Tải bản đầy đủ

Thực tế triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử tại công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện

LỜI NÓI ĐẦU
Sắp bước sang thế kỉ 21, thế kỉ của nền khoa học kĩ thuật đang phát triển với tốc độ nhanh chóng. Đất nước
ta ngày càng hoà nhập hơn vào xu thế tiến bộ đó của thế giới, với những bước đi công nghiệp hoá, hiện đại
hoá để trang bị cho cơ sở vật chất của chúng ta ngày càng tiên tiến hơn hiện đại hơn. Nhờ có chính sách đổi
mới đúng đắn ấy của nhà nước về công nghệ thông tin và thu hút vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt nam
mà hiện nay chúng ta đã có một số thiết bị điện tử được sử dụng ngày càng nhiều vào các ngành như: Phát
thanh truyền hình, Bưu chính viễn thông, các viện nghiên cứu, các bệnh viện lớn, các nhà máy xí nghiệp...
Chúng ta đang thừa hưởng những công nghệ hiện đại vào cuộc sống và công việc hàng ngày thì cũng tồn tại
song song với chính nó là các rủi ro có thể xảy ra đối với các công nghệ đó. Chẳng hạn nếu giả sử hệ thống
bưu chính viễn thông sử dụng các thiết bị điện tử mà gặp sự cố như sét đánh hoặc điều khiển sai kĩ thuật thì
thiệt hại rất là to lớn vì các thiết bị này có đặc điểm là phải nhập ngoại với giá trị rất cao so với thu nhập của
chúng ta. Để khắc phục những rủi ro có thể xảy ra thì bảo hiểm thiết bị điện tử ra đời như một nhu cầu tất
yêú giúp các tổ chức, cơ quan, xí nghiệp... yên tâm, tin tưởng để sử dụng các thiết bị điện tử cho công việc
của mình.
Ở Việt nam, có thể coi bảo hiểm thiết bị điện tử là một trong những nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ mới
nhất và đây là một nghiệp vụ khá phức tạp đòi hỏi kĩ thuật cao trong các công đoạn và trong cách tính phí...
Do vậy nghiên cứu nghiệp vụ này là rất cần thiết đối với những người làm công tác bảo hiểm. Xuất phát từ
cơ sở thực tiễn đó, nên trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện em đã chọn đề tài:
“Thực tế triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử tại Công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện”
Nội dung đề tài gồm một số phần chính như sau:
Phần I:


Những vấn đề lí luận chung về nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử

Phần II:

Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử tại công ty cổ phần bảo
hiểm bưu điện

Phần III:

Một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng nghiệp vụ bảo hiểm thiết
bị điện tử.
Phần I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ
BẢO HIỂM THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ

A> KHÁI

NIỆM CHUNG VỀ BẢO HIỂM THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ

1-Sự cần thiết phải bảo hiểm thiết bị điện tử
a-Khái niệm về thiết bị điện tử
Thiết bị điện tử là các loại thiết bị có chứa linh kiện bán dẫn và các mạch điện tử, thông thường các thiết bị
này không phải thực hiện phải thực hiện bất kỳ hoạt động cơ khí nào. Các hoạt động như truyền và lưu trữ
thông tin đo lường và điều khiển, thử nghiệm, thẩm định và báo động đều do thiết bị điện tử thực hiện.Với ưu

1


điểm là có tốc độ truyền cực nhanh và chính xác tuyệt đối, kích cỡ các linh kiện rất nhỏ, do đó chúng trở nên
rất quan trọng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Đơn giản lấy ví dụ như kĩ thuật điện tử được ứng dụng vào
giải quyết vấn đề nghiêm trọng là nạn giao thông mật độ cao. Thông qua kĩ thuật máy tính, kĩ thuật điện tín
và các kĩ thuật khác lắp trên ô tô và dọc đường để đạt được mục đích cải thiện tình hình an toàn giao thông
và nâng cao khả năng giao thông trên đường. Hiện nay do mật độ xe cộ dày đặc mà mỗi năm Mỹ thiệt hại về
kinh tế lên tới 100 tỷ đô la, số người chết do tai nạn giao thông mỗi năm tới 41.000 người và 5 triệu người bị
thương.
Các thiết bị điện tử cho phép tự động hoá trong các quả trình công nghệ và kiểm tra sản phẩm ở các xí nghiệp
dệt, nhà máy chế tạo mô tơ, hoá chất trong hầm mỏ, nhà máy đóng tàu. Các thiết bị điện tử trực tiếp làm tăng
năng xuất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải thiện điều kiện làm việc. Chẳng hạn, trong việc học
ngoại ngữ chỉ cần dùng máy vi tính và hệ thống loa âm thanh ta có thể nghe chính xác như người nước ngoài

nói mà không phải có giáo viên trực tiếp dạy.
Ta có thể áp dụng những thành tựu của điện tử trong những thiết bị sử dụng hàng ngày như vô tuyến truyền
hình, máy ghi âm máy thu thanh. Ngoài ra do sử dụng cáp quang và hệ thống vệ tinh mà khả năng liên lạc
toàn cầu sẽ được thực hiện một cách dễ dàng khả năng lựa chọn bất cứ chương trình vô tuyến và radio hoậc
thậm chí thực hiện chương trình riêng từ băng ghi hoặc phím, khả năng thu tại nhà những bản in như; tin tức
báo chí, những tư liệu khác nhau từ trung tâm tính toán.
Để tìm hiểu một cách chi tiết về thiết bị điện tử phục vụ cho đề tài này, có thể phân loại thiết bị điện tử ra làm
các loại như sau:
- Các thiết bị EDP (Electronic Data processing) và các thiết bị điện tử dùng trong văn phòng (máy vi tính,
máy tính trung tâm), các thiết bị ngoại vi như máy in, máy đếm, máy photocopy, máy chiếu...
-Thiết bị viễn thông: thiết bị điện thoạI (ở các tổng đài điện tử), thiết bị truyền xa (hệ thống telex,selex. .. )
- Thiết bị thu thanh truyền hình: các thiết bị rada, trạm vệ tinh mặt đất, các bộ kính thiên văn..., camêra
truyền hình, thiết bị ghi hình, thiết bị tạo hình, phòng ghi và sao video.
- Thiết bị chiếu sáng và thiết bị hàng hải: thiết bị đèn chiếu, đèn pha, đèn huỳnh quang, các hệ thống tín
hiệu, các hệ thống vô tuyến điện thoại và thiết bị hàng hải bằng điện tử.
- Thiết bị y tế: thiết bị tia X quang dùng cho chẩn đoán, thiết bị bức xạ đẳng hướng dùng để trị liệu, thiết bị
phân tích dùng trong y học. ..
- Các bộ truyền dẫn và phát tín hiệu: các hệ thống báo động, hệ thống đồng hồ đo, máy dò tìm và các hệ
thống liên lạc bên trong.
Vì phạm vi bài viết có hạn, nên em chỉ đi sâu vào các thiết bị mà thực tế công ty Bảo hiểm Bưu điện (gọi tắt
là PTI) đã triển khai về nghiệp vụ. Đó là thiết bị EDP, thiết bị viễn thông, thiết bị thu phát thanh, truyền
hình.
b, Sự cần thiết phải bảo hiểm thiết bị điện tử:

2


Bước vào thế kỉ 21, sự phát triển của khoa học kĩ thuật sẽ là vấn đề then chốt cho sự đi lên của thế giới văn
minh. Các máy móc thiết bị đa số liên quan đến điện tử, từ các máy tính cá nhân cho đến những vệ tinh đang
bay quanh trái đất của chúng ta. Do đó đòi hỏi phải có sự đảm bảo về mặt tài chính nhằm tiến triển liên tục
nhanh chóng và có hiệu quả.
Các rủi ro được bảo hiểm trong bảo hiểm thiết bị điện tử cũng rất đa dạng, từ các rủi ro thiên tai: mưa, bão,
lụt... cho tới các rủi ro do con người gây ra như: sai lầm trong thiết kế, sai lầm của người điều khiển, hành
động phá hoại... chỉ cần một sai sót nhỏ, có thể rất nhỏ xảy ra cũng có thể dẫn đến nhứng hậu quả to lớn
không thể lường trước được. Nó gây tác hại không chỉ cho một ngành hay một khu vực kinh tế quốc đân mà
còn cho nhiều ngành nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau. Nó cũng có thể làm chậm hẳn lại sự tiến triển của một
ngành khoa học. Đặc biệt ngày nay nhiều công trình, máy móc, thiết bị với các chức năng tự động hoá, chuyên
môn hoá cao, có giá trị rất lớn. Nếu tai nạn xảy ra có thể dẫn tới thiệt hại to lớn, thậm chí có thể dẫn đến phá sản.
Cũng giống như loại hình bảo hiểm khác, bảo hiểm thiết bị điện tử nhằm ổn định hoạt động của các tổ chức
kinh tế trong trường hợp chẳng may gặp các rủi ro nói trên. Với việc thu phí bảo hiểm của nhiều tổ chức kinh
tế và cá nhân có liên quan trong xã hội để lập qũi bảo hiểm và quan hệ tái bảo hiểm có đủ khả năng bồi
thường ngay tổn thất cho người được bảo hiểm, cho dù tổn thất có lớn tới mức nào đi chăng nữa, giúp họ
nhanh chóng khắc phục hậu quả tổn thất, khôi phục sản xuất kinh doanh và đời sống.
Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, mỗi tổ chức, đơn vị, xí nghiệp đều phảI tự chủ về mặt tài chính và
chủ động trong kinh doanh. Với cơ sở vật chất sẵn có của mình, họ phải lo liệu làm sao sản xuất kinh doanh
đạt được hiệu quả cao nhất. Cơ chế mới đó vừa thúc đẩy sự phát triển sản xuất của các xí nghiệp, mặt khác
đòi hỏi các xí nghiệp phải tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh vì với việc xoá bỏ cơ chế bao cấp, các xí
nghiệp sẽ không được Nhà nước trợ cấp trong các trường hợp làm ăn không có hiệu quả hoặc không may gặp
phải rủi ro làm ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh. Điều đó, buộc các doanh nghiệp phải quan tâm đến vấn đề
bảo hiểm. Nếu tham gia bảo hiểm, trong trường hợp gặp phải các rủi ro gây ra thiệt hại tới tài sản, tiền vốn của họ
thì bảo hiểm sẽ bồi thường kịp thời các tổn thất đó, giúp người được bảo hiểm giải quyết ngay khó khăn về mặt tài
chính, không cần xin ngân sách nhà nước trợ cấp. Căn cứ vào điều kiện tài chính của mình, chỉ với một khoản
phí bảo hiểm rất nhỏ trả cho người bảo hiểm, khi gặp tổn thất người được bảo hiểm sẽ nhận được khoản tiền
bồi thường của người bảo hiểm và sẽ chủ động nhanh chóng khôI phục, đưa sản xuất kinh doanh trở lại bình
thường.
Ngoài ra, khi tiến hành bảo hiểm thiết bị điện tử Người bảo hiểm cùng với các ngành, các cơ quan hữu quan
khác phối hợp tiến hành công tác đè phòng, hạn chế tổn thất nhằm ngăn chặn có hiệu quả các rủi ro có thể
gây ra thiệt hại đối với tài sản, con người. Đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm thiết bị điện tử, các biện pháp đề
phòng, chữa cháy, kiểm tra, giám định các thiết bị máy móc, đóng vai trò quan trọng. Theo thông lệ, trước
khi tiến hành bảo hiểm, người bảo hiểm phải theo rõi, kiểm tra và đánh giá mức độ rủi ro của đối tượng được
yêu cầu bảo hiểm, trên cơ sở đó sẽ đóng góp kịp thời cho người được bảo hiểm các biện pháp cần thiết để
hạn chế kha năng xảy ra các rủi ro gây nguy hại cho tài sản được bảo hiểm.
c,Vai trò và tác dụng của bảo hiểm thiết bị điện tử
Bảo hiểm thiết bị điện tử (Electronic Equipment Insurance-EEI) có một số ưu điểm so với các loại hình bảo

