Tải bản đầy đủ

Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta hiện nay

LỜI CẢM ƠN
Để luận văn đạt kết quả tốt đẹp, trước hết em xin gửi tới toàn thể các
thầy cô khoa Ngân Hàng - Tài Chính lời chúc sức khoẻ, lời chào trân trọng và
lời cảm ơn sâu sắc nhất.Với sự quan tâm, dạy dỗ chỉ bảo tận tình chu đáo của
thầy cô, sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn, đến nay em đã có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp, đề tài:
“Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta hiện nay”.
Để có được kết quả này em xin đặc biêt gửi lời cảm ơn chân thành nhất
tới cô giáo - TS .Nguyễn Thị Bất- đã quan tâm giúp đỡ, vạch kế hoạch hướng
dẫn em hoàn thành một cách tốt nhất luận văn tốt nghiệp trong thời gian qua.
Không thể không nhắc tới sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ phòng
Quản lý thu thuế ngoài quốc doanh, đã tạo điều kiện thuận lợi nhất trong suất
thời gian thực tập tại Tổng Cục Thuế.
Với điều kiện thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của
một sinh viên thực tập nên luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em
rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô cùng toàn thể
các bạn để em có điều kiện bổ sung, nâng cao ý thức của mình, phục vụ tốt
hơn công tác thực tế sau này.

Page 1



LỜI NÓI ĐẦU
Thuế ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của
Nhà nước và là một đòi hỏi khách quan đối với sự tồn tại của Nhà nước đó.
Do vậy, thuế là một khoản đóng góp mang tính bắt buộc, cưỡng chế, pháp lý
cao, là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước mà trong đó thu thuế đối
với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng cao trong Ngân sách
Nhà nước. Phải quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD như thế nào?
Đó là một câu hỏi cấp bách đặt ra cần có những giải pháp.
Thực hiện công cuộc đổi mới các thành phần kinh tế NQD hình thành
và phát triển góp phần quan trọng và việc thực hiện thành công các mục tiêu
kinh tế, xã hội do Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI, VII, VIII đề ra.
Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã xác định “Từ nay đến năm 2020, ra
sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp có cơ sở vật
chất kinh tế hiện đại, cơ cấu kinh tế pháp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù
hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần
cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh XHCN, dân chủ
văn minh”. Để đạt được mục tiêu này cần phải sử dụng các giải pháp nhằm
hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD ở nước ta
hiện nay. Theo xu hướng phát triển kinh tế của các nước trên thế giới, nên
kinh tế thị trường hoạt động theo cơ chế thị trường bao gồm nhiều thành phần
kinh tế trong đó có 5 thành phần kinh tế cơ bản đựơc phân tích trong Kinh tế
Chính trị Mác- Lênin
Nền kinh tế Việt nam không nằm ngoài sự chi phối của quy luật khách
quan của một nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường..
Có thể phân chia nền kinh tế thành hai khu vực. Kinh tế trong nước và kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó khu vực kinh tế trong nước lại chia thành
hai khu vực là khu vực Kinh tế Nhà nước và khu vực Kinh tế Ngoài quốc
doanh.

Page 2


Trong phạm vi của luận văn này chỉ đề cập đến các giải pháp để hoàn
thiện công tác quản lý thu thuế NQD, mà hẹp hơn là đối với 2 thành phần
kinh tế là tư bản tư nhân và kinh tế cá thể tiểu chủ, cụ thể là khu vực kinh tế
này bao gồm các doanh nghiệp NQD và các hộ kinh doanh cá thể hoạt động
trong lĩnh vực phi nông nghiệp.
Lý do em chọn đề tài này là do khu vực kinh tế có phạm vi rộng nguồn
thu lớn cho Ngân sách Nhà nước, đồng thời 2 thành phần kinh tế này mới

được Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI chính thức thừa nhận tồn
tại khách quan trong thời kỳ quá độ.
Luận văn được kết cấu như sau:
Chương I: Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và nội dung của quản lý
thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Chương II: Thực trạng công tác quản lý thu thuế khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nước ta hiện nay.
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với
khu vực kinh tế ngoài quốcdoanh ở nước ta hiện nay.

Page 3


CHƯƠNG I
KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH VÀ NỘI DUNG CỦA
QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ
NGOÀI QUỐC DOANH
I. ĐẶC ĐIỂM CỦA KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH
1.Sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
Thời kỳ quá độ lên CNXH theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin sẽ
trải qua một thời gian dài trong lịch sử. Trong suốt thời kỳ đó vẫn tồn tại các
thành phần kinh tế phi CNXH cạnh tranh gay gắt với thành phần kinh tế
CNXH. Nhà nước XHCN có vai trò to lớn trong việc làm cho các thành phần
kinh tế XHCN ngày càng phát triển và chiếm ưu thế, đảm bảo thắng lợi của
CNXH.
I

Vậy quá độ đi lên CNXH bỏ qua phát triển TBCN không thể không

quan tâm đến sự tồn tại và phát triển tất yếu khách quan của các thành phần
kinh tế khác trong đó có các thành phần kinh tế của khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh (NQD). Nước ta quá độ lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc
hậu, tiềm lực kinh tế còn chưa mạnh, cơ sở vật chất còn nghèo nàn không
đồng nhất giữa các ngành các vùng, trình độ quản lý kinh tế còn thấp kém lại
vừa qua khỏi chiến tranh. Mâu thuẫn giữa nhu cầu cải tiến đời sống nhân dân
với khả năng của sức sản xuất đang hết sức gay gắt. sự lựa chọn có phát triển
kinh tế nhiều thành phần trong đó có kinh tế NQD hay không có tính chất
quyết định. Tuy nhiên chấp nhận sự tồn tại của kinh tế NQD không có nghĩa
là để quan hệ sản xuất TBCN xác lập thống trị xã hội mà chỉ để quan hệ sản
xuất tồn tại phục vụ cho các mục đích phát triển kinh tế, đẩy mạnh sự phát
triển của các lực lượng sản xuất, tăng nhanh năng xuất lao động, tăng trưởng
kinh tế. Do đó bỏ qua chế độ TBCN là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của
quan hệ sản xuất chứ không có nghĩa xoá bỏ hoàn toàn kinh tế NQD. Nhưng
Page 4


muốn quan hệ sản xuất TBCN không trở thành thống trị trong nền kinh tế của
xã hội thì không phải bằng con đường bóp nghẹt như đã làm trước đây, mà
phải bằng cách xoá bỏ dần dần bằng sự tác động của các nhân tố khác trong
đó kinh tế nông nghiệp là quan trọng nhất.
Vậy sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế NQD trong thời

