Tải bản đầy đủ

vấn đề ô nhiễm sông ngòi, kênh rạch ở tphcm

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ

KINH TẾ CÔNG CỘNG
Chủ đề: Ô NHIỄM RÁC THẢI SÔNG VÀ KÊNH
RẠCH Ở TPHCM
GVHD: MAI ĐÌNH QUÝ
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 2
1.
2.
3.
4.
5.

Võ Thị Huyền Vy 13120119
Thái Nhật Uyên 13120549
Hoàng Thị Hà Trang 13120105
Võ Thúy Duy 13120015
Nguyễn Thị Vy 13120482


TPHCM tháng 5/ 2016

Chương 1: MỞ ĐẦU
1.1

Đặt đề tài
Tất cả chúng ta đều biết rằng, nước là một dạng tài nguyên đặc biệt quan trọng, là

thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển của mỗi
quốc gia. Tuy nhiên, trên khắp thế giới, nhiều người còn chưa có được nước an toàn và


đầy đủ để đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất của họ. Tài nguyên nước đang bị đe doạ
bởi các chất thải và ô nhiễm, bởi việc khai thác sử dụng kém hiệu quả, bởi sự thay đổi
mục đích sử dụng đất, thay đổi khí hậu toàn cầu và nhiều nhân tố khác…
Trong số nhiều chức năng quan trọng của nguồn nước nói chung và các hệ thống
sông lớn nói riêng, có lẽ quan trọng hơn cả là chức năng cung cấp nước cho sinh hoạt
của cộng đồng dân cư lớn.
Việt Nam với đặc thù là một nước nông nghiệp, hiện nay Việt Nam đang đứng
thứ hai về xuất khẩu gạo trên thế giới, nguồn nước được sử dụng nhiều cho nông nghiệp.
Theo tính toán, năm 1985 đã sử dụng 41 tỷ m3, chiếm 89,9% tổng lượng nước tiêu thụ
toàn quốc, năm 1990 đã sử dụng 46,9 tỷ m3, chiếm 90% và năm 2000 sử dụng khoảng
trên 60 tỷ m3 . Đến nay, cả nước đã có 75 hệ thống thuỷ lợi vừa và lớn, rất nhiều hệ
thống thuỷ lợi nhỏ với tổng giá trị tại sản cố định khoảng 60.000 tỷ đồng (chưa kể giá trị
đất đai và công sức nhân dân đóng góp.
Ngày càng rõ ràng rằng, nước là một dạng tài nguyên đặc biệt quan trọng đối với
sự sống, là điều kiện thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển không chỉ đối với các hệ thống
tự nhiên mà còn đối với các hệ thống kinh tế xã hội và nhân văn. Tài nguyên nước phải
được nhìn nhận như là một loại hàng hoá kinh tế và xã hội đặc biệt.
Hiện nay, tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp đang trong tình
trạng báo động. Nhiều khu chế xuất, khu công nghiệp cũng đang quá tải và ô nhiễm do
tính toán hệ thống nước thải không theo kịp thực tế. Mà trong đó, TP Hồ Chí Minh
chiếm tỷ trọng cao trong việc gây ô nhiễm cho nguồn nước nói chung, và cho các kênh
rạch trên địa bàn thành phố nói riêng.
Nước thải sinh hoạt chiếm hơn 60% tổng lưu lượng nước thải ra hệ thống sông
rạch TP Hồ Chí Minh, nhưng mới chỉ khoảng 20% tổng lượng nước thải được xử lý.
Tình trạng này làm suy giảm chất lượng nguồn nước kênh rạch nội thành và nguồn nước
sông, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn cấp nước phục vụ sinh hoạt của người dân
thành phố.



Nếu tình trạng ô nhiễm kéo dài mà không có hướng giải quyết trong thời gian tới,
TP Hồ Chí Minh với lượng dân cư đông nhất nước (7,955 triệu người) sẽ lâm vào tình
cảnh thiếu nước sạch để phục vụ cho mục đích sinh hoạt và tưới tiêu cho các vùng trồng
trọt ở ngoại ô thành phố.
Phải làm gì để cứu lấy những kênh, rạch? Đó là câu hỏi lớn đặt ra mà chưa có giải
pháp triệt để.Việc tìm hiểu về ô nhiễm rác thải trên sông ngòi, kênh rạch;về thực trạng,
nguyên nhân và hậu quả của nó thực sự rất cần thiết để đưa ra các hướng giải quyết thích
hợp. Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài “ Vấn đề ô nhiễm rác thải sông và kênh rạch tai
TP HCM”.

Mục đích nghiên cứu

1.2


Đánh giá hiện trạng môi trường nước tại các con sông và kênh rạch trên địa bàn

thành phố Hồ Chí Minh.
• Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm rác thải và cải
thiện
môi trường nước mặt của thành phố trong thời gian tới.

1.3

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu


Đối tượng: môi trường nước trên các con sông, kênh rạch tại thành phố Hồ Chí



Minh.
Phạm vi nghiên cứu: thành phố Hồ Chí Minh.

1.4





1.5

Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu.
Tham khảo ý kiến chuyên gia môi trường.
Phương pháp điều tra và khảo sát thực địa.
Phương pháp phân tích các chỉ tiêu về môi trường nước trên sông ngòi kênh rạch.

Nội dung của đề tài


Chương 1: Lời nói đầu
Chương 2: Nội Dung




Cơ sở lý luận và thực tiễn về ô nhiễm môi trường nước.
Thực trạng ô nhiễm rác thải song và kênh rạch trên địa bàn TP Hồ Chí Minh.
Giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm rác thải sông và kênh rạch tại TP Hồ
Chí Minh.

Chương 3: Kết luận.

Chương 2: NỘI DUNG

2.1

Cơ sở lý luận chung và thực tiễn về ô nhiễm môi trường nước

2.1.1 Khái niệm về ô nhiễm nước
Vấn đề ô nhiễm nước là một trong những thực trạng đáng ngại nhất của sự hủy hoại
trường tự nhiên do nền văn minh đương thời. Môi trường nước rất dễ bị ô nhiễm, các ô
nhiễm từ đất, không khí đều có thể làm ô nhiễm nước, ảnh hưởng lớn đến đời sống của
người và các sinh vật khác.
Do sự đồng nhất của môi trường nước, các chất gây ô nhiễm gây tác động lên toàn
bộ sinh vật ở dưới dòng, đôi khi cae đến vùng ven bờ và vùng khơi của biển.

