Tải bản đầy đủ

Phát triển thị trường cacbon tại việt nam

PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CARBON TẠI VIỆT NAM
PGS.TS Hồ Viết Tiến1
ThS Đinh Thị Thu Hà2
MỞ ĐẦU
Thị trường carbon được hình thành từ Nghị định thư Kyoto với mục tiêu hạn chế
xả thải carbon ra môi trường, từ đó giảm thiểu hiệu ứng nhà kính, góp phần hạn chế
sự nóng lên của khí quyển nói riêng và biến đổi khí hậu nói chung. Thị trường carbon
phát triển khá nhanh, nhất là khu vực Châu Âu và Châu Á. Các hợp đồng quyền xả
thải được giao dịch chủ yếu tại Châu Âu (EU ETS), trong khi chứng chỉ phát triển dự
án sạch (CDM) có nguồn gốc chủ yếu tại Châu Á. Việt Nam là nước đứng thứ 4 thế
giới tháng 9/2012 về chứng chỉ phát triển dự án sạch CDM, chỉ sau Trung Quốc, Ấn
độ và Mexico. Bài viết này dự kiến phân tích những điều kiện và nhân tố tác động đến
sự phát triển thị trường phát triển dự án sạch tại Việt Nam và chính sách phát triển thị
trường carbon cho những năm sắp tới.
Bài viết sẽ gồm 3 phần: thực trạng thị trường carbon thế giới; thị trường phát
triển dự án sạch CDM tại Việt Nam; triển vọng mới của thị trường và khuyến nghị
chính sách.
Từ khóa: Nghị định thư Kyoto; Biến đổi khí hậu; Thị trường carbon, Chứng chỉ quyền
xả thải; Dự án phát triển sạch CDM.
1. THỊ TRƯỜNG CARBON
Thị trường carbon bao gồm những giao dịch mua bán quyền xả thải và hạn mức

xả thải giữa các quốc gia và các công ty nhằm đáp ứng những mục tiêu cam kết liên
quan đến khí thải gây hiệu ứng nhà kính (GreeenHouse Gases - GHG) tuân theo Nghị
định thư Kyoto. Đa số các chất gây hiệu ứng nhà kính đều có gốc carbon (phụ lục A –
Nghị định thư Kyoto), nên việc mua bán quyền xả thải carbon được gọi chung là thị
trường carbon.
1.1. Nghị định thư Kyoto
Nghị định thư Kyoto 1998 là văn bản chính trong khuôn khổ Công ước khung của
Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) được ký vào năm 1992. Theo Nghị
định thư này, tổng cộng 39 quốc gia công nghiệp được cấp một hạn mức (quota) về
mức xả thải khí GHG xác định cho giai đoạn năm 2008-2012. Hạn mức này được căn
cứ trên hạn mức xả thải của năm 1990, sao cho lượng xả thải hàng năm vào năm 2012
giảm từ 5%-8% so với mức xả thải năm 1990. Các quốc gia đang phát triển không bị
quy định hạn mức cụ thể, tuy nhiên, các nước này được khuyến khích triển khai phát
triển các dự án sạch CDM bán cho các nước phát triển, do vậy, đóng vai trò rất quan
1
2

Trường ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Trường ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh


trọng trong kế hoạch toàn cầu về giảm lượng khí thải carbon. Những quốc gia công
nghiệp được liệt kê ở Phụ lục B của Nghị định thư.
Mục tiêu trung bình của các quốc gia thuộc Phụ lục B trong Nghị định thư là giảm
thiểu lượng khí thải năm 2008-2012 trung bình 5%-8% so với mức năm 1990. Tuy
nhiên, tồn tại một cơ chế linh hoạt cho phép những quốc gia này có thể đáp ứng được
hạn mức tối đa về GHG bằng cách mua hạn mức xả thải từ những nơi khác. Những
giao dịch này có thể được thực hiện thông qua sàn giao dịch “Cơ chế giao dịch xả thải
EU” (European Union Emissions Trading Schema - EU ETS), hoặc thông qua những
dự án “Cơ chế phát triển dự án sạch” (Clean Development Mechanism - CDM) tại các
nước đang phát triển, hoặc thông qua “Cơ chế đồng triển khai dự án” (Joint
Implementation - JI) tại các nước công nghiệp. Những cơ chế giao dịch này đưa ra mức
giá có liên quan đến khí thải carbon bao gồm chi phí để sở hữu quyền xả thải và giá trị
mang lại khi cắt giảm lượng khí thải.
Hình 1: Giá của quyền xả thải EU

