Tải bản đầy đủ

O NHIEM MOI TRUONG DO SU PHAT TRIEN KINH TE o TINH AN GIANG

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

An Giang là tỉnh nằm ở phía tây nam của Tổ quốc có vị trí địa lí thuận lợi, điều
kiện tự nhiên đa dạng với địa hình có cả đồi núi và đồng bằng; khí hậu nhiệt đới
ẩm gió mùa mang tính cận xích đạo; mạng lưới sông ngòi, kênh gạch chằn chịt
với hai hệ thống sông lớn là sông Tiền, sông Hậu; tài nguyên thiên nhiên phong
phú với đất đai màu mỡ , tài nguyên rừng, khoáng sản thuận lợi cho sự phát triển
kinh tế. Bên cạnh điều kiện tự nhiên, dân cư - xã hội cũng là những nguồn lực
quý báo để phát triển kinh tế với số dân đông nhất vùng ĐBSCL, đứng thứ 6 cả
nước (2,15 triệu người năm 2011) nên có nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu
thụ rộng lớn; cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật ngày càng hoàn thiện, phục
vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế.
Dựa trên những nguồn lực về tự nhiên, dân cư - xã hội cùng với việc thực hiện
đường lối đổi mới, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế
thị trường dưới sự quản lí của nhà nước, kinh tế An Giang ngày càng phát triển,
cơ sở hạ tầng được đầu tư, đời sống người dân được cải thiện… Kinh tế đang có
xu hướng chuyển dịch theo hướng CNH-HĐH, giảm khu vực I, tăng khu vực II,
III phù hợp với sự phát kiển kinh tế chung của cả nước trong thời kì đổi mới, hội
nhập. Bên cạnh những thành tựu đạt được về kinh tế trong thời gian qua, kinh tế
tỉnh An Giang ngày càng phát triển cũng còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực

đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường từ chất thải nông nghiệp, công nghiệp và
GTVT ngày càng nghiêm trọng, nhất là ở các thành phố gây ảnh hưởng không
nhỏ đến mỹ quan đô thị và sức khỏe của con người. Vì vậy, để hạn chế sự ô
nhiễm môi trường góp phần phát triển kinh tế ở An Giang theo hướng bền vững
thì cần có các giải pháp thiết thực, cụ thể, phù hợp với điều kiện tỉnh nhà.
Với những lí do trên, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn tên: “Thực trạng ô nhiễm
môi trƣờng do sự phát triển kinh tế ở tình An Giang” làm đề tài nghiên cứu.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Mục đích của đề tài

Trên cơ sở lí luận và thực tiễn, đề tài tập trung phân tích các điều kiện tự
nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang, thực trạng phát triển kinh
tế và thực trạng ô nhiễm môi trường do sự phát triển kinh tế ở tỉnh An Giang, từ
đó định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần bảo vệ môi trường, phát triển
kinh tế tỉnh An Giang theo hướng bền vững.
2.2. Nhiệm vụ của đề tài

1


Từ những mục đích nghiên cứu đã đưa ra, đề tài cần giải quyết những nhiệm
vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển kinh tế và môi trường.
- Phân tích các nguồn lực, thực trạng phát triển kinh tế và thực trạng ô nhiễm
môi trường do sự phát triển kinh tế ở tỉnh An Giang.
- Định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần bảo vệ môi trường, phát triển
kinh tế tỉnh An Giang theo hướng bền vững.
3. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
3.1. Giới hạn phạm vi lãnh thổ nghiên cứu

Phạm vi nghiên cưu của đề tài tập trung vào tỉnh An Giang, một tỉnh phía tây
nam của Tổ quốc với diện tích 3.536,66 km2, gồm 1 TP là thành phố Long
Xuyên, 2 TX là TX Châu Đốc, TX Tân Châu và 8 huyện là An Phú, Châu Phú,
Châu Thành, Chợ Mới, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên, Phú Tân.
3.2. Giới hạn về đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các ngành kinh tế (nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ) và môi trường ở tỉnh An Giang.
3.3. Giới hạn về thời gian nghiên cứu


Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế và thực trạng ô nhiễm
môi trường do sự phát triển kinh tế ở tỉnh An Giang giai đoạn 2000 - 2010. Định
hướng đến 2020.
4. CẤU TRÚC CỦA TIỂU LUẬN

Tiểu luận bao gồm: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và khuyến
nghị, tài liệu tham khảo, mục lục và phụ lục.
Trong đó, phần nội dung của tiểu luận được trình bài trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển kinh tế và môi trường
Chương 2: Thực trạng ô nhiễm môi trường do sự phát triển kinh tế ở tình An
Giang
Chương 3: Định hướng và các giải pháp bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế
tỉnh An Giang theo hướng bền vững

2


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ MÔI TRƢỜNG
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Cơ sở lí luận về phát triển kinh tế
1.1.1.1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế

- Tăng trưởng kinh tế: Là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tiến bộ,
mở rộng qui mô về mặt số lượng của các yếu tố của nền kinh tế trong một thời
kỳ nhất định nhưng trong khuôn khổ giữ nguyên về mặt cơ cấu và chất lượng.
- Phát triển kinh tế (PTKT): Là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tích
cực dựa trên sự biến đổi cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu của các yếu tố
cấu thành của nền kinh tế.
Như vậy, đã có phát triển kinh tế là bao hàm nội dung của sự tăng trưởng
kinh tế, nhưng nó được tăng trưởng theo một cách vượt trội so sự đổi mới về
khoa học công nghệ, do năng suất xã hội cao hơn hẳn và có cơ cấu kinh tế
hợp lí và hiệu quả hơn hẳn.
Do đó, khái niệm phát triển kinh tế bao gồm :
+ Trước hết là sự tăng thêm về khối lượng của cải vật chất, dịch vụ và sự
tiến bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội.
+ Tăng thêm qui mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội là hai
mặt vừa phụ thuộc lại vừa độc lập tương đối của lượng và chất.
+ Sự phát triển là một quá trình tiến hóa theo thời gian do những nhân tố
nội tại của nền kinh tế quyết định. Có nghĩa là người dân của quốc gia đó phải
là những thành viên chủ yếu tác động đến sự biến đổi kinh tế của đất nước.
+ Kết quả của sự phát triển kinh tế - xã hội là kết quả của một quá trình
vận động khách quan, còn mục tiêu kinh tế xã hội đề ra là thể hiện sự tiếp cận
tới các kết quả đó.
Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế gắn liền với quá trình CNH,
HĐH của mỗi quốc gia, là bước đi tất yếu của mọi sự biến đổi kinh tế từ thấp
đến cao, theo xu hướng biến đổi không ngừng.
1.1.1.2. Khái niệm phát triển kinh tế bền vững

Đây là khái niệm đang còn tiếp tục tranh cãi, tuy nhiên theo Hội đồng thế
giới về môi trường và phát triển thì: Phát triển kinh tế bền vững là phát triển

3


đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương đến các nhu cầu
của các thế hệ tương lai.
Về mặt nội dung, phát triển kinh tế bền vững là sự phát triển kinh tế phải
đáp ứng yêu cầu sau:
+ Kinh tế phải phát triển liên tục
+ Kinh tế phải phát triển với tốc độ cao
+ Đáp ứng các nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn thương đến các thế
hệ tương lai.
1.1.1.3. Các nguồn lực phát triển kinh tế

