Tải bản đầy đủ

Tài liệu thực hành Động vật có xương sống

Bài 4
NGHIÊN CỨU ĐẠI DIỆN CỦA LỚP CÁ XƯƠNG VÀ LỚP LƯỠNG CƯ
I. Lớp cá xương
Đại diện: Cá chép (Cyprinus carpio), thuộc họ Cá chép (Cyprinidae), bộ Cá chép
(Cypriniformes)
Thiết bị, mẫu vật cần thiết:
- Cá chép sống có cỡ khoảng 0,5kg/con
- Bộ đồ tiểu phẫu: dao, kéo, kẹp, kim mũi mác, kim nhọn, đinh ghim
- Khay mổ, ván mổ
- Khăn lau, bông thấm nước
1. Quan sát cấu tạo ngoài:
Cá chép có dạng hình thoi, hơi dẹp bên; cơ thể chia làm 3 phần: đầu, thân, đuôi. Cơ thể
được bao phủ bởi lớp vẩy xương (trừ phần đầu), dưới lớp biểu bì có tuyến đơn bào tiết niêm
dịch, giữ cho da cá luôn nhờn, ẩm ướt làm giảm ma sát.
Đầu: Được giới hạn từ khe sau buồng mang trở về trước. Ở mút trước của đầu là miệng,
có hình bán nguyệt. Quanh miệng có nếp môi trên và nếp môi dưới. Bên miệng có hai đôi râu, là
cơ quan xúc giác của cá. Mắt tròn, không có mí nằm hai bên đầu, không có tuyến lệ. Trước mắt,
phía trên miệng là đôi lỗ mũi thông với xoang khứu giác. Trong lỗ mũi có van mũi ngăn đôi. Sau
mắt, ở hai bên đầu là nắp mang che các cung mang và lá mang nằm ở bên trong. Viền quanh bờ
nắp mang là nếp da mỏng. Nếp da này đóng vai trò khá quan trọng trong động tác hô hấp.
Thân: từ sau khe mang đến trước lỗ huyệt. Trên thân phủ lớp vẩy xương tròn. Dọc hai

bên thân có cơ quan đường bên, là hai hàng chấm chạy từ sau khe mang đến tận đuôi. Đây là cơ
quan cảm giác của cá, giúp cá cảm nhận được nhiệt độ của nước, vận tốc dòng chảy, nồng độ
muối, các chướng ngại vật khi bơi…
Đuôi: được tính từ sau lỗ huyệt. Ở tận cùng của đuôi là vây đuôi, có hai thùy đều nhau
(kiểu đồng vĩ).

Hình 1: Cấu tạo ngoài của cá chép
Hệ thống vây: gồm vây chẵn và vây lẻ


Vây chẵn: Đôi vây ngực (nằm ở mặt bụng, sau nắp mang) và đôi vây bụng (ở mặt bụng
của thân, sau vây ngực): giữ chức năng thăng bằng và chuyển hướng khi bơi.
Vây lẻ: Vây lưng (phía lưng thân cá), vây hậu môn (ở mặt bụng của đuôi, sau lỗ huyệt),
vây đuôi (tận cùng đuôi): giữ chức năng thăng bằng. Ngoài ra vây đuôi cùng với toàn bộ phần
đuôi còn giữ chức năng làm bánh lái
2. Cấu tạo trong
a. Giải phẫu:
Cầm ngửa cá lên tay trái. Dùng kéo cắt một đường từ lỗ huyệt lên đến góc mang. Sau đó
cắt vòng bên thân từ lỗ huyệt qua cơ quan đường bên lên phía trên buồng mang. Dùng dao lược
bỏ phần cơ lưng cho đến sát tận gai thần kinh. Cắt bỏ xương nắp mang. Bỏ toàn bộ khối cơ
xương đã cắt, nội quan sẽ lộ ra
b. Quan sát nội quan:
Quan sát sơ bộ vị trí tự nhiên của các nội quan. Toàn bộ nội quan cá được phủ bởi một
lớp màng rất mỏng có ánh bạc - mạc bụng. Bóc bỏ mạc bụng sẽ thấy rõ sự sắp xếp các nội quan
ở vị trí tự nhiên. Lần lượt quan sát nội quan ở trạng thái này.
Bóng hơi lớn, nằm sát thành lưng, chia thành hai khoang, thắt eo ở giữa, khoang trước
tròn và lớn hơn, khoang sau mút hơi kéo dài. Chỗ thắt giữa bóng hơi là phần giữa thận. Thận có
màu đỏ sẫm. Tuyến sinh dục là hai khối lớn nằm dọc, song song với bóng hơi ở phía trong. Ở
con đực là tinh hoàn, màu trắng sữa ; ở con cái là buồng trứng có màu hồng nhạt ở cá non và
màu vàng dạng hạt ở cá trưởng thành. Dưới tuyến sinh dục là ruột uốn khúc, gan hình dải phân
tán, nằm dọc theo ruột. Ở huyệt có lỗ hậu môn ở phía trước và lỗ niệu sinh dục ở phía sau. Dưới
nắp mang ở mặt bụng có thể thấy tim nằm trong xoang bao tim; sau tim là màng ngăn tim bụng.
Sau khi xác định vị trí tự nhiên của các cơ quan sẽ quan sát kỹ từng hệ cơ quan.
Hệ tiêu hóa:
Dùng kẹp và kim mũi mác gỡ ruột thẳng ra. Chú ý làm từ từ và nhẹ nhàng để gan khỏi bị
nát.
Ống tiêu hóa: Đầu ống tiêu hóa là miệng. Quanh miệng có nếp môi trên và nếp môi dưới.
Sau miệng là xoang miệng, tiếp đó là hầu-hai bên hầu là mang, tiếp đó là thực quản ngắn. Tiếp
đến là dạ dày-ở cá chép chưa phân biệt rõ dạ dày với ruột. Sau dạ dày là ruột, phần trước ruột
uốn khúc có thể coi là ruột tá, phần sau ruột nhỏ hơn, đoạn cuối là ruột thẳng và đổ ra hậu môn.