3


hiểm khác như:
Một là, EEI đưa ra khái niệm bảo hiểm rộng rãi nhất trong ngành bảo hiểm. Dựa trên đơn bảo hiểm mọi rủi
ro với rất ít các điều kiện loại trừ, nó bảo đảm việc bồi thường sau khi tổn thất hay hư hỏng, thậm chí cả
trong các trường hợp không đáng quan tâm hay không quan trọng đối với tài sản khác ví dụ như việc vận
hành không có chuyên môn, dao động điện áp, ám khói, ẩm ướt và nổ đèn chân không. Tuy nhiên, các hiểm
hoạ ấy đã gây ra một rủi ro rất nghiêm trọng cho thiết bị điện tử có độ nhạy cảm về tần số và tính khốc liệt.
Cũng như vậy, một nguyên nhân tương đối nhỏ nhưng cũng có thể ảnh hưởng lớn về tài chính đối với tính
liên tục của hoạt động kinh doanh bởi vì các hoạt động này có thể hoàn toàn phụ thuộc vào tình trạng sức
khoẻ của “trái tim" thiết bị điện tử.
Hai là, điều khoản tiêu chuẩn trong bảo hiểm thiết bị điện tử có đưa ra điều kiện hoàn trả tiền trên cơ sở giá
trị thay thế mới. Điều này đã đặt người được bảo hiểm vào một vị trí sẵn có nguồn tiền đầy đủ để thay thế
ngay lập tức và không có sự khấu trừ thông thường theo điều kiện “mới thay cũ".
Ba là, Bảo hiểm thiết bị điện tử mở rộng cả với thiệt hại mọi lĩnh vực phần mềm và sự ứng dụng của nó.
Ngày nay, dữ liệu gốc và dữ liệu giao dịch được lưu trữ vào máy tính là nguồn thông tin phổ biến của mỗi
công ty do đó cả phần mềm và dữ liệu là những tài sản rất có giá trị đối với mọi doanh nghiệp. Sự tồn tại và
tính chính xác của chúng bị đe doạ bởi rất nhiều rủi và hiểm hoạ đa dạng khi so sánh với chính thiết bị đó.
Các hoạt động có thể bị gián đoạn cho tới khi việc phục hồi đầy đủ thông tin được tiến hành.
Bốn là, để chiều theo ý khách hàng, bảo hiểm thiết bị điện tử có thể thay đổi phù hợp với từng nhu cầu thông
qua các bản sửa đổi bổ xung và cơ cấu định giá rủi ro.
2. Lịch sử phát triển bảo hiểm thiết bị điện tử
a) Khái quát về lịch sử bảo hiểm kĩ thuật
So với các loại hình bảo hiểm khác như: Bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm cháy... thì bảo hiểm kĩ thuật ra đời
chậm hơn. Có thể nói rằng: Bảo hiểm kĩ thuật ra đời cùng với sự xuất hiện của cuộc cách mạng khoa học kĩ
thuật và chính sự phát triển của khoa học kĩ thuật là động lực thúc đẩy sự lớn mạnh không ngừng của lĩnh
vực bảo hiểm này. Ta có thể đưa ra một vàI số liệu để so sánh như sau:
- Bảo hiểm cháy ra đời từ năm 1667
- Bảo hiểm hàng hải ra đời vào năm1687
- Đơn bảo hiểm kĩ thuật đầu tiên xuất hiện vào năm 1859
Đó là đơn bảo hiểm về máy móc và năm 1859 xuất hiện đơn bảo hiểm đầu tiên cho nồi hơi.
Tuy sinh sau đẻ muộn hơn so với các loại hình bảo hiểm khác, nhưng với sự phát triển nhanh chóng của khoa
học kỹ thuật, đặc biệt trong thế kỷ 20 này, bảo hiểm kĩ thuật cũng đã tiến được những bước dài quan trọng và
trở thành một trong những loại hình bảo hiểm quan trọng nhất hiện nay. Trong năm 1972, tổng số phí BHKT
tại CHLB Đức chỉ đạt 567 triệu DM, nhưng năm 1981 đã tăng lên tới 1294 triệu DM

4


BHKT hiện nay đã xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực của hoạt động kinh tế, khoa học trên toàn thế giới, từ
việc bảo hiểm các máy móc trong các xí nghiệp sản xuất, các dụng cụ tinh vi trong y tế, trong các phòng thí
nghiệp cho tới việc bảo hiểm cho công trình xây lắp khổng lồ, các công tá lắp ráp máy bay, tàu biển cỡ lớn và
cho cả con tàu vũ trụ... công ty Munich Re, một công ty tái bảo hiểm đứng đầu thế giới,là một trong những
công ty đã sáng lập và phổ biến rộng rãi loại hình bảo hiểm này cùng với các công ty khác trên thị trường bảo
hiểm Lon don -trung tâm bảo hiểm thế giới.
b) Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm thiết bị điện tử
Bảo hiểm thiết bị điện tử là một nghiệp vụ bảo hiểm tuy ra đời muộn hơn so với các loại hình bảo hiểm khác
nhưng đã phát triển rất nhanh và chiếm một tỷ lệ lớn trong doanh thu phí bảo hiểm kĩ thuật. Gọi là ra đời
muộn nhưng nhìn lại lịch sử phát triển của loại hình bảo hiểm này, chúng ta thấy nó cũng đã có trên 70 năm
phát triển.
Từ những năm 20 của thế kỉ này đã xuất hiện những hợp đồng bảo hiểm thiết bị điện tử như là những phần
bổ xung cho các hợp đồng thuê mướn và bảo dưỡng thiết bị. Vào năm 1921 công ty chuyên về bảo hiểm thiết
bị điện tử đầu tiên trên thế giới đã được thành lập.
Với nguồn gốc của nó trong những năm 1920 ở Đức, bảo hiểm điện áp thấp, như tên gọi của nó sau đó được
bắt đầu như một loại hình bảo hiểm chuyên biệt cho thiết bị điện thoại, chủ yếu là để bảo vệ các công ty thuê
bao điện thoại chống lại ảnh hưởng về mặt tài chính có tính chất hậu quả của tổn thất hay hư hỏng thiết bị.
Trong những năm 30, phạm vi vủa những thiết bị được bảo hiểm được mở rộng bao gồm các hệ thống loa
chuyên dùng, hệ thống tín hiệu ánh sáng và hệ thống báo cháy cũng như các thiết bị viễn thông khác, tiếp đến
là xuất hiện của thế hệ máy tính điện tử.
Công nghệ máy tính hiện đại đã phát triển và được hoàn chỉnh bởi KONZADZNSE tai Đức vào năm 1941.
Trong cùng thời gian đó ở Mỹ, hình thành chuỗi máy tính điều khiển tự động, bước tiếp theo là sử dụng các
ống điện tử cho việc tính toán. Máy tính lớn nhất ENIAC là một hệ thống khổng lồ với hơn 18000 ống điện
tử, 1500 thiết bị ngoại vi khác và có mức tiêu thụ trên 150KW. Sau đó là một chương trình ghi nhớ được phát
hiện bởi nhà toán học John Newman trong năm 1948.
Cho đến năm 1950, có sự thay thế các ống điện tử bằng transito và diot. Từ trước đến năm 1960 vi mạch điện
tử mở đường cho “cách mạng công nghiệp lần thứ 3"
Tiếp đến năm 1970: những yếu tố rủi ro mới xuất hiện đòi hỏi phải có những điều kiện bảo hiểm mới dẫn đến sự ra
đời đơn bảo hiểm thiết bị điện tử (EEI).
Năm 1980 EEI trở thành hợp đồng bảo hiểm được yêu cầu nhiều nhất trong lĩnh vực bảo hiểm kĩ thuật.
Không còn nghi ngờ gì nữa, sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp điện tử trong thế kỉ 20 cùng
với sự xâm nhập có nhiều đổi mới của loại hình bảo hiểm thiết bị điện tử đã tạo ra loại hình bảo hiểm chuyên
dụng này có tầm quan trọng hiện nay của thế giới bảo hiểm. Ngày nay nhiều doanh nghiệp không thể cạnh
tranh khi thiếu vô số các loại công nghệ mà nghành điện tử cung cấp và trong trường hợp tổn thất hay hư
hỏng thiết bị điện tử của mình nhiều công ty có thể không có khả năng tồn tại lâu dài. Tình hình này đã có lợi