II

kỳ quá độ đã được khẳng định và nó tiếp tục phát triển trong nền kinh tế thị
trường, kinh tế NQD là thành phần kinh tế không thể thiếu được và đóng vai
trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Hiện nay nước ta đang
trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, một số định kiến xã
hội trước đây đối với khu vực kinh tế NQD vẫn còn khá nặng nề. Khuôn khổ
pháp luật để phát triển kinh tế NQD đang xây dựng, chưa hoàn chỉnh. Song từ
khi có Luật Doanh nghiệp (DN) có hiệu lực, môi trường kinh doanh đã bước
đầu được cải thiện, các loại giấy phép bất hợp lý đã được xoá bỏ, nhiều doanh
ngiệp đã phát huy được tính chủ động sáng tạo, tận dụng được hết năng lực
vốn có và tăng vốn đầu tư, mở rộng địa bàn để phát triển sản xuất, kinh
doanh...
III

Vậy định hướng đi lên XHCN, bỏ qua chế độ TBCN tất yếu

khách quan phải trải qua thời kỳ quá độ bên cạnh đó khẳng định sự tồn tại tất
yếu khách quan của kinh tế NQD và xu hướng nền kinh tế này phục vụ cho
các mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước trong thời nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN.
2. Vai trò của khu vực kinh tế NQD trong nền kinh tế
Khu vực kinh tế NQD bao gồm các doanh nghiệp NQD (Công ty TNHH,
công ty Cổ phần, công ty Hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) và các hộ cá nhân
có hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế NQD
là thành phần kinh tế không thể thiếu và đóng vai trò ngày càng mạnh mẽ,
tương xứng với tiềm năng và đóng góp xứng đáng vào sự tồn tại vào sự phát
triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đòi hỏi Nhà nước phải có

Page 5


các chính sách, điều kiện thuận lợi để khu vực này phát huy được vai trò của
mình trong tình hình kinh tế hiện nay.
1. 2.1. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần làm tăng của cải vật
chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Nước ta là nước có nền kinh tế đang trên đà phát triển, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần do vậy mục tiêu phát triển kinh tế là hàng đầu.
Khu vực kinh tế NQD là khu vực có nhiều đặc điểm thuận lợi cho quá trình
làm tăng của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như là: khu
vực thu hút nhiều lao động, đối tượng hoạt động rộng tạo thuận lợi cho việc
phát triển kinh tế ở mọi nơi trong nước rút ngắn khoảng cách về thu nhập giữa
thành thị và nông thôn, đồng thời góp phần khai thác những tiềm năng to lớn
của nền kinh tế như tài nguyên, sức lao động, thị trường...mà vẫn chưa được
khai thác một cách hiệu quả. Bên cạnh đó do đặc thù rất linh hoạt, nhanh nhậy
trong sản xuất để thu lợi nhuận cao nhất nên khu vực này có khả năng phát
huy nội lực, mở rộng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Vậy khu vực kinh tế NQD là khu vực có vai trò hết sức quan trọng đồng thời
là khu vực góp phần vào việc thực hiện các chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế do
Nhà nước đề ra.
2. 2.2. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần giải quyết công ăn
việc làm cho người lao động
Nước ta là nước có dân số hơn 80 triệu dân, do đó đối tượng lao động
là rất lớn. Vấn đề thất nghiệp được đặt ra cần được giải quyết. Trong khi khu
vực kinh tế Nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn đòi
hỏi lao động phải có văn hóa, trình độ kỹ thuật nhất định thì mới có thể làm
việc trong khu vực trên dẫn đến một khối lượng lớn lao động đang ở tuổi lao
động không thể làm việc ở trong hai khu vực này. Vậy điều đáng nói ở đây là
so với 2 khu vực trên thì khu vực kinh tế NQD có vai trò thu hút nhiều thành
phần lao động, từ những lao động có trình độ cao đến những lao động thủ
công, từ những hợp đồng ngắn hạn đến những hợp đồng dài hạn, theo mùa vụ
Page 6


hoặc theo thời gian nhất định... Do đó khu vực này góp phần giải quyết thất
nghiệp và tạo ra sự phát triển cân đối cho nền kinh tế.
3.

2.3. Khu vực kinh tế NQD phát triển tạo cho ngân sách có nguồn

thu ổn định và ngày càng tăng
Trước hết phải khẳng định các khoản nộp ngân sách của khu vực kinh tế
NQD mới đúng bản chất là “thuế”. Vì khác với các doanh nghiệp Nhà nước,
Nhà nước không phải chủ sở hữu tư liệu sản xuất, Nhà nước thu thuế của khu
vực này mà không phải đầu tư trực tiếp vào khu vực này. Nguồn thu từ khu
vực này rất lớn ngày càng tăng và được dùng chủ yếu để đầu tư vào các ngành
nghề kinh tế mũi nhọn, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các ngành kinh tế yếu
kém...đồng thời khu vực này còn tham gia đóng góp tài chính cho đất nước
nhiều hơn nữa thông qua các hoạt động tự nguyện hưởng ứng các phong trào
do Nhà nước, đoàn thể phát động như ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, thương binh,
gia đình liệt sĩ, xây dựng trường học, đường xá đóng góp vào các quỹ an ninh,
đền ơn đáp nghĩa....Vậy khu vực kinh tế NQD có vai trò điều hoà thu nhập và
đóng góp vào ngân sách Nhà nước rất lớn.
4. 2.4. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần tăng vốn đầu tư cho
xã hội
Khu vực này tạo ra một thị trường vốn tín dụng lớn và hứa hẹn nhiều
tiềm năng cho sự phát triển của các ngân hàng ở nước ta do sự đổi mới kinh
tế, nhờ chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần nên khu vực NQD đã
hình thành và huy động một lượng vốn đầu tư lớn cho xã hội. Đây là một
nguồn vốn quan trọng, song khai thác chưa hiệu quả. Bên cạnh đó khu vực
kinh tế NQD càng phát triển thì nhu cầu về vốn ngày càng gia tăng và có mối
quan hệ mật thiết với các ngân hàng, đóng góp vào sự lớn mạnh của hệ thống
ngân hàng trong công tác huy động vốn.
5. 2.5. Ngoài những vai trò trực tiếp nêu trên, khu vực kinh tế NQD
tồn tại và phát triển còn có tác dụng trên nhiều mặt sau