Tuyến tiêu hóa: Gan màu vàng nâu chạy dọc theo ruột; ở phần đầu của gan có túi mật.
Tuyến tụy phân tán dọc theo ruột như gan, màu nâu nhạt.
Hệ sinh dục:
Ở cá chép chỉ phân biệt đực và cái qua cơ quan sinh dục. Về mùa sinh sản, ở bên ngoài
có thể thấy bụng cá cái to hơn do chứa đầy trứng.
Con đực: có đôi dịch hoàn là hai khối màu trắng nằm hai bên lườn cá, ngay dưới bóng
hơi. Dịch hoàn được bao bởi màng mỏng. màng này kéo dài thành hai ống dẫn sản phẩm sinh
dục. Ở phần cuối hợp lại đổ vào xoang niệu sinh dục.
Con cái: có đôi buồng trứng, hai ống dẫn trứng được tạo nên bởi hai màng bao buồng
trứng. Phần cuối hợp lại đổ vào xoang niệu sinh dục.
Hệ bài tiết:
Là trung thận, màu đỏ thẫm, nằm sát thành lưng kéo dài dọc theo bóng hơi. Bờ sau thận
có đôi ống niệu là ống Vonphơ dẫn sản phẩm bài tiết tới túi niệu nhỏ, cuối cùng đổ vào xoang
niệu sinh dục.


Hình 2: Cấu tạo nội quan cá chép
1. Tim
4. Dạ dầy
7. Bóng hơi
2. Gan
5. Ruột
8. Bóng hơi
3. Mật
6. Tuyến sinh dục 9. Thận
Hệ tuần hoàn:
Sau khi đã quan sát các hệ cơ quan trên tiếp tục mổ ở mặt bụng vùng đầu cá, phía dưới
buồng mang để quan sát hệ tuần hoàn. Khi mổ cần thận trọng tránh chọc mũi kéo quá sâu làm
thủng tim và đứt các mạch máu. Cắt bỏ một phần của buồng mang để dễ quan sát.
Tim nằm trong xoang bao tim; để quan sát cần cắt bỏ xoang bao tim. Từ tim phát ra bầu
động mạch, tiếp về phía trước là động mạch chủ bụng. Dùng kẹp nâng nhẹ động mạch này lên ta
sẽ thấy gốc các động mạch tới mang. Lần lượt gỡ theo các gốc đó sẽ thấy rõ các động mạch tới
mang. Tim cá chép có một tâm nhĩ màu sẫm, thành mỏng, một tâm thất nằm ở phía trên, có
thành dày hơn và màu hồng. Sau tâm nhĩ là xoang tĩnh mạch. Bầu động mạch ở cá chép là phần
phình của gốc động mạch chủ bụng.
Tỳ: là khối hình lá, màu đỏ đậm nằm cạnh túi mật và kéo dài về sau.
Hệ hô hấp:
Mang là cơ quan hô hấp của cá. Cá chép có bốn đôi cung mang. Trên mỗi cung mang có
hai hàng lá mang xếp song song dọc cung mang. Ở cá chép vách mang tiêu giảm nên lá mang chỉ
đính gốc vào cung mang, còn ngọn lá mang tự do.
Hệ thần kinh :
Để quan sát não bộ cá chép: Cắt rời đầu cá, cạo sạch da đầu, dùng mũi dao nạy xương
vùng nóc sọ và một phần vùng bên. Não bộ cá chép nằm trong đệm mỡ dày, lấy mũi mác gạt nhẹ
phần mỡ đó, nhỏ vài giọt cồn vào não để dễ quan sát
Hai bán cầu não nhỏ, phía trước là 2 thùy khứu giác, sau là mấu não trên, hai thùy thị
giác, tiểu não nằm giữa 2 thùy thị giác, sau cùng là hành tủy.
3. Yêu cầu
- Quan sát và nhận biết được các đặc điểm cấu tạo ngoài
- Giải phẫu và quan sát đặc điểm cấu tạo trong
- Vẽ và chú thích cấu tạo trong của cá chép
- Nhận xét những đặc điểm thể hiện sự thích nghi với đời sống ở nước của cá


II.

Lớp lưỡng cư

Đại diện: Ếch đồng (Rana tigrina), họ ếch (Ranidae), bộ không đuôi (Anura), lớp lưỡng
cư (Amphibia)
Thiết bị, mẫu vật cần thiết:
- Ếch đồng
- Bộ đồ tiểu phẫu: dao, kéo, kẹp, kim mũi mác, kim nhọn, đinh ghim
- Khay mổ, ván mổ
- Khăn lau, bông thấm nước
1. Cấu tạo ngoài:
Cơ thể ếch chia thành: đầu, thân và chi. Đầu và thân không có ranh giới rõ rệt vì ếch
không có cổ.
Toàn bộ cơ thể ếch được phủ bởi lớp da trần ẩm ướt, mang nhiều tuyến da hình túi. Dưới
da có nhiều xoang bạch huyết. Da và cơ chỉ dính với nhau bởi đường giới hạn của các xoang
bạch huyết.

