết trái" giáo dục trẻ vẻ đẹp của các loại hoa và không
được hái hoa, bẻ cành để hoa làm đẹp cho cuộc sống, hoa cho quả ngot...
Ví dụ: Truyện "Rùa và Th " giáo dục trẻ không nên chủ quan, coi thường
người khác. Nhờ sự thông minh, kiên trì của "Chú Rùa" chậm chạp đã về đích
trước. Còn “Chú Th ” kiêu ngạo bị thua cuộc.


Ví dụ: Truyện “Quả bầu tiên” , qua câu chuyện giúp trẻ biết được “lão nhà
giàu” tham lam, ác độc bị rắn rết cắn chết. “Cậu bé” hiền lành, chăm chỉ, tốt bụng
hay giúp đỡ mọi người nên được sống một cuộc sống vui vẻ, đầy đủ…
Qua những câu chuyện, bài thơ này đã giúp tôi xác định được một hệ thống
câu h i cho phần đàm thoại. Xác định được giọng kể phù hợp với từng nhân vật và
diễn biến câu chuyện.
* Biện pháp 1: Sử dụng dụng cụ trực quan.
Trong quá trình giảng dạy tôi đã sử dụng các phương tiện trực quan sinh
động gần g i để thu hút sự tập trung chú ý của trẻ như: con vật, nhà cửa, cây cối...
Khi kể chuyện, đọc thơ có tranh ảnh minh họa. Đọc, kể đến đâu sử dụng hình ảnh
tương ứng với đoạn chuyện hoặc đoạn thơ đó. Dùng thước chỉ chính xác vào nhân
vật, hoặc hình ảnh đang đọc, kể. Các hình ảnh phải phù hợp sát với nội dung của
bài thơ, câu chuyện đó
Kể chuyện, đọc thơ cho trẻ nghe bằng màn hình Power Point, những hình
ảnh sinh động ngộ nghĩnh phù hợp với nội dung và các tình tiết trong chuyện, bài
thơ. Giọng kể , đọc phải diễn cảm, mỗi nhân vật có giọng nói khác nhau để gây
hứng thú và lôi cuốn trẻ vào hoạt động làm quen văn học.
* Biện pháp 2: Đọc và kể chuyện cho trẻ nghe.
Ở lứa tuổi mẫu giáo trẻ chưa thể tự đọc được bài thơ, câu chuyện. Muốn đưa
được các tác phẩm văn học đến với trẻ thì phải qua yếu tố trung gian đó là lời kể,
giọng đọc của cô giáo hoặc của ông bà, cha mẹ, anh chị. Phải phân biệt được giữa
đọc và kể khác nhau.
Ví dụ: Truyện "Chú Dê Đen" giọng nói của nhân vật "Dê Đen" to, hung dữ,
ồm ồm còn nhân vật "Dê Trắng" giọng kể nh hơn run sợ.
Khi đọc chuyện cho trẻ nghe là đọc trọn vẹn nguyên văn tác phẩm. Còn kể
chuyện là kể lại nội dung chính của câu chuyện. Trong khi kể tôi có thể thêm hoặc
bớt đi các chi tiết mà không làm ảnh hưởng đến nội dung chuyện. còn đọc thơ là
phải đọc đầy đủ từng câu, từng từ.


