Tải bản đầy đủ

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

KHOA LUẬT
--------------

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

TRÁCH NHIỆM
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ
GÂY RA
Giáo viên hướng dẫn: Thạc sĩ Đỗ Việt Cường
Họ và tên sinh viên: Bùi Bảo Vinh
Lớp 33K13.1 – HCM
Mã số sinh viên: 33TC-0142

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp và có được những kiến thức bổ ích như hôm nay em luôn
ghi nhớ công ơn của quí thầy cô, những người đã dạy bảo chúng em trong suốt quá trình học tập.
Trước hết em xin kính lời cảm ơn đến quí thầy cô ở khoa Luật trường Đại học Kinh Tế - Đại học
Đà Nẵng, quí thầy cô đã giảng dạy chúng em ở trường Đại học Ngoại ngữ và Tin học thành phố Hồ
Chí Minh đã quan tâm giảng dạy chúng em trong suốt thời gian qua. Đặc biệt em xin cảm ơn sâu
sắc đến thầy hướng dẫn em làm đề tài thực tập Thạc sĩ Đỗ Việt Cường, người đã định hướng, giúp
đở, chỉ bảo cho em trong quá trình làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Qua đây em cũng xin cảm ơn lãnh đạo và nhân viên văn phòng luật sư Hồng Đức Phúc đã tạo
điều kiện cho em có cơ hội tiếp cận với các tài liệu luật để hoàn thành chuyên đề của mình.
Với sự hướng dẫn của thầy Thạc sĩ Đỗ Việt Cường và sự giúp đỡ của văn phòng luật sư Hồng
Đức Phúc em đã hoàn thành chuyên đề nghiên cứu về “ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra”. Tuy nhiên đây là lần đầu tiếp cận với công trình nghiên cứu nên em rất
mong được sự chỉ bảo của quí thầy cô và quí anh chị trong ngành.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn quí thầy cô ở trường và tập thể các anh chị trong văn
phòng nơi em thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên thực tập

Bùi Bảo Vinh


LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình của riêng em.
Các số liệu, phân tích, lập luận và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, các tài liệu tham
khảo và trích dẫn được chú thích đầy đủ.
Bất kỳ sự vi phạm nào của em sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật, quy chế của Đại học Đà
Nẵng và quy chế của Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng

Sinh viên thực tập

Bùi Bảo Vinh


NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Dẫn nhập........................................................................................................................
2. Mục đích nghiên cứu.....................................................................................................
3. Phạm vi nghiên cứu.......................................................................................................
4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................................
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.......................................................................................
6. Cấu trúc của đề tài.........................................................................................................
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG.............................................................................
1.1. Khái niệm chung về trách nhiệm...............................................................................
1.1.1. Trách nhiệm dân sự.................................................................................................
1.1.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại............................................................................
1.1.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.................................................
CHƯƠNG 2: TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY
HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA ...........................................................................................................
2.1. Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ..........................................................................
2.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra......................
2.3. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra......................................................................................................................
2.4. Chủ thể trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra........................................................................................................................................
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG, KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU..................................
3.1 Thực trạng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra..................................................................................................................................
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật dân sự về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.............................................................
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN ..................................................................................
1. Kết luận .........................................................................................................................
2. Hướng phát triển của đề tài...........................................................................................

Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

1


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự

--- PHẦN MỞ ĐẦU --1. Dẫn nhập
Xét về nguồn gốc lịch sử thì chế định bồi thường thiệt hại ra đời từ rất sớm.
Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, mỗi quốc gia đều có quy định chung về bồi
thường thiệt hại, bên cạnh đó còn có các quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại trong từng trường hợp cụ thể bởi sự đa dạng về chủ thể gây thiệt hại, đối
tượng bị thiệt hại, hoàn cảnh gây ra thiệt hại…
Dựa theo nguồn gốc, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân thành trách
nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là một loại trách
nhiệm dân sự mà khi người nào đó có hành vi vi phạm nghĩa vụ ngoài hợp đồng do
pháp luật quy định mà xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải
bồi thường thiệt hại do mình gây ra.
Ngoài hành vi gây thiệt hại do con người còn có thiệt hại do nguyên nhân khác
như: thiên tai, tài sản, thú dữ… gây ra. Nên có những thiệt hại khi xảy ra, người bị
thiệt hại được bồi thường, nhưng có những thiệt hại lại không được bồi thường.
Tuy nhiên để xác định được trách nhiệm bồi thường của người có hành vi gây
thiệt hại trong quan hệ dân sự mà không có hợp đồng là rất khó khăn, vì liên quan đến
căn cứ phát sinh trách nhiệm, yếu tố lỗi, mức bồi thường, hơn nữa quy định của pháp
luật liên quan đến vấn đề này thường mang tình định tính hơn là định lượng nên gây
không ít khó khăn cho công tác áp dụng pháp luật.
Do đó nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân và đảm bảo tính
công bằng xã hội, từ xưa đến nay những quy định bồi thường thiệt hại đã được đặt ra
tùy theo đối tượng, điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Trong đó có chế định bồi thường thiệt
hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Tự bản thân nguồn nguy hiểm cao độ luôn tạo ra mối quan hệ nguy hiểm cho
những người xung quanh, mặc dù chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy
hiểm cao độ đã áp dụng các biện pháp phòng ngừa nhưng không thể kiểm soát được
một cách tuyệt đối khả năng gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ. Như vậy,
nguồn nguy hiểm cao độ là gì? Luật pháp đã có những quy định như thế nào về vấn đề

Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

2


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự
trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi nguồn nguy hiểm cao độ gây ra? và thực tiễn nói
lên điều gì?
Xuất phát từ những lý do trên nên em chọn đề tài: “TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA” để làm chuyên đề tốt
nghiệp của mình.

2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây.
Với mong muốn trang bị thêm kiến thức cho bản thân về các vấn đề liên quan
đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và các trường hợp cụ thể như bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nhằm làm sáng tỏ, chỉ ra và giải
quyết các vướng mắc mà vấn đề này gặp phải
Để đạt được mục đích trên tôi đề xuất mục tiêu cụ thể như sau:
2.1 Thực trạng việc bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây.
2.2 Đề xuất những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả
trong việc áp dụng pháp luật hiện nay.

3. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài này sẽ nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, các chế định, thực trạng.

4. Phương pháp nghiên cứu
Để giải đạt được các mục tiêu trên, trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài
dựa trên cơ sở lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về Nhà nước và Pháp luật, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng hợp tài liệu
- Phương pháp phân tích và so sánh thông tin

Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

3


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
Tìm hiểu và nghiên cứu các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra nói riêng là một trong những vấn đề có ý nghĩa pháp lý và
thực tiễn sâu sắc hiện nay.
Đề tài sẽ đề cập một cách có hệ thống, chi tiết các quy định của pháp luật về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, chỉ ra những bất
cập trong việc áp dụng pháp luật, đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện và
áp dụng pháp luật cho vấn đề này.

6. Cấu trúc của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục, tài liệu tham khảo thì đề tài gồm 3
chương:
• Chương 1: Các khái niệm về trách nhiệm dân sự và trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
• Chương 2: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây.
• Chương 3: Thực trạng, đề xuất giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện,
nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật hiện nay.

Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

4


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ
VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG
1.1. Khái niệm chung.
1.1.1. Trách nhiệm dân sự.
Trách nhiệm dân sự là một chế định có lịch sử lâu đời, cho đến nay nó là một
trong những chế định có tấm ảnh hưởng rộng rãi và luôn được nghiên cứu trong nhiều
hệ thống pháp luật. Trách nhiệm dân sự có những đặc điểm riêng biệt thể hiện bản chất
của các quan hệ trong xã hội là:
-

Trách nhiệm dân sự là quan hệ giữa hai chủ thể độc lập có địa vị pháp lý bình
đẳng.

-

Là trách nhiệm tài sản.

-

Áp dụng đối với bên vi phạm phải tương xứng với hậu quả của hành vi vi phạm
mà người thiệt hại phải gánh chịu.
Trách nhiệm dân sự được phân chia thành trách nhiệm dân sự theo hợp đồng và

trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, được phân biệt từ vi phạm hợp đồng hay vi phạm
quy định của pháp luật.
1.1.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
-

Cơ sở pháp lý: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm dân sự và
chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự. Theo Điều 604 Bộ luật Dân Sự 2005.

“ Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm,
uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản
của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường
hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.”

-

Điều kiện phát sinh: trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khi thỏa mãn
các điều kiện nhất định như:
• Có thiệt hại xảy ra

Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

5


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự
• Có hành vi gây thiệt hại
• Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả xảy
ra.
• Có lỗi của người gây thiệt hại.
-

Chủ thể: Chủ thể bị áp dụng bồi thường thiệt hại là người gây thiệt hại trực tiếp
và các chủ thể khác do luật quy định.

Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được chia thành
trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng được xác định dựa trên cơ sở các nghĩa
vụ dân sự hình thành theo thoả thuận giữa các bên trong một hợp đồng. Bên có nghĩa
vụ dân sự đã cam kết trong hợp đồng mà không thực hiện hoặc thực hiện khômg đúng
nghĩa vụ đó sẽ phải bồi thường cho bên kia và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng.
1.1.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp
lý, là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước. Theo đó người gây thiệt hại phải bồi thường
thiệt hại do hành vi của mình gây ra khi hành vi đó có lỗi dù là lỗi vô ý hay cố ý mà
xâm hại đến tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các quyền
nhân thân khác của cá nhân, tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hay chủ thể khác.
Điều 604 Bộ luật Dân sự quy định:
1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh
dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi
thường.
2. Trong trường hợp pháp luật có quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả

trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.
Và cũng theo khoản 5 Điều 281 Bộ luật dân sự 2005 thì một trong những căn cứ làm
phát sinh nghĩa vụ dân sự là “ Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật”. Theo đó ta thấy
các nhà làm luật đã đồng nghĩa giữa “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng” với “nghĩa vụ bồi thường do hành vi trái pháp luật”
So sánh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng thì ta thấy trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có
những điểm riêng biệt sau:
Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

6


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự
-

Cơ sở phát sinh trách nhiệm: Do pháp luật quy định.

-

Điều kiện phát sinh trách nhiệm: Chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện do pháp
luật quy định.

-

Mức bồi thường thiệt hại: Phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.

-

Chủ thể: Ngoài việc áp dụng đối với người có hành vi trái pháp luật còn áp
dụng với các chủ thể khác. Vì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
còn được chia thành bồi thường thiệt hại do tài sản, súc vật gây ra và bồi
thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra. Sự phân loại này có ý nghĩa
trong việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường.

Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
-

Là chế định góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.

-

Là chế định góp phần đảm bảo công bằng xã hội.

-

Là chế định góp phần răn đe, giáo dục, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp
luật nói chung, gây thiệt hại trái pháp luật nói riêng.

Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

7


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự

CHƯƠNG 2
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA
2.1

Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ.

Theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra như: “1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông
vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất
nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác
do pháp luật quy định.” đồng thời dựa theo Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao số 03/2006/NQ – HĐTP ngày 08/07/2006 hướng dẫn áp dụng một
số quy định của Bộ luật Dân Sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, như
vậy pháp luật pháp luật không đưa ra khái niệm tổng quát về nguồn nguy hiểm cao độ
mà chỉ định nghĩa dưới dạng liệt kê. Trên cơ sở xem xét, đánh giá về các loại tài sản
được coi là nguồn nguy hiểm cao độ trong các văn bản hướng dẫn, có thể hiểu:
“Nguồn nguy hiểm cao độ là những vật chất nhất định do pháp luật quy định luôn tiềm
ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho con người, con người không thể kiểm soát được một cách
tuyệt đối” 1

2.2

Đặc điểm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra.

Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một trong những trường
hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, do đó ngoài những đặc điểm chung thì bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ cũng có những đặc điểm riêng.
- Thứ nhất: Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một trường
hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra. Tức là thiệt hại xảy ra có nguyên nhân
chính được xuất phát từ tài sản mà không phải là hành vi của con người.
- Thứ hai: Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phải là trường
hợp người bồi thường phải bồi thường cho người bị thiệt hại ngay cả khi mình
không có lỗi. Đây là điểm khác biệt rất cơ bản với bồi thường thiệt hại do hành vi
của con người gây ra.
Theo T.S Lê Đình Nghị ( chủ biên), Giáo trình Luật Dân sự tập 2, NXB. Giáo dục, Hà Nội,
2010, Tr 208.
1

Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

8


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự

2.3

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đề cập rất sớm trong hệ thống pháp luật của
nhà nước ta. Tuy nhiên, chỉ đến khi Bộ luật Dân Sự 1995 ra đời thì các quy định về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại mới được quy định một cách chi tiết. Tiếp đó, Bộ luật
Dân Sự 2005 hoàn thiện hơn nữa các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, cụ thể được quy định tại Điều 604 Bộ luật Dân Sự 2005. Trên cơ sở
tại khoản 2 Điều 604 Bộ luật Dân Sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp pháp
luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì
áp dụng quy định đó’’, bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chính là
một trong những trường hợp pháp luật quy định.
Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được hiểu là một loại trách
nhiệm dân sự về tài sản, là trách nhiệm của chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, sử dụng
hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ và do sự hoạt động tự thân của nguồn nguy hiểm
cao độ gây thiệt hại cho người khác, phải bồi thường thiệt hại kể cả trong trường hợp
chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp không có lỗi.
Theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về Bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra như sau:
“1. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản,

trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của
pháp luật.
2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng
thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy
hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.

Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

9


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự
4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp
luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải
bồi thường thiệt hại.
Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm
cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái
pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.”
Trong thực tế hiện nay, bên cạnh những thiệt hại do hành vi của con người gây
ra còn có nhiều thiệt hại do tài sản là các phương tiện giao thông, máy móc, công trình
xây dựng, súc vật gây ra.
Nếu muốn xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ thì cần phải xác định nguồn gây thiệt hại có phải là nguồn nguy hiểm cao độ hay
không.
Do pháp luật quy định không liệt kê đầy đủ và chi tiết nên khi xem xét sự vật
gây thiệt hại có phải là nguồn nguy hiểm cao độ hay không, cần căn cứ vào tính chất
của sự vật đó như: mức độ nguy hiểm; khả năng kiểm soát của con người đối với sự
vật, quy định của pháp luật liên quan đến việc trông giữ, sử dụng…
Mặt khác, Bộ luật Dân sự đã có riêng điều luật quy định về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do súc vật gây ra (Điều 625) áp dụng đối với chủ sở hữu, người quản
lý súc vật nên không thể áp dụng quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra được. Trong khi đó, cá sấu, trăn, rắn độc mặc dù không phải là “thú dữ”
(theo các định nghĩa trong từ điển) nhưng phải coi là nguồn nguy hiểm cao độ vì đây
là loại động vật còn mang tính hoang dã, chưa được thuần hóa và có tính chất nguy
hiểm lớn.
Việc xác định một vật có được coi là nguồn nguy hiểm cao độ hay không sẽ
phải căn cứ vào các quy định của pháp luật và tính chất của sự vật đó. Nguồn nguy
hiểm cao độ không chỉ bao gồm những sự vật được liệt kê tại Điều 623 Bộ luật dân sự
mà còn bao gồm những sự vật khác mà hoạt động của chúng luôn chứa đựng khả năng
gây thiệt hại cho môi trường xung quanh, con người không thể hoàn toàn kiểm soát
được nguy cơ gây thiệt hại.
Đối với nguồn nguy hiểm cao độ, pháp luật thường có những quy định nghiêm
ngặt trong việc trông giữ, vận hành, sử dụng, vận chuyển để tránh gây thiệt hại. Vì
vậy, xác định nguồn nguy hiểm cao độ không chỉ căn cứ vào khái niệm nguồn nguy
Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

10


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự
hiểm cao độ tại Điều 623 Bộ luật dân sự mà còn phải căn cứ vào các văn bản, các quy
định khác có liên quan.
2.3.

Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra.

Để xác định một người có phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra hay không cần phải căn cứ vào các điều kiện phát sinh trách
nhiệm dân sự do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hoạt đông của nguồn nguy hiểm cao độ phải
có các yếu tố sau:
2.3.1. Có hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao
độ.
Thiệt hại liên quan đến các nguồn nguy hiểm rất đa dạng và do nhiều nguyên
nhân khác nhau. Tuy nhiên luật quy định chỉ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra khi thỏa mãn các dấu hiệu sau:
-

Thứ nhất: Thiệt hại xảy ra phải do bản thân nguồn nguy hiểm cao độ hoặc
do hoạt động nội tại của nguồn nguy hiểm gây ra. Hoạt động của nguồn
nguy hiểm cao độ nằm ngoài sự kiểm soát, chế ngự của con người và tự thân
nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại như: xe ô tô đang chạy với tốc độ cao
thì mất phanh gây ra thiệt hại, chập cháy đường dây tải điện, cháy nổ nhà
máy do trục trặc kỹ thuật.

-

Thứ hai: Những sự vật được coi là nguồn nguy hiểm cao độ phải đang trong
tình trạng hoạt động, vận hành. Trường hợp thiệt hại xảy ra khi nguồn nguy
hiểm cao độ đang ở trong trạng thái không hoạt động thì không thể coi là
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

-

Thứ ba: hoạt động gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ có tính trái
pháp luật. Loại trừ những trường hợp hoạt động của nguồn nguy hiểm cao
độ không có tính trái pháp luật như hoạt động phá dỡ các công trình xây
dựng trái phép của xe cần trục, xe ủi… khi đó có thiệt hại xảy ra nhưng sẽ
không đặt vấn đề bồi thường.