2.1.2 Dấu hiệu nước bị ô nhiễm
Môi trường nước mặt bao gồm nước hồ, ao, đồng ruộng, nước các sông suối, kênh rạch.


Nguồn nước các sông, kênh tải nước thải, các hồ khu vực đô thị, KCN và đồng ruộng
lúa nước là những nơi thường có mức độ ô nhiễm cao. Nguồn gây ra ô nhiễm nước là
các khu dân cư tập trung, các hoạt động công nghiệp, giao thông thuỷ và sản xuất nông
nghiệp.
Nguồn nước bị ô nhiễm có các dấu hiêu đặc trưng sau


Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước và các cặn lắng chìm xuống đáy
nguồn.



Thay đổi tính chất lý học (độ trong, màu, mùi, nhiệt độ,…



Thay đổi thành phần hoá học (pH, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ, xuất hiện
các chất độc hại,…)



Lượng oxy hoà tan (DO) trong nước giảm do các quá trình sinh hoá để oxy hoá
các chất bẩn hữu cơ vừa mới thải vào.



Các vi sinh vật thay đổi về loài và số lượng. Có xuất hiện các vi trùng gây bệnh.

2.1.3 Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước:
Có rất nhiều nguyên nhân gây ô nhiễm nước nhưng có thể khái quát ở 2 nội dung
lớn: ô nhiễm do tự nhiên và ô nhiễm do nhân tạo.

2.1.3.1 Ô nhiễm do tự nhiên
Sự ô nhiễm nước do tự nhiên có thể do các quá trình vận động của vỏ quả đất hay
các thiên tai: núi lửa phun, động đất, sóng thần,… gây ra, có thể do các sự cố tràn dầu tự
nhiên ngoài biển, do sự phân hủy một lượng lớn xác động, thực vật chết. Tuy nhiên tất
cả những nguyên nhân đó đều được điều hòa bởi các quy luật tự nhiên và không gây ảnh
hưởng quá lớn.
2.1.3.2 Ô nhiễm do nhân tạo


Ô nhiễm do Công nghiệp: ngày càng tăng lên cùng sự phát triển của khoa học kĩ
thuật. Nền công nghiệp hiện đại với đa dạng ngành nghề, từ luyện kim, cơ khí,


hóa chất của công nghiệp nặng đến sản xuất đồ may mặc, hàng tiêu dùng,… đã xả
ra môi trường đủ các hợp chất từ hữu cơ, vô cơ, các kim loại nặng, hợp chất của
phenol, … vào môi trường nước chưa kể đến những rủi ro trong quá trình hoạt
động. Như asen, berili, cadimi, xyanua, crôm, thủy ngân, chì, antimoan, vanadi
chỉ tồn tại trong nước với một hàm lượng rất nhỏ cũng đủ gây độc hại đến tính
mạng con người, thậm chí gây tử vong. Một nhà máy trung bình làm nhiễm bẩn
nước tương đương với một thành phố 500.000 dân. Theo một báo cáo mới nhất
của các chuyên gia Môi trường hàng đầu thế giới các địa danh như Kabu (Bắc Ấn
Độ), Bhopal (Ấn Độ), Cubatao (Brazil), hay dòng sông Huai (Trung Quốc) là
những nơi ô nhiễm nhất trên thế giới do Công nghiệp.
• Ô nhiễm do Nông nghiệp: chủ yếu là do việc sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ
… và phân bón hóa học một cách tràn lan, không đúng phương pháp. Như ô
nhiễm của vùng bờ biển Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, vịnh Californie, bởi hãng
Montrose Chemicals do sự sản xuất nông dược. Hãng này sản xuất từ đầu năm
1970, 2/3 số lượng DDT toàn cầu làm ô nhiễm một diện tích 10.000 km 2(Mc


Gregor, 1976).
Ô nhiễm do Rác thải sinh hoạt: đây cũng là một nguồn gây ô nhiễm quan trọng.
Rác và nước thải chưa qua xử lý được thải một cách vô tư xuống các con sông.
Dân số thế giới thì đang tăng lên với tốc độ chóng mặt và mới bắt đầu có dấu hiệu
chững lại. Với lượng nước thải của hơn 8 tỉ người đổ ra hàng ngày thực sự quá
khả năng tự làm sạch của các nguồn nước. Chưa có một giải pháp cụ thể nào cho
vấn đề này.

2.1.3.3. Ô nhiễm do các nguyên nhân khác
Do GTVT đường sông, đường biển: Hoạt động vận tải trên biển là một trong các
nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm biển. Rò rỉ dầu, sự cố tràn dầu của các tàu thuyền
trên biển thường chiếm 50% nguồn ô nhiễm dầu trên biển. Các tai nạn đắm tàu thuyền
đưa vào biển nhiều hàng hoá, phương tiện và hoá chất độc hại.


Do tác động của ô nhiễm không khí: các khí thải nhà máy đã mang theo CO,CO2,
SO2,NO2,…làm ô nhiễm nguồn không khí, kết hợp với hơi nước bốc lên gây mưa axit,
làm giảm độ pH của nước sông hồ, làm chết các loài thủy sinh. Nhiều chất độc hại và
bụi kim loại nặng cũng được không khí mang ra biển. Sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển
trái đất do hiệu ứng nhà kính sẽ kéo theo sự dâng cao mực nước biển và thay đổi môi
trường sinh thái biển.
Do các hoạt động quốc phòng, chiến tranh: Một lượng lớn các chất thải phóng xạ
của các quốc gia trên thế giới được bí mật đổ ra biển. Riêng Mỹ năm 1961 có 4.087 và
1962 có 6.120 thùng phóng xạ được đổ chôn xuống biển. Việc nhấn chìm các loại đạn
dược, bom mìn, nhiên liệu tên lửa của Mỹ đã được tiến hành từ hơn 50 năm nay. Riêng
năm 1963 có 40.000 tấn thuốc nổ và dụng cụ chiến tranh được hải quân Mỹ đổ ra biển.
Do công tác đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản ven bờ

2.1.4

Phân loại ô nhiễm nước

2.1.4.1 Ô nhiễm chất hữu cơ
Đó là sự có mặt của các chất tiêu thụ ôxy trong nước. Các chỉ tiêu để đánh giá ô
nhiễm chất hữu cơ là: DO, BOD, COD
2.1.4.2 Ô nhiễm các chất vô cơ
Là có nhiều chất vô cơ gây ô nhiễm nước, tuy nhiên có một số nhóm điển hình
như: các loại phân bón chất vô cơ (là các hợp chất vô cơ mà thành phần chủ yếu là
cacbon, hydro và oxy, ngoài ra chúng còn chứa các nguyên tố như N, P, K cùng các
nguyên tố vi lượng khác), các khoáng axit, cặn, các nguyên tố vết.
2.1.4.3 Ô nhiễm các chất phú dưỡng