Khi kể tôi phải xác định câu chuyện đó thuộc loại nào, cổ tích hay ngụ
ngôn... để tìm hiểu ý của từng đoạn mà thể hiện giọng đọc, kể cho phù hợp với tính
cách của mỗi nhân vật. Cùng một nhân vật nhưng trong các bối cảnh khác nhau, sắc
thái ngôn ngữ c ng khác nhau. Bằng những biện pháp nhân hoá gắn với kỹ thuật
cường độ, nhịp điệu, ngắt giọng, cử chỉ, ánh mắt để thể hiện rõ nét.
VD: câu chuyện "Cáo, Th , Gà trống" thì giọng của " Cáo" khi đuổi "Bầy
Chó và bác Gấu" giọng nói to, nhấn mạnh giọng và nhanh, còn lúc gặp "chú Gà
Trống" lúc này "Cáo" sợ hãi nên thế hiện giọng nh hơn và chậm lại, run sợ.
Khi kể chuyện, đọc thơ cô cần sử dụng cử chỉ điệu bộ ánh mắt để hỗ trợ
thêm cho giọng kể, đọc của mình.
*Biện pháp 3: Đàm thoại theo nội dung bài thơ câu chuyện chuyện.
Đây là phương pháp đàm thoại giữa cô và trẻ trong đó cô giữ vai trò chủ
động. Để đặt ra những câu h i cho trẻ trả lời và đồng thời cô gợi ý nếu trẻ gặp khó
khăn và khuyến khích trẻ trả lời những câu h i cao hơn so với trình độ của trẻ, để
nhằm phát huy tính tích cực, tư duy của trẻ. Câu h i của cô đặt phải ngắn gọn, rõ
ràng, rõ ý. Cô đặt câu h i chung cho cả lớp yêu cầu trẻ suy nghĩ và trả lời. Sau đó
yêu cầu trẻ giơ tay, gọi một trẻ trong số các trẻ giơ tay trả lời, cô nhắc cho cả lớp
nghe câu trả lời của bạn và kiểm tra lại ý kiến của mình. Có thể gọi thêm một vài
trẻ khác trả lời hoặc nhận xét câu trả lời của bạn nhằm khuyến khích sự mạnh dạn
tự tin ở trẻ. Sửa những câu trả lời không đúng, thiếu chính xác bằng các câu nói nhẹ
nhàng (Bạn đã có tinh thần xung phong, bạn trả lời gần đúng rồi đấy...Vậy bạn nào
có nhận xét khác không nào?; ...)
Ví dụ: trong chuyện “Quả bầu tiên” cô đặt câu h i: Trong chuyện có những
nhân vật nào? Các con có nhận xét gì về các nhân vật? Các con yêu nhân vật nào?
Vì sao?
Đàm thoại có tác dụng lớn đối với giáo dục trẻ. Vì trẻ thích tìm tòi, thắc mắc,
ngược lại trong khi đàm thoại giúp cho tôi đánh giá được trình độ nhận thức của trẻ
và biết được khả năng lĩnh hội kiến thức của từng trẻ c ng như khả năng diễn đạt
bằng ngôn ngữ của từng trẻ.


Đàm thoại giúp cho trẻ biết so sánh, nhân cách hoá lên từng câu chuyện để
phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ.
*Biện pháp 4: Dạy trẻ kể lại chuyện.
Là phương pháp thực hành tốt nhất để kiểm tra khả năng phát triển ngôn ngữ
của trẻ. Phương pháp này không thể tách rời phương pháp kể chuyện diễn cảm,
đàm thoại và trực quan, có tiến hành tốt các phương pháp trên thì mới tiến hành tốt
phương pháp kể lại chuyện.
Phần quan trọng của tiết học chính là việc trẻ tự kể lại chuyện. Để gây hứng
thú cho trẻ, giáo viên cần có nhiều hình cho trẻ kể lại chuyện. ( trẻ kể chuyện diễn
cảm, kể chuyện theo tranh, tập đóng kịch...) Trẻ được học kể chuyện, xây dựng các
câu đúng ngữ pháp, truyền đạt lại một cách chặt chẽ và tuần tự nội dung, sử dụng
từ, cách thể hiện của tác giả c ng như lời của chính mình để truyền đạt lại nội dung
câu chuyện. Điều rất quan trọng là làm sao cho khi trẻ kể chuyện lời nói hình ảnh
nghệ thuật của nhân vật trong chuyện thành lời của riêng trẻ, trẻ kể diễn cảm biết
kết hợp cử chỉ điệu bộ. Nếu câu chuyện không dài, trẻ có thể kể lại một cách đầy
đủ. Câu chuyện dài hơn cần chia thành các phần và cho trẻ kể theo các phần đó.
Chỉ dùng câu h i để gởi ý, nhắc nhở . Câu h i phải cụ thể, không làm cho trẻ lãng
quên nội dung câu chuyện. Thỉnh thoảng cô nhắc trẻ một vài hành động nhân vật,
một vài từ ngữ trẻ b qua hoặc quên (từ ngữ đó liên quan đến nội dung chính của
câu chuyện).
Cô lựa chọn cháu nào lên kể trước (cháu có lời nói phát triển hay ngược lại,
có thể chọn cháu nhút nhát để rèn sự tự tin và ngôn ngữ cho trẻ) Sự lựa chọn phù
thuộc vào mức độ khó khăn của câu chuyện, vào nhiệm vụ cụ thể đặt ra cho tiết học
và vào đặc điểm cá nhân của trẻ.
Nếu câu chuyện có khối lượng không lớn, nội dung đơn giản, cô có thể yêu
cầu các cháu yếu hơn. Câu chuyện dài có thể cho những trẻ nhanh nhẹn kể nối tiếp.
Điều quan trọng là làm sao có thể gọi từng cháu. Đối với những trẻ ít tập trung chú
ý cần động viên khuyến khích trẻ . Có thể dạy trẻ tập nhập vai đóng kịch cùng cô
và các bạn khác ( cho trẻ vào vai nhân vật đơn giản nhất trong câu chuyện). Có như
vậy mới phát triển ngôn ngữ cho trẻ mạch lạc hơn.