Bên cạnh đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra cũng loại trừ các trường hợp thiệt hại xảy ra do lỗi cố ý của người bị thiệt
hại hoặc do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết (Theo Điều 623 Bộ luật dân
Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

11


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự
sự). Nói tóm lại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra là trách nhiệm đối với sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy
hiểm cao độ chứ không phải thiệt hại do hành vi của con người.
2.3.2. Có thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung cũng như trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nói riêng chỉ được đặt ra khi trên thực tế
đã xảy ra những thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng của con người. thiệt hại có
thể hiểu là thiệt hại đã xảy ra trong thực tế, thiệt hại tuy chưa xảy ra nhưng chắc chắn
sẽ xảy ra trong tương lai. Nguồn nguy hiểm cao độ với tính chất tiềm ẩn của sự nguy
hiểm nên bất cứ một lúc nào đó có thể sẵn sàng gây thiệt hại cho bất kì ai có liên quan
đến nó bao gồm cả chủ sở hữu, người vận hành và những người xung quanh. Vì vậy
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ được đặt ra khi
nguồn nguy hiểm cao độ có tác động vào môi trường và con người trong quá trình vận
hành, sản xuất mà gây ra sự thiệt hại.
Có những chủ thể do mối quan hệ sở hữu, lao động mà họ trực tiếp tiếp xúc với
nguồn nguy hiểm cao độ. Đối với chủ sở hữu, họ phải tự chịu mọi rủi ro đối với thiệt
hại do tài sản của mình gây ra. Đối với người bị thiệt hại trong khi sử dụng nguồn
nguy hiểm cao độ theo nghĩa vụ lao động, họ sẽ được hưởng bồi thường theo chế độ
bảo hiểm tai nạn lao động. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ chỉ được đặt ra khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho những “người xung
quanh”- là những người khi xảy ra thiệt hại không có quan hệ lao động hoặc sở hữu
liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ nhằm để bảo vệ quyền được bồi thường cho
những người này.
Do tính chất nguy hiểm vốn có của nguồn nguy hiểm cao độ nên trong quá trình
vận hành, hoạt động có thể gây thiệt hại. Đó là những thiệt hại về tài sản, tính mạng,
sức khỏe của người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ đối với những người
hoặc chủ thể khác. Các thiệt hại về danh dự, uy tín, nhân phẩm – là những thiệt hại chỉ
có thể phát sinh do hành vi của con người nên không thuộc phạm vi tác động của
nguồn nguy hiểm cao độ.

Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

12


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự
2.3.3

Có mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của
nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra.
Điều kiện này đòi hỏi hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ là nguyên nhân

tất yếu, nguyên nhân có ý nghĩa quyết định dẫn đến thiệt hại và thiệt hại xảy ra là kết
quả của hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ.
Theo quan điểm của triết học, nguyên nhân và kết quả luôn có mối liên hệ
nối tiếp nhau, nguyên nhân là cái đi trước, là cái sinh ra kết quả; nhưng một kết
quả có thể lại do nhiều nguyên nhân sinh ra hoặc ngươc lại. Nếu không xác định
được mối quan hệ nhân quả, là không xác định nguyên nhân gây ra thiệt hại sẽ
dễ dẫn đến các sai lầm khi áp dụng trách nhiệm dân sự.
Khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, điểm mấu chốt quan trọng là xác
định thiệt hại đó do nguyên nhân nào gây ra. các nguyên nhân đó xuất phát từ đâu, …
khi tìm được mối quan hệ mới có thể xác định trách nhiệm bồi thường.
2.3.4

Yếu tố lỗi đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra.
Lỗi được xác định là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Lỗi là một trong bốn điều kiện

làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Cơ sở để người bị
thiệt hại yêu cầu bồi thường là họ chứng minh lỗi của người gây thiệt hại. Tuy
nhiên trong thực tế có nhiêu trường hợp khi thiệt hại xảy ra mà không do lỗi của ai
cả, do đó để đảm bảo hiệu quả quyền lợi cho người bị thiệt hại thì điều kiện lỗi có
thể không cần áp dụng. “Chủ sở hữu , người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử
dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi trừ
trường hợp do pháp luật quy định” ( khoản 3 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2005).
Yếu tố lỗi chỉ là căn cứ để xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại. chủ thể nào có lỗi trong sự quản lý, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy
hiểm cao độ sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường chứ không phải xét lỗi đối với
hoạt động gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ. “ Nếu như các trường hợp

bồi thường thiệt hại thông thường dựa trên sự suy đoán lỗi thì trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra dựa trên sự suy đoán
trách nhiệm đối với người có nghĩa vụ quản lý nguồn nguy hiểm cao độ” (3)
2.4. Chủ thể trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra.
Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