Bảng 1: Hạn mức xả thải cho các quốc gia
theo Nghị định thư Kyoto

Khối lượng giao dịch trên thị trường carbon đã tăng trưởng một cách nhanh chóng

từ năm 2004 với những cơ chế giao dịch mới. Việc thực thi Nghị định thư được chia
làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn I (2005-2007) bắt đầu bằng việc phân bổ hạn ngạch xả thải cho 9400
nhà máy công nghiệp tại 25 quốc gia Châu Âu thông qua Kế hoạch Phân bổ Quốc gia
(NAP) cho mỗi thành viên. Giai đoạn I đã thành công trong việc đạt được mục tiêu ban
đầu là kinh nghiệm giao dịch khí thải; phát triển cơ cấu tổ chức; cải thiện hiệu quả môi
trường; thông tin những kiến thức về cơ chế giá và phân phối hạn ngạch một cách hiệu
quả. Một vấn đề lớn phát sinh trong đầu năm 2007 khi mức cung quá mức về hạn
ngạch xả thải đã làm cho giá của các hợp đồng tương lai năm 2007 giảm một cách
mạnh mẽ và gần chạm mức zero, nguyên nhân được giải thích là do thời hạn sử dụng
của hạn ngạch không thể sử dụng được cho giai đoạn II.


Giai đoạn II (2008-2012) bắt đầu bằng việc thực thi những cam kết đầu tiên của
Nghị định thư Kyoto. Mặc dù Ủy ban Châu Âu đã đặt ra Kế hoạch Phân bổ Quốc gia
(NAPs) một cách nghiêm khắc hơn, tuy nhiên việc giảm thiểu lượng khí thải do ảnh
hưởng của quá trình suy thoái kinh tế đã làm cho Giai đoạn II có tổng nguồn cung hạn
ngạch vượt quá lượng khí thải theo nhu cầu.
Tuy nhiên, trên thực tế, chỉ có các nước Châu Âu thực thi nghiêm Công ước của
Liên hợp quốc. Bằng chứng là đến năm 2007 lượng khí thải của Australia, Canada,
Hoa Kỳ tăng lần lượt là 30%, 26% và 17% so với năm 1990, trong khi Canada và Hoa
Kỳ đáng lẽ phải giảm lần lượt là 6% và 7%, còn Australia chỉ được ưu đãi tăng 8%.
Giai đoạn III (2013-2020), vào tháng 4 năm 2009, Ủy ban EU đã thông qua gói
năng lượng khí hậu, được thiết kế để cung cấp một hướng dẫn rõ ràng cho thị trường
carbon trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2020. Những nội dung quan trọng bao gồm:
-

Đến năm 2020 giảm 20% lượng GHG so với năm 1990 (và 14% so với năm
2005), trung bình giảm khoảng 1,7%/năm.

-

Tăng tỷ trọng của năng lượng có thể tái tạo (renewable energy) lên 20% sản
lượng tiêu thụ tại EU và tăng 10% tỷ trọng tiêu thụ loại năng lượng này sử dụng
trong giao thông tại mỗi quốc gia thành viên.

-

Cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng lên 20%.