Phú dưỡng là sự gia tăng hàm lượng Nito, Photpho trong nước nhập vào các thuỷ
vực dẫn đến sự tăng trưởng của các thực vật bậc thấp (rong, tảo,…). Nó tạo ra những
biến đổi lớn trong hệ sinh thái nước, làm giảm oxy trong nước. Do đó làm chất lượng
nước bị suy giảm và ô nhiễm.
2.1.4.4 Ô nhiễm do kim loại nặng và các hoá chất khác
Thường gặp trong các thuỷ vực gần khu công nghiệp, khu vực khai khoáng, các
thành phố lớn. Ô nhiễm kim loại nặng và các chất nguy hại khác có tác động rất trầm
trọng tới hoạt động sống của con người và sinh vật. Chúng chậm phân huỷ và sẽ tích luỹ
theo chuỗi thức ăn vào cơ thể động vật và con người.
2.1.4.5 Ô nhiễm vi sinh vật:
Thường gặp ở các thuỷ vực nhận nước thải sinh hoạt, đặc biệt là nước thải bệnh
viện. Các loại vi khuẩn, ký sinh trùng, sinh vật gây bệnh sẽ theo nguồn nước lan truyền
bệnh cho người và động vật.
2.1.4.6 Ô nhiễm nguồn nước bởi dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và phân
bón hoá học
Trong quá trình sử dụng, một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa
học bị đẩy vào vực nước ruộng, ao, hồ, đầm,… Chúng sẽ lan truyền và tích luỹ trong
môi trường đất, nước và các sản phẩm nông nghiệp thâm nhập vào cơ thể người và động
vật theo chuỗi thức ăn.
2.1.5 . Thực trạng ô nhiễm rác thải tại các con sông kênh rạch trên Thế giới và ở
Việt Nam
2.1.5.1 Trên Thế giới


Ở nước Anh : Ðầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch. Đến giữa thế kỷ 20 nó trở
thành ống cống lộ thiên. Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi người ta
đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt.
Ở Hoa Kỳ tình trạng thảm thương do ô nhiễm nước cũng xảy ra ở bờ phía
đông, cũng như nhiều vùng khác. Vùng Ðại Hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie,
Ontario ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng.
Ở ngay tại Trung Quốc, hàng năm lượng chất thải và nước thải công nghiệp
thải ra ở các thành phố và thị trấn của Trung Quốc tăng từ 23,9 tỷ m3 trong năm 1980
lên 73,1 tỷ m3 trong năm 2006. Một lượng lớn nước thải chưa qua xử lí vẫn được thải
vào các sông. Hậu quả là, hầu hết nước ở các sông, hồ ngày càng trở nên ô nhiễm. Dựa
trên việc đánh giá 140.000 km sông dọc đất nước Trung Quốc trong năm 2006, chất
lượng nước của 41,7% chiều dài sông xếp ở loại 4 hoặc thậm chí thấp hơn và 21,8%
dưới loại 5.
2.1.2.2 Việt Nam
Nước ta có nền công nghiệp chưa phát triển mạnh, các khu công nghiệp và các
đô thị chưa đông lắm nhưng tình trạng ô nhiễm đã xảy ra ở nhiều nơi với các
mức độ nghiêm trọng khác nhau.
Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất, dùng để tưới lúa và hoa màu,
chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng. Việc sử dụng nông dược và
phân bón hoá học càng góp thêm phần ô nhiễm môi trường nông thôn.
Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước quan trọng, mỗi ngành có một loại
nước thải khác nhau. Khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước biến Sông Cầu thành
màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục cây số. Khu công nghiệp Việt Trì
xả mỗi ngày hàng ngàn mét khối nước thải của nhà máy hoá chất, thuốc trừ sâu, giấy,
dệt… xuống Sông Hồng làm nước bị nhiễm bẩn đáng kể. Khu công nghiệp Biên Hoà


và TP.HCM tạo ra nguồn nước thải công nghiệp và sinh hoạt rất lớn, làm nhiễm bẩn
tất cả các sông rạch ở đây và cả vùng phụ cận.
Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do tăng dân số
và các đô thị. Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với nước thải của các cơ sở tiểu
thủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị ở nước ta.
Nước ngầm cũng bị ô nhiễm, do nước sinh hoạt hay công nghiệp và nông
nghiệp. việc khai thác tràn lan nước ngầm làm cho hiện tượng nhiễm mặn và nhiễm
phèn xảy ra ở những vùng ven biển Sông Hồng, sông Thái Bình, sông Cửu Long, ven
biển miền Trung…

2.1.6 Hậu quả
Hậu quả chung vủ tình trạng ô nhiễm nước là tỉ lệ người chết do các bệnh liên quan đến
ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư… ngày càng tăng lên. Ngoài ra, tỉ
lệ trẻ em tử vong tại các khu vực bị ô nhiễm nguồn nước là rất cao.
Mỗi năm có khoảng 3.575 triệu người chết do các bệnh liên quan đến nước:
Trong đó:
* 43% số ca chết do tiêu chảy
* 84% số người chết là trẻ em (từ 0-14 tuổi)
* 98% số ca chết tập trung ở các nước đang phát triển
Dưới đây là bảng tóm tắt cá chất gây ô nhiễm thường gặp trong nước và tác hại của
chúng đến sức khỏe con người:
Chì: Bệnh thận, thần kinh.


Amoni, Nitrat, Nitrit: Bệnh xanh da, thiếu máu, gây ung thư.
Asen : Bệnh dạ dày, bệnh ngoài da, hàm lượng nhiều gây tử vong.
Trihalogenmethane (sản phẩm phụ của quá trình khử trùng bằng Clo, có nhiều trong
nước máy): Khả năng gây ung thư cao.
Metyl tert- butyl ete (MTBE) là chất phụ gia phổ biến trong khai thác dầu lửa: Khả năng
gây ung thư rất cao.
Natri (Na) : Bệnh cao huyết áp, bệnh tim mạch.
Lưu huỳnh (S) : Bệnh về đường tiêu hóa.
Kali (K) cadimi : Bệnh thoái hóa cột sống, đau lưng.
Hợp chất hữu cơ, thuốc trừ sâu, diệt côn trùng, diệt cỏ, thuốc kích thích tăng trưởng,
thuốc bảo quản, phốt pho… : Gây ngộ độc, viêm gan, nôn mửa. Tiếp xúc lâu dài sẽ gây
ung thư nghiêm trọng đến các cơ quan nội tạng.
Chất tẩy trắng:
-

Xenon peroxide, sodium percarbonate : Gây viêm đường hô hấp
Sodium perborrate : Nôn mửa, hại gan
Oxalate kết hợp calcium tạo ra alcium oxalate: Gây đau thận, sỏi mật

Vi trùng các loại; các bệnh truyền nhiễm gây ra bởi vi trùng
Kim loại nặng các loại:
-

Titan : Đau thần kinh, thận, hệ bài tiết
Kẽm : Bệnh viêm xương, thiếu máu

“Số người chết do nước ô nhiễm và vệ sinh kém an toàn gây ra còn nhiều hơn số người
chết bởi súng đạn trong bất cứ một cuộc chiến tranh nào”.