13


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự
Theo quy định tại Điều 623 của Bộ Luật Dân sự 2005 và hướng dẫn tại Nghị quyết
Hội đồng Thẩm phán số 03/2006/NQ-HĐTP thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ được xác định như sau:
“a) Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy
hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Chủ sở hữu
đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ là đang thực hiện mọi hành vi theo ý
chí của mình để nắm giữ, quản lý nguồn nguy hiểm cao độ, nhưng không được trái
pháp luật, đạo đức xã hội; khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ nguồn nguy
hiểm cao độ.
b) Người được chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao chiếm hữu, sử dụng
nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật phải bồi thường thiệt
hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, trừ trường hợp giữa chủ sở hữu và người
được giao chiếm hữu, sử dụng có thoả thuận khác không trái pháp luật, đạo đức xã
hội hoặc không nhằm trốn tránh việc bồi thường.
Ví dụ: Các thoả thuận sau đây là không trái pháp luật, đạo đức xã hội hoặc
không nhằm trốn tránh việc bồi thường:
- Thoả thuận cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại;
- Thoả thuận chủ sở hữu bồi thường thiệt hại trước, sau đó người được giao
chiếm hữu, sử dụng sẽ hoàn trả cho chủ sở hữu khoản tiền đã bồi thường;
- Ai có điều kiện về kinh tế hơn thì người đó thực hiện việc bồi thường thiệt hại
trước.
Trong trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao cho người khác chiếm
hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không theo đúng quy định của pháp luật mà
gây thiệt hại, thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại.
Ví dụ:Chủ sở hữu biết người đó không có bằng lái xe ô tô, nhưng vẫn giao
quyền chiếm hữu, sử dụng cho họ mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường
thiệt hại.
c) Về nguyên tắc chung chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử
dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:
- Thiệt hại xảy ra là hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

14


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự
Ví dụ: Xe ô tô đang tham gia giao thông theo đúng quy định của pháp luật, thì bất
ngờ có người lao vào xe để tự tử và hậu quả là người này bị thương nặng hoặc bị chết.
Trong trường hợp này chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng
hợp pháp xe ô tô đó không phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ (xe ô
tô) gây ra.
- Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.Cần chú ý là trong trường hợp pháp luật có
quy định khác về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết thì trách nhiệm bồi
thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó.
d) Người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, nếu chủ sở hữu, người được chủ
sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp không có lỗi trong việc để nguồn nguy
hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật (đã tuân thủ các quy định về bảo
quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định
của pháp luật).
Nếu chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợppháp có lỗi
trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật (không
tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ các quy định về bảo quản, trông giữ, vận chuyển,
sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định của pháp luật) thì phải liên đới cùng
với người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra.
đ) Nếu chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đã giao nguồn nguy hiểm cao độ
cho người khác mà gây thiệt hại thì phải xác định trong trường hợp cụ thể đó người
được giao nguồn nguy hiểm cao độ có phải là người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy
hiểm cao độ hay không để xác định ai có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Ví dụ: A là chủ sở hữu xe ô tô đã giao xe ô tô đó cho B. B lái xe ô tô tham gia
giao thông đã gây ra tai nạn và gây thiệt hại thì cần phải phân biệt:
- Nếu B chỉ được A thuê lái xe ô tô và được trả tiền công, có nghĩa B không phải
là người chiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó mà A vẫn chiếm hữu, sử dụng; do đó, A phải bồi
thường thiệt hại.

Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

15


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự
- Nếu B được A giao xe ô tô thông qua hợp đồng thuê tài sản, có nghĩa A không
còn chiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó mà B là người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp; do
đó, B phải bồi thường thiệt hại. Nếu trong trường hợp này được sự đồng ý của A, B
giao xe ô tô cho C thông qua hợp đồng cho thuê lại tài sản, thì C là người chiếm hữu,
sử dụng hợp pháp xe ô tô đó; do đó, C phải bồi thường thiệt hại.”
Qua đó chúng ta thấy được rằng bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra được xác định theo chủ thể sở hữu cụ thể sau:
2.4.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu:
o

Chủ sở hữu là người trực tiếp chiếm hữu quản lý, sử dụng, có quyền lợi từ
nguồn nguy hiểm cao độ, khi xảy ra nhũng thiệt hại thì chủ sở hữu phải
đứng ra bồi thường thiệt hại.

o

Khi có thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ xảy ra, trước hết người ta nghĩ
đến nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc tôn trọng và bảo vệ lợi ích chung,
quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Vì vậy trách nhiệm bồi
thường trước hết được đặt ra cho chủ sở hữu, trừ trường hợp chủ sở hữu
chứng minh được rằng trách nhiệm đó thuộc về người khác.