Phạm vi của Giai đoạn III sẽ mở rộng sang một số lĩnh vực mới như là sản xuất
hóa chất và ammoniac; mức trần của việc xả thải áp dụng đối với lĩnh vực hàng không
đối với tất cả những hãng hàng không đến và đi từ EU, vì hiện nay lượng khí thải của
lĩnh vực này chiếm 3% lượng khí thải của EU.
1.2. Các hình thức giao dịch carbon
Các giao dịch carbon bao gồm những hợp đồng trong đó bên mua trả phí cho bên
bán để đổi lấy một số lượng nhất định GHG đã được giảm bớt. Những giao dịch này có
thể được chia thành hai loại:
Giao dịch quyền xả thải: bên A tiến hành mua một hạn ngạch xả thải của bên B.
Hạn ngạch của bên B đã được các cơ quan quốc tế và quốc gia phân phối từ hạn ngạch
trần của mỗi nước và mỗi công ty. Bên B bán vì dư hạn ngạch xả thải hoặc có hạn
ngạch không dùng đến, hoặc trước đó đã mua được hạn ngạch từ bên thứ 3. Cơ chế này
bao gồm 1) Hạn ngạch Liên minh Châu âu (EU’s Allowances - EUA) trong khuôn khổ
Cơ chế giao dịch xả thải EU (EU ETS) và 2) Đơn vị cấp phát cố định (Assigned
Amount Units - AAUs) trong khuôn khổ Nghị định thư Kyoto. Thị trường giao dịch
mức xả thải tối đa tạo ra một cấu trúc linh hoạt giúp cho các nước có thể đạt được mục
tiêu về hiệu quả môi trường của mình.
Giao dịch dự án: bên mua tiến hành mua hạn mức xả thải phát sinh từ một dự án
sạch đã được kiểm tra, đã được xác nhận có sự sụt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà
kính. Dự án thủy điện Srepok 4 tại Tây Nguyên được xác định là sẽ làm giảm được
hơn 1,238 triệu tấn CO2 trong vòng 7 năm, tương đương 177.000 tấn CO2/năm (là


lượng CO2 xả ra nếu đó là nhà máy nhiệt điện). Nếu các dự án hay khoản đầu tư này
tập trung vào một nước công nghiệp khác thì nó được xem như Cơ chế đồng triển khai
dự án tại các nước công nghiệp (JI) của Nghị định thư Kyoto. Nếu dự án đầu tư này
diễn ra tại một quốc gia đang phát triển thì được chứng chỉ mang tên Cơ chế phát triển
dự án sạch tại các nước đang phát triển (CDM) của Nghị định thư Kyoto. Lượng CO2
mà mỗi dự án sạch CDM tiết kiệm được tương đương với số chứng chỉ CER (Certified
Emission Reductions) mà dự án đó phát hành. Nói khác đi, mỗi CER tương đương với
1 tấn CO2 tiết kiệm được.
Thị trường Giao dịch quyền xả thải theo cơ chế hạn ngạch tối đa:
-

Cơ chế Giao dịch Xả thải EU
i. Sàn giao dịch quyền chọn và thị trường giao sau:
 European Climate Exchange (ECX)
 Powernext
 Nord Pool
 European Energy Exchange (EEX)
ii. Thị trường OTC
iii. Giao dịch song phương

-

New South Wales (NSW) cơ chế cắt giảm GHG tại Úc

-

Chicago Climate Exchange tại Mỹ

-

Cơ chế Sàn giao dịch Anh

Thị trường Giao dịch dự án:
-

Cơ chế tuân thủ: các công ty hoặc tổ chức sẽ đầu tư vào các dự án tại quốc gia
khác nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của khí thải carbon ở quốc gia của họ, đáp
ứng yêu cầu của Nghị định thư Kyoto hoặc tuân theo cơ chế của quốc gia.
 Cơ chế phát triển dự án sạch (CDM) của Nghị định thư Kyoto: đầu tư vào
các dự án tại những nước đang phát triển.
 Cơ chế đồng triển khai dự án (JI) tại các nước công nghiệp: đầu tư vào các
dự án tại các nước công nghiệp.

-

Cơ chế tự nguyện: các cá nhân hoặc tổ chức sẽ tự nguyện giảm thiểu lượng
khí thải carbon thông qua việc đầu tư trồng rừng hoặc xây dựng các khu vực
sử dụng năng lượng gió…

1.3. Hiện trạng
Tính chung trên toàn thị trường, tổng khối lượng carbon được giao dịch năm 2011
lên đến 10,3 tỷ tấn CO2 và có giá trị trên 176 tỷ USD, trong đó thị trường quyền xả thải


chiếm 8,1 tỷ tấn CO2 (149 tỷ USD) và thị trường dự án sạch chiếm 2,2 tỷ tấn CO 2 (27
tỷ USD).
Bảng 2: Khối lượng và giá trị giao dịch trên thị
trường quyền xả thải