Page 7


6. - Khu vực NQD phát triển thoả mãn một phần nhu cầu tiêu dùng xã
hội, giúp cho Nhà nước trong điều kiện vốn còn hạn hẹp, có thể tập trung đầu
tư vào những ngành nghề mũi nhọn, có tác dụng đến toàn bộ nền kinh tế và
đời sống xã hội, tránh đầu tư phân tán, dàn trải...Thực tiễn cho thấy có khu
vực này nhiều ngành nghề, mặt hàng và lĩnh vực kinh doanh Nhà nước không
cần phải đầu tư hoặc chỉ đầu tư có hạn còn về cơ bản khu vực kinh tế NQD đã
đảm đương các chức năng bán lẻ các mặt hàng tiêu dùng và tổ chức các dịch
vụ tiêu dùng cho xã hội, đặc biệt ở địa bàn nông thôn và miền núi.
- Khu vực kinh tế NQD tồn tại và phát triển góp phần thúc đẩy sự
hình thành và phát triển kinh tế hàng hóa, tạo ra sự cạnh tranh sống động trên
thị trường, thúc đẩy kinh tế Nhà nước tăng cường hạch toán kinh doanh, đổi
mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Trước
đây trong điều kiện chỉ có kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác, sản phẩm
hàng hóa dù sản xuất ra với bất kỳ chất lượng nào, giá cả ra sao đều được tiêu
thụ. Nhưng từ khi có kinh tế NQD với đặc điểm tư hữu cao, khu vực này rất
linh hoạt năng động với tinh thần trách nhiệm rất cao trong sản xuất, tìm kiếm
thị trường đồng thời luôn tập trung cao độ tinh thần làm việc, phát huy mọi
khả năng sẵn có của mình. Để cạnh tranh với khu vực NQD thì buộc khu vực
kinh tế quốc doanh phải cải tiến hàng hoá sản xuất ra nếu không sẽ không
được thị trường chấp nhận. Bên cạnh sự cạnh tranh đó thì nếu hai khu vực này
không còn hợp tác, thúc đẩy nhau để sản phẩm sản xuất ra được hoàn thiện
với chất lượng cao hơn. Vậy hợp tác và cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy
sự phát triển của hai khu vực kinh tế này.
IV

- Khu vực kinh tế NQD hình thành và phát triển còn tác động cả

vào cơ chế quản lý làm thay đổi phương thức quản lý sản xuất kinh doanh,
thay đổi tác phong, lề lối làm việc của cán bộ công chức nhà nước, của người
lao động.
Trước hết đối với các cơ quan quản lý và cán bộ công chức Nhà nước,
phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cơ chế quản lý tập trung bao cấp
Page 8


không còn thích hợp nữa vì Nhà nước không thể ra lệnh cho các đơn vị kinh
tế NQD phải sản xuất cái gì, phải bán theo giá quy định, mà cho quy luật giá
trị, do thị trường do nhu cầu xã hội quyết định. Với khu vực kinh tế NQD các
cơ quan quản lý, công chức Nhà nước không thể can thiệp vào quá trình sản
xuất kinh doanh của họ. Đây chính là những tiền đề đặt ra cần phải đổi mới cơ
chế quản lý và phải luôn hoàn thiện cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN.
Phát triển khu vực kinh tế NQD cũng có tác động và làm thay đổi ý
thức, tác phong làm việc của công chức các cơ quan quản lý Nhà nước. Vì
khu vực kinh tế NQD toàn bộ vốn và tài sản thuộc sở hữu tư nhân, họ có
quyền quyết định phương án sản xuất kinh doanh và chỉ chịu sự quản lý của
Nhà nước thông qua pháp luật. Cán bộ công chức Nhà nước không có quyền
can thiệp vào công việc kinh doanh của họ. Quan hệ giữa đơn vị kinh tế NQD
và công chức Nhà nước là quan hệ bình đẳng trước pháp luật.
Đối với người lao động và những người quản lý sản xuất kinh doanh,
câu hỏi đặt ra là làm sao thu được lợi nhuận cao nhất. Muốn vậy phải cải tiến
sản xuất, kinh doanh, nâng cao trình độ chuyên môn để sản xuất ra hàng hoá
chất lượng cao, giá thành hạ.
Quan hệ giữa người bán hàng dịch vụ và người mua hàng dịch vụ được
thay đổi từ quan niệm “bán như cho” thời bao cấp bằng quan niệm coi “khách
hàng là thượng đế” đã được hình thành.
Khu vực kinh tế NQD phát triển tác động cả vào các cơ quan quản lý
trong việc hoạch định chính sách và cải cách hành chính.
V

Vậy chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó vai trò của

khu vực kinh tế NQD đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn và phản ánh đúng quy
luật khách quan của thời kỳ qua độ. Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VII
của Đảng (tháng 6/1991) đã đánh giá: “Chính sách này được nhân dân hưởng
ứng rộng rãi và đã đi nhanh vào cuộc sống chính sách ấy đã góp phần phát
huy quyền làm chủ của nhân dân về kinh tế, khơi dậy được nhiều tiềm năng
Page 9


va sức sáng tạo của nhân dân để phát triển sản xuất, dịch vụ, tạo việc làm và
sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng
hoá, tạo ra sự cạnh tranh sống động trên thị trường”. Ngoài ra góp phần vào
phát triển và tăng trưởng kinh tế ngoài quốc doanh có sự tham giam tích cực
của các cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách và cải cách hành
chính đồng thời Nhà nước đã ban hành 51 luật, pháp lệnh và các Nghị định,
quyết định, chỉ thị của Chính phủ điều chỉnh và quản lý mọi hoạt động kinh tế
xã hội của đất nước nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển và
lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế xã hội.
3. Quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế NQD và các chính sách
kinh tế của Nhà nước
7.

3.1.Quan điểm của Đảng về phát triển khu vực kinh tế NQD
Nước ta đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, các luận điểm

của Mác - Ang ghen - Lênin về thời kỳ quá độ có thể vận dụng vào nước ta vì
giai đoạn này là giai đoạn Nhà nước của giai cấp công nhân đang đảm nhận
nhiệm vụ lịch sử phát triển sức sản xuất, một nhiệm vụ đáng lẽ ra giai cấp tư
bản phải làm. Mặt khác do lực lượng sản xuất phát triển không đồng đều giữa
các ngành, các vùng, vì vậy tất yếu tồn tại kinh tế NQD.
Tuy nhiên để có được nhận thức đúng đắn về sự tồn tại của các thành
phần kinh tế trong thời kỳ quá độ không phải là dễ dàng, đã có thời kỳ ta chủ
trương sớm xoá bỏ kinh tế NQD bằng làn sóng quốc doanh hóa, hợp tác hoá,
tạo nên bức tường ngăn cách giữa kinh tế XHCN và kinh tế NQD dẫn đến
những hậu quả tiêu cực làm cho tiềm lực kinh tế của đất nước không được
khai thác, lực lượng sản xuất bị lãng phí, kinh tế bị kìm hãm không phát triển
được, đời sống nhân dân gặp khó khăn.
Qua đánh giá quá trình cải tạo các thành phần kinh tế và vận dụng luận
điểm của Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Đại hội đại biểu
Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra chủ trương đổi mới toàn diện và sâu sắc
để đi tới CNXH một cách vững chắc. Trọng tâm là đổi mới kinh tế, mà trước
Page 10