2.4.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người được chủ sở hữu giao cho
quản lý nguồn nguy hiểm cao độ:
Trong trường hợp chủ sở hữu chuyển giao cho người khác nắm giữ
quyền quản lý, sử dụng, hưởng lợi từ nguồn nguy hiểm cao độ thì người này
phải bồi thường thiệt hại trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác nhưng thỏa
thuận này không được trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và không nhằm
trốn tránh việc bồi thường.
Trong trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao cho người
khác chiếm hữu, sử dụng không theo đúng quy định của pháp luật và gây thiệt
hại thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại.
2.4.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp người thứ ba chiếm

dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật:
Khi nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm dụng trái pháp luật thì bản thân
người chiếm dụng trái pháp luật đó đã có lỗi cố ý chiếm đoạt sử dụng, khai thác
nguồn nguy hiểm cao độ trái quy định của pháp luật. Do đó khi có thiệt hại xảy
ra thì trách nhiệm trước tiên thuộc về người quản lý sử dụng trái pháp luật đó.
Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

16


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự
Chủ sở hữu, người chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ sẽ được giải trừ khỏi
trách nhiệm bồi thường nếu họ chứng minh được đã tuân thủ đầy đủ các nghĩa
vụ trong việc bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao
độ theo quy định của pháp luật.
Nếu chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng họp
pháp mà có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng
trái pháp luật thì phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra.
Từ các chủ thể xác định theo sở hữu ta thấy chủ sở hữu có thể là pháp nhân
hoặc cá nhân
- Pháp nhân - chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại.
Điều 618 Bộ luật dân sự quy định: "Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do
người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao. Nếu pháp
nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại
phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật".
Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân trong giao dịch dân
sự. Trong quan hệ dân sự pháp nhân có thể đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc được xác lập theo sự ủy quyền giữa
người đại diện và người được đại diện. Pháp nhân chỉ bồi thường thiệt hại trong
trường hợp người của pháp nhân quản lý gây thiệt hại.
Ví dụ: A là lái xe của công ty B, trên đường đi công tác gây tai nạn. Trong
trường hợp này thì công ty B phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Có trường hợp tuy người đó là người của pháp nhân quản lý gây thiệt hại nhưng
pháp nhân không phải bồi thường. Trong trường hợp người của pháp nhân quản lý lợi
dụng nhiệm vụ được cơ quan chủ quản giao nhưng lại làm một việc vì mục đích cá
nhân mà gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra.
Cũng như ví dụ nêu trên, nhưng sau khi hoàn thành công việc công ty giao cho,
A đã lái xe tranh thủ về thăm quê và trên đường về quê đã gây ra tai nạn, trong trường
hợp này thì A phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại, công ty B không phải
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

17


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự
Người của pháp nhân quản lý không phải chịu trách nhiệm thay cho pháp nhân
đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện.
- Cá nhân - chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại.
Bộ luật Dân Sự không quy định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường của các
chủ thể khác chứng tỏ đã mặc nhiên thừa nhận năng lực chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại của các chủ thể này, Bộ luật Dân Sự quy định năng lực chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của cá nhân phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi dân sự, khả năng
bồi thường và tình trạng tài sản của cá nhân.
Năng lực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân được quy định tại Điều 606 BLD
S, cụ thể như sau:
1. “Người từ đủ 18 tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường".Người từ
đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có khả năng bằng chính hành vi
của mình xác lập thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 17 Bộ luật dân sự)
2. "Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì
cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi
thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi
thường phần còn thiếu".
Trong cuộc sống phần lớn người dưới mười lăm tuổi không có tài sản và sự tự
lập về kinh tế. Điều đó không có nghĩa là tất cả những người này đều không có tài sản
riêng mà thực tế có nhiều trường hợp những người này đã có tài sản riêng do được
hưởng thừa kế, được tặng cho tài sản. Nhưng về mặt pháp lý thì khi những người này
gây thiệt hại thì cha, mẹ vẫn là những người phải bồi thường thay, chỉ trừ khi việc bồi
thường còn thiếu thì mới lấy tài sản riêng của con bồi thường cho đủ.
3. "Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi
thường bằng tài sản của mình. Nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ
phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình".
Theo luật Bộ luật lao động thì: Người từ đủ mười lăm tuổi trở lên có thể được
tham gia vào quan hệ lao động để có thu nhập và có tài sản riêng có thể tự mình quản
lý tài sản riêng hoặc nhờ cha, mẹ quản lý và cha, mẹ hoàn toàn có quyền định đoạt tài
sản đó vì lợi ích của con. Tuy nhiên, những người ở độ tuổi này chưa đầy đủ về năng
lực hành vi dân sự nên phải có người đại diện cho mình trong việc xác lập và thực hiện
Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