5


cho sự phát triển của loại hình bảo hiểm thiết bị điện tử trong quá khứ và sẽ phát triển liên tục trong nhiều
năm tới.
Hiện nay theo ước tính thì tại thị trường bảo hiểm đức, một thị trường được coi là phát triển nhất vê bảo hiểm
kĩ thuật nói chung và bảo hiểm thiết bị điện tử nói riêng. Năm 1992 ở đức, bảo hiểm thiết bị điện tử đã tạo ra
doanh thu phí bảo hiểm vượt hơn 450.000.000 U S D chiếm gần 33% tổng doanh thu phí bảo hiểm kĩ thuật.
Ở Việt nam, bảo hiểm thiết bị điện tử đến thời điểm này có thể coi là một trong những sản phẩm mới nhất
được tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Baoviet) nghiên cứu triển khai bắt đầu vào tháng 10 năm 1996
3. Một số điều kiện thuận lợi của Việt nam trong việc hình thành và phát triển nghiệp vụ bảo hiểm
thiết bị điện tử
Để hình thành và phát triển nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử không thể đơn thuần áp dụng một
cách máy móc, một sự tiếp thu thiếu chọn lọc từ nhiều nước trên thế giới mà ngoài tính lí thuyết đầy thuyết
phục thì xuất phát điểm thứ hai đó là tình hình thực tế, nó có phù hợp có khả thi hay không. Cũng một nghiệp
vụ bảo hiểm nhưng chỉ có thể thành công ở nước này nhưng lại hoàn toàn không triển khai được ở nước
khác, điều này cũng chính là do điều kiện nội tại của bản thân mỗi nước, có đặc điểm và ưu thế riêng. Các
điều kiện đó chính là: điều kiện về kinh tế, điều kiện về dân số và điều kiện về môi trường pháp lí. Ở Việt
nam các điều kiện đó như sau:
a,Điều kiện về kinh tế
Kinh tế là một trong những biểu thức quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển nghiệp vụ
này. Khi một nền kinh tế nghèo nàn thì điều kiện đầu tư cho cơ sở vật chất sẽ không được trang bị hiện đại
do đó sẽ không có bảo hiểm thiết bị điện tử. Nhưng thực tế là ở Việt nam kinh tế chưa phải là phát triển song
những gì mà nền kinh tế đã đạt được như hiện nay quả là một điều kiện hết sức thuận lợi cho nghiệp vụ bảo
hiểm thiết bị điện tử phát triển.
Sau khi có chính sách đổi mới về kinh tế, mở cửa ra thị trường thế giới thì thị trường việt nam về công nghệ
thông tin đã được khởi sắc từ đầu những năm 90. Bước khẳng định cho sự phát triển thị trường này là tác
động vĩ mô của nhà nước về chính sách công nghệ thông tin. Ngày 7 tháng 4 năm 1993 chính phủ ban hành
Nghị định 49/CP xác định chính sách, quan điểm và mục tiêu của việc phát triển công nghệ thông tin đến
năm 2000.
Các công ty máy tính tầm cỡ thế giới bắt đầu bước vào thị trường Việt Nam như Compaq, IBM, ACER. ..
Một yếu tố hết sức thuận lợi nữa là khi nền kinh tế Việt nam có mức độ tăng trưởng cao và ổn định thì đi đôi
với nó là yêu cầu phục vụ về thông tin, phục vụ về sức khoẻ cho người dân, phục vụ sinh hoạt giải trí hết sức
được quan tâm. Đó là các nghành như: truyền hình,thiết bị phục vụ y tế, các trung tâm điện tử, viện nghiên
cứu... bắt buộc phải có các thiết bị điện tử có giá trị lớn nhập từ nước ngoài về. Do đó muốn bảo đảm cho
chúng trong điều kiện hết sức phức tạp ở Việt nam, các cơ quan như truyền hình bệnh viện, bưu điện, phải
tham gia nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử.
Bảng 1:Minh hoạ về tốc độ tăng trưởng GDP của Việt nam trong thời gian 1994-1998
Năm

1994

1995

6

1996

1997

1998


Tốc độ tăng trưởng(%)

8,8

9,5

9,3

9,0

6,1

Môi trường kinh tế nói chung đang tạo điều kiện thuận lợi cho những nước kém phát triển như Việt nam
những cơ hội thuận lợi để mau chóng hội nhập vào mạng lưới thông tin quốc tế. Tính toàn cầu hoá của mạng
lưới thông tin quốc tế biến bất cứ một quốc gia nào không phải là chiều đi hay chiều đến thì cũng trở thành
nơi quá cảnh của các luồng thông tin và do đó việc nâng cao tính đồng bộ của hệ thống thông tin toàn cầu trở
thành yêu cầu khách quan. Với một đất nước hơn 70 triệu dân, mặt bằng thông tin còn nhiều trống vắng
nhưng lại có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, rõ ràng thị trường công nghệ thông tin Việt nam có sức hút lớn
đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này. Trong những năm gần đây, dưới tác động của chính
sách đổi mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đã mở ra những nhu cầu to lớnvề thông tin trong hoạt động kinh
doanh và mức sống của dân cư được nâng lên đã kéo theo những nhu cầu mới trong giao tiếp và trao đổi
thông tin không những trong lĩnh vực kinh tế mà còn trong đời sống tình cảm tinh thần và nâng cao kiến
thức. Như vậy, tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống đang và sẽ mở rộng thị trường công nghệ thông tin
ngày càng lớn hơn. Đồng thời chính sách mở cửa và quá độ sang kinh tế thị trường còn hình thành một
khuôn khổ thể chế mới cho các quan hệ hợp tác và đầu tư quốc tế phát triển hơn nữa, đặc biệt là thời kì sau
khi quan hệ giữa Việt nam và Mỹ được bình thường hoá. Trong lúc đó, việc Việt nam trở thành thành viên
chính thức của ASEAN, quan hệ kinh tế Việt nam với Nhật bản, với các nước EU và các quốc gia khác trên
thế giới đang tiến triển tốt, đã giúp cho thị trường công nghệ thông tin có điều kiện không hạn chế trong việc
tìm kiếm đối tác liên doanh đáp ứng kịp thời đòi hỏi của tình hình mới.
b, Điều kiện về dân số:
Dân số là một trong những vấn đề quan trọng, là cơ sở để công ty PTI dự đoán tiềm năng trong tương lai,
những lỗ hổng của thị trường mà công ty chưa khai thác được. Do đó nghiên cứu dân số để tìm ra được thực
tế của nó trên các mặt này sẽ là một trong những điều kiện tiên quyết giúp công ty thành công trên con đường
kinh doanh bảo hiểm nói chung và nghiệp vụ này nói riêng.
Bảng 2:Công nghệ thông tin và dân số các nước
Stt

Quốc gia

Dân số (triệu người)

Số máy tính/1000người

72

0,5

1

Việt nam

2

Trung quốc

1178

1,00

3

Ấn độ

903

1,00

4

Philipin

68

4,00

5

Thái lan

59

9,00

6

Hàn quốc

45

37,00

7

Đài loan

21

74,00

8

Nhật

125

97,00

9

Hồng kông

6

101,00

10

Singapo

3

125,00

11

New Zealand

3

147,00

12

Úc

18

192,00

13

Mỹ

258

287,00

7


Nguồn:PC WoRLD 12/1995
Từ bảng trên cho ta thấy mức cầu của công nghệ thông tin một số nước trên thế giới. Qua bảng này ta thấy
số máy vi tính /1000người dân của Việt nam là rất thấp, chứng tỏ rằng Việt nam còn là một thị trường công
nghệ thông tin tiềm năng lớn. Do đó bảo hiểm trong lĩnh vực này có nhiều cơ hội để phát triển và đạt kết quả
khả quan trong tương lai.
c,Điều kiện môi trường pháp lí:
Chúng ta không thể phủ nhận được tầm quan trọng của môi trường luật pháp đối với nghiệp vụ bảo hiểm
thiết bị điện tử. Một môi trường luật bảo hiểm thông thoáng ra đời sớm sẽ có nhiều ưu thế đối với các công
ty bảo hiểm. Ở Việt nam bước đầu đã có được ưu thế đó:
+ Từ cuối năm 1993 chính phủ Việt nam ban hành nghị định 100/CP định hướng phát triển thị trường bảo
hiểm Việt nam với việc cho phép các thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm kể cả
thành phần kinh tế tư nhân và nước ngoài. Cho phép các loại hình bảo hiểm tồn tại và phát triển bao gồm
công ty bảo hiểm gốc, công ty chuyên tái bảo hiểm kể cả mạng lưới trung gian bảo hiểm (môi giới và đại lí )
Một môi trường như vậy sẽ tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm nói chung và bảo hiểm thiết bị điện tử nói
riêng tồn tại và phát triển một cách ổn định và vững chắc.
+ Bộ tài chính đã ban hành các văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thực hiện nghị định 100/CP (thông tư
46):qui định chế độ quản lí tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm (thông tư 45):qui định chế độ hoa hồng
bảo hiểm (thông tư 76 và 02 )qui định tái bảo hiểm bắt buộc (qui định 1235)hướng dẫn bảo hiểm các công
trình xây dựng theo nghị định 117/CP(thông tư 105)
+ Luật bảo hiểm đang được nghiên cứu và soạn thảo
Các văn bản pháp qui khác liên quan đến hoạt động bảo hiểm đang được soạn thảo, hoàn chỉnh sửa đổi bổ
xung như:chế độ kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp bảo hiểm, luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam
Tất cả những tình hình trên thể hiện một môi trường pháp lí tương đối ổn định và đang được hoàn thiện theo
một định hướng phù hợp xu thế chung của thế giới.

B- NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ
I- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI BẢO HIỂM CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM THIẾT
BỊ ĐIỆN TỬ
1- Đối tượng bảo hiểm
Trong bảo hiểm thiết bị điện tử đối tượng bảo hiểm là các loại máy móc thiết bị điện tử (tức là những máy
móc thiết bị có lắp cac mạch và các linh kiện điện tử )dùng trong các ngành các lĩnh vực khác nhau như bưu
điện, viễn thông, tin học, y tế, điện ảnh, phát thanh truyền hình, hàng hải, hàng không, khí tượng khoa học kĩ
thuật vv.....

8


2-Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi bảo hiểm thiết bị điện tử được chia ra làm 3 phần. Đó là bảo hiểm vật chất đối với các thiết bị điện
tử, bảo hiểm cho phương tiện lưu trữ dữ liệu bên ngoài và bảo hiểm chi phí gia tăng. Người tham gia bảo
hiểm có thể tham gia một hoặc cả 3 phần này và khi đó mức phí bảo hiểm và quyền lợi của người được bảo
hiểm cũng phụ thuộc tương ứng vào việc lựa chọn các phạm vi bảo hiểm này.
Phần I-Tổn thất vật chất đối với thiết bị
Công ty PTI sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm những thiệt hại vật chất bất ngờ không lường trước xảy
ra đối với thiết bị điện tử do các nguyên nhân như: cháy nổ, sét đánh trực tiếp hoặc gián tiếp, đoản mạch,
nước, sơ xuất của người sử dụng và các sự cố ngẫu nhiên khác không bị loại trừ theo các điều kiện của đơn
bảo hiểm.
Ngoài ra, nếu các thiết bị điện tử đã được công ty PTI bảo hiểm theo phần I nói trên người được bảo hiểm có
thể mua bảo hiểm thêm cho các phần II và III như đề cập dưới đây.
Phần II:Phương tiện lưu trữ dữ liệu bên ngoài
Công ty PTI sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm những chi phí để sửa chữa hoặc thay thế các phương
tiện lưu trữ dữ liệu bên ngoài trong trường hợp chúng bị tổn thất do các rủi ro được bảo hiểm như qui ddịnh ở
phần I gây ra và các chi phí để khôi phục lại những thông tin đã mất. Phần II chỉ có hiệu lực khi người được
bảo hiểm tham gia cả phần I của đơn bảo hiểm này
Phần III-Chi phí gia tăng
Nếu hệ thống xử lí dữ liệu điện tử (EDP) bị tổn thất vật chất thuộc pham vi bảo hiểm, công ty PTI sẽ bồi
thường cho người được bảo hiểm các chi phí cho việc tạm thời thuê mướn các thiết bị thay thế cũng như các
chi phí về nhân công và các chi phí gia tăng khác theo qui định của Đơn bảo hiểm nhằm đảm bảo cho các
hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của người được bảo hiểm không bị gián đoạn khi tổn thất xảy ra.

II-RỦI RO BẢO HIỂM VÀ NHỮNG ĐIỂM LOẠI TRỪ
1-Rủi ro bảo hiểm
Có thể nói rủi ro bảo hiểm là một trong những khái niệm cơ bản cùng với "bảo hiểm", "đối tượng bảo hiểm".
Rủi ro bảo hiểm là yếu tố cấu thành phạm vi bảo hiểm, là tiêu chuẩn để xác định một sự cố có phải là sự cố
bảo hiểm hay không. Và do đó, rủi ro bảo hiểm là khái niệm chi phối mạnh mẽ kết cục xử lí một khiếu nại
bảo hiểm, một vấn đề tài chính -pháp lí tập trung và phức tạp nhất trong lĩnh vực bảo hiểm.
Thiết bị bảo hiểm phải chịu rất nhiều yếu tố rủi ro có thể dẫn đến tổn thất. Một số rủi ro chính là:các rủi rỏ về
kĩ thuật như: Cháy, nước, động đất, bão, sét đánh.
Các yếu tố môi trường như:sự thay đổi về nhiệt độ, độ ẩm, khói bụi. .. Tăng điện áp đột ngột, chập mạch
điện, hỏng hóc cơ học, lỗi do bất cẩn, cẩu thả của những người vận hành, phá ngầm trộm cắp.

9


Tất cả các rủi ro thường hay xảy ra đối với thiết bị điện tử kể trên đều được bảo hiểm theo Đơn bảo hiểm
thiết bị điện tử của PTI. Đơn bảo hiểm thiết bị điện tử là dạng đơn bảo hiểm mọi rủi do, chỉ không bảo hiểm
những nội dung được ghi trong phần “các điểm loại trừ “Như vậy, có thể thấy phạm vi bảo hiểm của đơn bảo
hiểm này là rất rộng so với các loại đơn bảo hiểm khác có thể bảo hiểm cho loại hình tài sản này, ví dụ như
đơn bảo hiểm cháy, nổ, sét đánh (trực tiếp) và một và rủi ro khác không điển hình đối với các thiết bị điện tử
(như rủi ro do máy bay và các phương tiện hàng không khác rơi vào ; gây rối, bạo loạn, đình công, giông
bão.... Nhưng hầu hết những rủi ro được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm cháy không phải là rủi ro điển hình cuả
thiết bị điện tử.

10


Bảng 3: Bảo hiểm cho các TBĐT
(Các rủi ro chính được bảo hiểm theo các đơn BH khác nhau)

Các rủi

Cháy (bao

Sét

Cháy

Thiệt

Cướp



Vận

ro

gồm cả

đánh,

xém,

hại do

Trộ

bóc,



lụt,

hành

bảo

các tổn

nổ,

cháy

điện

m

phá

rỉ

ngậ

sai

hiểm

thất phát

đâm

âm ỉ

(đoản

cắp

hoại

nướ

p

(bất

sinh từ các

va của

phủ

mạch,

ngầm,

c

nướ

cẩn,

công việc

máy

bụi bồ

quá

hành

c

cẩu

Loại

chữa cháy

bay

hóng

điện

động cố

thả,

hình

và cứu hộ)

áp..)

ý

thiếu

bảo

kỹ

hiểm

năng..)

Bảo



















hiểm
TBĐT
Chỉ sét
BH



đánh
trực

Cháy

tiếp,
nổ hoá
học
BH
Trộm



BH thiệt
hại



do

nước
Chỉ sét
BH Máy

đánh

móc

gián





11








tiếp,nổ
lý học
2.Những điểm loại trừ
a) Điểm loại trừ chung:
Công ty PTI không bồi thường những thiệt hại là hậu quả trực tiếp của sự hao mòn hay hư hỏng dần
theo thời gian,chiến tranh và bạo lực, trộm cắp (trừ khi có thoả thuận riêng) hành động ác ý hoặc có chủ ý
của người được bảo hiểm, phản ứng hạt nhân và nhiễm phóng xạ, lập chương trình sai, các chi phí để thực
hiện công tác bảo dưỡng nhằm mục đích hạn chế và ngăn ngừa tổn thất và đảm baỏ cho các thiết bị hoạt động
an toàn.
b.Các điểm loại trừ riêng:
Các điểm loại trừ riêng được áp dụng cho từng phần:
- Phần tổn thất vật chất đối với thiết bị
- Phương tiện lưu trữ dữ liệu bên ngoài
- Chi phí gia tăng
Cụ thể ta đi vào từng phần:
* Tổn thất vật chất đối với thiết bị điện tử:
Công ty PTI sẽ không chịu trách nhiệm đối với:
-Mức khấu trừ qui định trong bảng tóm tắt điều kiện bảo hiểm (gọi tắt là BTTĐKBH) mà người được bảo
hiểm phải chịu trong mọi sự cố. Tuy nhiên nếu tronng một sự cố có 2 hạng mục trở lên bị tổn thất thì người
được bảo hiểm chỉ chịu mức khấu trừ cao nhất trong các mức khấu trừ áp dụng cho các hạng mục bị tổn thất
đó
-Tổn thất trực tiếp hay gián tiếp gây nên bởi núi lửa động đất, sóng thần, gió xoáy và bão mạnh từ cấp 8 trở
lên
-Tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do trộm cướp.
-Tổn thất mà hậu quả của nó là do tác động như hao mòn, nứt vỡ, ăn mòn kim loại, mài mòn đóng cặn hoặc
hư hỏng dần theo thời gian bởi các yếu tố bên ngoài tác động.
- Tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do các dịch vụ hoặc nguồn cung cấp ví dụ: điện nước, khí ga bị hỏng hóc.
- Tổn thất do sự sai sót trong đơn bảo hiểm tại thời điểm có hiệu lực mà người được bảo hiểm nhận ra điều
đó cho dù công ty PTI có nhận ra hay không.
- Tổn thất thuộc trách nhiệm cuả các nhà chế tạo hoặc nhà cung cấp các hạng mục thiết bị được bảo hiểm theo qui

