Tải bản đầy đủ

thực trạng Ngân hàng thương mại nợ xấu

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH

NỢ XẤUCỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM

2.1 Khái quát tình hình nợ xấu ở Việt Nam hiện nay:
Việt Nam là một trong những nước tốc độ tăng trưởng huy động và cho vay cao nhất
trong khu vực, trong đó, hệ thống ngân hàng đóng vai trò chủ lực với thị phần tín dụng
chiếm tới xấp xỉ 95% của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD). Trong các giai
đoạn phát triển của nền kinh tế khi mà bối cảnh thị trường vốn còn chưa phát triển, tín
dụng ngân hàng (TDNH) luôn đóng vai trò là kênh dẫn vốn chủ đạo trên thị trường tài
chính, bảo đảm đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và góp
phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.TDNH đã tăng trưởng bình quân trên
30%/năm trong giai đoạn 2001-2010, tỷ lệ tín dụng/GDP đã tăng từ 40,1% vào năm 2000
lên tới 125% vào năm 2010.
Nợ xấu NHTM VN từ 2008-2012
Đơn vị: tỷ đồng

Tổng nợ
xấu
Tổng dư
nợ

Tỷ lệ nợ
xấu/tổng
dư nợ (%)

2008
26970

2009
35875

2010
49064

2011
87967

2012
185205

1242857

1630682

2292720

2665670

3086750

2.17

2.22

2.14

3.3

6

Bên cạnh sự tăng trưởng mạnh mẽ với những đóng góp tích cực cho nền kinh tế trong

thời gian vừa qua, hoạt động TDNH cũng còn rất nhiều vấn đề tồn đọng mà nổi bật và
luôn được quan tâm nhiều là vấn đề nợ xấu.Nợ xấu là sự tồn tại tất yếu trong hoạt động
của hệ thống ngân hàng. Sự tồn tại của nợ xấu chỉ thực sự nguy hiểm khi nó vọt lên
ngưỡng cao, tình hình tài chính hiện tại của các chủ thể trong nền kinh tế có thể đẩy nợ
xấu lên mức nguy hiểm trong tương lai. Với Việt Nam, tình hình nợ xấu chưa tới mức
báo động song rất cần xử lý quyết liệt để không gây hậu quả nghiêm trọng.


Nguồn: www.Cafef.vn

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, từ năm 2008 đến nay, nợ xấu của các tổ chức tín
dụng tại Việt Nam có xu hướng tăng nhanh. Trung bình giai đoạn2008 - 2011, dư nợ bình
quân nợ xấu khá cao, khoảng 51%. Theo báo cáo của các ngân hàng thương mại, tỷ lệ nợ
xấu toàn ngành tại thời điểm 30-11-2012 là 3,43%,
song theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước trước Quốc hội, nợ xấu tại thời điểm thanh
tra của Ngân hàng Nhà nước là 8,82% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế, khoảng
250.000 tỷ đồng (khoảng 12 tỷ USD), tương đương 10% GDP.
Ngoài ra, con số nợ xấu này chưa tính đến nợ tồn đọng xây dựng cơ bản(chủ yếu của các
địa phương), hiện đang dự tính khoảng 90.000 tỷ đồng. Theo các chuyên gia kinh tế, nợ
xấu tập trung chủ yếu vào lĩnh vực bất động sản và chứng khoán; trong đó nợ xấu tại khu
vực doanh nghiệp nhà nước rất lớn. Những số liệu của một số nhà nghiên cứu cho thấy,
khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện đóng góp vào 70% nợ xấu của toàn hệ thống, trong
đó các tập đoàn kinh tế, tổng công ty chiếm 53% số nợ xấu. Xu hướng gia tăng nợ của
các doanh nghiệp sẽ góp phần làm cho tình hình nợ xấu của các tổ chức tín dụng ngày
càng nghiêm trọng hơn.