Hình 3: Cấu tạo ngoài của ếch
Đầu: Có dạng hình tam giác, đỉnh hơi tròn và hơi cúi xuống phía trước. Mặt trên và hai
bên của đầu có hai mắt lồi. Mí mắt ếch khá phát triển, mí trên trùm lên một phần nhãn cầu; mí
dưới không cử động. Ngoài ra ở ếch còn có màng nháy (được coi là mí thứ ba) trong suốt có thể
phủ kín nhãn cầu. Sau mắt là màng nhĩ, là vòng da mỏng. Gần mõm có đôi lỗ mũi ngoài, bên
trong lỗ mũi có van mũi. Van mũi thấy rõ ở ếch sống, nó đóng mở theo nhịp nâng hạ thềm miệng
khi ếch hô hấp.
Miệng: Rộng, nằm phía trước đầu. Hai bên góc miệng hàm dưới ếch đực có màng kêu, là
màng mỏng có mầu đen có tác dụng như túi cộng hưởng âm thanh. Trong miệng ếch có nhiều
răng nhỏ ở hàm trên, có tác dụng giữ mồi. Phía trước thềm miệng là lưỡi-là khối cơ dẻo; đầu lưỡi
tự do xẻ rãnh sâu và hướng vào phía trong. Phía trước vòm miệng có có đôi lỗ mũi trong. Cạnh
lỗ mũi trong có hàng răng lá mía. Phía trong góc vòm miệng có đôi ống Eustachi thông xoang
miệng với tai giữa. Ở phía trong của thềm miệng, ngay đầu lưỡi là khe thanh quản. Phía sau khe
thanh quản là thực quản.
Thân: có da xù xì, lưng hơi gù do sự khớp động giữa đốt sống chậu và xương trâm đuôi.


Chi: Chi trước của ếch ngắn, phân ra cánh tay, ống tay, bàn tay và ngón tay. Chi trước có
bốn ngón, một ngón tiêu giảm. Ở gốc ngón I ếch đực có u lồi bầu dục gọi là “chai tay cưới” để
bám vào ếch cái khi giao hợp. Chai này chỉ phát triển vào mùa sinh sản.
Chi sau dài hơn chi trước thường xếp hình chữ Z để tạo đà bật khi nhảy hoặc bơi. Chi sau
phân ra: Đùi, ống chân, cổ chân, bàn chân, ngón chân. Chi sau có 5 ngón, giữa các ngón có màng
da mỏng gọi là màng bơi. Ở giữa gốc hai chi sau có khe huyệt.
Hiện tượng sai khác đực cái của ếch về hình thái chỉ thể hiện ở ếch đực có màng kêu ở
góc hàm dưới và “chai tay cưới”.
2. Cấu tạo trong:
a. Giải phẫu:
Trước khi mổ dùng kim nhọn chọc tủy ếch
Xác định điểm chọc tủy: Lấy hai điểm mép sau của hai mí mắt trên hai bên nối lại làm
đáy của tam giác đều, đỉnh thứ ba hướng ra sau, đây là điểm chọc tủy. Đó chính là khớp giữa sọ
và cột sống. Dùng khăn lau tay cầm ếch để lộ phần đầu. Bẻ gập đầu ếch xuống một chút, dùng
kim nhọn chọc vào điểm chọc tủy đã xác định, sau đó xuyên chéo xuôi về phía sau để phá tủy
ếch. Nếu chọc đúng tủy thì chân ếch sẽ duỗi mạnh xuôi xuống.
Sau đó, đặt ngửa ếch trên ván mổ, dùng ghim giữ chặt 4 chi. Lấy kẹp nâng da bụng lên,
dùng kéo cắt một mũi ngang độ nửa cm ở cuối bụng. Dùng kẹp nâng da bụng lên cắt một đường
dọc lên phía trước đến tận xương hàm dưới (chú ý cắt da, không cắt vào cơ để quan sát giới hạn
các túi bạch huyết dưới da). Khoảng trống giữa cơ và da là vị trí các túi bạch huyết, ranh giới các
túi được xác định bởi các đường da nối trực tiếp với cơ.
Lật mặt trong da ếch sẽ thấy có rất nhiều mạch máu nhỏ màu đỏ vì da thực hiện chức
năng hô hấp
Tiếp tục mổ cơ bụng ếch. Dùng kẹp và kéo, mổ tương tự như đường mổ da nhưng lệch
sang bên khoảng 1-2 mm. Tránh mổ đúng đường giữa để khỏi đứt tĩnh mạch bụng. Khi mổ để
mũi kéo ngang, không chọc sâu mũi kéo sẽ hỏng nội quan. Khi mổ đến vùng ngực thì dùng kẹp
nâng đai vai lên và luồn kéo cắt đôi đai này. Sau đó nhổ ghim hai chân trước và đóng lui ra hai
bên để mở rộng vùng ngực cho dễ quan sát. Chú ý không cắt những dây chằng ngang ở vùng này
vì dễ cắt vào động mạch và tĩnh mạch dưới đòn. Không cắt vùng cơ dưới hàm vì sẽ cắt vào động
mạch cảnh và rách thềm miệng.
b. Quan sát nội quan:
Hệ tiêu hóa:
Ống tiêu hóa: Ống tiêu hóa bắt đầu từ miệng và kết thúc bởi khe huyệt. Phía trong miệng
ếch rộng gọi là xoang miệng. Xoang này thông với thực quản ngắn. Thực quản dẫn vào dạ dày,
nằm bên trái xoang cơ thể và gần như song song với trục của thân. Dạ dày hơi uốn cong tạo nên
đường cong lớn ở bên ngoài và đường cong bé ở bên trong. Sau dạ dày là tá tràng. Tiếp theo tá
tràng là ruột non, được treo bởi mạc treo ruột. Ruột non uốn khúc nhiều lần chuyển sang trực
tràng đổ vào huyệt.
Tuyến tiêu hóa:
Gan: Nằm bên phải dạ dày, lớn, chia làm 3 thùy: thùy trái, thùy phải và thùy giữa. Thùy
giữa nhỏ chứa túi mật.
Tụy: Nằm dưới dạ dày, cạnh tá tràng, màu vàng đỏ.
Hệ hô hấp:


Đường hô hấp bắt đầu từ đôi lỗ mũi ngoài dẫn vào đôi lỗ mũi trong mở ra ở phía trước
vòm miệng. Phía sau đáy thềm miệng là khe thanh quản. Phổi ếch có màu hồng, thành mỏng, cấu
tạo bởi những phế nang là những túi xốp.