Bảng 3: Khối lượng và giá trị giao dịch trên thị trường dự
án sạch
dự án

Thị trường quyền xả thải: Tổng khối lượng giao dịch trên thị trường quyền xả
thải năm 2011 lên đến hơn 8 tỷ tấn CO2, đạt giá trị 149 tỷ USD. Giao dịch quốc tế vẫn
tập trung tại Cơ chế giao dịch xả thải EU (EU ETS), đạt đến 148 tỷ USD (99% giá trị
giao dịch toàn thế giới) năm 2011. Thị trường đang bị ảnh hưởng bởi sự giảm giá do
nguyên nhân mức cầu của quyền xả thải tại Châu Âu thấp hơn nhiều so với dự tính ban
đầu của Giai đoạn II trong năm 2008. Nguyên ngân được giải thích là do khủng hoảng
kinh tế tài chính kéo dài của nền kinh tế Châu Âu, cũng như quá trình đầu tư vào
những dự án năng lượng mới sạch hơn tại các nước này.
Tính chung cho thị trường toàn cầu, từ thời điểm năm 2005 khối lượng khí CO2
giao dịch trên toàn thị trường quyền xả thải đã tăng gần 25 lần từ mức 329 triệu tấn lên
8.081 triệu tấn vào năm 2011.


Thị trường dự án:
Bảng 4: Các bên mua CDM chính

Hình 2: Những quốc gia đầu tư vào
các dự án CDM

Sau 3 năm suy giảm, thị trường giao dịch sơ cấp CDM đã phục hồi vào năm 2011,
đạt 264 triệu tấn CO2 so với mức 224 triệu tấn vào năm 2010. Nhưng khối lượng giao
dịch này vẫn thấp hơn rất nhiều so với năm 2006 và 2007.
Các giao dịch JI tăng lên 104 triệu tấn vào năm 2011 so với mức giao dịch chỉ 47
triệu tấn vào năm 2010.
Từ khi hình thành hợp đồng chuẩn CER (1 tín chỉ CER= 1 tấn CO2), thị trường thứ cấp
đã được chuẩn hóa, giá giao dịch trở nên minh bạch hơn và các giao dịch cũng có tính
thanh khoản hơn. Giao dịch tăng lên mức 1.734 triệu tấn CO2 vào năm 2011 so với
1.260 triệu tấn khí CO2 được giao dịch trong năm 2010. Hợp đồng giao sau vẫn là hàng
hóa giao dịch chủ chốt trên thị trường thứ cấp.
Các nhà đầu tư sơ cấp: các nhà đầu tư Châu Âu đi đầu trong việc tham gia các
dự án CDM với tư cách là các bên phát triển dự án (project developers) hoặc bên tư
vấn thiết kế, hỗ trợ kỹ thuật (optional entities), sẵn sàng chuyển dự án CDM thành các
CER mang về Châu Âu. Họ chiếm khoảng 80% trong số 7.568 dự án tính đến tháng 9
năm 2012. Anh là nước dẫn đầu với 2.200 dự án, chiếm tổng số 29%. Thụy Sĩ là quốc
gia xếp thứ hai chiếm 13% và Nhật bản chiếm 11% số dự án đầu tư.
Các nước chủ nhà của các dự án CDM: Trung Quốc là nước xếp đầu tiên với
2.279 dự án được bán ra với giá trị 145 tỷ USD chiếm 62% số dự án và 66% giá trị các
dự án CDM. Tiếp đến là Ấn Độ với 880 dự án đạt 39 tỷ USD, chiếm 18% tổng giá trị.
Mexico, Việt Nam, Columbia và Brazin là các quốc gia chủ nhà tiếp theo căn cứ trên
giá trị dự án được bán ra. Chỉ tính 139 dự án tại Việt Nam tháng 9/2012 đã có giá trị
3,1 tỷ USD.


Các loại tài sản: thủy điện và sức gió là hai loại tài sản lớn nhất khi đăng ký thực
hiện dự án CDM, với dự án thủy điện chiếm 29% tổng số dự án và sức gió chiếm 27%.
Thu hồi khí methan, năng lượng sinh học và tăng hiệu quả năng lượng, mỗi loại chiếm
10% các dự án.
Bảng 5: Các nước chủ nhà triển khai dự án
CDM