12


định của pháp luật hoặc theo hợp đồng.
- Bất cứ khoản phát sinh chi phí nào có liên quan đến việc bảo dưỡng cho các hạng mục được bảo hiểm
- Bất cứ các chi phí nào bỏ ra có liên quan đến việc khắc phục những trục trặc về các chức năng hoạt động
trừ khi các trục trặc đó là do một tổn thất có thể được bồi thường theo đơn bảo hiểm đó gây ra.
- Tổn thất đối với các thiết bị cho thuê hay được thuê mà người chủ các thiết bị đó phải có trách nhiệm theo
luật định hoặc theo một thoả thuận thuê mướn hay thoả thuận bảo dưỡng nào đó.
-Tất cả các loại tổn thất có tính chất hậu quả.
-Tổn thất đối với các bộ phận như bóng đèn, đèn điện tử, ống điện tử,ruy băng, cầu chì, vòng điện kín, dây
đai (dây cu loa). Dây dẫn hoậc dây thép, xích, lớp cao su, các dụng cụ có thể thay đổi được, xi lanh, các vật
bằng thuỷ tinh, gốm sứ, lưới lọc hoặc lưới thép hay bất kì chất liệu sử dụng nào (ví dụ như dầu bôi trơn,
nhiên liệu, các loại hoá chất )
- Các khuyết tật ảnh hưởng đến thẩm mỹ, ví dụ:các vết tỳ xước trên bề mặt đã được sơn,đánh bóng hoặc
tráng men.
* Phương tiện lưu trữ dữ liệu bên ngoài:
Công ty PTI thoả thuận với người được bảo hiểm rằng nếu các phương tiện EDM (phương tiện lưu trữ dữ
liệu bên ngoaì ghi trong bảng tóm tắt điều kiện bảo hiểm (bao gồm các thông tin lưu trữ trên đó mà các thông
tin này có thể được xử kí trực tiếp trong các hệ thống EDP) bị bất kì một tổn thất vật chất nào có thể được bồi
thường theo phần thiệt hại vật chất. Công ty PTI sẽ bồi thường những tổn thất đó với mức bồi thường trong
bất cứ năm bảo hiểm nào cũng không vượt quá số tiền ghi trong bảng tóm tắt điều kiện bảo hiểm với điều
kiện là các tổn thất đó xảy ra trong thời hạn bảo hiểm ghi trong bảng tóm tắt điều kiện bảo hiểm hoặc trong
bất cứ giai đoạn bảo hiểm nào tiếp theo mà người được bảo hiểm đã trả và công ty PTI đã nhận một khoản
phí bảo hiểm để gia hạn cho đơn bảo hiểm đó.
Tuy nhiên công ty PTI sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường:
- Mức khấu trừ qui định trong bảng tóm tắt điều kiện bảo hiểm mà người được bảo hiểm phải chịu trong mọi sự cố.
- Các chi phí phát sinh do lập chương trình,đục lỗ ghi nhãn hoặc chèn thông tin sai, xoấ thông tin do nhầm
lẫn hoặc loại bỏ không dùng các phương tiện chứa dữ liệu hoặc mất thông tin do tác động của từ trường
- Tất cả các loại tổn thất có tính chất hậu quả dưới bất kì hình thức nào
*Chi phí gia tăng
Công ty PTI thoả thuận với người được bảo hiểm rằng nếu tổn thất vật chất có thể được bồi thường theo phần
thiệt hại vật chất của đơn bảo hiểm làm cho hoạt động của các thiết bị EDP thay thế (mà các thiết bị thay thế
này chưa được bảo hiểm theo đơn) tuy nhiên mức bồi thường sẽ không vượt quá số tiền bảo hiểm tính theo
ngày như đã thoả thuận và cũng không vượt quá tổng số tiền bảo hiểm ghi trong bảng tóm tắt điều kiện bảo
hiểm với điều kiện là việc gián đoạn đó xảy ra trong thời hạn bảo hiểm ghi trong bảng tóm tắt điều kiện bảo

13


hiểm hoặc trong bất cứ giai đoạn nào tiếp theo mà người được bảo hiểm đã trả và công ty PTI đã nhận một
khoản phí để gia hạn cho đơn bảo hiểm.
Nhưng công ty PTI sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường cho bất cứ chi phí tăng thêm nào đó phát sinh do:
- Có những qui định của hạn chế do các nhà chức trách ban hành liên quan đến việc thiết kế, chế tạo lại thiết
bị EDP được bảo hiểm hoặc hoạt động của các thiết bị đó.
- Người được bảo hiểm không có sẵn các quĩ cần thiết nhằm đáp ứng kịp thời việc sửa chữa hoặc thay thế các
thiết bị hư hại hay phá huỷ

III-SỐ TIỀN BẢO HIỂM VÀ PHÍ BẢO HIỂM
1-Số tiền bảo hiểm
Là giá trị tài sản được công ty bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm ghi trong giấy chứng nhận bảo hiểm. Trong
mọi trường hợp đó là giới hạn trách nhiệm tối đa của công ty bảo hiểm đối với tài sản được bảo hiểm bị thiệt
hại
Ở nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử số tiền bảo hiểm được áp dụng như sau:
a. Bảo hiểm thiệt hại vật chất đối với các thiết bị điện tử:
- Yêu cầu của loại hình bảo hiểm này là số tiền bảo hiểm của mỗi hạng mục không được thấp hơn giá trị thay
thế mới đầy đủ của nó, bao gồm cả cước phí, thuế và các chi phí về hải quan và chi phí lắp đặt... và người
được bảo hiểm phải cam kết điều chỉnh lại số tiền bảo hiểm trong trường hợp có bất kỳ biến động lớn nào về
tiền lương hoặc giá cả.
Trong trường hợp xảy ra tổn thất, nếu số tiền bảo hiểm được phát hiện thấp hơn số tiền cần phải được bảo
hiểm như đề cập ở trên thì số tiền bồi thường sẽ được giảm tương ứng với tỉ lệ giữa số tiền bảo hiểm thực tế
và số tiền lẽ ra cần phải được bảo hiểm như yêu cầu. Điều kiện này áp dụng riêng rẽ đối với từng hạng mục
được bảo hiểm.
Khi đã xác định được số tiền bảo hiểm, nên tiếp tục xem xét để cộng thêm vào số tiền bảo hiểm phần chi phí
có thể gia tăng thêm về giá nguyên vật liệu hoặc tiền lương trong giai đoạn bảo hiểm đầu tiên.
b.Bảo hiểm cho phương tiện chứa dữ liệu bên ngoài.
Số tiền bảo hiểm phải được xác định phù hợp với các chi phí cần thiết để thay thế tất cả các phương tiện chứa
dữ liệu bên ngoài và để phục hồi lại những thông tin đã được lưu trữ trên đó. Vì chỉ có thể ước tính các chi
phí để phục hồi lại thông tin nên việc bảo hiểm cho các chi phí này dựa trên cơ sở tổn thấy đầu tiên (first
loss) với một hạn mức bồi thường phải được ước tính hết sức kỹ càng trên cơ sở đánh giá tổn thất lớn nhất có
thể xảy ra đối với các chi phí này. Không áp dụng điều khoản bảo hiểm dưới giá trị cho phần này.
c. Bảo hiểm chi phí gia tăng.
Số tiền bảo hiểm được xác định trên cơ sở các chi phí có thể bỏ ra tính theo ngày và tháng trong thời hạn 1

14


năm do phải sử dụng một hệ thống EDP thay thế.
Các chi phí phát sinh thêm một lần nữa để lập trình và chuyên chở có thể được bảo hiểm theo điều khoản sửa
đổi bổ sung tới một hạn mức được quy định riêng cũng trên cơ sở tổn thất đầu tiên.

15


2. Nguyên tắc và phương pháp tính phí
a. Nguyên tắc chung để xác định phí bảo hiểm
Để xác định phí bảo hiểm thiết bị điện tử, ta dựa trên cơ sở tỉ lệ phí và giá trị bảo hiểm.
Phí bảo hiểm =Tỉ lệ phí * Số đơn vị giá trị bảo hiểm
Khi tính phí bảo hiểm thiết bị điện tử thì trong phí phải chứa đầy đủ các yếu tố lạm phát, thay đổi giá cả...
Cần tránh bảo hiểm dưới giá trị. Khi kết thúc một thời hạn bảo hiểm (1 năm), nếu NĐBH muốn tái tục hợp
đồng thì người bảo hiểm phải xem xét điều chỉnh phí bảo hiểm cho phù hợp với giá trị của bảo hiểm.
b.Phí bảo hiểm áp dụng cho phần thiệt hại vật chất đối với các thiết bị điện tử:
Dưới đây là các mã số của từng chủng loại máy móc thiết bị điện tử sử dụng trong các ngành khác nhau:
0100 Các hệ thống và thiết bị xử lí dữ liệu (EDP)
0200 Thiết bị viễn thông
0300 Thiết bị thu phát, dùng trong phát thanh truyền hìnhvà thiết bị điện ảnh
0400

Thiết bị chiếu sáng và thiết bị hàng hải

0500

Thiết bị dùng cho nghiên cứu

0600

Thiết bị điện tử dùng trong y tế

0700

Bộ phận phát tín hiệu và truyền dẫn

0900

Máy móc thiết bị dùng trong văn phòng

1000

Bộ phận kiểm tra và ghi

Đối với các hệ thống thiết bị xử lý dữ liệu (001), thiết bị viễn thông (002), thiết bị thu phát dùng trong phát thanh
truyền hình (003) có biểu tỉ lệ phí bảo hiểm (trong phần phụ lục).
Tỉ lệ phí đề cập trong biểu phí chỉ là tỉ lệ phí tối thiểu tương ứng với các điều kiện bảo hiểm cơ bản áp dụng
với điều kiện rủi ro bình thường mà không có các yêú tố làm tăng mức độ hoặc khả năng rủi ro.
Nếu có những yếu tố làm tăng mức độ và khả năng rủi ro thì phải tăng thêm phí (trong những trường hợp đó
phải thông báo những thông tin cụ thể về công ty để công ty xem xét và quyết định ).Biểu phí này cũng áp
dụng với thời hạn bảo hiểm tiêu chuẩn là một năm và với một mức khấu trừ tối thiểu, vì vậy nếu áp dụng thời
hạn bảo hiểm ngắn hơn hoặc mức khấu trừ cao hơn thì có thể giảm phí.
Biểu phí được đề cập trong bảng phụ lục áp ụng đối với các thiết bị điện tử và phương tiện lưu trữ
dữ liệu bên ngoài hoạt động và được bảo quản trong những điều kiện làm việc bình thường, tức là không có
tình huống làm tăng thêm khả năng xảy ra rủi ro và tuổi của các thiết bị này không quá 7 năm.
* Phí bảo hiểm rủi ro động đất
Tỉ lệ phí cơ bản đề cập trong các biểu phí trên chưa kể đến rủi ro về động đất. Nếu bảo hiểm thêm
rủi ro này thì phải cộng thêm phụ phí bảo hiểm như đề cập trong bảng dưới đây.