Trong khi trẻ kể cô theo sửa những chỗ cháu chưa thể hiện đúng giọng điệu,
tính cách nhân vật hay khi ngắt giọng...
* Biện pháp 5: Lồng ghép đọc thơ, kể chuyện vào các môn học khác
Cô giáo là người xác định chủ đề lên kế hoạch tổ chức lồng ghép các môn
học một cách hợp lý để trẻ phát huy hứng thú, khuyển khích trẻ tích cực chủ động
trong tiết học.
Với lời kể diễn cảm, hấp dẫn nhưng biết tích hợp các môn học khác thì sẻ
hay hơn vì nó làm thay đổi không khí, làm thay đổi trạng thái khi kể chuyện. Bằng
những lời ca, lời đối thoại, những câu đố, những bài đồng dao, ca dao hay một số
trò chơi xen lẫn.
Ví dụ: Bài thơ “Th Bông bị ốm”, “Ong và Bướm”….hoặc cho trẻ đọc thuộc
các một số bài đồng dao, ca dao “Vè chim”, “Đi cầu đi quán”….
Việc tích hợp các môn học khác giáo viên phải linh hoạt, lựa chọn nội dung,
kết hợp nhuần nhuyễn sao cho phù hợp với nội dung câu chuyện, giúp trẻ tham gia
vào hoạt động một cách tích cực và ngôn ngữ của trẻ được phát triển mạnh nhất.
3.3. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
Giáo viên phải nỗ lực hết mình và dành nhiều thời gian nghiên cứu và đầu tư
vào việc giảng dạy, xây dựng kế hoạch cụ thể, đi sâu nội dung bài dạy.
Tự bản thân của mỗi giáo viên phải không ngừng học tập để cập nhật thông
tin, kiến thức.
Giáo viên cần được sự hỗ trợ về thiết bị dạy học thiết thực và hiệu quả cùng
với việc linh hoạt, chủ động làm đồ dùng dạy học.
Điều quan trọng hơn hết, mỗi giáo viên phải có tâm huyết với nghề.
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Để thực hiện thành công của một tiết dạy, chúng ta cần vận dụng phối hợp
các giải pháp, biện pháp một cách hài hòa, phù hợp với mục tiêu bài, điều kiện,
trình độ, khả năng...của học sinh, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.


Nếu tất cả biện pháp đều có sự kết hợp đồng bộ, nhịp nhàng thì việc làm cho
các cháu yêu thích môn làm quen văn học sẽ tự tìm đến các câu chuyện, bài thơ phù
hợp của lứa tuổi mình.
3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Với việc áp dụng một số biện pháp trên vào giờ kể chuyện, đọc thơ cho trẻ
tại lớp tôi thấy được kết quả như sau:
Các cháu t ra nhanh nhẹn và mạnh dạn, tự tin phát âm rõ ràng, mạch lạc, thể
hiện đúng ngữ điệu, khả năng ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh, trẻ biết diễn đạt
ngôn ngữ mạch lạc phù hợp với hoàn cảnh của bài thơ, câu chuyện.
Trẻ đã hứng thú vào giờ làm quen văn học hơn trước, khả năng tiếp thu các
câu chuyện, bài thơ của trẻ c ng tăng lên rõ rệt, số trẻ đọc, kể lại được các bài thơ,
câu chuyện nhiều hơn và khả ngăng diễn đạt bằng ngôn ngữ rõ ràng, mạch lạc hơn
rõ rệt.
* Kết quả sau khi thực hiện:
Khả năng