Nợ xấu theo nhóm ngành nghề của các tổ chức tín dụng cũng tăng, trong đó có 6 ngành
kinh tế chiếm tỷ lệ nợ xấu cao nhất, là: công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 22,5% tổng
nợ xấu toàn hệ thống; hoạt động kinh doanh bất động sản và dịch vụ là 7,83% và 19,25%;
buôn bán, sửa chữa, ô tô, xe máy 18,52%; vận tải, kho bãi chiếm 11% và xây dựng là
9,5%. Việc gia tăng nợ xấu nhóm thương mại và dịch vụ, trong đó có ngành vận tải biển,
cho thấy khó khăn của thị trường tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ trong nước và quốc tế đã
tác động mạnh đến ngành này.

2.1.1 Tình hình nợ xấu của hệ thống NHTM trong giai đoạn 2008-2010
Chất lượng tài sản có của NHTM Việt Nam hiện nay đang thay đổi theo chiều hướng tốt,
tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của những ngân hàng chiếm thị phần lớn ở Việt Nam đều
nằm trong giới hạn an toàn cho phép, trong đó tỷ lệ nợ xấu của các NHTMCP có dấu
hiệu được kiểm soát tốt hơn các NHTMQD.
Biểu đồ: Tỷ lệ nợ xấu tại một số NHTM Việt Nam có niêm yết từ 2008-2010


Nguồn: Thư viện quốc gia Việt Nam (nlv.gov.vn)

Theo báo cáo tổng kết ngành của NHNN, năm 2008 tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống tăng
lên đến 2,1% nhưng vẫn còn thấp hơn mức cho phép theo tiêu chuẩn quốc tế 5%, trong
khi tỷ lệ nợ xấu của Trung Quốc năm 2007 đang ở mức 6,17%, đây là một dấu hiệu rất
khả quan. Đến cuối năm 2009 tỷ lệ nợ xấu là 2,6% và 2010 khoảng 3% tổng dư nợ tín
dụng nên vẫn nằm trong tỷ lệ an toàn cho phép của NHNN
Tốc độ “tăng trưởng” của nợ xấu hàng năm, hiện đã được được tính theo cấp số hàng
chục %.Tính đến cuối năm 2008, nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam ở khoảng
43.500 tỷ đồng, chiếm 3,5% tổng dư nợ tín dụng...Đây là số liệu có từ hội nghị toàn
ngành ngân hàng tổ chức tại Hà Nội 30/12/2008.Ngân hàng Nhà nước cho biết, về số nợ
xấu nói trên, cơ bản đã được các ngân hàng trích lập đủ dự phòng rủi ro.Liên quan đến
tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại, cũng theo thông tin từ hội nghị trên,
trong năm 2008 không có ngân hàng nào rơi vào thua lỗ; một số chỉ số chính cho thấy hệ
thống vẫn an toàn và đạt kết quả khả quan trong năm 2008
Trong năm 2008, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, vốn tín dụng đầu tư vào khu
vực dân doanh tăng khoảng 35% - 37%, lĩnh vực xuất khẩu có mức tăng tương ứng, khu
vực sản xuất tăng 34% - 36%, khu vực nông nghiệp và nông thôn tăng 30%, cho vay hộ
nghèo và đối tượng chính sách khác tăng 40% - 42%; riêng khu vực doanh nghiệp nhà
nước có mức tăng thấp nhất, chỉ tăng 12% - 14%.Đến cuối năm 2008, vốn chủ sở hữu của
toàn hệ thống đã tăng 30% so với cuối năm 2007; tỷ lệ an toàn vốn tăng từ 8,9% lên
9,7%; vốn đảm bảo thanh toán thường xuyên lớn hơn mức phải dự trữ bắt buộc; tỷ lệ khả