Hình 3: Các lĩnh vực công nghiệp của dự án
CDM

2. THỊ TRƯỜNG CDM TẠI VIỆT NAM
Cơ quan quản lý CDM Việt Nam: Đầu mối quản lý điều hành thị trường CDM tại
Việt Nam (Designated National Authorities - DNA) là Vụ Hợp tác quốc tế thuộc Bộ tài
nguyên và môi trường. Chỉ đạo hoạt động này là Ban Chỉ đạo quốc gia về thực thi
Công ước Liên hợp quốc về Biến đối khí hậu và Nghị định thư Kyoto, thuộc Chính phủ
gồm rất nhiều bộ, ban ngành.
Quy trình hình thành dự án CDM tại Việt Nam: Có 4 tổ chức quan trọng tham gia
trong sơ đồ dự án sau: 1) Tổ chức phát triển dự án (Project Developer) là một công ty
tư vấn có kinh nghiệm trong lĩnh vực CDM, 2) Tổ chức điều hành CDM quốc gia
(DNA), trong trường hợp Việt Nam là Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tài nguyên môi trường;
3) Các tổ chức quốc tế (Optional Entities), là bên dự kiến tham gia mua bán trao đổi
CDM khi hoàn thành dự án, thuộc các nước phát triển và 4) Ủy Ban điều hành CDM
(CDM Executive Board) thuộc Công ước Liên Hiệp quốc về Biến đổi khí hậu
(UNFCCC)


Hình 4. Quy trình hình thành dự án CDM tại Việt Nam

Nguồn: Nhan, T. N., Minh Ha-Duong, Sandra Greiner, Michael Mehling (2010), "The Clean
Development Mechanism in Vietnam: potential and limitations", Improving the Clean
Development Mechanism. Options and Challenges Post - 2012 (2011) 221-246, truy cập tại
trang http://halshs.archives-ouvertes.fr/halshs-00654294/ ngày 31/07/2013

Các tiêu chí mà DNA đưa ra để thiết kế, lựa chọn dự án: 1) Tính bền vững về
phương diện kinh tế, môi trường, xã hội và thể chế; 2) Tính thương mại: đáp ứng nhu
cầu lợi nhuận của đối tác quốc tế và hấp dẫn nhà đầu tư và 3) Tính khả thi: được sự
ủng hộ của chính quyền các cấp và phù hợp về mặt nhân lực cũng như cơ sở hạ tầng.
Trên thực tế, quá trình triển khai và phê duyệt CDM tại Việt Nam bị coi là quan
liêu với những lý do sau: 1) thời gian phê duyệt dự án kéo dài 4-6 tháng trong khi thời
gian hành chính quy định chỉ có 55 ngày; 2) các cuộc họp phê duyệt của Ban chỉ đạo
phải có ¾ số thành viên trong khi nhiều thành viên Ban chỉ đạo có vai trò trong chính
phủ không thông hiểu lĩnh vực CDM và không thể thu xếp thời gian; 3) dịch vụ tư vấn
yếu kém; 4) năng lực DNA hạn chế; 5) khó tiếp cận dữ liệu ngành năng lượng; 6)
chính sách giá cả năng lượng bất hợp lý (Nhân et al., 2010).
Có đến 15 lĩnh vực có thể thiết kế dự án CDM: 1) nguồn năng lượng sạch và tái
tạo; 2) phân phối năng lượng hiệu quả; 3) cầu năng lượng; 4) công nghiệp chế tạo; 5)
công nghiệp hóa chất; 6) công nghiệp xây dựng; 7) giao thông; 8) Khai thác mỏ và
khoáng sản; 9) sản xuất metal; 10) xử lý khí thải từ dầu mỏ (rắn, lỏng và khí); 11) xử lý
chất thải từ sản xuất và tiêu dùng carbon và sulfur; 12) công nghiệp dung môi; 13) bảo


quản khí thải; 14) bảo vệ và tái tạo rừng; 15) nông nghiệp. Tuy nhiên, hầu hết các nước
đều tập trung khai thác lĩnh vực năng lượng, tức là 3 lĩnh vực đầu.
Vị trí của thị trường CDM Việt Nam:
Hình 5. Phân bổ CER theo quốc gia hình thành dự án CDM