Số trẻ

Tỉ ệ

Số trẻ chưa Tỉ ệ %

đạt yêu

%

đạt đạt yêu
cầu

cầu
Phát âm rõ ràng, đúng ngữ

32

27

84 %

5

16 %

32

24

75 %

8

25 %

32

25

78 %

7

22 %

pháp
Hứng thú kể chuyện, đọc
thơ
Biết thể hiện ngữ điệu, hoàn
cảnh khả năng diễn đạt
ngôn ngữ mạch lạc...
4. K t uả thu được ua hảo nghiệm, giá trị hoa học của vấn đề
nghiên cứu
Qua kết quả trên, tôi nhận thấy những biện pháp nghiên cứu của mình về
việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua môn làm quen văn học là rất


khả thi. Với những biện pháp này có thể tạo nên sự năng động, nhiệt tình của cả
người dạy và người học. Trong đó, người dạy có ý thức trách nhiệm với tiết dạy,
tạo nên một hình ảnh người cô giáo mẫu mực, tận tụy trong con mắt của học sinh.
Còn đối với học sinh, với những biện pháp giảng dạy theo đề tài nghiên cứu
của tôi trẻ hứng thú, tích cực vào hoạt động, tự tin mạnh dạn phát triển ngôn ngữ
mạch lạc biết thế hiện cường độ, ngữ điệu giọng phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh
cụ thể trong văn học để áp dụng vào cuộc sống hàng ngày của trẻ. Có kỹ năng tham
gia vào các hoạt động, bổ sung kiến thức khá phong phú, vững vàng, tự tin. Với
những nội dung trên, chứng t các biện pháp mà tôi đã nghiên cứu trong đề tài này
có tính thực tế, mang tính khoa học và đem lại hiệu quả cao hơn trước.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. K t u n
Qua một học kì, tôi đã nghiên cứu và khảo nghiệm đề tài của mình. Trong
đó, tôi đã sử dụng nhiều biện pháp. Nhưng tôi nhận thấy để giúp trẻ phát triển ngôn
ngữ không có cách nào tốt hơn là người giáo viên phải kích thích được sự ham
thích môn học của trẻ. Muốn làm được điều đó, tùy theo từng lớp học, từng bài
giảng mà người giáo viên sử dụng một cách linh hoạt các phương pháp giảng dạy.
Nhưng vấn đề trọng tâm là phải nâng cao vai trò của học sinh, đưa các em lên làm
nhân vật trung tâm của mỗi tiết dạy. Người giáo viên phải thực hiện được “lấy học
sinh làm trung tâm”. Có như vậy mới phát huy được tính tích cực sáng tạo của trẻ
từng tiết học.
Muốn cho chất lượng và hiệu quả giảng dạy tốt nhất thì người giáo viên,
trước hết phải có tấm lòng yêu nghề, mến trẻ thực sự, biết chia sẻ niềm vui, nỗi
buồn cùng trẻ, coi trẻ như con của mình. Như vậy thì mới khắc phục được những
khó khăn và hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Mặt khác, giáo viên phải không ngừng tự học, tự rèn luyện, tìm tòi, sáng tạo
nâng cao trình độ chuyên môn; sưu tầm các trò chơi dân gian, bài hát dân ca, ca
dao, đồng dao, câu đố,…để đưa vào tiết dạy; nghiên cứu kỹ các tác phẩm văn học,
luyện kỹ năng đọc, kể diễn cảm...; tăng cường giao tiếp tiếng Việt cho trẻ vào mọi