năng chi trả ngắn hạn lớn hơn 100%; khả năng sinh lời tiếp tục được cải thiện do tốc độ
tăng tổng tài sản có và vốn chủ sở hữu thấp hơn tốc độ tăng chênh lệch thu – chi.
Trong năm 2009, yêu cầu mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra là tiếp tục kiểm soát chặt chẽ
chất lượng tín dụng, thực hiện tăng trưởng tín dụng phù hợp với mức độ kiểm soát lạm
phát.Các ngân hàng thương mại sẽ thực hiện chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập
trung nguồn vốn cho các dự án có hiệu quả thuộc lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, phát triển
nông nghiệp, nông thôn, mở rộng cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo báo cáo của NHNN, nợ xấu toàn hệ thống tính đến ngày 31/12/2007 là 16.000 tỷ
đồng, chiếm 1,55% tổng dư nợ nền kinh tế, đến 31/12/2008 là 27.610 tỷ đồng, chiếm
2,17% tổng dư nợ nền kinh tế và đến 31/12/2009 là 35.522 tỷ đồng chiếm 2,05% tổng dư
nợ nền kinh tế.
2.1.2. Tình hình nợ xấu của hệ thống NHTM trong giai đoạn 2010-2011
Theo thống kê của Ngân Hàng Nhà nước, cuối năm 2010, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
cho vay của hệ thống ngân hàng là 2,5%, chưa bao gồm dư nợ của hệ thống ngân hàng
đối với Tập Đoàn Công Nghiệp và Tàu Thủy Việt Nam (Vinashin). Nếu tính thêm cả dư
nợ đối với Vinashin thì tỷ lệ nợ xấu cuối năm2010 sẽ là 3,2% tổng dư nợ cho vay. Trong
đó nợ xấu từ phía các doanh nghiệp quốc doanh chiếm đến 60% tổng số nợ xấu. Đến cuối
năm 2011, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ lại tiếp tục tăng lên đến mức 3,3%. Hầu hết các
ngân hàng niêm yết đều có tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh so với năm 2010. Cụ thể là tính đến
30/9/2011, tổng nợ xấu của 8 NHTM niêm yết là 15.018 tỷ đồng, trong đó nợ có khả
năng mất vốn(nợ nhóm 5) chiếm 55,22% tương ứng với số tiền cụ thể là 8.293 tỷ đồng.
Tình hình gia tăng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của 8 ngân hàng niêm yết được thể hiện
qua biểu đồ sau:


Hình 1: Biểu đồ tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của các NHTM tại 30/09/2011

(Nguồn: Theo CafeF/TTVN/BCTC các NHTM)
CTG: Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
VCB: Ngân Hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
STB: Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
EIB: Ngân Hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
ACB: Ngân Hàng TMCP Á Châu
SHB: Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội
HBB: Ngân Hàng TMCP Nhà Hà Nội
NVB: Ngân Hàng TMCP Nam Việt

Biểu đồ trên cho thấy tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng nêu trên đều tăng trong giai đoạn
2010-2011. Trong năm 2011, phần lớn các ngân hàng trên có tỷ lệ nợ nhóm 5 (nợ có khả
năng mất vốn) chiếm tỷ trọng cao nhất trong 3 nhóm nợ thuộc nợ xấu. Cũng trong năm


2011, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của Ngân Hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
(VCB) là cao nhất (3,4%), cao hơn cả tỷ lệ nợ xấu bình quân của cả hệ thống ngân hàng
(3,3%) ở cùng thời điểm. Bên cạnh đó, Ngân Hàng TMCP Nhà Hà Nội, Ngân Hàng
TMCP Nam Việt cũng có tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ khá cao (2,8%). Bên cạnh những
ngân hàng đang lo ngại về tỷ lệ nợ xấu khá cao, thì cũng có những ngân hàng với tỷ lệ nợ
xấu thấp như Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (0,6%). Dù tỷ lệ nợ xấu của các
ngân hàng năm 2011 không đồng đều nhau, nhưng nhìn chung các tỷ lệ nợ xấu đều tăng
so với năm 2010.