hết là đổi mới tư duy kinh tế. Điều quan trọng là phải nhận thức và tính toán
lại hình thức, và bước đi của quá trình cải tạo XHCN, làm sao để phát huy
được sức mạnh của các thành phần kinh tế trong công cuộc xây dựng đất
nước giầu mạnh và cái đích vẫn là CNXH. Từ những phê bình về những biểu
hiện nóng vội muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi XHCN, từ thực tế
của đất nước và vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế nhiều thành
phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ, Đảng ta đã đề ra chính sách sử
dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác. Đại hội đại biểu Đảng
toàn quốc lần thứ VI đã chỉ ra nhiệm vụ đẩy mạnh cải tạo XHCN là một
nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH với
những bước đi thích hợp làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất. Cần phải “phát huy tác dụng tích cực của cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần”.
Đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần còn được tiếp tục xác
định tại Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII, VIII, IX. Báo cáo chính
trị tại Đại hội Đảng CSVN lần IX khẳng định.
“Kinh tế cá thể ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài.
Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển, khuyến khích các hình thức
HTX tự nguyện làm vệ tinh cho các doanh nghiệp phát triển lớn hơn, khuyến
khích phát triển kinh tế tư nhân rộng rãi, trong những ngành nghề sản xuất
kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về
chính sách, pháp lý để kinh tế NQD phát triển trên những hướng ưu tiên của
Nhà nước.”
Ngoài ra còn nêu rõ ở nước ta hiện nay có các thành phần kinh tế sau:
+ Kinh tế tư bản Nhà nước.
+ Kinh tế cá thể, tiểu chủ.
+ Kinh tế tư bản tư nhân.
+ Kinh tế Nhà nước.
+ Kinh tế Hợp tác.
Page 11


Thành phần kinh tế Nhà nước: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở
hữu nhà nước về tư liệu sản xuấtchủ yếu, gồm những đơn vị kinh tế mà toàn
bộ số vốn thuộc về Nhà nước hoặc phần của Nhà nước chiếm phần khống
chế.
Kinh tế quốc doanh hiện nay vẫn giữ vững vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế nước ta, được hình thành do Nhà nước đầu tư xây dựng các cơ sở kinh
tế trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, ngoài ra còn
được hình thành bằng con đường quốc hữu hoá các xí nghiệp tư nhân.
Thành phần kinh tế tập thể: là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập
thể, gồm các dơn vị kinh tế do nhũng người lao động tự nguyện góp vốn, góp
sức kinh doanh theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi.
Hợp tác xã là hình thức chủ yếu của nền kinh tế tập thể, bao gồm hợp
tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán, tín dụng.
Những loại hình hợp tác xã trên được hình thành với quy mô và mức độ khác
nhau phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, yêu cầu của sản xuất
và đời sống. Xu hướng vận động và phát triển của kinh tế tập thể theo hướng
kinh thành những cơ sở, tổ hợp kinh tế công nông nghiệp để đi lên sản xuất
lớn.
Thành phần kinh tế tư bản tư nhân: là thành phần kinh tế dựa trên chế
độ tư hữu tư bản chủ nghĩa và bóc lột lao động làm thuê, mặc dù không còn
nguyên nghĩa như xã hội cũ. Nó tồn tại trong những ngành có lợi trong quốc
kế dân sinh, được Nhà nước khuyến khích, kiểm soát và hướng theo con
đường kinh tế tư bản Nhà nước.
Thành phần này bao gồm các đơn vị kinh tế phần lớn vốn của tư nhân
(cả trong và ngoài nước) đầu tư, hoạt động dưới hình thức xí nghiệp tư doanh,
hoặc công ty cổ phần được luật pháp quy định. Thành phần này có ưu điểm
mạnh về vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm và trình độ quản lý. Nó có vai
trò to lớn trong việc phát triển lực lượng sản xuất, giải quyết việc làm, tăng
thu nhập kinh tế quốc dân, nâng cao đời sống.
Page 12


Thành phần kinh tế cá thể: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất và lao động của bản thân người sản xuất.
Đặc điểm cơ bản của thành phần kinh tế này là tư liệu sản xuất và sức
lao động được kết hợp trực tiếp bởi cùng một chủ thể. Mặc dù người sản xuất
được tự do sản xuất kinh doanh, nhưng vẫn chịu tác động trực tiếp của các
thành phần kinh tế khác và của thị trường. Trong suốt thời kỳ quá độ, đặc biệt
chặng đường đầu, thành phần kinh tế cá thể có vai trò rất quan trọng trong
việc sản xuất dịch vụ, tư liệu sinh hoạt phục vụ đời sống và sản xuất. Kinh tế
cá thể tồn tại độc lập, có thể liên doanh liên kết với các đơn vị kinh tế của các
thành phần kinh tế khác bằng nhiều hình thức, hoặc tham gia hợp tác xã tự
nguyện nếu người lao động thấy cần thiết.
Thành phần kinh tế tư bản Nhà nước: là thành phần kinh tế mà chủ thể
của nó là tư bản Nhà nước cùng góp vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh;
gồm các đơn vị kinh tế ở các ngành, các lĩnh vực dưới các hình thức công ty
hợp doanh, gia công, thuê tài sản...Có thể khẳng định rằng trong thời kỳ quá
độ, đây là hình thức kinh tế trung gian thích hợp nhất để chuyển từ sản xuất
nhỏ lên sản xuất lớn ở nước ta.
Các thành phần kinh tế cơ bản trên tồn tại trên cơ sở ba loại sở hữu chủ
yếu: sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Ngoài ra, còn có
những hình thức tổ chức kinh tế hoạt động không thuộc thành phần kinh tế
nào như hình thức kinh tế hỗn hợp nhiều loại sở hữu công ty, xí nghiệp cổ
phần, liên doanh, liên kết hai bên và nhiều bên giữa các chủ thể, giữa các
thành phần kinh tế trong và ngoài nước.
Trên giác độ nghiên cứu, có thể phân chia khu vực kinh tế trong nước
thành hai khu vực nhỏ hơn: khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh cho phù hợp với những thuật ngữ đang được sử dụng phổ
biến trong nhiều văn bản của Nhà nước và trong các cuộc hội thảo.
Điểm khác biệt căn bản giữa thành phần kinh tế quốc doanh (KTQD)
và thành phần kinh tế NQD là tính chất sở hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu.
Page 13