Hình 4. Cấu tạo trong của ếch

Hình 5. Cấu tạo hệ tiêu hóa ếch

Cơ quan niệu sinh dục:
Thận: có hình lá cây đầu tù kéo dài, màu đỏ đậm nằm dọc hai bên cột sống ở phần sau
xoang cơ thể về phía lưng. Ống dẫn niệu là ống Vônphơ đi ra từ 1/3/ sau bờ ngoài mỗi thận. Các
ống Vônphơ của mỗi bên đổ vào huyệt theo lỗ riêng. Ở bờ sau của thận có thể mỡ hình dải màu
vàng da cam; đây là mô dự trữ của tuyến sinh dục. Kích thước thể mỡ thay đổi theo mùa trong
năm; thể mỡ lớn nhất vào cuối mùa thu và nhỏ nhất sau mùa hè. Dọc theo mặt bụng giữa mỗi
thận có dải nhỏ màu vàng là tuyến trên thận.
Bóng đái: có lỗ đổ vào huyệt riêng không nằm ở gốc ống Vônphơ. Vì vậy nước tiểu từ
thận theo ống Vônphơ vào huyệt rồi vào bóng đái. Khi bóng đái căng nước tiểu lại từ bóng đái
qua huyệt ra ngoài.
Cơ quan sinh dục đực: gồm một đôi dịch hoàn hình bầu dục màu trắng đục nằm trước
thận. Đôi khi dịch hoàn bị sắc tố hóa trở nên màu sẫm nhiều hay ít. Kéo dịch hoàn ra khỏi thận,
căng mạc treo ruột ra có thể thấy những ống dẫn tinh nhỏ đi vào phần đầu ống Vônphơ. Như vậy
ống Vônphơ ở đây giữ chức phận kép – vừa dẫn tinh, vừa dẫn niệu.
Cơ quan sinh dục cái: gồm một đôi noãn sào hay buồng trứng chia làm nhiều túi. Tùy
theo mùa sinh dục mà kích thước noãn sào thay đổi. Ếch cái trưởng thành đến mùa sinh sản chứa
đầy trứng dạng hạt, màu nâu sẫm và màu đen. Ở giai đoạn này, trứng chiếm hầu hết xoang cơ
thể. Đường dẫn sản phẩm sinh dục là ống Mule hay noãn quản. Đầu noãn quản có phễu nhỏ mở
vào xoang bụng ở đỉnh phổi. Noãn quản uốn khúc nhiều lần dẫn đến tử cung là phần phình rộng
của gốc noãn quản; tử cung mở ra huyệt.


Hình 6. Cấu tạo hệ sinh dục của ếch
Hệ tuần hoàn:
Tim nằm trong xoang bao tim giữa hai lá phổi, dưới vùng đai ngực. Dùng kẹp nhỏ nâng
xoang bao bao tim lên, lấy kéo con cắt bỏ, tim sẽ lộ ra ngoài. Tim ếch gồm một tâm thất hình
nón màu hồng và hai tâm nhĩ. Thành cơ tâm thất dày hơn nhiều so với tâm nhĩ. Ranh giới bên
ngoài giữa hai tâm nhĩ cũng như giữa tâm thất và tâm nhĩ không thể hiện rõ. Từ tâm thất bên
phải đi ra côn chủ động mạch, từ côn chủ động mạch phát ra ba đôi cung động mạch. Xoang tĩnh
mạch lớn, màu sẫm có thành mỏng nằm ngay phía dưới tim, nhận máu từ tĩnh mạch chủ trước và
tĩnh mạch chủ sau trước khi đổ vào tâm nhĩ phải.
Tỳ: Tròn, nhỏ, màu đỏ thẫm nằm ở đầu trực tràng, sau ruột non. Là cơ quan tạo máu.
Hệ thần kinh.
Trong nội dung bài thực tập chỉ quan sát não bộ của ếch. Để thực hiện trước hết ta lột da
đầu, chọc mũi dao vào giữa hai xương trán đỉnh và nạy bỏ xương này. Cho vài giọt cồn 90 0 để cố
định não trong 10 phút để dễ quan sát.
Não ếch gồm 5 phần điển hình:
- Não trước gồm 2 bán cầu não hình bầu dục, trước là 2 thùy khứu giác
- Não trung gian hình quả trám, nằm xen giữa 2 bán cầu và 2 thùy thị giác, ở nóc có mấu
não trên
- Não giữa là 2 thùy thị giác hình khối bầu dục chụm lại ở phía sau
- Tiểu não nằm sau thùy thị giác, kém phát triển
- Sau cùng là hành tủy
3. Yêu cầu
- Quan sát và nhận biết được các đặc điểm cấu tạo ngoài của ếch.
- Giải phẫu và quan sát đặc điểm cấu tạo trong.
- Vẽ và chú thích cấu tạo trong của Ếch đồng
- Nhận xét những đặc điểm thể hiện sự thích nghi với đời sống ở nước và ở cạn của
Lưỡng cư