2.1.3. Tình hình nợ xấu của hệ thống NHTM trong giai đoạn 2011-2013
Ngân hàng Nhà nước cho biết, đến thời điểm cuối tháng 10, nợ xấu của toàn hệ thống
chiếm khoảng 8,8 - 10% trên tổng dư nợ và tốc độ tăng nợ xấu đã chậm lại kể từ sau
tháng 6. Còn theo báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại, tỷ lệ nợ xấu của các
ngân hàng đều tăng trong 9 tháng qua. Nợ xấu đặc biệt tăng mạnh tại các ngân hàng như
Vietcombank tăng 1,21%, ACB tăng 1,2%, Sacombank tăng 0,83%, BaoVietBank tăng
1,57%, NaviBank tăng 1,05%. Tuy nhiên, một số ngân hàng vẫn giữ được tốc độ nợ xấu
tăng không quá mạnh, như ở Techcombank chỉ tăng 0,12%, KienLongBank 0,01%.
Riêng ngân hàng PGBank giảm được nợ xấu từ 3,06% (cuối năm 2011) xuống còn
2,96%. Cụ thể, tỷ lệ nợ xấu 9 tháng đầu năm của một số các NHTM được thể hiện qua
biểu đồ sau:


(Nguồn: BCTC/CafeF)
Hình 2: Biểu đồ tỷ lệ nợ xấu của một số ngân hàng qua 9 tháng đầu năm 2012
Đáng lưu ý trong bức tranh nợ xấu của các ngân hàng thời gian qua là nhóm nợ có khả
năng mất vốn (nợ nhóm 5) mà ngân hàng phải trích dự phòng rủi ro 100%. Theo báo cáo
tài chính, hiện nay tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn trên dư nợ cho vay khách hàng của
BaoVietBank đang ở mức cao nhất với 2,93%, tiếp đến là của LienVietPostBank với
1,46%; của Vietcombank là 1,42%; của BIDV là1,22%; của MB là 1,07%; của
KienLongBank là 1,36%. Nợ có khả năng mất vốn của các ngân hàng khác trong khi đó
cũng xấp xỉ mức 1% như Vietinbank là 0,86%; của Techcombank 0,99%; của ACB là
0,81%; PGBank 0,83% ...


(Nguồn:
BCTC/CafeF)

Hình 3: Biểu đồ tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn trên tổng dư nợ cho vay khách hàng tại thời
điểm 30/9/2012
Về con số cụ thể, ngân hàng BIDV có khoản nợ có khả năng mất vốn cao nhất, lên tới
3.984,4 tỷ đồng tại thời điểm cuối tháng 9/2012; của Vietcombank cũng hơn 3.200 tỷ
đồng; của Vietinbank là 2.578 tỷ đồng. Ngân hàng ACB hiện có 829,1 tỷ đồng nợ có khả
năng mất vốn; MB có 629,4 tỷđồng; Techcombank là 610,8 tỷđồng... So với thời điểm