Kinh tế quốc doanh dựa trên sở hữu của Nhà nước, kinh tế ngoài quốc doanh
dựa trên sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu hỗn hợp giữa tư nhân với tập
thể hay giữa các tư nhân với nhau. Đảng và Nhà nước ta qua các kỳ Đại hội
đã khẳng định kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, kinh tế ngoài quốc
doanh giữ vai trò mở đuờng cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất
nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
8. 3.2.Các chính sách kinh tế của Nhà nước để phát triển kinh tế
NQD
Quán triệt đường lối đổi mới kinh tế của Đảng nêu tại đại hội Đảng
Cộng sản Việt nam lần thứ VI, lần thứ VII, lần thứ VIII và Nghị quyết các hội
nghị Trung ương. Nhà nước đã nhanh chóng cụ thể hóa thành những chính
sách cụ thể và luật hoá để thực hiện. Trước hết cần phải được thể chế thành
điều luật trong hiến pháp, điều 15 Hiến pháp năm 1992 đã qui định “ Nhà
nước phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN. Cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên
chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn
dân và sở hữu tập thể là nền tảng”.
Về kinh tế NQD, điều 21 Hiến pháp năm1992 qui định: “kinh tế ngoài
quốc doanh được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập
doanh nghiệp không bị hạn chế về qui mô hoạt động trong những ngành nghề
có lợi cho quốc kế dân sinh”. Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là
làm cho dân giàu, nước mạnh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và
tinh thần của nhân dân. Chính sách kinh tế của Nhà nước còn nhằm giải
phóng năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bằng các qui định của Hiến pháp, Nhà nước và xã hội đã chính thức
thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế NQD trong thời kỳ quá độ. Tuy nhiên,
nếu chỉ công nhận khu vực kinh tế NQD tồn tại thôi thì chưa đủ mà cần phải
Page 14


định hướng cho khu vực kinh tế NQD phát triển theo đúng đường lối của
Đảng, đúng mục đích đã định ra không để kinh tế NQD phát triển tự phát,
chệch hướng. Vì vậy cần tiếp tục thể chế đường lối của Đảng, Hiến pháp
thành những chính sách cụ thể. Trong những năm qua Nhà nước đã nghiên
cứu, ban hành các chính sách cụ thể tạo hành lang pháp lý cho kinh tế NQD
phát triển, đồng thời liên tục chỉnh lý cho các chính sách thật phù hợp với đời
sống thực tiễn, khơi dậy mọi tiềm năng của khu vực kinh tế này. Trong các
chính sách đó đáng chú ý là:
- Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân được Quốc hội thông qua
năm 1990 và được thay thế bằng Luật doanh nghiệp được Quốc hội khoá X
thông qua ngày 16/6/1999 và thống nhất thực hiện từ 1/1/2000.
- Luật doanh nghiệp ra đời qui định việc thành lập, tổ chức quản lý và
hoạt động của các doanh nghiệp. Từ Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân
nay là Luật doanh nghiệp (Bao gồm các công ty Cổ phần, công ty TNHH,
công ty Hợp doanh và Doanh ngiệp tư nhân) vừa thể hiện được tính nhất quán
của Đảng và Nhà nước ta, vừa thể hiện sự phát triển về nhận thức và hành
động nhằm khuyến khích phát triển khu vực kinh tế này. So với Luật công ty,
Luật doanh nghiệp tư nhân ban hành trước đây, Luật doanh nghiệp mới có
nhiều sửa đổi bổ xung cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống, tạo môi trường
thoáng cho doanh nghiệp thành lập và hoạt động nên tuy mới chỉ sau một vài
năm đã phát huy những tác dụng to lớn.
- Nghị định của Chính phủ về cá nhân và nhóm cá nhân kinh doanh
công thương nghiệp dịch vụ: qui định về đăng ký kinh doanh, tổ chức quản lý
và hoạt động của cá nhân và nhóm cá nhân kinh doanh có vốn thấp hơn vốn
pháp định để thành lập doanh nghiệp. Theo Nghị định này mọi cá nhân, nhóm
cá nhân có nguyện vọng sản xuất kinh doanh chỉ thực hiện thủ tục khai báo
đơn giản, cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm phải cấp đăng ký kinh
doanh, nếu cá nhân và nhóm cá nhân kinh doanh những ngành nghề không
thuộc loại cấm.
Page 15


- Ban hành các luật thuế xuất nhập khẩu, thuế doanh thu, thuế tiêu thụ
đặc biệt, thuế lợi tức - sau này thuế doanh thu thay thế bằng thuế gía trị gia
tăng, thuế lợi tức thay bằng thuế thu nhập doanh nghiệp, được áp dụng thống
nhất cho các thành phần kinh tế.
Việc ban hành các luật thuế áp dụng cho mọi thành phần kinh tế là sự
thể hiện rõ nét nhất tính chất bình đẳng của các thành phần kinh tế trong cạnh
tranh. Trước năm 1990 nhằm phục vụ công cuộc cải tạo XHCN, Nhà nước ta
áp dụng ba chính sách thu ngân sách cho ba khu vực khác nhau: Khu vực kinh
tế Nhà nước áp dụng chính sách thu quốc doanh và phân phối lợi nhuận, khu
vực công thương nghiệp và dịch vụ NQD áp dụng chính sách thu thuế công
thương nghiệp và thuế hàng hoá, khu vực nông nghiệp áp dụng chính sách thu
thuế nông nghiệp. Ngay khu vực ngoài quốc doanh công thương nghiệp và
dịch vụ cũng có sự phân biệt giữa kinh tế tập thể và kinh tế cá thể, theo
khuynh hướng khuyến khích kinh tế tập thể bằng ưu đãi khi tính thuế, miễn
giảm thuế...
Để phù hợp với chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần theo cơ chế thị trường, cần phải có một chính sách thuế thống nhất để
tạo điều kiện cạnh tranh công bằng và bình đẳng. Do đó việc ban hành các
luật thuế áp dụng chung cho mọi cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành
phần kinh tế là kịp thời và cần thiết. Về nguyên tắc chung, hệ thống chính
sách thuế mới đã đảm bảo sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, khuyến khích sản
xuất phát triển, hướng dẫn tiêu dùng hợp lý.
- Ban hành luật khuyến khích đầu tư trong nước, thể hiện cụ thể về
chủ trương của Đảng và Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi
người dân bỏ vốn sản xuất kinh doanh. Trong luật khuyến khích đầu tư trong
nước cũng ban hành luôn các danh mục ngành nghề, danh mục các địa bàn
khuyến khích đầu tư và chính sách ưu đãi cụ thể đối với từng ngành nghề và
từng địa bàn. Trong đó đặc biệt là các chính sách ưu đãi miễn giảm thuế được
các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế NQD quan tâm và hoan nghênh.
Page 16