Nguồn: UNFCCC, ngày truy cập 31/07/2013
Tại Việt Nam, tính đến đầu năm 2013 có 250 dự án CDM thì có đến 238 dự án
liên quan đến lĩnh vực thứ nhất, nguồn năng lượng sạch và tái tạo (95,2% số dự án).
Trong số 238 dự án năng lượng này có 206 dự án nguồn điện, trong đó có 167 dự án
thủy điện lớn nhỏ, 26 dự án liên quan đến biomass hoặc biogas, 14 dự án thu hồi
methane.
Tính từ khi bất đầu đến tháng 7/2013, CDM Việt Nam có 250 dự án, đứng thứ 7
thế giới chiếm 1,8% thị phần thế giới, đứng sau Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Hàn Quốc
và Mexico.
Bảng 6. Quy mô thị trường CDM tại Việt Nam
STT
1
2
3
4
5
6
7
8

Quốc gia
Australia
Denmark
France
Germany
Italy
Japan
Netherlands
Spain

Số dự
án
13
1
4
22
3
17
18
1

CERs/năm Quy mô trung bình
(CER)/năm
1.292.395
99.415
21.416
21.416
118.732
29.683
1.026.955
46.680
103.461
34.487
1.484.474
87.322
1.707.000
94.833
132.351
132.351

Thị
phần
7,2%
0,1%
0,7%
5,7%
0,6%
8,3%
9,5%
0,7%


STT

Quốc gia

9
10
11

Sweden
Switzerland
United Kingdom of Great
Britain and Northern Ireland
Tổng cộng
Chưa có quốc gia tham gia
(chủ yếu 2012-2013)

Số dự
án
20
100
45
244
29

CERs/năm Quy mô trung bình
Thị
(CER)/năm
phần
1.072.472
53.624
6,0%
7.918.956
79.190
44,0%
3.102.804
68.951
17,3%
17.981.016
2.283.618

73.693

Nguồn: tác giả tổng hợp từ nguồn của Liên hợp quốc tại trang
http://cdm.unfccc.int/Projects/projsearch.html - ngày truy cập 31/07/2013

Tổng giá trị của thị trường CDM tại Việt Nam là 17.589.309 CERs/năm (giá trị
trong bảng trên lớn hơn, 17.981.016 CERs, vì một vài dự án có sự tham gia của 2 đối
tác đến từ 2 nước khác nhau). Điều đó có nghĩa là các dự án CDM Việt Nam có thể
làm giảm hơn 17,5 triệu tấn CO2 ra môi trường mỗi năm. Vào tháng 9/2012, quy mô
thị trường CDM tại Việt Nam tương đương với giá trị hơn 3,1 tỷ USD. Trung bình mỗi
dự án tại Việt Nam vào khoảng 73.693 CER/năm, kéo dài trung bình 7 năm, nghĩa là
vào lúc cao điểm có giá trị khoảng 15,5 triệu USD, và hiện nay chỉ còn khoảng
400.000 USD, tương đương 8 tỷ VND/dự án. Dự án lớn nhất là Dự án thu hồi và sử
dụng khí đồng hành tại mỏ khí Rạng Đông, giá trị 677.000 CER/năm, tiếp đến là dự án
thủy điện Thượng Kontum và dự án thủy điện Đồng Nai 4. Dự án nhỏ nhất là dự án
Nhật Bản làm tại Cần Thơ về biogas chỉ tương đương 1.200 tấn CO2/năm.
Có 11 nước tham gia vào thị trường CDM tại Việt Nam với 244 lượt dự án. Trong
đó riêng Thụy sĩ tham gia vào 100 dự án với thị phần 44% giá trị thị trường. Vương
Quốc Anh chiếm vị trí thứ 2 với 45 dự án và 17,3% thị phần giá trị thị trường. Các dự
án trước năm 2012 đều có người mua là các nước Châu Âu và Nhật. Riêng năm 2012,
do thị trường khê đọng nên còn đến 29 dự án CDM chưa có đối tác nước ngoài với giá
trị vào khoảng 2,283 triệu tấn CO2/năm.
3. TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG CDM VIỆT NAM
3.1. Nguồn cung CDM
Bảng 7. Diễn biến tiêu thụ năng lượng cuối cùng tại Việt Nam

Than
Xăng, dầu
Khí
Điện
NL phi
thương mại
Tổng

1990
1324
2479
5
532

1995
2603
4247
21.2
963

2000 2005 2006 2007 2008
3223 5351 5562 6089 8271
6920 12122 12023 13713 13797
19.4
537
485
542
666
1927 4051 4630 5275 5834

ĐVT: ktoe
2009 2010
8966 9893
15851 17991
639
493
6615 7475

12421 12872 14191 14780 14748 14726 14710 14704 14695
16761 20706 26280 36841 37448 40345 43278 46775 50547