18


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự
các giao dịch dân sự; vì vậy, cha, mẹ của người từ đủ mười lăm đến dưới mười tám
tuổi vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại do con mình
gây ra.
Xem xét hai trường hợp người dưới mười lăm tuổi và người từ đủ mười lăm tuổi
đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại với trường hợp người gây thiệt hại là người
mất năng lực hành vi dân sự thì nếu những người này có cá nhân, tổ chức giám hộ thì
cá nhân tổ chức đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường. Khoản 3
Điều 606 Bộ luật dân sự quy định:
“Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có
người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi
thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi
thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ
chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của
mình để bồi thường.”
Xuất phát từ quy định trên đây của Bộ luật dân sự, một vấn đề nảy sinh là: Nếu
người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải
lấy tài sản của mình để bồi thường. Vậy trong trường hợp này sẽ lấy tài sản ở đâu để
bồi thường, ai là người phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Theo chúng tôi cần có
quy định cụ thể trong trường hợp này, chẳng hạn coi đó là rủi ro và người bị thiệt hại
phải gánh chịu thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ áp dụng
đối với người xung quanh.
Nguồn NHCĐ chỉ được quy định áp dụng đối với người xung quanh, người khô
ng có quan hệ lao động liên quan đến việc sử dụng nguồn NHCĐ nhằm bảo vệ quyền
được bồi thường cho những người này.
Đối với chủ sở hữu, họ phải tự chịu mọi rủi ro đối với thiệt hại do tài sản của mì
nh gây ra. Còn những người có liên quan trực tiếp việc sử dụng nguồn nguy hiểm cao
độ như người được chủ sở hữu giao tài sản là nguồn nguy hiểm cao độ qua hợp đồng
mượn, thuê tài sản, những người chiếm hữu bất hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ, …
thì họ có không được hưởng bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Đối với người bị thiệt hại trong khi sử dụng nguồn NHCĐ theo nghĩa vụ lao
động, họ sẽ được hưởng bồi thường theo chế độ bảo hiểm tai nạn lao động. “Người
Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

19


Chuyên đề tốt nghiệp: Luật dân sự
xung quanh” được xác định có thể là hành khách trên các phương tiện giao thông,
người tham gia giao thông đối với các phương tiện giao thông cơ giới đang hoạt động,
khán giả trong rạp xiết, khách tham quan trong vườn bách thú, nơi nuôi các loàn thú
dữ như hổ, sư tử, voi,…
Việc xác định “người xung quanh” có ý nghĩa quan trọng trong việc xá
c định người được bồi thường thiệt hại do nguồn NHCĐ gây ra. Nếu người thiệt hại
không phải là người xung quanh của nguồn NHCĐ lại bị chính nguồn NHCĐ gây thiệt
hại thì không được hưởng bồi thường thiệt hại theo trách nhiệm dân sự mà được
hưởng bồi thường theo chế độ bảo hiểm xã hội hoặc đối với công chức, viên chức thì
được hưởng chế độ đối với công chức, viên chức bị nguồn NHCĐ gây thiệt hại trong
khi thực hiện nhiệm vụ liên quan đến việc sử dụng nguồn NHCĐ. Đối với người xung
quanh bị nguồn nguy hiểm gây thiệt hại thì người đó sẽ được hưởng bồi thường theo
nguyên tắc bị thiệt hại bao nhiêu thì được hưởng bồi thường bấy nhiêu, được hưởng
bồi thường toàn bộ và kịp thời theo quy định tại Điều 605 BLDS.
Trách nhiệm bồi thường liên đới:
Điều 616 Bộ luật dân sự quy định: Trong trường hợp nhiều người cùng gây
thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Đối với
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, chỉ phát sinh nghĩa vụ liên đới bồi thường
trong các trường hợp sau:
Một là giữa các chủ thể đã thoả thuận cùng liên đới bồi thường.
Hai là một chủ thể có lỗi trong việc trông coi, vận chuyển, quản lý, sử dụng để
nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phát sinh nghĩa vụ
bồi thường liên đới giữa người chiếm hữu, sử dụng bất hợp pháp với chủ thể đang
chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ đúng pháp luật.
Ba là người khác không chiếm hữu, sử dụng nhưng có lỗi trong việc làm cho
nguồn nguy hiểm cao độ gây tai nạn thì phát sinh trách nhiệm bồi thường liên đới giữa
người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ hợp pháp và người cùng có
lỗi để nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại.

Sinh viên: Bùi Bảo Vinh – MSSV: 33TC-0142 Lớp: 33K13.1

20


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×