Ngoài ra các chính sách về tín dụng như áp dụng chung một mức lãi
suất, chính sách về xuất nhập khẩu quy định mọi cơ sở sản xuất kinh doanh
thuộc mọi thành phần kinh tế đều được tham gia trực tiếp xuất nhập khẩu,
chính sách về lao động quy định mọi công dân đến tuổi lao động ở mọi hình
thức, mọi thành phần kinh tế đều có quyền lợi ngang nhau, chính sách về tiền
lương cũng được ban hành mới và sửa đổi, bổ xung cho phù hợp với chủ
trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Đồng thời Nhà nước
cũng chỉ đạo mạnh mẽ việc cải tiến thủ tục hành chính tạo môi trường sản
xuất kinh doanh, môi trường đầu tư lành mạnh, thông thoáng đã góp phần
quyết định cho sự tồn tại và phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
4. Đặc điểm của khu vực kinh tế NQD tác động đến quản lý thu thuế
- Các thành phần kinh tế thuộc khu vực kinh tế NQD dựa trên quan hệ sở
hữu tư nhân, toàn bộ vốn, tài sản... đều thuộc sở hữu tư nhân. Trong hầu hết
trường hợp chủ sở hữu là người quản lý và ra quyết định kinh doanh và chịu
toàn bộ trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Mục tiêu lớn nhất của tất cả các
doanh nghiệp NQD là lợi nhuận. Vì vậy các doanh nghiệp rất nhanh nhậy
trong tìm hiểu đầu tư và đầu tư có thể sẵn sàng bằng bất cứ giá nhào để kiếm
được thật nhiều lợi nhuận với những phương án kinh doanh rất táo bạo và
mạo hiểm. Đôi khi để đạt được mục đích họ có thể xem thường pháp luật kể
cả trốn thuế... gây hậu quả cho xã hội.
VI

- Đối tượng kinh doanh lớn, kinh doanh ở tất cả các lĩnh vực

nhưng về mặt quy mô còn nhiều hạn chế, một số hoạt động ở lĩnh vực sản
xuất do trình độ công nghệ lạc hậu nên năng suất lao động thấp... Đối tượng
kinh doanh vừa lớn lại trải trên diện rộng ở khắp các địa phương trong cả
nước làm cho việc quản lý đối tượng thêm phức tạp.
VII

- Khu vực kinh tế NQD có số đông người lao động là trình độ văn

hoá thấp dẫn đến trình độ quản lý, trình độ công nghệ thấp trong số những
người lao động ở khu vực này có cả những người già, cán bộ công nhân viên
nghỉ hưu, nghỉ mất sức hoặc không có công việc làm phải kinh doanh để kiếm
Page 17


sống... Do đó việc tuyên truyền giải thích chính sách gặp nhiều vấn đề khó
khăn, công tác quản lý có nhiều trở ngại do hạn chế về khả năng ngoại ngữ,
thiếu thông tin về thị trường... vì vậy khó ứng phó được với tác động thị
trường bên ngoài.
VIII

- Khu vực kinh tế NQD có ý thức chấp hành pháp luật rất kém. Tình

trạng kinh doanh không có giấy phép hay vi phạm điều lệ đăng ký kinh doanh
tương đối phổ biến. Theo số liệu điều tra liên ngành thì năm 1997 có 65% số
hộ kinh doanh là không đăng ký, 25% số doanh nghiệp kinh doanh vi phạm
về đăng ký kinh doanh... Đa số doanh nghiệp có sử dụng lao động vi phạm
chế độ sử dụng lao động như không đóng bảo hiểm xã hội...Cũng tương tự
như trên có 1 bộ phận không nhỏ số hộ kinh doanh không xin cấp mã số thuế,
không đăng ký nộp thuế đối với các doanh nghiệp NQD cũng có tình trạng
tương tự, nhiều doanh nghiệp xin thành lập nhưng không hoạt động, còn tình
trạng lập sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ không đúng thực tế nhằm mục
đích trốn thuế diễn ra phổ biến.
- Khu vực kinh tế NQD có mô hình tổ chức quản lý và kinh doanh gọn
nhẹ, năng động và nhậy bén, là khu vực chiếm phần đông trong nền kinh tế
song quy mô nhỏ do vốn ít, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, dễ dàng thích
ứng nhanh với sự biến động của thị trường và sự tiến bộ không ngừng khoa
học kỹ thuật, đồng thời trong các doanh nghiệp số lượng lao động ít và
thường đảm nhận chức vụ theo kiểu đa năng giúp cho chi phí nhân công thấp
tạo lợi thế cạnh tranh về giá và sản phẩm cung cấp cho thị trường trong nước
nhưng do quy mô quá nhỏ bé dẫn đến khó cạnh tranh được trên thị trường
quốc tế.
Trên đây là một số đặc điểm cơ bản của các thành phần kinh tế NQD. Từ đó
ta có thể thấy được những ưu, nhược điểm để tìm cách tạo điều kiện phát huy
thế mạnh cho khu vực kinh tế NQD góp phần vào quá trình hội nhập và phát
triển kinh tế đất nước.
ii. NỘI DUNG QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ NQD

Page 18


1. Các sắc thuế áp dụng đối với khu vực kinh tế NQD
9.

1.1. Thuế môn bài

Thuế môn bài thu một năm một lần nhằm mục đích hoàn thiện việc
kiểm kê, kiểm soát của Nhà nước đối với các cơ sở kinh doanh qua đó có căn
cứ phân loại cơ sở kinh doanh theo quy mô lớn, vừa hay nhỏ để có biện pháp
quản lý thích hợp với từng đơn vị và động viên một phần đóng góp của cơ sở
kinh doanh ngay từ đầu mỗi năm để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho ngân sách
Nhà nước trong khi nhiều khoản thuế chưa phát sinh nguồn thu. Thuế môn bài
hiện nay đang áp dụng theo Nghị định số 52/CP ngày 9/9/1996 quy định:
- Về đối tượng nộp thuế môn bài bao gồm:
+ Các cơ sở kinh doanh hạch toán kinh tế độc lập (DNNN, công ty,
DN tư nhân, xí nghiệp tư nhân, DN hoạt động theo luật đầu tư nước ngoài, tổ
chức, các cá nhân người nước ngoài đang kinh doanh tại Việt nam, các tổ
chức hành chính sự nghiệp, đoàn thể đăng ký hoạt động kinh tế) nộp thuế theo
mức 850 nghìn đồng/năm.
+ Các cơ sở kinh doanh, cửa hàng, cửa hiệu hạch toán phụ thuộc hoặc
báo sổ, Hợp tác xã, nộp thuế môn bài theo mức 550 nghìn đồng/ năm
+ Ở các cơ sở kinh doanh trên có cửa hàng, điểm kinh doanh dịch vụ
ở nhiều nơi khác nhau, thì cửa hàng đó phải nộp thuế môn bài theo mức 325
nghìn đồng/năm.
- Các đối tượng khác nộp thuế môn bài theo biểu sau.
Các đối tượng khác gồm:
+ Hộ sản xuất kinh doanh cá thể.
+ Cán bộ công nhân viên, xã viên hợp tác xã, người lao động trong
các doanh nghiệp NQD nhận khoán tự trang trải mọi khoản chi phí, tự chịu
trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.
+ Nhóm cán bộ công nhân viên, nhóm xã viên Hợp tác xã, nhóm
người lao động nhận khoán nhưng từng cá nhân trong nhóm nhận khoán lại