16


Bảng 4: Tỷ lệ phí rủi ro do động đất
Độ nhạy cảm đối với rủi ro động

Đơn vị: %o tính theo năm

Hệ số khả năng xảy ra động đất ở từng vùng

đất

0

1

2

Loại C

0

0.20

0.40

Loại D

0

0.25

0.45

Loại E

0

0.29

0.57

Loại F

0

0.35

0.68

Loại G

0

0.42

0.82

Kí tự ghi trong bảng
Kí tự

Số tiền bảo hiểm (USD)
C

17000

D

35000

E

85000

F

170000

G

350000

Các rủi ro động đất, thiệt hại do sóng thuỷ triều gây ra do tác động của động đất và núi lửa phun là các rủi ro
bị loại trừ trong đơn bảo hiểm chính. Nếu khách hàng yêu cầu bảo hiểm thêm các rủi ro này thì áp dụng
ĐKSĐBS 505 với hạn mức bồi thường không vượt quá 1000.000USD nhưng với điều kiện là thu thập đầy đủ
các thông tin có liên quan như đề cập trong phiếu điều tra về rủi ro này.
Nếu bảo hiểm thêm những rủi ro này thì phải tính thêm phụ phí vì tỉ lệ phí cơ bản ghi trong biểu phí chưa
tính đến những rủi ro này. Phụ phí cho các rủi ro này áp dụng cho phần thiệt hại vật chất đối với thiết bị điện
tử và bảo hiểm phương tiện chứa dữ liệu bên ngoài.
Theo bản đồ của khu vực động đất của Munich Re các khu vực trên trái đất được chia thành 5 khu vực: Từ 0
đến 4.
Khu vực có rủi ro động đất tăng dần theo thứ tự, chẳng hạn khu vực có rủi ro động đất mức độ 0 là hầu như
không có động đất xảy ra và cấp động đất là V và dưới V tính theo độ Mercalli đã được sửa đổi.
Khả năng xảy ra động đất ở mỗi vùng là khác nhau, ví dụ ở Việt nam có 3 vùng xảy ra động đất như: Đà
nẵng, Hà nội, Lai châu (theo bản đồ thì các tỉnh miền bắc Việt nam thuộc khu vực có rủi ro động đất là 1 tức
là ít xảy ra động đất).
* Phí bảo hiểm các rủi ro lốc, xoáy, gió giật và bão lớn (mạnh trên cấp 8)
Tỉ lệ phí cơ bản đề cập ở trên cũng chưa tính đến các rủi ro này, nếu bảo hiểm thêm thì phải tính
thêm phụ phí theo bảng sau.
Bảng 5: Tỷ lệ phí rủi ro do thiên tai Đơn vị: %o tính theo năm

17


Địa điểm các hạng mục được bảo hiểm

Cấp độ gió bão theo từng vùng
1

2

3

Đặt trong nhà

0.1

0.80

1.5

Đặt ngoài trời

0.40

TCT

TCT

Khu vực 1: cấp độ thấp
Khu vực 2: cấp độ trung bình
Khu vực 3: cấp độ cao
Mức TCT có nghĩa là địa điểm các hạng mục được bảo hiểm đặt ngoài trời và có gió bão từ cấp 2 trở lên vì
vậy phải thông báo về công ty để công ty quyết định.
Thông thường mức độ tác động của gió bão đối với các vùng ven biển được coi là cao còn ở các vùng sâu
vào đất liền thì thấp hoặc trung bình.
Tỉ lệ phí cho trong bảng trên chỉ áp dụng nếu các hạng mục được bảo hiểm đặt ở các khu vực có độ cao cao
hơn mực nước cao nhất đã thống kê được ở khu vực đó kể từ khi bắt đầu hiệu lực bảo hiểm trỏ về trước.
Nếu các thiết bị điện tử đặt ở độ cao bằng hoặc thấp hơn so với qui định trên thì không được tự động chấp
nhận bảo hiểm các rủi ro này mà phải xin ý kiến chỉ đạo của công ty PTI.
c.Phí bảo hiểm áp dụng đối với phương tiện chứa dữ liệu bên ngoài
.Tỉ lệ phí cơ bản
Đây là tỉ lệ phí tối thiểu ứng với các điều kiện bảo hiểm cơ bản của đơn bảo hiểm và được áp dụng đối với
số tiền bảo hiểm tổn thất đầu tiên (first loss) mà người được bảo hiểm phải kê khai cụ thể trong bản trả lời
câu hỏi như đề cập ở phần sau.
Phần tiền bảo hiểm đối với các phương tiện lưu trữ này phải tương ứng với chi phí khôi phục lại các phương
tiện này.
Chi phí toàn bộ ước tính cho việc khôi phục lại các thông tin hiện tại từ các văn bản gốc và /hoặc chí phí ước
tính để chuyển dữ liệu sang phương tiện lưu trữ mới nếu như có các bản sao phải tương ứng với phần tiền
bảo hiểm trên cơ số tổn thất đầu tiên (first loss) để bảo hiểm cho việc khôi phục lại các thông tin được lưu trữ
trên các phương tiện được bảo hiểm.
Tỉ lệ phí cơ bản áp dụng đối với số tiền bảo hiểm với điều kiện số tiền bảo hiểm không vượt quá 700.000
USD hoặc tương đương với mức khấu trừ thông thường được tính bằng phần nghìn số tiền thiệt hại như đề
cập trong Bảng dưới đây nhưng không được thấp hơn 700USD hoặc tương đương.

18


Bảng 6: Nếu tăng mức khấu trừ thì tỉ lệ phí có thể được giảm như sau:
Mức khấu trừ tăng

5 lần

10 lần

Tỉ lệ phí giảm

5%

10%

*

Tăng và giảm phí :

Việc tăng hoặc giảm tỷ lệ phí cơ bản phụ thuộc vào các điều kiện rủi ro đề cập đến trong bản trả lời câu hỏi.
Việc tăng hoặc giảm phí đối với phần bảo hiểm thiệt hại vật chất đối với các hệ thống xử lý dự liệu điện tử
(EDP) cũng áp dụng cho phần bảo hiểm các phương tiện lưu trữ bên ngoài (mất thông tin) một cách thính
hợp.
Cũng có thể giảm phí trong trường hợp các thông tin, dữ liệu sự phòng được lưu trữ trong các phòng có khả
năng chống cháy
Nơi lưu trữ

trong phòng đặt thiết bị EDP

Tỷ lệ giảm phí

c.

bên ngoài phòng đặt thiết bị EDP

5%

10%

Phí bảo hiểm cho phần bảo hiểm chi phí gia tăng đối với các hệ thống có sử dụng máy tính

Chỉ có thể nhận bảo hiểm phần này nếu sau khi hệ thống EDP bị tổn thất vật chất có thể được bồi thường
theo phần bảo hiểm thiệt hạI vật chất mà vẫn có thể tránh được những tác động bất lợi hoặc gián đoạn hoạt
động kinh doanh bằng các biện pháp sau:
- Sử dụng hệ thống xử lí dữ liệu của một bên thứ ba (trên cơ sở một thoả thuận đã kí trước khi bảo
hiểm có hiệu lực )
- Tăng cường thêm việc sử lí dữ liệu bằng tay
- Sử dụng lao động dịch vụ sản xuất của một bên thứ ba
* Xác định số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm (Theo năm) phải ngang bằng với số tiền có thể phải bỏ ra trong phạm vi 12 tháng cho các
chi phí gia tăng được bảo hiểm ngay cả khi người được bảo hiểm lựa chọn thời gian bảo hiểm ngắn hơn. Phải
ấn định riêng số tiền bảo hiểm ứng với mỗi hệ thống EDP độc lập.
Số tiền bảo hiểm tính theo năm bao gồm:

Chi phí gia tăng -

Chi phí do

Chi phí vận

Chi phí

Ví dụ: Tiền thuê

tăng thêm

chuyển theo

tiết kiệm

các hệ thống xử
lý dữ liệu của
bên thứ 3 hoặc

+

nhân công sử
dụng lao

+

động dịch vụ

giá cước hiện
tại đối với các
phương tiện

19

-

như tiếtx 12 tháng
kiệm về
cước phí


áp dụng các quá

và các hoạt

lưu trữ hoặc

sử dụng

trình sc hoặc quá

động sản

nguyên vật liệu

điện

trình làm việc

xuất củabên

và nhân công

hàng

khác

thứ 3

ngày

Nếu số tiền bảo hiểm tính theo năm vượt quá 1.700 USD hoặc tương đương thì phải xin ý kiến chỉ đạo của
Công ty
* Tỷ lệ phí bảo hiểm
Tỷ lệ phí cơ bản là tỷ lệ phí tối thiểu tương ứng với các điều kiện bảo hiểm tiêu chuẩn đề cập trong đơn bảo
hiểm và phụ thuộc vào quy mô của các thiết bị thuộc hệ thống EDP được bảo hiểm và được áp dụng trong
các điều kiện sau:
(i) Thời gian bồi thường tối đa là 12 tháng, thời gian miễn thường ít nhất là 2 ngày làm việc (mức khấu trừ đối với chi
phí phát sinh thêm chỉ một lần là 20%)
(ii) Các điều kiện của rủi ro là bình thường và hạng mục được bảo hiểm không xê dịch.
iii) Các quyền lợi của người được bảo hiểm đã được bảo hiểm bởi đơn bảo hiểm thiết bị điện tử tiêu chuẩn
với phạm vi đầy đủ tại công ty PTI.
3. Điều chỉnh số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm phải được điều chỉnh mỗi khi có những thay đổi lớn về giá cả hoặc tiền
lương, đặc biệt là vào những thời điểm tái tục đơn bảo hiểm cũ đã hết hạn. Để làm được điều này có thể tham
khảo giá cả từ các nhà chế tạo hoặc nhà cung cấp.
a) Điều chỉnh số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm được điều theo công thức sau:

20


E
S = So ------Eo
Trong đó:
S: Số tiền bảo hiểm của năm hiện tại
So:Số tiền bảo hiểm khi bắt đầu bảo hiểm
E:Chỉ số giá sản xuất thiết bị trong năm hiện tại
Eo:Chỉ số giá sản xuất thiết bị khi bắt đầu bảo hiểm
b).Điều chỉnh phí bảo hiểm
E

L

P = Po 0,3 ---------- + 0,7--------E0

L0

Trong đó:
P: Phí bảo hiểm của năm hiện tại
Po:Phí bảo hiểm khi bắt đầu bảo hiểm
L:Chỉ số giá lao động trong năm hiện tại
Lo: Chỉ số giá lao động khi bắt đầu bảo hiểm.
Các hệ số 0,3 và 0,7 chỉ là các giá trị trung bình trên cơ sở giá trị nguyên vật liệu chiếm 30% và giá nhân
công chiếm 70%. Nếu cần thiết thì các hệ số trên có thể thay đổi để phù hợp với điều kiện thực tế.
Nếu tại thời điểm bắt đầu bảo hiểm mà một hạng mục nào đó đã được sử dụng 05 năm thì có thể áp dụng một
hệ số phản ánh được sự gia tăng vê giá trị thay thế mới tới thời điểm đó. Hệ số này được xác định trên cơ sở
các chỉ số áp dụng trong các năm trước đó tại nước mà hạng mục đó được chế tạo
4. Mức khấu trừ
a) Đối với thiệt hại vật chất
Mức khấu trừ thông thường áp dụng cho mỗi hạng mục thiết bị đươc tính theo phần ngàn số tiền bảo hiểm và
không được thấp hơn 200 USD hoặc số tiền tương đương.
b) Đối với phương tiện chứa dữ liệu bên ngoài
Mức khấu trừ thông thường được tính theo phần ngàn số tiền tổn thất và không được thấp hơn 700 USD hoặc
số tiền tương đương.
c) Đối với chi phí gia tăng
Mức khấu trừ được tính toán theo thời gian miễn thường. Thời gian miễn thường tối đa là 02 ngày ứng với tỷ
lệ phí tối thiểu. Thời gian thường dài hơn thì sẽ áp dụng các hệ số giảm phí.
5. Phí bảo hiểm tối thiểu cho mỗi đơn bảo hiểm

21


Phí bảo hiểm tối thiểu hàng năm cho mỗi đơn bảo hiểm là:
- Đối với thiết bị EDP

: 200 USD

- Đối với tất cả các hệ thống và thiết bị điện tử khác và phương tiện chứa dữ liệu : 700 USD
- Đối với chi phí gia tăng

: 100USD

IV-HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ
1. Giấy yêu cầu bảo hiểm
Người được bảo hiểm phải kê khai đầy đủ vào giấy yêu cầu bảo hiểm thiết bị điện tử, sau đó gửi tới công ty
PTI để công ty tiến hành kiểm tra thực tế địa điểm đặt các thiết bị được bảo hiểm và hiện trạng của những
máy móc được yêu cầu bảo hiểm. Trên cơ sở xem xét đánh giá thực tế và những thông tin mà khách hàng
khai báo, nếu thấy đầy đủ các điều kiện cấp đơn bảo hiểm thì cấp đơn bảo hiểm.
2. Điều khoản của hợp đồng bảo hiểm
Trên cơ sở Người được bảo hiểm (dưới đây gọi tắt là NĐBH) đã gửi Giấy yêu cầu bảo hiểm (Giấy yêu cầu
này được xem như là một bộ phận không tách rời của Đơn bảo hiểm) cho Công ty cổ phần bảo hiểm Bưu
Điện (Dưới đây gọi tắt là PTI), đã nộp cho PTI số phí bảo hiểm nêu trong Bản tóm tắt điều kiện bảo hiểm
(BTTĐKBH) kèm theo và tuân thủ các điều khoản, điều kiện và các điểm loại trừ quy định trong Đơn bảo
hiểm này, PTI sẽ trả tiền bồi thường cho NĐBH theo cách thức và tới mức độ như quy định dưới đây.
Đơn bảo hiểm này áp dụng cho các thiết bị có tên trong danh mục được bảo hiểm cho dù các thiết bị này
đang hoạt động hoặc không hoạt động, đang được tháo dỡ hoặc lau chùi bảo dưỡng, đại tu hoặc để di chuyển
trong khu vực được bảo hiểm, đang trong quá trình thực hiện chính các công việc nêu trên hoặc trong quá
trình được lắp ráp trở lại sau đó, nhưng dù trong bất kỳ trường hợp nào thì Đơn bảo hiểm này cũng chỉ áp
dụng khi các thiết bị này đã qua chạy thử thành công.
Các điều kiện chung:
1. Điều kiện tiên quyết để ràng buộc trách nhiệm của PTI là NĐBH phải tôn trọng và thực hiện đầy đủ
các quy định ghi trong Đơn bảo hiểm này, trung thực khai báo và trả lời các câu hỏi ghi trong giấy yêu
cầu bảo hiểm theo mẫu đính kèm theo Đơn bảo hiểm này.
2. BTTĐKBH và các phần của Đơn bảo hiểm được xem là các bộ phận không thể tách rời và là một bộ
phận hợp thành của Đơn bảo hiểm này, và cụm từ "Đơn bảo hiểm này "bất cứ lúc nào được sử dụng trong
hợp đồng này sẽ được hiểu là bao gồm BTTĐKBH và các phần đó. Bất kỳ một từ hoặc một cụm từ nào
đã mang một nghĩa xác định nào đó tại bất cứ phần nào trong đơn bảo hiểm này, trong BTTĐKBH hoặc
trong các phần của Đơn bảo hiểm thì dù xuất hiện ở đâu từ hoặc cụm từ đó cũng mang cùng một nghĩa
như vậy.
3. NĐBH, bằng chi phí riêng của mình, phải thực hiện mọi biện pháp hợp lý và tuân theo mọi kiến nghị
hợp lý của PTI nhằm ngăn chặn tổn thất và phải tuân thủ mọi quy định pháp luật và khuyến nghị của nhà
chế tạo.

22


4. a)Vào bất kỳ thời gian hợp lý nào, đại diện của PTI cũng có quyền xem xét và kiểm tra rủi ro được bảo
hiểm và NĐBH phải cung cấp cho đại diện của PTI mọi chi tiết, thông tin cần thiết để đánh giá rủi ro
được bảo hiểm.
b)NĐBH phải lập tức thông báo cho PTI bằng điện tín và văn bản về bất cứ thay đổi nào đối với rủi ro
được bảo hiểm và bằng chi phí riêng của mình thực hiện những biện pháp mà tình thế đòi hỏi để đảm bảo
an toàn cho quá trình hoạt động của các hạng mục thiết bị được bảo hiểm. Phạm vi bảo hiểm cũng như
chi phí bảo hiểm sẽ được điều chỉnh thích hợp nếu thấy cần thiết. NĐBH không được thực hiện hoặc
chấp nhận những sự thay đổi nào làm tăng thêm rủi ro trừ khi PTI có văn bản xác nhận rằng Đơn bảo
hiểm vẫn tiếp tục có hiệu lực trong các trường hợp đó.
5. Trong trường hợp xảy ra những sự cố có thể dẫn đến việc bồi thường theo Đơn bảo hiểm này, NĐBH
phải:
a) Lập tức thông báo ngay cho PTI bằng điện thoại hoặc điện tín cũng như bằng văn bản nêu rõ tính chất
và mức độ tổn thất;
b) Thực hiện mọi biện pháp phù hợp với khả năng của mình để hạn chế tổn thất ở mức thấp nhất;
c) Giữ gìn các chi tiết hay bộ phận bị hư hại và sẵn sàng để cho đại diện hay giám định viên của PTI giám
định các chi tiết hay bộ phận đó ;
d) Cung cấp mọi thông tin và chứng từ văn bản theo yêu cầu của PTI;
e)Thông báo cho cơ quan công an nếu tổn thất do trộm cướp.
Trong mọi trường hợp PTI sẽ không chịu trách nhiệm đối với những tổn thất mà trong vòng 14 ngày kể từ
khi xảy ra tổn thất PTI không nhận được thông báo về những tổn thất đó. Ngay sau khi thông báo cho PTI
theo điều kiện này, NĐBH có thể tiến hành sửa chữa hay thay thế các hư hỏng nhỏ, còn trong mọi trường
hợp khác, nhất thiết phải có đại diện của PTI để giám định tổn thất trước khi thực hiện việc sửa chữa thay
thế. Nếu đại diện của PTI không tiến hành giám định trong một thời gian được xem là hợp lý xét theo tình
hình thực tế thì NĐBH có quyền xúc tiến việc sửa chữa hay thay thế.
Trách nhiệm của PTI đối với bất kì hạng mục bị tổn thất nào thuộc đối tượng bảo hiểm sẽ chấm dứt nếu
hạng mục đó vẫn được sử dụng sau khi khiếu nại mà không được sửa chữa như yêu cầu của PTI hoặc nếu
chỉ được sửa chữa tạm thời mà không được sự đồng ý của PTI.
6. NĐBH, với chi phí do PTI chịu, phải thực hiện, kết hợp thực hiện và cho phép thực hiện mọi hành
động và mọi công việc xét thấy cần thiết hay theo yêu cầu của PTI để bảo vệ những lợi ích liên quan đến
các quyền hạn hoặc các biện pháp nhằm được các bên thứ ba
(không được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm này ) cho miễn giảm trách nhiệm hay đòi được bồi thường từ
các bên thứ ba đó mà PTI được hưởng hay có thể được hưởng hoặc được thế quyền hay có thể được thế
quyền ngay sau khi PTI đã bồi thường thiệt hại theo Đơn bảo hiểm này cho dù những hành động hay công
việc như vậy cần phải được thực hiện hoặc được yêu cầu thực hiện trước hay sau khi PTI bồi thường cho