Bài 5.
NGHIÊN CỨU ĐẠI DIỆN CỦA LỚP CHIM
Đại diện : Gà nhà (Gallus gallus domesticus), họ Trĩ (Phasianidae), bộ Gà (Galliformes),
lớp Chim (Aves)
Thiết bị, mẫu vật cần thiết:
- Gà nhà
- Bộ đồ tiểu phẫu: dao, kéo, kẹp, kim mũi mác, kim nhọn, đinh ghim
- Khay mổ, ván mổ
- Khăn lau, bông thấm nước
1. Hình dạng ngoài:
Cơ thể dạng hình trứng, chia làm 5 phần: Đầu, cổ, thân, đuôi và chi. Toàn bộ cơ thể được
bao phủ bởi lớp lông vũ (trừ mỏ và phần dưới của chân). (Nhổ 1 lông cánh, lông đuôi quan sát
cấu tạo của lông)
Đầu: Mỏ hình thành do sự kéo dài của xương gian hàm, ngoài ra còn có sự tham gia của
xương hàm trên và xương mũi. Mỏ có cấu tạo sừng bao bọc lấy phần trước của hàm. Phần dưới
của mỏ là do xương răng kéo dài.
Mũi: hình khe, mở ra ở gốc của da gốc mỏ. Trong lỗ mũi là xoang mũi thông với xoang
miệng nhờ lỗ mũi trong hình khe hẹp.
Hai bên đầu có hai mắt lớn, có 3 mí: mí trên, mí dưới và màng nháy ở hốc trước mắt.
Phía dưới và sau mắt là lỗ tai tròn và ống tai ngoài. Phía ngoài lỗ tai có phủ lông thưa. Đáy ống
tai ngoài là màng nhĩ. Bên trong màng nhĩ là tai giữa. Hàm chim không có răng, trong đáy xoang
miệng có lưỡi dài và nhọn, ở gốc lưỡi có khe thanh quản.
Phần thân: Là phần phình lớn nhất giữa khối hình thoi, bên ngoài mang cơ quan vận
chuyển là cánh và chân. Cánh chim dài, dẹp mỏng, xếp gấp theo hình chữ Z ngược, chỉ dương,
cụp theo một mặt phẳng nên các khớp cánh là khớp bán động. Trên cánh có mang lông ống cánh
rất lớn. Phần sau cơ thể là phao câu, trên có đôi tuyến phao câu.
Chi sau: Đùi và ống chân phủ lông, phần cổ bàn phức tạp (giò) và các ngón chân không
phủ lông mà phủ vẩy sừng. Đầu mút mỗi ngón chân đều có móng sừng. Chân có 4 ngón. Ngón I
hướng về phía sau, các ngón còn lại hướng về phía trước.
2. Cấu tạo trong
a. Giải phẫu:
Nhổ hết lông gà, đặt ngửa gà lên ván mổ. Dùng kéo mổ một đường dọc giữa bụng từ
huyệt lên đến xương ức. Chú ý, da ở thành bụng rất mỏng nên phải rất nhẹ nhàng.
Dùng kéo cắt mép xương ức giáp xương sườn lên phía trước. Không nên chọc sâu mũi
kéo sẽ chạm và tim ở vùng ngực. Cắt xương quạ để mở vùng xoang ngực. Tiến hành quan sát nội
quan
b. Quan sát nội quan
Hệ tiêu hóa:
Ống tiêu hóa: bắt đầu là xoang miệng. Trong xoang miệng có lưỡi. Sau gốc lưỡi là khe
thanh quản (thuộc cơ quan hô hấp). Sau khe thanh quản là thực quản. Thực quản có ống dài, có
thành mỏng có khả năng co giãn nằm dưới da dọc theo cổ. Phần cuối thực quản phình rộng thành
túi gọi là diều – là nơi tích trữ thức ăn tạm thời và làm mềm thức ăn nhờ có nước bọt và chất


nhầy do các tuyến diều tiết ra. Sau diều còn một đoạn ngắn nữa rồi chuyển xuống dạ dày. Dạ dày
gồm hai phần: dạ dày tuyến và dạ dày cơ. Dạ dày tuyến thành mềm có nhiều tuyến tiêu hóa. Dạ
dày cơ có thành cơ khỏe và chắc, tham gia nghiền thức ăn. Tiếp theo dạ dày là ruột. Phần đầu
của ruột là tá tràng. Sau ruột tá là ruột non uốn khúc và được treo vào thành lưng của xoang cơ
thể nhờ màng treo ruột. Ruột non chuyển sang ruột già. Cuối cùng đổ ra huyệt ở tận cùng. Ranh
giới giữa ruột non và ruột già là đôi ruột tịt.
Tuyến tiêu hóa:
Gan: phủ dần kín dạ dày, có túi mật. Mật từ gan theo ống dẫn mật đổ vào đầu ruột tá.
Tụy: nằm ở chỗ uốn khúc của tá tràng, màu vàng nâu nhạt
Hệ hô hấp:
Lỗ mũi ngoài nằm ở gốc mỏ dẫn vào lỗ mũi trong mở ra ở vòm miệng. Tiếp đến là khe
thanh quản. Sau thanh quản là khí quản, một ống dài nằm dọc suốt chiều dài cổ. Khí quản gồm
một số vòng sụn nâng đỡ. Ở cuối khí quản chia đôi thành hai phế quản dẫn đến hai phổi. Ngã ba
giữa khí quản và hai phế quản là minh quản là cơ quan phát thanh. Minh quản có màng âm
thanh, vòng sụn cuối, cơ thanh quản.
Phổi không lớn, nằm dính sát vào thành lưng, phổi xốp.
Túi khí là những màng mỏng len lỏi giữa các nội quan, cơ dưới da và khe hổng trong
xương. Túi khí có tác dụng làm giảm tỷ trọng cơ thể, hô hấp kép và giữ nhiệt.
Hệ tuần hoàn:
Tim rất lớn nằm giữa xoang ngực, bên ngoài tim có màng mỏng bao bọc gọi là xoang bao
tim. Dùng kéo cắt bỏ xoang này để quan sát tim.
Tim hình chóp, đỉnh hướng về phía sau. Ngang tim có giải mỡ ở bên ngoài, chia tim ra
hai phần: phần trên là hai tâm nhĩ, phần dưới là hai tâm thất. Tâm nhĩ có thành mỏng và màu
thẫm. Tâm thất màu sáng hơn và thành dày hơn tâm nhĩ, nằm xen giữa các thùy gan. Ranh giới
giữa hai tâm thất bên ngoài nhìn không rõ. Sau khi quan sát bên ngoài, mổ dọc tim sẽ thấy tâm
thất trái có thành dày và kích thước lớn hơn tâm thất phải. Tim 4 ngăn (hai tâm nhĩ và hai tâm
thất), chia thành hai nửa rõ rệt, nửa trái chứa máu đỏ tươi, nửa phải chứa máu đỏ thẫm.
Hệ mạch: Từ tâm thất phải phát ra động mạch phổi chia hai nhánh đưa máu đỏ thẫm vào
phổi. Động mạch này nằm dưới cung chủ động mạch, nên cũng có thể xác định ngược lại từ
phổi. Thành động mạch dày và có màu trắng, thành tĩnh mạch mỏng và có màu thẫm. Máu đỏ
thẫm đã được oxy hóa ở phổi trở về tim nhờ các tĩnh mạch phổi đổ vào tâm nhĩ trái. Đó là vòng
tuần hoàn nhỏ.
Từ tâm thất trái phát ra cung chủ động mạch đi ra khỏi tim, cung chủ động mạch ngoặt về
bên phải, sau đó chạy dọc cột sống. Từ cung chủ động mạch phát ra nhiều nhánh động mạch đi
nuôi cơ thể. Sau khi đi nuôi cơ thể máu đỏ thẫm theo tĩnh mạch đổ vào tâm nhĩ phải. Đó là vòng
tuần hoàn lớn.
Tỳ: nằm gần dạ dày tuyến, là khối tròn nhỏ màu đỏ thẫm.
Hệ bài tiết:
Thận: là hậu thận, khá lớn, chia làm ba thùy nằm trong hốc xương chậu, sát thành lưng
con vật.
Ống dẫn niệu rất nhỏ xuất phát từ thận ở ranh giới thùy trước và thùy giữa. Hai ống niệu
chạy song song hai bên cột sống rồi đổ ra huyệt. Tuyến trên thận có màu vàng nằm ở bờ trong
đầu thận. Không có bóng đái để giảm nhẹ trọng lượng cơ thể, thích nghi với đời sống bay.
Hệ sinh dục:


Con đực: hệ sinh dục gồm đôi dịch hoàn, là hai khối bầu dục màu trắng đục nằm ở mặt
bụng phần trước của thận. Từ mỗi dịch hoàn phát ra một ống dẫn tinh tương ứng với ống
Vônphơ. Ống này chạy song song với ống dẫn niệu. Ở gốc ống dẫn tinh phình rộng thành túi
tinh, là chỗ tích trữ tinh trùng. Túi tinh thông ra huyệt.
Con cái: chỉ có một buồng trứng bên trái, buồng trứng bên phải tiêu giảm. Vào thời kỳ
sinh sản, buồng trứng rất phát triển và có thể dễ dàng nhận thấy các trứng non chứa nhiều noãn
hoàng. Ống dẫn trứng tương ứng với ống Mule, đầu mở rộng thành phễu ở gần mép buồng trứng.
Cuối ống dẫn trứng phình thành tử cung rồi đổ vào huyệt.
Vào thời kỳ đẻ trứng ống dẫn trứng rất phát triển và dài ra, phễu mở rộng để đón trứng.
Ngoài mùa sinh sản ống dẫn trứng bé nằm sát thành lưng xoang bụng.

Hình 7: Cấu tạo trong của gà
Hệ thần kinh: Trong nội dung bài thực tập chỉ quan sát não bộ của gà.
Dùng dao lột da đầu, nạy xương nóc hộp sọ để quan sát não bộ (chú ý không chọc mũi
dao quá sâu), nhỏ vài giọt cồn vào để cố định não.
Não trước gồm hai bán cầu não lớn, mặt ngoài nhẵn; phía trước là đôi thùy khứu giác.
Não trung gian nhìn trên xuống chỉ thấy mấu não trên do bị che khuất bởi các bán cầu
não.
Não giữa là hai thùy thị giác lớn nằm hai bên tiểu não, nằm tiếp bờ sau hai bán cầu não.
Tiểu não khá lớn, chia ba thùy. Thùy giữa rất lớn, mặt trên có nhiều vân ngang.
Hành tủy nằm tiếp sau tiểu nào; phần đầu hành tủy bị tiểu não che khuất.
3. Yêu cầu
- Quan sát và nhận biết được các đặc điểm cấu tạo ngoài
- Giải phẫu và quan sát đặc điểm cấu tạo trong
- Vẽ và chú thích cấu tạo trong của Gà nhà
- Nhận xét những đặc điểm thể hiện sự thích nghi với đời sống bay của Chim


Hình 8. Cấu tạo nội quan chim bồ câu
BÀI 6.
NGHIÊN CỨU ĐẠI DIỆN CỦA LỚP THÚ
Đại diện: Thỏ nhà
(Oryctolagus cuniculus), họ Thỏ (Leporidae), bộ Thỏ
(Lagomorpha), lớp Thú (Mammalia)
Thiết bị, mẫu vật cần thiết:
- Thỏ nhà
- Bộ đồ tiểu phẫu: dao, kéo, kẹp, kim mũi mác, kim nhọn, đinh ghim
- Khay mổ, ván mổ
- Khăn lau, bông thấm nước
1. Quan sát hình thái ngoài:
Cơ thể được bao phủ bởi lớp lông mao, chia thành các phần: đầu, cổ, thân, đuôi và chi.
Đầu: Đầu thỏ chia làm hai phần. Phần trước là sọ mặt, phần sau là sọ não. Có thể lấy mắt
làm ranh giới giữa 2 phần đó.
Miệng nằm ở bờ trước và hai bên phần mặt. Quanh miệng là môi, môi trên xẻ rãnh đến
tận mũi. Bên trong miệng, phía trước có đôi răng cửa trên và đôi răng cửa dưới. Đầu ngoài răng
cửa vát nhọn và nhô ra trước. Ở gốc trong của đôi răng cửa trên có một đôi răng nhỏ là răng cửa