2.2

Thực trạng ô nhiễm rác thải sông ngòi, kênh rạch trên địa bàn

TP Hồ Chí Minh
2.2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội TP HCM
2.2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.2.1.1.1 Vị trí
Thành Phố Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10 0 10’ – 10 0 38’ vĩ độ
bắc và 106 022’ – 106 054 ’ kinh độ đông . Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp
tỉnh Tây Ninh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa
-Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.
TP.Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc
tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây, là tâm điểm của
khu vực Đông Nam Á. Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km đường chim bay.
Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế .
Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, cảng Sài Gòn với năng lực hoạt
động 10 triệu tấn /năm. Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ
cách trung tâm thành phố 7km.
2.2.1.1.2 Địa hình
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam bộ và
đồng bằng sông Cửu Long. Ðịa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam và
từ Ðông sang Tây. Nó có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình.
Vùng cao nằm ở phía Bắc - Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc bắc huyện Củ
Chi, đông bắc quận Thủ Ðức và quận 9), với dạng địa hình lượn sóng, độ cao trung bình
10-25 m và xen kẽ có những đồi gò độ cao cao nhất tới 32m, như đồi Long Bình (quận
9).


Vùng thấp trũng ở phía Nam-Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các quận
9, 8,7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ). Vùng này có độ cao trung bình trên
dưới 1m và cao nhất 2m, thấp nhất 0,5m.
Vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố, gồm phần lớn nội
thành cũ, một phần các quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn. Vùng này
có độ cao trung bình 5-10m.
Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá đa
dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt.
2.2.1.1.3 Khí hậu và thời tiết
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Cũng
như các tỉnh ở Nam bộ, đặc điểm chung của khí hậu-thời tiết TPHCM là nhiệt độ cao
đều trong năm và có hai mùa mưa - khô rõ ràng làm tác động chi phối môi trường cảnh
quan sâu sắc. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm
sau. Theo tài liệu quan trắc nhiều năm của trạm Tân Sơn Nhất, qua các yếu tố khí tượng
chủ yếu; cho thấy những đặc trưng khí hậu Thành Phố Hồ Chí Minh như sau:


Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 Kcal/cm2/năm. Số giờ nắng trung
bình/tháng 160-270 giờ. Nhiệt độ không khí trung bình 27 0C. Nhiệt độ cao tuyệt
đối 40 0C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 13,8 0C. Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất
là tháng 4 (28,8 0C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng
12 và tháng 1 (25,7 0C). Hàng năm có tới trên 330 ngày có nhiệt độ trung bình 2528 0C. Ðiều kiện nhiệt độ và ánh sáng thuận lợi cho sự phát triển các chủng loại
cây trồng và vật nuôi đạt năng suất sinh học cao; đồng thời đẩy nhanh quá trình
phân hủy chất hữu cơ chứa trong các chất thải, góp phần làm giảm ô nhiễm môi

trường đô thị.
• Lượng mưa cao, bình quân/năm 1.949 mm. Năm cao nhất 2.718 mm (1908) và
năm nhỏ nhất 1.392 mm (1958). Số ngày mưa trung bình/năm là 159 ngày.


Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mưa từ tháng 5
đến tháng 11; trong đó hai tháng 6 và 9 thường có lượng mưa cao nhất. Các tháng
1,2,3 mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể. Trên phạm vi không gian thành phố,
lượng mưa phân bố không đều, có khuynh hướng tăng dần theo trục Tây Nam Ðông Bắc. Ðại bộ phận các quận nội thành và các huyện phía Bắc thường có


lượng mưa cao hơn các quận huyện phía Nam và Tây Nam.
Ðộ ẩm tương đối của không khí bình quân/năm 79,5%; bình quân mùa mưa 80%
và trị số cao tuyệt đối tới 100%; bình quân mùa khô 74,5% và mức thấp tuyệt đối

xuống tới 20%.
• Về gió, Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính và chủ
yếu là gió mùa Tây - Tây Nam và Bắc - Ðông Bắc. Gió Tây -Tây Nam từ Ấn Ðộ
Dương thổi vào trong mùa mưa, khoảng từ tháng 6 đến tháng 10, tốc độ trung
bình 3,6m/s và gió thổi mạnh nhất vào tháng 8, tốc độ trung bình 4,5 m/s. Gió
Bắc- Ðông Bắc từ biển Đông thổi vào trong mùa khô, khoảng từ tháng 11 đến
tháng 2, tốc độ trung bình 2,4 m/s. Ngoài ra có gió tín phong, hướng Nam - Ðông
Nam, khoảng từ tháng 3 đến tháng 5 tốc độ trung bình 3,7 m/s. Về cơ bản
TPHCM thuộc vùng không có gió bão. Năm 1997, do biến động bởi hiện tượng
El-Nino gây nên cơn bão số 5, chỉ một phần huyện Cần Giờ bị ảnh hưởng ở mức
độ nhẹ.
2.2.1.1.4. Địa chất, đất đai
Ðất đai Thành phố Hồ Chí Minh được hình thành trên hai tướng trầm tích-trầm
tích Pleieixtoxen và trầm tích Holoxen.
-

Trầm tích Pleixtoxen (trầm tích phù sa cổ): chiếm hầu hết phần phía Bắc, Tây
Bắc và Ðông Bắc thành phố, gồm phần lớn các huyện Củ Chi, Hóc môn, Bắc
Bình Chánh, quận Thủ Ðức, Bắc-Ðông Bắc quận 9 và đại bộ phận khu vực nội
thành cũ. Ðiểm chung của tướng trầm tích này, thường là địa hình đồi gò hoặc
lượn sóng, cao từ 20-25m và xuống tới 3-4m, mặt nghiêng về hướng Ðông Nam.
Dưới tác động tổng hợp của nhiều yếu tố tự nhiên như sinh vật, khí hậu, thời gian


và hoạt động của con người, qua quá trình xói mòn và rữa trôi , trầm tích phù sa
cổ đã phát triển thành nhóm đất mang những đặc trưng riêng. Nhóm đất xám, với
-

qui mô hơn 45.000 ha, tức chiếm tỷ lệ 23,4% diện tích đất thành phố.
Trầm tích Holoxen (trầm tích phù sa trẻ): tại thành phố Hồ Chí Minh, trầm tích
này có nhiều nguồn gốc-ven biển, vũng vịnh, sông biển, aluvi lòng sông và bãi
bồi nên đã hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa có diện tích
15.100 ha (7,8%), nhóm đất phèn 40.800 ha (21,2%) và đất phèn mặn 45.500 ha
(23,6%). Ngoài ra có một diện tích nhỏ khoảng hơn 400 ha (0,2%) là "giồng" cát
gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò.