lúc, mọi nơi; tham dự các chuyên đề, các tiết dạy mẫu để rút kinh nghiệm; đầu tư
làm đồ dùng, đồ chơi và thay đổi nhiều phương pháp mới trong khi tổ chức hoạt
động làm quen văn học để thu hút trẻ.
Ngoài ra giáo viên cần sử dụng dụng cụ trực quan đa dạng và sinh động; tìm
các thủ thuật đàm thoại để phát huy hết khả năng hiểu biết của trẻ; thường xuyên
cho trẻ ôn luyện, tập đọc, kể mọi lúc, mọi nơi và đặc biệt cô phải kiên trì dạy trẻ
theo quy trình từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp giúp trẻ nắm bắt. Cô khen
ngợi, động viên trẻ kịp thời để trẻ cảm thấy tự tin và vui sướng tham gia vào tiết
học.
Giáo viên làm tốt công tác tuyên truyền kiến thức văn học đến với các bậc
phụ huynh để cùng phối hợp chăm sóc giáo dục trẻ; đánh giá hàng ngày và rút ra
những ưu khuyết điểm sau mỗi tiết học để bổ sung thêm vào các tiết học sau.
2. Ki n nghị
* Với nhà trường
Nhà trường tham mưu với các cấp lãnh đạo để xây dựng nâng cấp tu sửa
trường lớp
Xây dựng kế hoạch mua sắm, bổ sung thêm trang thiết bị, đồ dùng phục vụ
hoạt động dạy và học.
* Với giáo viên
Giáo viên phải nỗ lực hết mình và dành nhiều thời gian nghiên cứu và đầu tư
vào việc giảng dạy, xây dựng kế hoạch cụ thể, đi sâu nội dung bài dạy.
Tự bản thân của mỗi giáo viên phải không ngừng học tập để nâng cao kiến
thức và cập nhật thông tin.
Chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong việc làm đồ dùng phục vụ công tác dạy
học.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà trong thời gian qua tôi đã thực hiện. Tuy
chưa phải hoàn thiện vẫn còn nhiều thiếu sót cần bổ sung nhưng đây c ng là kết
quả mà bản thân tôi đã tìm tòi học h i và vận dụng để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ,


từ đó góp phần phát triển toàn diện về mọi mặt cho trẻ. Rất mong được sự đóng
góp ý kiến đồng nghiệp và hội đồng chấm sáng kiến kinh nghiệm để tôi rút kinh
nghiệm cho bản thân, góp phần đưa chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ngày càng
tốt hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!

Krông Ana, ngày 20 tháng 02 năm 2016
Người vi t

Trần Thị Vinh

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN


TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÊN TÀI LIỆU

STT

1

TÁC GIẢ

Phương pháp cho trẻ làm quen

Cục đào tạo và bồi dưỡng Giáo

với tác phẩm văn học- tập 1

viên - Nhà xuất bản Hà Nội năm
2001.

2

3

Tuyển tập trò chơi, bài hát, thơ

Nhà xuất bản giáo dục năm

truyện mẫu giáo 5- 6 tuổi

2001.

Tài liệu: BDTX chu kỳ hai cho

Nhà xuất bản Hà Nội

Giáo viên Mầm non năm 20042007
4

Tài liệu: BDTX Giáo viên Mầm Nguyễn Thị Minh Thảo
non - Module MN 3

5

Hướng dẫn tổ chức thực hiện Nhà xuất bản giáo dục năm
các họat động giáo dục trong
trường mầm non theo chủ đề (
trẻ từ 5-6 tuổi).

6

Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm Nguyễn Ánh Tuyết NXB ĐHSP
non


MỤC LỤC

MỤC

NỘI DUNG
Phần m đầu

I

TRANG
1

1

Lý do chọn đề tài

1

2

Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

2

3

Đối tượng nghiên cứu

2

4

Giới hạn phạm vi nghiên cứu

3

5

Phương pháp nghiên cứu

3

II

Phần nội dung

3

1

Cơ sở lý luận

3

2

Thực trạng

4

3

Giải pháp, biện pháp

6

4

Kết quả thu đươc từ khảo nghiệm,
giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu

III

K t u n và i n nghị

1

Kết luận

2

Kiến nghị




PHÒNG GD&ĐT KRÔNG ANA
TRƯỜNG MẦM NON HOA PHƯỢNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ 5-6 TUỔI PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VĂN HỌC
TẠI TRƯỜNG MẦM NON HOA PHƯỢNG




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×