23.5% 26.9% 40.2%

1.6%

7.7%

7.3%

8.1%

8.1%
6.5%

Nguồn: Tuấn, N.A., Hà, N. K. D, Dũng, N.A. (2012) "Nghiên cứu đánh giá các mô hình mô
phỏng hệthống cung-cầu năng lượng và đềxuất xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện Việt
Nam"; Hà, N.K.D (2013), "Tổng quan năng lượng Việt Nam". Trích tại
http://www.ievn.com.vn/tin-tuc/Tong-quan-nang-luong-Viet-Nam-1-671.aspx, ngày truy cập
31/07/2013.

Căn cứ vào thị trường năng lượng Việt Nam chúng ta thấy: thứ nhất trong những
năm gần đây, mức tiêu thụ năng lượng tại Việt Nam tăng khoảng 6,5%/năm và đạt mức
trên 50 triệu tấn dầu quy đổi (toe - tons of oil equivalent) và phát thải khoảng 56,024
triệu tấn CO2 quy đổi năm 2010 (Hà N.K.D, 2013). Như vậy, mỗi năm sẽ phải có thêm
một nhà máy điện có công suất tương đương sử dụng 3,3 triệu tấn dầu quy đổi. Thứ
hai, có 2 nguồn chính tạo cung CDM: 1) xây dựng mới nguồn cung năng lượng sạch
như năng lượng gió, mặt trời, thủy điện, hạt nhân... cho nhu cầu tăng 6,5%/năm, sau đó
chuyển sang CDM tương đương; 2) chuyển đổi các nguồn năng lượng trong bảng trên
có nguồn gốc carbon như than, xăng, dầu sang các loại năng lượng sạch và tái tạo, quy
trình này tương đương với số CDM nhất định. Trong số 50 triệu tấn dầu quy đổi mới
có 1,7-1,8 triệu tấn được CDM hóa và bán trên thị trường quốc tế, do vậy tiềm năng
chuyển đổi phần cung ứng còn lại thành các dự án CDM là rất lớn.
3.2. Khủng hoảng cầu CDM tại các nước phát triển và xu hướng thị trường
carbon thay thế
Sau năm 2012, mức cầu thấp có thể trở thành một vấn đề đáng quan tâm. Các nguyên
nhân chính bao gồm: thứ nhất, vào thời điểm hiện nay, khi mà giai đoạn I của Nghị
định thư Kyoto đã hết hạn, bản tu chỉnh Doha chưa được các nước phê duyệt, áp lực
mua các chứng chỉ xả thải không còn nặng nề như những năm 2010-2012; thứ hai,
khủng hoảng tài chính, kinh tế thế giới, nhất là tại Châu Âu làm cho quy mô sản xuất
tại các nước phát triển giảm, tức giảm nhu cầu phát thải; thứ ba, EU tự nhận thấy đã
cấp phát quyền xả thải quá nhiều cho các thành viên; thứ tư, số chứng chỉ CER từ
CDM phát hành ra đã quá nhiều, nhất là từ Trung Quốc làm bão hòa nguồn cung
CDM. Trung Quốc chiếm hơn 62% thị phần CDM toàn thế giới; mặt khác, các CDM
được cho là có thời hạn hiệu lực quá dài, 7-10 năm, làm hạn chế tác dụng của CDM
mới.
Khi cầu giảm, nguồn cung bão hòa, giá giảm là hoàn toàn hợp lý. Các chính sách mà
Ngân hàng thế giới, UNFCCC và các tổ chức quốc tế khác dự kiến triển khai trong thời
gian tới nhằm củng cố thị trường carbon:
-

Các nước EU cắt giảm 20% quota xả thải cho các thành viên mỗi năm từ nay đến
năm 2020 để giảm cung CER trên thị trường.