Page 19


kinh doanh riêng rẽ, từng cá nhân trong nhóm còn phải nộp thuế môn bài
riêng.
+ Các cơ sở kinh doanh trên danh nghĩa là các công ty Cổ phần,
công ty TNHH...nhưng từng thành viên của công ty vẫn kinh doanh độc lập
chỉ nộp một khoản tiền nhất định cho công ty để phục vụ yêu cầu quản lý
chung thì thuế môn bài thu theo từng thành viên.
Bảng 1: Biểu thuế môn bài áp dụng cho đối tượng khác nộp thuế
Đơn vị tính: nghìn đồng
Bậc thuế Thu nhập/ tháng
Mức thuế cả năm
1
Trên 1250
850
2
Trên 900 đến 1250
550
3
Trên 600 đến 900
325
4
Trên 350 đến 600
165
5
Trên 150 đến 350
60
6
Dưới 150
25
Nguồn: Thông tư số 69 TC/TCT - Bộ Tài chính ngày 5/11/1996
- Thời gian nộp thuế môn bài:
+ Cơ sở kinh doanh có hoạt động sản xuất trong khoảng thời gian
của 6 tháng đầu năm thì nộp thuế môn bài cả năm.
+ Cơ sở kinh doanh có hoạt động sản xuất trong khoảng thời gian
của 6 tháng cuối năm thì nộp 50% mức thuế cả năm.
+ Cơ sở đang sản xuất kinh doanh thì nộp thuế môn bài ngay tháng
đầu của năm dương lịch
+ Cơ sở mới ra kinh doanh thì nộp thuế môn bài ngay tháng bắt đầu
kinh doanh.
- Nơi nộp thuế môn bài:Cơ sở kinh doanh đăng ký nộp thuế với cơ quan
thuế cấp nào thì nộp thuế môn bài tại cơ quan thuế cấp đó.
1.2. Thuế Giá trị gia tăng (GTGT).

Page 20


Luật thuế GTGT thay thế luật doanh thu được áp dụng thống nhất kể từ
1/1/1999. Thuế GTGT tính từ trên khoản GTGT thêm của hàng hoá, dịch vụ
phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng nên khắc
phục được nhược điểm đánh thuế trùng lặp của thuế doanh thu. Thuế được
hoàn đối với hàng hóa xuất khẩu sẽ phát huy hết tác dụng khi xuất khẩu, tạo
điều kiện cho xuất khẩu có thể cạnh tranh trên thị truờng quốc tế. Thuế GTGT
kết hợp với hàng nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng nhập khẩu, góp
phần tích cực bảo vệ hàng hóa sản xuất trong nước tăng cường hạch toán kế
toán kinh doanh, thúc đẩy việc mua bán hàng hóa thực hiện tốt chế độ hóa
đơn để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, khuyến khích hiện đại hoá, chuyên
môn hóa sản xuất, nâng cao chất lượng, hạ gía thành sản phẩm...
- Đối tượng đánh thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ở nước
ta kể cả hàng hoá sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu, hàng tiêu dùng nội
bộ hay làm quà biếu, tặng, đem trao đổi trừ 26 mặt hàng được quy định trong
luật thuế GTGT.
- Đối tượng nộp thuế là mọi tổ chức, cá nhân (không phân biệt thành
phần kinh tế) có hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa,
dịch vụ. Đối tượng phải kê khai thuế GTGT từng tháng và nộp thuế theo hạn
thời hạn ghi trong báo cáo nộp thuế của cơ quan thuế, chậm nhất không quá
ngày 25 của tháng tiếp theo. Hết năm phải kê khai để quyết toán thuế.
- Giá tính thuế GTGT là giá chưa có thuế GTGT. Khi bán hàng hoá
hay cung cấp dịch vụ trên hoá đơn phải ghi rõ giá bán hàng chưa có thuế
GTGT, tiền thuế GTGT phải nộp và giá bán gồm cả thuế GTGT.
- Về thuế suất: Có 4 mức thuế suất áp dụng đối với từng loại hàng hoá,
dịch vụ.
+ Mức 0% áp dụng cho hàng hoá xuất khẩu.
+ Mức 5% áp dụng đối với hàng hoá và dịch vụ cần khuyến khích
sản xuất tiêu dùng cần thiết cho nhu cầu đời sống.
+ Mức 10% áp dụng đối với các hàng hoá và dịch vụ phổ thông.
Page 21


+ Mức 20% áp dụng cho các loại hàng hoá, dịch vụ không khuyến
khích cần điều tiết cao
- Về phương pháp có 2 phương pháp: Khấu trừ thuế và tính trực tiếp
trên GTGT:
+ Phương pháp khấu trừ thuế được áp dụng đối với mọi cơ sở kinh
doanh phải thực hiện chế độ hoá đơn GTGT và sổ sách kinh doanh, có căn cứ
xác định thuế đầu ra và thuế đầu vào để thực hiện chế độ khấu trừ thuế:
Thuế GTGT = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào
+ Phương pháp trực tiếp được thực hiện đối với các cơ sở kinh
doanh không có điều kiện thực hiên chế độ sổ sách hoá đơn GTGT, chủ yếu
áp dụng đối với các hộ nhỏ, thuế tính theo tỷ lệ GTGT trên doanh thu khoán
trong một thời gian 6 tháng đến một năm.
Thuế GTGT = GTGT x Thuế suất.
+ Về nguyên tắc: Thuế GTGT là thuế gián thu mà cơ sở kinh doanh
đã thu hộ Nhà nước khi bán hàng nên không có chế độ miễn giảm thuế cho cơ
sở kinh doanh. Tuy nhiên trong bước đầu chuyển từ thuế doanh thu có 11
mức thuế sang thuế GTGT có 4 thuế suất, một số cơ sở kinh doanh phải nộp
thuế GTGT cao hơn thuế doanh thu trong những năm đầu bị lỗ thì được xét
giảm thuế GTGT trong từng năm dương lịch. Thời gian được xét giảm thuế
tối đa từ 3 năm kể từ khi luật thuế GTGT tương ứng với số lỗ của năm xét
giảm thuế, nhưng tối đa không quá 50% số thuế GTGT phải nộp trong năm và
theo thêm quyền xét giảm thuế GTGT được quy định cho từng cấp.
1.3. Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
Thuế TNDN thay thế Luật thuế lợi tức được thi hành từ 1/1/1999 nhằm
bao quát và điều tiết tất cả các khoản thu nhập đã, đang và sẽ phát sinh của cơ
sở kinh doanh trong cơ chế thị trường, khuyến khích các nhà đầu tư nước
ngoài và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước tiết kiệm vốn cho đầu
tư phát triển kinh doanh qua các chế độ miễn giảm thuế từng bước thu hẹp sự
khác biệt về chính sách thuế để đảm bảo sự bình đẳng và cạnh tranh lành
Page 22