Ở thành phố Hồ Chí Minh, đất xám có ba loại: đất xám cao, có nơi bị bạc màu; đất
xám có tầng loang lổ đỏ vàng và đất xám gley; trong đó, hai loại đầu chiếm phần lớn
diện tích. Ðất xám nói chung có thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha đến thịt nhẹ, khả
năng giữ nước kém; mực nước ngầm tùy nơi và tùy mùa biến động sâu từ 1-2m đến
15m. Ðất chua, độ pH khoảng 4,0-5,0. Ðất xám tuy nghèo dinh dưỡng, nhưng đất có
tầng dày, nên thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng nông lâm nghiệp, có
khả năng cho năng suất và hiệu qủa kinh tế cao, nếu áp dụng biện pháp luân canh, thâm
canh tốt. Nền đất xám, phù hợp đối với sử dụng bố trí các công trình xây dựng cơ bản.
2.2.1.1.5. Nguồn nước và thủy văn
Về nguồn nước, Tp Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất phát
triển.Sông Ðồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Langbiang (Ðà Lạt) và hợp lưu bởi nhiều
sông khác, như sông La Ngà, sông Bé, nên có lưu vực lớn, khoảng 45.000 km 2. Nó có
lưu lượng bình quân 20-500 m3/s và lưu lượng cao nhất trong mùa lũ lên tớ 10.000 m3/s,
hàng năm cung cấp 15 tỷ m3 nước và là nguồn nước ngọt chính của thành phố Hồ Chí
Minh. Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến thành
phố với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km. Hệ thống các
chi lưu của sông Sài Gòn rất nhiều và có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m3/s.


Bề rộng của sông Sài Gòn tại Thành phố thay đổi từ 225m đến 370m và độ sâu
tới 20m. Sông Ðồng Nai nối thông qua sông Sài Gòn ở phần nội thành mở rộng, bởi hệ
thống kênh Rạch Chiếc. Sông Nhà Bè hình thành từ chỗ hợp lưu của sông Ðồng Nai và
sông Sài Gòn, các trung tâm thành phố khoảng 5km về phía Ðông Nam. Nó chảy ra biển
Ðông bằng hai ngả chính -ngả Soài Rạp dài 59km, bề rộng trung bình 2km, lòng sông
cạn, tốc độ dòng chảy chậm; ngả Lòng Tàu đổ ra vịnh Gành Rái, dài 56km, bề rộng
trung bình 0,5km, lòng sông sâu, là đường thủy chính cho tàu bè ra vào bến cảng Sài
Gòn.
Ngoài trục các sông chính kể trên ra, thành phố còn có mạng lưới kênh rạch
chằng chịt, như ở hệ thống sông Sài Gòn có các rạch Láng The, Bàu Nông, rạch Tra,
Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm,
Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi và ở phần phía Nam Thành phố thuộc địa bàn các huyện
Nhà Bè, Cần Giờ mật độ kênh rạch dày đặc; cùng với hệ thống kênh cấp 3-4 của kênh
Ðông-Củ Chi và các kênh đào An Hạ, kênh Xáng, Bình Chánh đã giúp cho việc tưới tiêu
kết quả, giao lưu thuận lợi và đang dần dần từng bước thực hiện các dự án giải tỏa, nạo
vét kênh rạch, chỉnh trang ven bờ, tô điểm vẻ đẹp cảnh quan sông nước, phát huy lợi thế
hiếm có đối với một đô thị lớn.
Nước ngầm ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhìn chung khá phong phú tập trung ở
vùng nửa phần phía Bắc-trên trầm tích Pleixtoxen; càng xuống phía Nam (Nam Bình
Chánh, quận 7, Nhà Bè, Cần Giờ)-trên trầm tích Holoxen, nước ngầm thường bị nhiễm
phèn, nhiễm mặn.
Ðại bộ phận khu vực nội thành cũ có nguồn nước ngầm rất đáng kể, nhưng chất
lượng nước không tốt lắm. Tuy nhiên, trong khu vực này, nước ngầm vẫn thường được
khai thác ở ba tầng chủ yếu: 0-20m, 60-90m và 170-200m. Khu vực các quận huyện 12,
Hóc môn và Củ Chi có trữ lượng nước ngầm rất dồi dào, chất lượng nước rất tốt, thường
được khai thác ở tầng 60-90m. Ðây là nguồn nước bổ sung quan trọng của thành phố.