phụ. Vì vậy nên thỏ là bọn răng cửa kép. Thỏ không có răng nanh nên trên hàm thỏ có một
khoảng trống giữa răng cửa và răng hàm.
Hai bên mõm có nhiều lông xúc giác. Trước mõm có đôi lỗ mũi ngoài. Mắt nằm ở hai
bên đầu, có ba mí: mí trên, mí dưới và màng nháy. Ở sau mắt là tai. Vành tai rất phát triển.
Cổ ngắn khá linh hoạt.
Thân : hình trụ, có hai đôi chi và đuôi. Dọc hai bên bụng từ bẹn đến nách thường có 4 đôi
vú. Chi sau phát triển mạnh hơn hẳn đôi chi trước, do các vận chuyển chủ yếu là nhảy. Chi 5
ngón điển hình, nhưng chi sau ngón I tiêu giảm. Đầu ngón chân có móng sừng nhưng cùn. Thỏ
đi kiểu nửa bàn, khi đi toàn bộ ngón và một phần bàn chân chạm đất. Đuôi nằm phía sau thân,
lông đuôi xù.

Hình 8. Cấu tạo ngoài của thỏ
2. Quan sát cấu tạo trong
a. Giải phẫu:
Trước khi giải phẫu phải giết thỏ bằng cách tiêm khí vào tĩnh mạch tai của thỏ.
Đặt ngửa thỏ trên ván mổ. Lấy ít bông thấm nước vừa đủ, vuốt theo đường dọc giữa bụng
cho ướt lông. Lấy tay rẽ lông ướt sang hai bên thành một đường thẳng. Dùng kẹp nâng da trước
lỗ niệu sinh dục lên, lấy kéo cắt một đường thẳng dọc đường lông ướt đã vạch lên đến tận hàm
dưới. Bóc da sang hai bên. Chú ý tránh chọc vào hai tĩnh mạch cảnh nằm ngay ở dưới da hai bên
cổ.
Giữa bụng là hai cơ thẳng bụng nằm dọc hai bên đường trắng – đường nằm chính giữa
bụng thỏ. Trên cơ thẳng có nhiều đường ngang chia cơ này thành nhiều đoạn. Dùng kẹp nâng cơ
và kéo cắt dọc theo đường trắng từ trước lỗ niệu sinh dục đến mấu hình kiếm của xương ức. Chú
ý không chọc sâu mũi kéo sẽ chạm vào nội quan. Không cắt vào xương ức để quan sát cơ hoành.
Tiếp tục cắt cơ sang hai bên dọc sườn cuối. Sau đó có thể ghim cơ này sang hai bên ván mổ.
Quan sát vị trí tự nhiên trong xoang bụng. Kéo lui dạ dày và gan xuống phía dưới để quan
sát cơ hoành. Cơ hoành là tấm mỏng, là ranh giới giữa xoang ngực và xoang bụng, là cơ hô hấp
ở thú, khi cơ này hoạt động sẽ làm thay đổi thể tích xoang ngực làm cho không khí đi vào hoặc
đi ra khỏi phổi.
Tiếp tục dùng kéo mổ xoang ngực theo hai đường dọc ranh giới giữa xương và sụn của
sườn ở hai bên lồng ngực. Lật ngược mảnh cơ này và cắt bỏ. Mổ dọc theo cơ cổ để tìm thực
quản, chú ý tránh chọc vào đôi tĩnh mạch cảnh ở cổ.


b. Quan sát nội quan:
Hệ tiêu hóa:
Miệng nằm ở phía dưới mõm thỏ. Chung quanh miệng được viền bởi môi trên và môi
dưới. Môi trên xẻ rãnh tới mũi nên có thể nhìn thấy răng cửa. Kéo rộng môi sẽ thấy rõ thỏ có hai
răng cửa trên và hai răng cửa dưới. Ở phía sau gốc đôi răng cửa hàm trên có đôi răng nhỏ là răng
cửa phụ. Phía trong xoang miệng có răng hàm.
Dùng kéo và dao cắt mép miệng mở ra để quan sát xoang miệng. Phía trên vòm miệng có
nhiều nếp ngang là nếp khẩu cái. Đó là vòm khẩu cái mềm có tác dụng giữ thức ăn trong xoang
miệng. Đáy xoang miệng có lưỡi rất linh hoạt. Vòm khẩu cái ngăn xoang miệng ra làm hai phần:
phần trên là phần mũi và phần dưới là phần miệng. Hai bên góc sau vòm miệng có đôi lỗ ống
Eustachi thông tai giữa với xoang miệng.
Cuối xoang miệng là hầu. Hầu dẫn vào thực quản. Thực quản là ống dài nằm dọc cổ, mặt
lưng của khí quản. Thực quản xuyên qua cơ hoành dẫn vào dạ dày. Dạ dày hình quả lê nằm
ngang trục cơ thể. Tiếp theo dạ dày là ruột tá uốn khúc hình chữ C dẫn đến ruột non rồi đến ruột
già. Ranh giới giữa ruột non và ruột già là manh tràng rất lớn và dài, trên có nhiều vòng thắt
ngang. Đầu manh tràng là ruột tịt.
Tuyến tiêu hóa: gan và tuyến tụy. Gan lớn chia làm bốn thùy nằm ngay dưới cơ hoành
trước dạ dày. Nâng gan lên sẽ thấy túi mật màu xanh đậm, nằm giữa thùy gan bên phải. Ống dẫn
mật đổ vào phần ruột tá. Tuyến tụy nằm dọc mạc treo ruột tá. Tuyến tụy là thể xốp có mỡ bao
quanh. Ống tụy đổ vào đầu ruột non sau tá tràng.

Hình 9. Cấu tạo hệ tiêu hóa của thỏ
Hệ tuần hoàn:
Tim nằm trong xoang bao tim mỏng. Ở thỏ non có tuyến diều dưới dạng hai thùy xốp
màu sáng nhạt nằm ở trước tim, ở gốc các cung động mạch. Tuyến này dần dần tiêu giảm theo
tuổi của con vật. Cắt bỏ xoang bao tim và tuyến diều sẽ thấy rõ tim.