23


NĐBH.
7. Trong trường hợp có bất cứ tranh chấp nào giữa PTI và NĐBH về số tiền được bồi thường theo Đơn
bảo hiểm này (mà nếu không có việc tranh chấp này thì trách nhiệm đã được thừa nhận), những tranh
chấp đó sẽ được chuyển cho một trọng tài quyết định mà trọng tài này do hai bên chỉ định bằng văn bản.
Nếu hai bên không nhất trí được việc chỉ định một trọng tài thì mỗi bên bằng văn bản sẽ chỉ định một
trọng tài riêng và tranh chấp này sẽ được chuyển cho hai trọng tài đó quyết định với điều kiện là việc chỉ
định đó phải được thực hiện trong vòng một tháng kể từ khi bên này hoặc bên kia đưa ra yêu cầu về việc
chỉ định này bằng văn bản. Trong trường hợp những trọng tài nói trên không đi đến nhất trí thì tranh chấp
sẽ được chuyển cho một trọng tài do các trọng tài đó chỉ định bằng văn bản trước khi đưa tranh chấp ra
giải quyết. Trọng tài này sẽ ngồi lại cùng với các trọng tài đó và chủ trì các cuộc họp để giải quyết tranh
chấp. Phán quyết do trọng tài chủ trì đưa ra sẽ là điều kiện tiên quyết đối với bất cứ việc kiện tụng nào
nhằm chống lại PTI.
8.a) Nếu những thông tin đề cập trong Giấy yêu cầu bảo hiểm hoặc những khai báo của NĐBH có bất cứ
khía cạnh cơ bản nào không đúng sự thật hoặc nếu NĐBH đưa ra bất cứ khiếu nại gian lận nào hoặc mức
độ khiếu nại bị thổi phồng lên quá mức hoặc nếu có bất cứ sự khai báo sai lệch nào nhằm bảo vệ cho
những khiếu nại đó thì hiệu lực của Đơn bảo hiểm này sẽ chấm dứt và PTI sẽ không chịu trách nhiệm chi
trả bất cứ khoản bồi thường nào theo Đơn bảo hiểm này.

b)

Trong

trường hợp PTI từ chối trách nhiệm đối với bất kì khiếu nại nào mà không có việc kiện tụng nào được tiến
hành trong vòng ba tháng kể từ khi có sự từ chối đó hoặc trong vòng ba tháng kể từ khi các trọng tài đã
đưa ra phán xét (trong trường hợp xảy ra việc phân xử như đề cập trong Điều 7 kể trên) thì tất cả mọi
quyền lợi liên quan đến khiếu nại này sẽ không còn giá trị.

9.

Nếu

vào

thời điểm phát sinh bất kì khiếu nại nào mà có bất cứ Đơn bảo hiểm nào khác cũng bảo hiểm cho những
tổn thất được khiếu nại đó thì số tiền bồi thường mà PTI có thể phải chi trả cho tổn thất đó sẽ không vượt
quá phần tỉ lệ của PTI đối với khiếu nại về tổn thất đó.

10.

Đơn

bảo

hiểm này có thể chấm dứt hiệu lực theo yêu cầu của NĐBH vào mọi thời điểm và trong các trường hợp
như vậy PTI sẽ giữ lại phần phí bảo hiểm được tính theo biểu phí ngắn hạn ứng với thời gian Đơn bảo
hiểm này có hiệu lực. Theo đề nghị của PTI, Đơn bảo hiểm này cũng có thể chấm dứt hiệu lực sau 7 ngày
kể từ ngày PTI thông báo đề nghị này cho NĐBH và trong các trường hợp đó PTI sẽ hoàn trả lại phần phí
bảo hiểm được tính theo tỉ lệ tương ứng với thời gian Đơn bảo hiểm này không còn hiệu lực nữa kể từ
ngày chấm dứt hiệu lực sau khi trừ đi bất cứ khoản chi phí hợp lí nào về điều tra giám định mà PTI có thể
đã bỏ ra và cũng trừ đi bất cứ khoản chiết khấu nào về phí bảo hiểm áp dụng trong trường hợp bảo hiểm
dài hạn mà NĐBH đã được hưởng.

11.

Nếu

bảo

hiểm được thu xếp cho một bên thứ ba thừa hưởng thì dưới danh nghĩa của NĐBH bên thừa hưởng quyền

24


lợi (BTH) có quyền thực hiện các quyền hạn của NĐBH. Ngoài ra BTH cũng có quyền nhận bất cứ khoản
bồi thường nào theo Đơn bảo hiểm này của NĐBH và chuyển giao các quyền hạn của NĐBH cho PTI mà
không cần phải có sự chấp nhận của NĐBH ngay cả trong trường hợp BTH không sở hữu Đơn bảo hiểm
này. Ngay sau khi thanh toán bồi thường, PTI có thể yêu cầu BTH xác nhận rằng họ đã đồng ý với các điều kiện,
điều khoản của hợp đồng bảo hiểm này và NĐBH đã chấp nhận để họ nhận các khoản bồi thường theo Đơn bảo
hiểm này.
12. Một tháng sau khi xác định được toàn bộ số tiền phải bồi thường, PTI sẽ chi trả bồi thường. Tuy
nhiên, một tháng sau khi PTI đã nhận được thông báo thích hợp về vụ tổn thất và đã thừa nhận trách
nhiệm, NĐBH có thể yêu cầu PTI tạm ứng số tiền bồi thường tối thiểu phù hợp với hoàn cảnh thực tế tại
thời điểm đó. Chừng nào số tiền bồi thường chưa được xác định hoặc xét thấy chưa cần tạm ứng theo yêu
cầu của NĐBH thì việc tạm ứng bồi thường sẽ không được thực hiện.
PTI có quyền giữ lại số tiền bồi thường trong trường hợp:

a) Có sự nghi ngờ về quyền được nhận bồi thường của NĐBH chừng nào PTI chưa nhận được các bằng
chứng cần thiết.

b) Đang có sự điều tra của cảnh sát hoặc công việc điều tra nào khác theo qui định của Luật hình sự đối với
NĐBH mà các công việc điều tra này chưa kết thúc.

V-TÁI BẢO HIỂM TRONG NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ
Tái bảo hiểm là hình thức phân tán những rủi ro đã được bảo hiểm bởi công ty bảo hiểm gốc. Nhằm phát huy
tối đa qui luật số đông để dàn mỏng, chia nhỏ những rủi ro đã được bảo hiểm bởi công ty bảo hiểm gốc cho
một tập thể các công ty tái bảo hiểm trên toàn thế giới. Chính vì lẽ đó mà một rủi ro mang tính chất tai hoạ
khốc liệt hoặc có độ tích tụ cao vẫn được bảo hiểm. Đối với công ty bảo hiểm: tái bảo hiểm làm cho công ty
có khả năng nhận bảo hiểm nhiều hơnvà giúp cho công ty bảo hiểm gốc có thể nhận được các dịch vụ mà
vượt quá khả năngcủa mình, ngoài ra nó còn tạo sự ổn địch trong quá trình kinh doanh, củng cố khả năng tài
chính của công ty bảo hiểm.
Trong nghiệp vụ bảo hiểm TBĐT có đặc điểm là giá trị tài sản bảo hiểm rất lớn do vậy khi kí những hợp
đồng bảo hiểm có giá trị lớn công ty PTI phải luôn xem xét để cần thiết phải tái đi cho các công ty bảo hiểm
khác có khả năng tài chính lớn hơn. Các loại bảo hiểm như: bảo hiểm mọi rủi ro cho chủ thầu-bảo hiểm xây
dựng (Contractor All Risks), bảo hiểm rủi ro lắp đặt(Erection All Risks),bảo hiểm TBĐT(Electronic
Equipment).Công ty PTI áp dụng hợp đồng số thành kết hợp mức dôi (Quota Share-surplus).Tái bảo hiểm
trong nghiệp vụ bảo hiểm TBĐT do phòng tái bảo hiểm của công ty PTI đảm nhận.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×