Về thủy văn, hầu hết các sông rạch Thành phố Hồ Chí Minh đều chịu ảnh hưởng
dao động triều bán nhật của biển Ðông. Mỗi ngày, nước lên xuống hai lần, theo đó thủy
triều thâm nhập sâu vào các kênh rạch trong thành phố, gây nên tác động không nhỏ đối
với sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành.
Mực nước triều bình quân cao nhất là 1,10m. Tháng có mực nước cao nhất là
tháng 10-11, thấp nhất là các tháng 6-7. Về mùa khô, lưu lượng của nguồn các sông nhỏ,
độ mặn 4% có thể xâm nhập trên sông Sài Gòn đến quá Lái Thiêu, có năm đến đến tận
Thủ Dầu Một và trên sông Ðồng Nai đến Long Ðại. Mùa mưa lưu lượng của nguồn lớn,
nên mặn bị đẩy lùi ra xa hơn và độ mặn bị pha loãng đi nhiều.
Từ khi có các công trình thủy điện Trị An và thủy lợi Dầu Tiếng ở thượng nguồn,
chế độ chảy tự nhiên chuyển sang chế độ chảy điều tiết qua tuốt bin, đập tràn và cống
đóng-xả, nên môi trường vùng hạ du từ Bắc Nhà Bè trở nên chịu ảnh hưởng của nguồn,
nói chung đã được cải thiện theo chiều hướng ngọt hóa. Dòng chảy vào mùa cạn kiệt
tăng lên, đặc biệt trong các tháng từ tháng 2 đến tháng 5 tăng 3-6 lần so với tự nhiên.
Vào mùa mưa, lượng nước được điều tiết giữ lại trên hồ, làm giảm thiểu khả năng
úng lụt đối với những vùng trũng thấp; nhưng ngược lại, nước mặn lại xâm nhập vào sâu
hơn. Tuy nhiên, nhìn chung, đã mở rộng được diện tích cây trồng bằng việc tăng vụ mùa
canh tác. Ngoài ra, việc phát triển các hệ thống kênh mương, đã có tác dụng nâng cao
mực nước ngầm trên tầng mặt lên 2-3m, tăng thêm nguồn cung cấp nước phục vụ cho
sản xuất và sinh hoạt của thành phố.
2.2.1.1.6. Thảm thực vật
Trên cơ sở các yếu tố cơ bản của điều kiện tự nhiên ở thành phố Hồ Chí Minh,
như đã trình bày; người ta đã khái quát hóa thành ba kiểu sinh thái cảnh - kiểu lập địa mà, tương ứng với nó là ba hệ sinh thái thảm thực vật rừng tiêu biểu; rừng nhiệt đới ẩm
mưa mùa, rừng úng phèn và rừng ngập mặn


Các thảm thực vật rừng nguyên sinh, hiện tại hầu như không còn; song sự tìm
hiểu nó sẽ giúp ích cho việc đánh giá tiềm năng điều kiện lập địa, xác định phương
hướng phục hồi và xây dựng các thảm thực vật đạt hiệu quả mong muốn, nhất là về cảnh
quan, môI trường sinh thái ở một Thành phố đông dân cư của vùng nhiệt đới.
2.2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
Năm 2012, kinh tế thành phố tiếp tục tăng trưởng nhưng tốc độ tăng chậm hơn so
với năm 2011. Tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng 9,2%; Giá trị tăng thêm khu vực nông
lâm thủy sản tăng 5,1%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,3%; khu vực dịch vụ
tăng 10,0%.
Tốc độ phát triển sản xuất công nghiệp năm 2012 tăng 5,1% so với năm 2011,
trong đó công nghiệp khai khoáng giảm 34,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng
4,9%.
Ước tính cả năm, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 539.741 tỷ
đồng, tăng 17,3% so với năm 2011.
Kết quả kinh doanh du lịch (bao gồm doanh thu khách sạn và dịch vụ du lịch lữ
hành) trong năm 2012 ước đạt 22.027 tỷ đồng, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó doanh thu khách sạn tăng 3,5%, dịch vụ.
Tổng kim ngạnh xuất nhập khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp trên địa bàn
thành phố năm 2012 đạt 47.702,9 triệu USD; Trong đó, xuất khẩu đạt 21.567,2 triệu
USD, tăng 6,3%, nhập khẩu đạt 26.135,8 triệu USD, giảm 4,6%.
Dân số bình quân trên địa bàn thành phố năm 2012 ước hiện có 7.750,9 ngàn
người, tăng 3,1% so với năm 2011; khu vực thành thị là 6.433,2 ngàn người, tăng 2,9%.
Tỷ lệ tăng cơ học 18,9‰; tỷ lệ tăng tự nhiên dân số 9,6‰.


11 tháng năm 2012, các khu vực kinh tế trên địa bàn thành phố đã thu hút lao
động, giải quyết việc làm cho 289,4 ngàn lượt, giảm 0,9% so năm 2011. Số chỗ làm việc
mới được tạo ra trong năm là 123 ngàn, giảm 4%. Tỷ lệ số người thất nghiệp năm 2012
là 4,9%.
Trên địa bàn thành phố có 112,9 ngàn người đã nhận quyết định hưởng trợ cấp
thất nghiệp tính từ 03/01 đến 07/12/2012, tăng 29% so cùng kỳ, với tổng số tiền là 857,5
tỷ đồng. 64,6 ngàn người được tư vấn giới thiệu việc làm; 1,3 ngàn người được hỗ trợ
học nghề, với số tiền hỗ trợ 130,5 triệu đồng.
Hiện nay, ô nhiễm kênh rạch đang là một vấn đề lớn và khó giải quyết của các
nghành chức năng nói riêng và toàn xã hội nói chung. Thực trạng ô nhiễm tại các con
kênh trong thành phố đã được biết đến từ lâu và đã có nhiều công trình được xây dựng
nhằm cải tạo mức độ ô nhiễm nhưng trong khi chờ các công trình này hoàn thành thì
hàng ngày, những người dân ở đây vẫn đang phải gánh chịu ảnh hưởng, hậu quả của nó.
2.2.2 Các hệ thống kênh rạch bị ô nhiễm điển hình ở thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh có 156 hệ thống kênh rạch chằng chịt dài hơn 700km,
chảy qua 24 quận, huyện. Riêng khu vực nội thành tp HCM có 5 hệ thống kênh rạch
chính với tổng chiều dài khoảng 55km đảm nhận chức năng tiêu thoát nước cho khu vực
nội thành bao gồm:


Hệ thống kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè: là hệ thống thoát nước chính tự
nhiên cho nhiều khu cực thuộc các quận nội thành tp HCM ( Tân Bình, Gò
Vấp, Phú Nhận, Bình Thạnh, quận 10, quận 3, quận 1 ) đổ ra sông Sài
Gòn.Hệ thống này có lưu vực khoảng gần 3000ha, chiều dài dòng chính
của kênh là 9470cacscacs chi lưu có chiều dài tổng cộng 8716m, dọc theo

kênh có 52 cửa xả.
• Hệ thống kênh Tân Hóa - Lò Gốm: nằm trong khu vực cận trung tâm của
nội thành tp HCM, tuyến kênh chính có diện tích khoảng 1.484ha, chiều


dài khoảng 7.6km chạy từ hướng Đông Bắc xuống Tây Nam tp đi ngang
qua các quận: Tân Bình, quận 11, quận 6, quận 8 và kết thúc tại điểm nối


với kênh Tàu Hũ.
Hệ thống kênh Tàu Hũ - kênh Đôi - kênh Tẻ: Được đào vào năm 1819 nằm
ngay ở phía Nam quận thương mại trung tâm tp. Hệ thống kênh này chảy
qua 7 quận: 4, 5, 6, 7, 8 và 11 với tổng độ dài 19.5km. Kênh bị giới hạn

bởi rạch Cần Giuộc và sông Sài Gòn ở 2 đầu.
• Hệ thống kênh Bến Nghé: bắt đầu từ cửa sông Sài Gòn đến cầu chữ Y dài
3.15km. Cao độ đáy chênh lệch là 0.61m, độ dốc đáy rạch 0.019%, tại cửa
rạch Bến Nghé là sông Sài Gòn bờ trái có bãi đất bồi cao độ lên đến 11.2m so với đáy kênh hiện hữu. Mặt cắt lớn nhất của kênh là 88 - 92m, nhỏ
nhất là 60-58m, cao độ đáy rạch từ 1.2- 1.87m. Ở giwuax kênh phần mặt
cắt bị thu hẹp cao độ 1.75m. Dọc kênh là 2 con đường: đường bến Vân