cuối năm 2011, nợ có khả năng mất vốn của các ngân hàng đặc biệt tăng rất mạnh, ngoại
trừ KienLongBank giảm gần 4%. Có thể kể đến một số cái tên như LienVietPostBank
tăng đến 53 lần so với cuối 2011 (từ 4,48 tỷđồng lên 243,8 tỷđồng); của BaoVietBank
tăng hơn 6 lần từ 23,5 tỷđồng lên hơn 170 tỷđồng. Một số khác cũng có mức tăng nợ
nhóm 5 khá mạnh như tại Techcombank là 1,7 lần; của ACB gần 1,8 lần; Sacombank hơn
1,5 lần, Vietinbank 1,82 lần Ngân hàng Vietcombank tăng nợ nhóm 5 thêm 41%; của MB
tăng 33,5%; của Navibank tăng 79%. Qua đó cho thấy tốc độ nợ xấu vẫn tăng chóng mặt
so với các năm trước, khi năm 2008 tỷ lệ nợ xấu chỉ là 2,17%; năm 2009 là 2,2%; 2010 là
2,14% và 2011 là 3,3% trên tổng dư nợ thì đến năm 2012 tỷ lệ này đã tăng gần gấp đôi và
hiện đạt mức 6% (theo công bố của Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình tại thời điểm
đầu năm 2013).Trong đó, tồn tại những ngân hàng có nợ xấu rất cao, điển hình như
Agribank với nợ xấu chiếm 5,8% trên tổng dư nợ và con số tuyệt đối là 27.803 tỷ đồng.
Nợ xấu của Agribank cũng tương đương với tổng nợ xấu của Vietcombank, BIDV,
Vietinbank, SHB và ACB cộng lại. Ngân hàng SHB năm 2012 có tỷ lệ nợ xấu cũng rất
cao, tới 8,53% tương đương 4.844 tỷ đồng do ngân hàng này phải gánh thêm nợ xấu sau
khi hợp nhất với Habubank.Theo ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 9.2013, tỷ lệ nợ
xấu của toàn hệ thống chiếm 4,62% trên tổng dư nợ, giảm so với mức 8% của cuối năm
2012.
Hiện tại, công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã tích cực
mua nợ xấu, tính đến ngày 20.11 VAMC đã mua 17.700 tỉ đồng nợ xấu của các ngân
hàng .Tính đến thời điểm hiện tại hầu hết các ngân hàng thương mại đã công bố báo cáo
tài chính quý 3/2013. Mặc dù theo báo cáo đa số các ngân hàng đều có lãi tuy nhiên nợ
xấu ở nhiều ngân hàng cũng tăng đáng kể, chất lượng nợ xấu đi.Ngân hàng TMCP Xăng
Dầu (PG Bank) đang là ngân hàng dẫn đầu về tỷ lệ nợ xấu, tính đến hết tháng 9.2013,
PGBank có 1.240 tỉ đồng nợ xấu chiếm 9,5% trên tổng dư nợ 13.057 tỉ đồng.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) - ông Lê Đức Thọ cho biết: Tính đến ngày 31/12/ 2013, tỷ
lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam là 3,79% - giảm gần 1% so với hồi đầu
năm 2013. Về việc mua nợ xấu, gần 40.000 tỷ đồng nợ xấu đã được VAMC mua lại từ
các ngân hàng.“Năm 2014 NHNN sẽ tiếp tục xử lý nhanh hơn các khoản nợ xấu, xử lý có
kết quả các khoản nợ này để đưa tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống xuống mức phù hợp.

Bên cạnh đó, NHNN cũng sẽ triển khai các giải pháp hạn chế nợ xấu phát sinh trong
tương lai, không được thực hiện việc cơ cấu lại nợ và các biện pháp nghiệp vụ khác để
che giấu nợ xấu hoặc làm sai lệch chất lượng tín dụng”- ông Thọ phát biểu.