Tim thỏ bốn ngăn. Hai tâm nhĩ nằm ở phía trước có thành mỏng màu đỏ thẫm. Hai tâm
thất hình nón, đỉnh hướng về phía sau. Thành tâm thất dày hơn so với thành tâm nhĩ. Giữa tim có
giải mỡ chia tim ra hai phần: nửa tim trái và nửa tim phải. Tim 4 ngăn, nửa tim trái chứa máu đỏ
tươi, nửa tim phải chứa máu đỏ thẫm.
Hệ mạch: Động mạch có thành dày và màu trắng. Tĩnh mạch thành mỏng hơn và có màu
thẫm. Cung động mạch trái từ tâm thất trái đi ra quay về bên trái. Động mạch phổi đi từ tâm thất
phải, chia đôi đi vào phổi.
Hệ hô hấp:
Đường hô hấp của thỏ bắt đầu từ đôi lỗ mũi ngoài mở ra phía trước mõm, thông với
xoang khứu giác. Trong xoang khứu giác có nhiều xương xoăn phức tạp được bao phủ bởi màng
nhày bên trong có nhiều mao mạch giúp việc sưởi ấm không khí thở vào, đồng thời cản bụi đi
qua đường hô hấp.
Xoang khứu giác thông với lỗ mũi trong hay lỗ khoan mở ra ở phía trên vòm miệng. Tiếp
đến là hầu, ngã ba đường tiêu hóa và đường hô hấp. Khe thanh quản nằm phía trong thềm miệng,
phía trước thực quản, có tiểu thiệt để đậy thanh quản khi con vật nuốt mồi. Khe thanh quản thông
vào thanh quản rồi dẫn đến khí quản. Khí quản là ống dài nằm ở phía trước thực quản. Khí quản
cấu tạo bằng nhiều vòng sụn nâng đỡ. Mặt lưng khí quản dẹp là nơi tiếp xúc với thực quản. Hai
bên thanh quản là sụn giáp trạng, hai bên sụn giáp trạng có tuyến giáp trạng. Cuối khí quản chia
đôi thành hai phế quản đi vào hai phổi.
Phổi là thể xốp màu hồng nhạt nằm lơ lửng trong lồng ngực. Phổi trái phân thành hai
thùy, phổi phải phân thành ba thùy.
Hệ bài tiết:
Thận: có hình hạt đậu màu đỏ thẫm nằm sát thành lưng cơ thể hai bên cột sống ở vùng
thắt lưng. Thận phải nằm cao hơn thận trái. Quanh thận thường bao bởi màng mỡ giữ cho thận ở
vị trí tự nhiên.
Từ bờ trong thận, ở rốn thận phát ra ống dẫn niệu nhỏ màu trắng. Ống dẫn niệu hai bên
đổ vào bóng đái nằm ở vùng chậu.
Tuyến trên thận tròn, nhỏ có màu vàng nằm ở ngã ba giữa động mạch chủ lưng và động
mạch thận.
Hệ sinh dục:
Cơ quan sinh dục đực là đôi dịch hoàn hình bầu dục dài, màu trắng. Dịch hoàn thỏ nằm ở
phía lưng vùng chậu của xoang bụng. Đến giai đoạn trưởng thành dịch hoàn chui qua ống bẹn
chuyển xuống bìu.
Ở lưng mỗi dịch hoàn có phụ dịch hoàn. Phụ dịch hoàn dẫn vào tinh quản. Tinh quản
chui qua ống bẹn, uốn khúc ngoằn ngoèo dẫn vào ống niệu sinh dục ở mặt lưng gốc bóng đái.
Cơ quan sinh dục thỏ cái là đôi noãn sào hình trứng dẹp nhỏ, được treo bởi mạc treo
buồng trứng ở thành lưng xoang bụng. Noãn quản còn gọi là ống Fanlốp tương đồng với ống
Mule ở bọn thấp. Đầu noãn quản có phễu nhỏ mở ra ở xoang bụng.
Gốc noãn quản phình rộng thành tử cung. Chúng có 2 tử cung riêng biệt dẫn vào âm đạo
theo hai lỗ riêng biệt, đó là kiểu tử cung kép. Âm đạo là ống rộng đổ vào xoang niệu sinh dục.
Lỗ sinh dục cái là một khe rộng, chung quanh được bao bởi môi lớn. Trong khe có âm vật
nhô ra, tương đồng với dương vật con đực nhưng nhỏ hơn.
Hệ thần kinh: Trong nội dung bài thực tập chỉ quan sát não bộ của thỏ.
Cắt bỏ da đầu. Dùng cưa xương cưa vòng hộp sọ phía trên ổ mắt. Có thể dùng lưỡi dao
mổ để nạy nóc sọ theo đường ranh giới khớp xương. Nhỏ vài giọt cồn 900 để cố định não.


Não bộ gồm hai bán cầu não phát triển mạnh, choán gần hết thể tích hộp sọ, phía trước là
2 thùy khứu giác. Não trung gian bị bán cầu não che khuất chỉ thấy mấu não trên ở mặt lưng. Lật
bán cầu não sẽ thấy củ não sinh tư (2 củ thị giác trước và 2 củ thính giác sau). Tiểu não rất lớn
chia 3 phần: thể hình giun ở giữa và 2 bán cầu tiểu não ở hai bên. Sau cùng là hành tủy.

Hình 10: Cấu tạo hệ niệu sinh dục của thỏ
3. Yêu cầu
- Quan sát và nhận biết được các đặc điểm cấu tạo ngoài của thỏ
- Giải phẫu và quan sát đặc điểm cấu tạo trong
- Vẽ và chú thích cấu tạo trong của thỏ nhà
- Nhận xét những đặc điểm thể hiện sự tiến hóa của Thú



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×