Đồn ở quận 4 và đường bến Chương Dương ở quận 1.
Hệ thống kênh Tham Lương - Bến Cát - Vàm Thuật: là một tuyến rạch
quan trọng ơ phía Bắc tp, nằm ngay ranh giới nội thành cũ của tp HCM.
Tuyến kênh dài 12km, trong đó đoạn Vàm Thuật hiện còn rất rộng, lưu
thông thủy và thoát nước khá tốt. Riêng đoạn kênh Tham Lương, từ cầu
Chợ Cầu đến thượng nguồn đã bị bồi lấp, thu hẹp dòng chảy và ô nhiễm
đến mức báo động.

2.2.3 Thực trang ô nhiễm


Vấn đề môi trường đang thách thức:

Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 2.000km kênh rạch, đóng vai trò vô cùng
quan trọng trong việc thoát nước trên địa bàn Thành phố. Những năm gần đây có sự đầu
tư lớn từ chính quyền địa phương để xây kè, làm đường, trồng cây, xử lý rác thải,...
nhưng chỉ mới dừng lại ở mức các công trình trọng điểm như kênh Nhiêu Lộc - Thị
Nghè, kênh Tân Hóa - Lò Gốm, kênh Tàu Hủ - Bến Nghé và một phần kênh Đôi - kênh


Tẻ. Đa số các kênh rạch khác của Thành phố Hồ Chí Minh đang ô nhiễm rất trầm trọng,
thậm chí có đoạn kênh rác đã ngập dày đến mức có thể đi bộ qua kênh.
Đến phường 8, quận 6 (TP HCM) những ngày này, hình ảnh những đống rác ngổn
ngang ở dọc bờ kênh Tân Hóa - Lò Gốm khiến nhiều người ngán ngẩm. Suốt hơn 3km
dọc đường Lò Gốm, không hề có một thùng rác công cộng nào. Còn nước ở dưới dòng
kênh này đen ngòm, rác và lục bình nổi lềnh bềnh, bốc mùi hôi thối. Kênh Tân Hóa - Lò
Gốm đi qua các địa bàn có mật độ dân cư đông đúc là quận 6, quận 11, Tân Bình và Tân
Phú. Mặc dù thành phố đã đầu tư hơn 5.000 tỷ đồng để cải tạo và mới được khánh thành
đưa vào khai thác giai đoạn 1 cách đây không lâu nhưng đang có nguy cơ bị "bức tử" trở
lại.

Một trong những dòng kênh/rạch còn ô nhiễm nghiêm trọng là Rạch Phan Văn
Hân (phường 17, quận Bình Thạnh). Mặc dù chính quyền đã treo băng rôn cấm đổ rác,
ghi mức phạt và làm rào chắn rất cao; nhưng đoạn kênh vẫn bị phủ một “thảm” rác;
thậm chí hàng lưới chắn bảo vệ còn bị một số người dân cắt ra để bỏ rác. Rác nhiều đến
nỗi nước không chảy được, kênh biến thành ao tù, bốc mùi hôi thối và là nơi sinh sôi của
muỗi, ruồi…
Những người dân khu vực này cho biết, do gần khu vực chợ nên nạn xả rác
xuống kênh càng nghiêm trọng. Năm 2000, phường có phổ biến xuống khu dân cư là sẽ


giải tỏa các hộ dân sống dọc kênh, đồng thời triển khai dự án cải tạo kênh này. Thế
nhưng đến nay, do chưa thống nhất đơn giá đền bù nên người dân vẫn ở và rác vẫn ngập
kênh.
Thậm chí, nhiều người dân còn lấn chiếm hết lòng rạch để mở rộng nhà ở, khiến
cho tình trạng ngập úng trên đoạn đường Nguyễn Cửu Vân vào mùa mưa ngày càng
trầm trọng hơn.
Tương tự, đoạn qua đường đường Bùi Hữu Nghĩa, Q.Bình Thạnh; mặc dù đã
được làm rào chắn, rào lưới B40 nhưng người dân vẫn xé rào để đổ rác xuống kênh. Tại
rạch Ông Độ (nhánh 1 gần cầu Kênh Tẻ quận 7), kênh Nước Đen (quận Bình Tân),…
cũng đang là những điểm nhức nhối về nạn ô nhiễm nguồn nước và rác. Dòng nước
kênh tại đây đã chuyển sang màu đen ngòm. Những ngày không khí nóng bức, mùi nước
lẫn mùi rác thải bốc lên nồng nặc. Đêm đến thì muỗi xuất hiện nhiều như châu chấu. Sốt
xuất huyết, giun sán, tiêu chảy,... là những bệnh thường gặp ở các khu vực dân cư này.
Ô nhiễm kênh rạch còn do nạn lấn chiếm lòng kênh để xây, mở rộng nhà cửa
khiến cho dòng kênh vốn nhỏ nay càng hẹp hơn, làm giảm lưu lượng dòng chảy, gây ra
hiện tượng ngập úng. Theo thống kê của Chi cục Bảo vệ môi trường TP.HCM, tính đến
cuối tháng 7/2012, có 41 vị trí kênh bị lấn, thậm chí có những con kênh chính thức bị
"chết" vì người dân san lấp để làm nhà ở.
Các tàu ghe neo đậu, các điểm mua bán dừa trên kênh cũng góp phần làm dòng
nước kênh tắc nghẽn. Khu vực cầu Tân Thuận trên kênh Tẻ (Q.7), các tàu thuyền buôn
bán ở khu vực bến Bình Đông,…cũng như sinh hoạt của người dân ven kênh cũng là
nguyên nhân gây ra tình trạng này. Họ thường xả bỏ đồ ăn, thức uống,… thẳng xuống
kênh hoặc vứt đại trên bờ. Chưa hết, nhiều xe bán hàng rong ở khu vực này cũng không
ngần ngại đổ hết rác xuống kênh.
Mặc dù vẫn có thuyền đi vớt rác trên kênh định kỳ nhưng với tình trạng vứt rác
bừa bãi như vậy, con kênh khó có thể duy trì sự hồi sinh một cách lâu dài.