-

Ngân hàng Thế giới đang tìm hướng đi mới cho thị trường CDM để giải quyết
những nghịch lý trên thị trường này: thứ nhất, cung CDM từ các nước đang phát
triển đã có dấu hiệu vượt cầu CDM tại các nước phát triển. Thứ hai, CDM không


giúp cho các nước đang phát triển sạch hơn, bằng chứng là Trung Quốc cung cấp
hơn 62% CDM nhưng nền kinh tế Trung Quốc vẫn đang là nền kinh tế có công
nghiệp ô nhiễm nhất, sử dụng năng lượng kém hiệu quả nhất. Do vậy cần có cơ chế
mới cho thị trường carbon. Báo cáo mới của Ngân hàng Thế giới 2013 cho thấy
một vài định hướng có triển vọng, đề xuất những cơ chế giao dịch carbon mới, tại
đó giá CO2 vẫn ở mức trên 10USD-50USD/tấn. Một trong những xu hướng đó là
quay về thuế phát thải CO2 tại các nước Bắc Âu.
3.3. Khuyến cáo chính sách cho thị trường carbon Việt Nam
-

Tăng cường thông tin về lợi ích, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các dự
án CDM trong giới truyền thông, giới làm dự án năng lượng và trong xã hội nói
chung.

-

Thay đổi bộ máy triển khai, tư vấn, phê duyệt CDM: làm gọn nhẹ bộ máy Ban chỉ
đạo, tăng cường thông tin tới Ban chỉ đạo; tăng cường tính chuyên nghiệp, hiệu quả
của DNA.

-

Vì hầu hết các dự án CDM tại Việt Nam và thế giới là dự án năng lượng nên việc
phối hợp giữa Điện lực Việt Nam (EVN) và DNA ngay từ khi bắt đầu thực hiện dự
án điện làm tăng hiệu quả triển khai CDM và giảm thời gian từ khi có ý tưởng
CDM đến khi có kết quả có thể thương mại hóa.

-

Chuẩn bị chuyển hướng thị trường carbon cho các bên, từ DNA đến các cơ quan
phát triển dự án và đối tác nước ngoài, khi CDM trở nên bão hòa nhưng nhu cầu
quyền giảm thải CO2 vẫn ngày càng gay gắt trên thế giới và tại Việt Nam, với kỳ
vọng Trái đất không nóng thêm 2oC. Đồng thời chuẩn bị hình thành thị trường
carbon cho nhu cầu trong nước khi Luật bảo vệ môi trường được siết chặt, phù hợp
với Công ước Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hà, N.K.D (2013), “Tổng quan năng lượng Việt Nam”,
Trích tại http://www.ievn.com.vn/tin-tuc/Tong-quan-nang-luong-Viet-Nam-1671.aspx, ngày truy cập 31/08/2013.
Nhan, T. N., Minh Ha-Duong, Sandra Greiner, Michael Mehling (2010), "The Clean
Development Mechanism in Vietnam: potential and limitations", Improving the
Clean Development Mechanism. Options and Challenges Post - 2012 (2011) 221246, truy cập tại trang http://halshs.archives-ouvertes.fr/halshs-00654294/ ngày
31/08/2013.
The City UK (2007), “Carbon Markets”, Financial Markets Series, tại
http:www.thecityuk.com
The City UK (2008), “Carbon Markets”, Financial Markets Series, tại
http:www.thecityuk.com


The City UK (2009), “Carbon Markets”, Financial Markets Series, tại
http:www.thecityuk.com
The City UK (2010), “Carbon Markets”, Financial Markets Series, tại
http:www.thecityuk.com
The City UK (2011), “Carbon Markets”, Financial Markets Series, tại
http:www.thecityuk.com
The City UK (2012), “Carbon Markets Briefing”, Financial Markets Series, tại
http:www.thecityuk.com.
Tuấn, N.A., Hà, N. K. D, Dũng, N.A. (2012), "Nghiên cứu đánh giá các mô hình mô
phỏng hệ thống cung-cầu năng lượng và đề xuất xây dựng mô hình phù hợp với
điều kiện Việt Nam” trích tại http://www.ievn.com.vn/, ngày truy cập 31/08/2013.
United Nations (1992), United Nations Framework Convention on Climate Change.
United Nations (1998), Kyoto Protocal to the United Nations Framework Convention
on Climate Change.
World Bank (2013), “Mapping Carbon Pricing Initiatives: Developments and
Prospectives”. Carbon Finance at the World Bank, May 2013. Tại http://wwwwds.worldbank.org/external/default/WDSContentServer/WDSP/IB/2013/05/23/000
350881_20130523172114/Rendered/PDF/779550WP0Mappi0til050290130mornin
g0.pdf ngày 31/08/2013.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×