mạnh giữa các thành phần kinh tế, hệ thống hoá những quy định ưu đãi về
thuế.
- Về giá tính thuế:
Điều 7 Nghị định 54 của Chính phủ ngày 28/8/1993 quy định. Giá tính
thuế hàng nhập khẩu là giá mua tại cửa khẩu nhập (bao gồm cả phí vận
chuyển, phí bảo hiểm...) theo hợp đồng. Còn với hàng xuất nhập khẩu không
đủ điều kiện xác định giá tính thuế theo hợp đồng hay giá ghi trên hợp đồng
quá thấp so với giá mua bán tối thiểu tại cửa khẩu và đối với hàng hoá xuất,
nhập khẩu theo phương thức khác không phải là mua, bán, không thanh toán
qua ngân hàng) thì giá tính thuế là giá mua, bán tối thiểu tại cửa khẩu.
- Về chính sách miễn giảm thuế:
Ngoài các đối tượng được miễn giảm thuế sau khi đã làm thủ tục hải
quan như: hàng Viện trợ không hoàn lại, hàng là tài sản di chuyển, hàng trong
tiêu chuẩn hành lý miễn thuế của khách nhập cảnh... Luật thuế xuất, nhập
khẩu hiện hành còn quy định những đối tượng sau được xét miễn giảm thuế:
hàng chuyên dùng cho an ninh quốc phòng, nghiên cứu giáo dục và đào tạo...
Quy định nói trên cho thấy chính sách miễn giảm thuế hiện nay còn khá
rộng rãi so với các nước trong khu vực làm cho chính sách thuế thiếu tính
minh bạch, giảm tính trung lập của thuế.
1.4. Thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)
Như các luật thuế khác, luật thuế TTĐB quy định mọi tổ chức cá nhân
không phân biệt thành phần kinh tế có sản xuất kinh doanh hàng hoá và kinh
doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB là đối tượng nộp thuế TTĐB.
Căn cứ tính thuế TTĐB là giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và
thuế suất.
1.5. Các sắc thuế khác
Ngoài các sắc thuế nói trên, các cơ sở sản xuất kinh doanh còn phải nộp
các khoản thuế khác như thuế nhà đất, thuế tài nguyên...Tuy nhiên vì các

Page 23


khoản này không phát sinh thường xuyên hay rất nhỏ nên không trình bày kỹ
mục đích ý nghĩa, nội dung chính sách thu.
2- Nội dung quản lí thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
2.1 Qui trình quản lí thu thuế đối với các doanh nghiệp
2.1.1 Đăng ký thuế và cấp mã số thuế
1- Doanh nghiệp lập đăng ký thuế:
Doanh nghiệp mới ra kinh doanh phải đăng ký với Cục thuế. Sau đó
doanh nghiệp gửi tờ khai đăng ký thuế tới cơ quan thuế.
2- Tiếp nhận đăng ký thuế:
Phòng Hành chính nhận tờ khai đăng ký thuế của các doanh nghiệp, từ
các chi cục gửi lên sau đó phân loại tờ khai đăng ký thuế của các doanh
nghiệp theo từng phòng quản lý thu sau đó chuyển cho Phòng quản lý thu và
Phòng máy tính.
3- Kiểm tra tờ khai đăng ký thuế - Phòng quản lý thu thực hiện.
4- Nhập đăng ký thuế và cấp mã số thuế - phòng máy tính thực hiện:
5- Chuyển dữ liệu đăng ký thuế về tổng cục thuế: Phòng máy tính của
Tổng cục thuế truyền dữ liệu đăng ký thuế về Tổng cục Thuế để tránh sự
trùng lập mã số thuế trên phạm vi toàn quốc.
6- Kiểm tra tại Tổng cục: Tổng cục kiểm tra dữ liệu đăng ký thuế các
cục thuế trên phạm vi toàn quốc để tránh việc đăng ký trùng lắp đồng thời
kiểm tra quan hệ doanh nghiệp chủ quản với đơn vị trực thuộc thông qua mã
số thuế.
7- In giấy chứng nhận cấp mã thuế.
2.1.2 Xử lý tờ khai và chứng từ nộp thuế
1- Hướng dẫn đối tượng nộp thuế (ĐTNT) lập tờ khai thuế: Phòng quản
lý thu hướng dẫn các doanh nghiệp lập và khai thuế theo mẫu và gửi cơ quan
thuế theo đúng hạn quy định của luật thuế.
2- Tiếp nhận tờ khai: Phòng Hành chính tiếp nhận tờ khai và chuyển
đến phòng quản lý thu.
Page 24


3- Kiểm tra tờ khai ban đầu: Phòng quản lý nhận tờ khai và phát hiện
lỗi của đối tượng nộp sau đó gửi xuống phòng máy tính.
4- Nhập tờ khai: Phòng máy tính tiến hành xử lý kiểm tra sau đó thông
báo cho phòng quản lý thu biết để báo cho ĐTNT về những sai sót trên tờ
khai mà cơ quan thuế đã sửa.
5- Sửa lỗi kê khai: ĐTNT liên hệ với cơ quan thuế để sửa với thuế
GTGT trước ngày 15 hàng tháng, với thuế TNDN trước ngày 28/2 của năm.
6- ấn định thuế: Phòng quản lý thu theo dõi ĐTNT không nộp tờ khai
hoặc quá hạn sửa lỗi thì thực hiện việc ấn định thuế.
7- In thông báo thuế:
1 + Thông báo thuế lần 1: Phòng máy tính tính nợ kỳ trước chuyển
sang, tính nợ phải nộp kỳ này đưa vào danh sách ấn định thuế và in thông báo
thuế thời gian đối với thuế GTTG là in trước ngày 18 hàng thàng và đối với
thuế TNDN là ngày 15 của tháng thứ 3.
2 +Thông báo thuế lần 2: phòng quản lý thu theo dõi ĐTNT chưa
nộp thuế lần1. Phòng máy tính ra thông báo thuế lần 2 số tiền là: số tiền thuế
chưa nộp + số tiền phạt của thuế.
8- Xử lý nộp phạt:
3 + Tính phạt nộp chậm: Phòng KH - KT - TK(MT) tính phạt
0,1%/ ngày trên số tiền thuế nộp chậm đối với các đối tượng nộp thuế nộp
chậm tiền thuế. Việc tính phạt nộp chậm căn cứ vào số ngày và số tiền thuế
chậm.
+ Phạt hành chính: Phòng Quản lý thu hoặc phòng TT-XLTT xem
xét, lựa chọn đối tượng nộp thuế cần phạt thuế theo quy định tại thông tư số
128/1998/TT-BTC về xử phạt hành chính để trình lãnh đạo Cục duyệt.
9- Lập lệnh thu: Phòng Quản lý thu theo dõi tình hình nợ đọng thuế, lựa
chọn và lập danh sách các đối tượng nộp thuế.

Page 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×