Tình trạng ô nhiễm nặng nề tại hàng loạt kênh, rạch tại TP HCM đang là vấn đề
đáng báo động. Theo kết quả quan trắc chất lượng nguồn nước vừa được Sở Tài nguyên
và Môi trường công bố, các thành phần như: Nhu cầu oxy sinh học (BOD5), nhu cầu
oxy hóa học (COD), chỉ tiêu vi sinh (Coliform), hàm lượng chất lơ lửng (SS), kim loại
nặng trên hệ thống kênh, rạch của địa phương này đều vượt tiêu chuẩn từ vài chục đến
cả ngàn lần cho phép. Tình trạng ô nhiễm càng nghiêm trọng hơn khi nước thủy triều
xuống thấp. Trong đó, đáng lo ngại nhất là nước thải khu vực dân cư, cụ thể là nước thải
sinh hoạt nhiễm phân và nước chảy tràn đô thị.
Mỗi năm, TP HCM đầu tư hàng ngàn tỷ đồng cho công tác cải tạo kênh, rạch và bảo
vệ môi trường. Trong khi đó, ý thức của một bộ phận người dân còn thấp. Bên cạnh đó,
thành phố vẫn còn hàng ngàn cơ sở sản xuất ngoài khu công nghiệp xả thải trực tiếp ra
môi trường hoặc chỉ xử lý được một phần chất thải. Các ngành chức năng và chính
quyền các địa phương của TP HCM cần thực hiện những giải pháp hiệu quả hơn để
“cứu” lấy những dòng kênh đang trong tình trạng hấp hối.


Bệnh tật rình rập

Hiện nay, mỗi ngày công ty Môi trường đô thị vớt khoảng 9 - 10 tấn rác trên
kênh. Theo ông Bùi Văn Trường, đại diện công ty TNHH MTV Thoát nước đô thị, hiện
có rất nhiều con kênh bị thu hẹp diện tích đến nỗi không thể sử dụng phương tiện máy
móc để vớt rác hay nạo vét lòng kênh. Thậm chí có những con kênh bị bao vây trong
khu dân cư không thể cải tạo được và trở thành ao tù chứa nhiều chất gây ô nhiễm.


Trung
tâm

điều

hành

chương

trình

chống

ngập
TP.HCM, hiện TP có khoảng 2.000 km kênh thoát nước, hơn 100.000 hố ga và 800 cửa
xả thải. Thế nhưng, nạn xả rác bừa bãi của người dân đã vô hiệu hóa gần như toàn bộ hệ
thống thoát nước trên.
Vấn đề khó khăn hiện nay là ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường
vẫn còn hạn chế, tình trạng xả rác bừa bãi xuống kênh rạch vẫn diễn ra thường xuyên
làm cho công tác nạo vét, thu gom rác trên kênh rạch mất rất nhiều kinh phí nhưng lại
không hiệu quả.
Bên cạnh vấn nạn rác thải, các dòng kênh còn phải đối mặt với nạn xả nước thải
từ các cơ sở sản xuất, dịch vụ, thương mại. Hiện TP vẫn chưa đánh giá được cụ thể có
bao nhiêu cơ sở trên địa bàn có hệ thống xử lý nước thải (XLNT) đạt tiêu chuẩn và quy
chuẩn.
Thống kê của Sở Tài Nguyên Môi trường TP.HCM, trong số 439 nguồn thải có
lượng nước thải từ 50m3/ngày đêm trở lên cho thấy: mới chỉ có 397/439 đơn vị có hệ
thống XLNT. Đáng lưu ý là vẫn còn gần 20% số đơn vị có chất lượng nước sau xử lý
chưa đạt quy chuẩn cho phép đối với chỉ tiêu ô nhiễm hữu cơ BOD5. Hiện vẫn chưa
thống kê được số nguồn thải gây ô nhiễm môi trường nước có lưu lượng nước thải nhỏ
hơn 50m3/ngày đêm.


Thành phố đã thực hiện công tác di dời hơn 10 năm qua và đã di dời được hơn
1.300 cơ sở vùng nội thành (tập trung tại các quận 5, 6, 11) đến các khu công nghiệp.
Hiện nay vẫn còn một số cơ sở sản xuất gây ô nhiễm tồn tại trong khu vực nội thành và
thành phố đang lên kế hoạch, tiến độ thực hiện di dời.
Ngoài ra, Thành phố còn rất nhiều những con kênh, bãi tập kết rác, khu dân cư
ven kênh rạch ô nhiễm nằm rải rác ở khắp các quận, huyện với mức ô nhiễm rất đáng
báo động.

2.4

Giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm rác thải sông ngòi,

kênh rạch tại TP Hồ Chí Minh.
2.4.1 Quy định phân vùng các nguồn xả thải
UBND Thành phố cũng quy định phân vùng các nguồn xả thải đối với 97 tuyến
sông, suối, kênh rạch nhằm ngăn chặn tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng đối với nguồn
cấp nước sạch cho người dân.
Đối với 14 tuyến kênh rạch khu vực trung tâm Thành phố như Kênh 19/5, Tham
Lương, Nước Đen, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Văn Thánh, Tàu Hủ, Bến Nghé, Đôi-Tẻ, Tân
Hóa-Lò Gốm, Hàng Bàng, Rạch Nước Lên, sông Chợ Đệm… nguồn nước thải phải đạt
quy chuẩn loại B theo quy định.
-

Trong thời gian tới, các cơ quan chức năng của TPHCM sẽ tiếp tục tăng cường
giám sát chặt hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn, xử lý nghiêm các
trường hợp cố tình vi phạm; đồng thời phát huy hơn nữa vai trò tham gia của

-

cộng đồng trong việc thi hành chính sách về bảo vệ môi trường.
Kết quả chất lượng nguồn nước của Sở TNMT TPHCM vừa công bố cho thấy,
nguồn nước tại hệ thống kênh rạch ở TPHCM đang trong tình trạng ô nhiễm nặng
nề. Các thành phần như BOD5 (nhu cầu oxy sinh học), COD (nhu cầu oxy hóa
học), chỉ tiêu vi sinh (coliform), hàm lượng chất lơ lửng (SS), kim loại nặng đều
vượt tiêu chuẩn từ vài chục đến cả ngàn lần cho phép. Tình trạng ô nhiễm càng
trở nên đậm đặc hơn khi thủy triều thấp.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×