2.2 Tỷ lệ nợ xấu theo lĩnh vực cho vay và đối tượng vay
Nợ xấu là một trong những con số nhạy cảm, những thông tin chi tiết về nợ xấu của toàn
hệ thống ngân hàng mà được công bố thì rất hiếm hoi. So với năm 2010 thì chỉ có năm
2011 những thông tin về nợ xấu mới được thống đốc ngân hàng nhà nước công bố một
cách chi tiết hơn. Do đó khi phân tích tỷ lệ nợ xấu theo lĩnh vực cho vay thì đề tài này chỉ
tập trung vào năm 2011.
2.2.1. Tỷ lệ nợ xấu đối với tín dụng bất động sản và cho vay phi sản xuất
Như đã biết thì hầu hết các ngân hàng thường cho vay ở nhiều lĩnh vực khác nhau như
cho vay sản xuất và cho vay phi sản xuất, xuất khẩu, phát triển nông thôn. Theo như các
chuyên gia kinh tế phân tích thì những khoản cho vay phi sản xuất thường không được ưu
tiên và khuyến khích so với các lĩnh vực khác bởi vì tỷ lệ rủi ro cao và dễ gây ra nợ xấu.
Đó là lí do tại sao Ngân Hàng Nhà Nước quy định tỷ lệ tối đa các ngân hàng cho vay vào
lĩnh vực phi sản xuất không vượt quá 16% (theo Chỉ thị số 01/CT-NHNN, thống đốc
Ngân hàng Nhà nước đã ban hành vào ngày1/3/2011). Tỷ trọng cho vay phi sản xuất tính
đến cuối năm 2011 là 14,7%. Tương ứng với con số cụ thể hơn 400.000 tỷ đồng cho vay
ở lĩnh vực “phi sản xuất”.
Thống kê toàn hệ thống ngân hàng đến 31/12/2011, tổng dư nợ cho vay bất động sản là
201.000 tỷ đồng giảm 14,25% so với 31/12/2010(Cafeland - số liệu từ báo cáo của
NHNN), chiếm khoảng 8,45% tổng dư nợ của toàn hệ thống. Nếu chỉ xét trên toàn hệ
thống ngân hàng của Việt Nam, thì tỷ lệ nợ xấu trong lĩnh vực bất động sản chỉ chiếm
8,45% tổng dư nợ, nhưng khi xét riêng các ngân hàng trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí
Minh, nơi mà thị trường bất động sản được đánh giá là khá sôi động, thì tỷ lệ này lại là
một con số rất đáng quan tâm. Theo báo cáo của Ngân Hàng Nhà Nước chi nhánh Thành
phố Hồ Chí Minh, tính đến cuối 7/2011, dư nợ cho vay bất động sản lên đến 89.530 tỷ
đồng, chiếm 11,96% so với tổng dư nợ, giảm 8,88% so với năm 2010. Nợ xấu bất động
sản chiếm 3,8% trong tổng dư nợ bất động sản, trong đó khối ngân hàng cổ phần có tỷ lệ
nợ xấu bất động sản cao nhất, chiếm 2,61% trong tổng dư nợ cho vay bất động sản của
khối này.Đến 31/8/2012 dư nợ tín dụng bất động sản khoảng 203.000 tỷ đồng, trong đó
nợ xấu chiếm 6,6% (Vneconomy - số liệu từ báo cáo của NHNN). Trong khi đó, dư nợ
tín dụng liên quan đến bất động sản, như vay kinh doanh bất động sản, vay đầu tư sản
xuất kinh doanh và thế chấp bằng bất động sản… vào khoảng 57% tổng dư nợ, tức là
khoảng hơn 1 triệu tỷ đồng.
2.2.2. Tỷ lệ nợ xấu đối với những khoản vay đầu tư chứng khoán


Cùng với tín dụng bất động sản, tín dụng đầu tư chứng khoán cũng được xem là lĩnh
vực không được khuyến khích phát triển tín dụng. Do đó Ngân hàng Nhà Nước giới hạn
tỷ trọng dư nợ cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoán
không vượt quá 16% tổng dư nợ tín dụng. Chỉ có những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu trên
tổng dư nợ không vượt quá 3% thì mới đủ diều kiên để cấp tín dụng cho những khách
hàng đầu tư chứng khoán.
Nếu căn cứ theo quy định này thì tổng dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán tính trên toàn
hệ thống phải rất thấp vì không được mấy ngân hàng đủ tiêu chuẩn để cho vay đối với
những khách hàng đầu tư chứng khoán, hầu hết các ngân hàng đều có tỷ lệ nợ xấu vượt
mức 3% trên tổng dư nợ. Tuy nhiên trên thực tế thì lại khác, theo thống kê của Ngân
hàng Nhà Nước hiện nay dư nợ cho vay để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu của các ngân
hàng thương mại Việt Nam chiếm 6,5% vốn tự có, và tổng dư nợ cho vay ở lĩnh vực này
lên đến hơn 10.000 tỷ đồng, nếu tính cả chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tính đến ngày
31/5/2012, dư nợ cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán khoảng 12.000 tỷ đồngtương
đương 6,5% dư nợ cho vay đầu tư kinh doanh BĐS và con số nợ xấu cho vay BĐS chiếm
10,3% tổng nợ xấu của hệ thống và nợ xấu khoảng 485 tỷ đồng (tapchitaichinh - báo cáo
của các TCTD).
Cùng với kết quảnghiên cứu của nhóm chuyên gia thuộc Trung tâm nghiên cứu Kinh tế
và Chính sách (VEPR) thì tỷ trọng dư nợ chứng khoán và bất động sản chiếm 10 đến
12% tổng dư nợ hệ thống ngân hàng. Kết hợp với tỷ lệ dư nợ bất động sản của toàn hệ
thống ngân hàng là 8,45% tổng dư nợ (nguồn báo cáo của NHNN) thì tỷ lệ dư nợ của
những khoản vay đầu tư vào chứng khoán tính toán được là 1,55 - 3,55%.
Nhìn chung thì cho vay bất động sản và cho vay đầu tư chứng khoán là những vực
không đước khuyến khích, nhưng trên thực tế thì dư nợ trong hai lĩnh vực này lại khá
cao, do đó nguy cơ nợ xấu cũng có xu hướng tăng.
2.2.3. Tỷ lệ nợ xấu đối với các doanh nghiệp nhà nước
Trong những đối tượng vay tín dụng ở ngân hàng, thì các doanh nghiệp quốc doanh là
một trong những khách hàng lớn của các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng quốc
doanh hoặc các ngân hàng mà cổ phần nhà nước chiếm đại đa số như Vietinbank,
Vietcombank, Agribank, Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam ... Vì vậy tỷ lệ nợ
xấu ở những ngân hàng này cao hơn mức bình quân của toàn ngành là 3,3% (tính đến
cuối năm 2011).Cụ thể, nợ xấu của các NHTM Nhà nước là 3,76% và của NHTM cổ
phần ngoài quốc doanh lên tới 4,73%. Đơn cửtrong nhóm NHTM Nhà nước, Agribank có


tỷ lệ nợ xấu cao nhất lên tới 6,14%, xấp xỉ gấp đôi mức bình quân của ngành, tiếp theo là
Vietcombank 3,55% (báo Dân Trí - báo cáo của các TCTD).
Theo thống kê năm 2010, nợ xấu từ phía các doanh nghiệp quốc doanh chiếm 60% tổng
số nợ xấu. Thêm vào đó đến thời điểm tháng 9/2012, theo báo cáo trình Ủy ban thường
vụ Quốc hội thì DNNN sử dụng vốn tín dụng chiếm tới khoảng 70% tổng số nợ xấu,
trong đó các tập đoàn kinh tế, tổng công ty chiếm 53% số nợ xấu. Tốc độ tăng của tỷ lệ
nợ xấu từ phía các DNNN giai đoạn 2010-2011 là 16,67% (nguồn Internet). Theo những
số liệu từ Bộ Tài chính, tính đến 09/2011, tổng dư nợ vay tại các ngân hàng của các
DNNN lên đến 415.000 tỷ đồng, tương đương 16,9% tổng dư nợ tín dụng. Từ thực tế trên
có thể thấy được dư nợ tín dụng của các doanh nghiệp nhà nước tại các ngân hàng thương
mại nói chung và các ngân hàng mà cổ phần nhà nước chiếm đại đa số nói riêng, đang
tăng lên trong giai đoạn 2010-2011, và kéo theo tỷ lệ nợ xấu của các doanh nghiêp quốc
doanh tăng từ 60% lên đến 70%. Những con số này đã góp phần đẩy tỷ lệ nợ xấu bình
quân của toàn ngành tăng lên mức mức 3,3% năm 2011 và sau đó là 6% năm 2012.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×