* Khái niệm: Nguồn lực là tổng thể vị trí địa lí, các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, hệ thống các tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính
sách, vốn và thị trường,… ở trong và ngoài nước có thể được khia thác nhằm
phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định.
* Phân loại:
- Căn cứ vào nguồn gốc
+ Nguồn lực vị trí địa lí (tự nhiên, kinh tế, chính trị, giao thông...) tạo
điều kiện thuận lợi hay khó khăn trong việc trao đổi, tiếp cận hay cùng phát
triển giữa các vùng trong một nước, giữa các quốc gia với nhau.
+ Nguồn lực tự nhiên (đất, khí hậu, nước, biển, sinh vật, khoáng sản): Là
cơ sở tự nhiên cho các quá trình sản xuất, là nguồn lực quan trọng, là điều
kiện cần cho quá trình sản xuất.
+ KTXH (dân cư, thị trường, vốn, khoa học kĩ thuật, chính sách và xu thế
phát triển...) có vai trò quan trọng để lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp
với điều kiện cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn.
- Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
+ Nguồn lực bên trong: Vị trí địa lí, tự nhiên, KTXH trong nước.
+ Nguồn lực bên ngoài: Vốn, thị trường, khoa học và công nghệ, kinh
nghiệm quản lí sản xuất, kinh doanh từ các nước khác.
* Vai trò của nguồn lực đối với phát triển kinh tế
- Vị trí địa lí tạo thuận lợi hay gây khó khăn trong việc trao đổi tiếp cận
hay cùng phát triển giữa các vùng trong một nước giữa các quốc gia với nhau.
Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới vị trí địa lí là một nguồn lực
góp phần định hướng có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế.

4


- Nguồn lực tự nhiên là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất. Đó là
những nguồn vật chất vừa phục vụ trực tiếp cho cuộc sống vừa phục vụ cho
phát triển kinh tế. Sự giàu có và đa dạng về tài nguyên thiên nhiên tạo lợi thế
quan trọng cho sự phát triển.
- Nguồn lực kinh tế - xã hội nhất là dân cư và nguồn lao động nguồn vốn
khoa học - kỹ thuật và công nghệ chính sách toàn cầu hoá khu vực hoá và hợp
tác có vai trò quan trọng để lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp với điều
kiện cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn.
Hiểu biết và đánh giá đúng cũng như biết huy động tối đa các nguồn lực
sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia. Các nước đang phát
triển muốn nhanh chóng thoát khỏi sự nghèo nàn tụt hậu cần phải phát hiện và
sử dụng hợp lí có hiệu quả các nguồn lực sẵn có trong nước đồng thời tranh
thủ các nguồn lực từ bên ngoài nhất là các nước phát triển.
1.1.1.4. Cơ cấu nền kinh tế

* Khái niệm: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận
kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.
* Các bộ phận hợp thành cơ cấu nền kinh tế
- Cơ cấu ngành kinh tế
+ Gồm 3 nhóm: I. Nông – lâm – ngư nghiệp, II. Công nghiệp - Xây
dựng, III. Dịch vụ.
+ Tập hợp tất cả các ngành hình thành nên nền kinh tế và các mối quan
hệ tương đối ổn định giữa chúng
+ Các nước phát triển: dịch vụ, công nghiệp chiếm tỉ lệ cao.
+ Các nước đang phát triển: nông nghiệp còn chiếm tỉ lệ cao mặc dù
công nghiệp, dịch vụ đã tăng
- Cơ cấu thành phần kinh tế
+ Được hình thành trên cơ sở chế độ sở hữu bao gồm nhiều thành phần
kinh tế có tác động qua lại với nhau.
+ Gồm: Kinh tế Nhà nước, kinh tế ngoài Nhà nước và kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài.
- Cơ cấu lãnh thổ

5


+ Gắn bó chặt chẽ với cơ cấu ngành bao gồm:toàn cầu, khu vực, quốc
gia, vùng.
+ Là sản phẩm của quá trình phân công lao động theo lãnh thổ, các bộ
phận cấu thành có quan hệ chặt chẽ với nhau, cơ cấu hợp lí thì thúc đẩy nền
kinh tế tăng trưởng nhanh.
1.1.2. Cơ sở lí luận về môi trƣờng
1.1.2.1. Những khái niệm về môi trường

- Ô nhiễm môi trường (Environmental pollution) là sự thay đổi thành phần
và tính chất của môi trường, có hại cho các hoạt động sống bình thường của con
người và sinh vật.
- Thông thường sự an toàn của mọi trường được qui định bởi các ngưỡng
hay các giá trị giới hạn trong tiêu chuẩn môi trường (environmental standards),
nên có thể nói “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi
trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con
người, sinh vật” (Luật Bảo vệ môi trường 2005).
- Các chất hat tác nhân mà sự có mặt của chúng gây ra sự ô nhiễm môi
trường gọi là các chất hay tác nhân ô nhiễm (pollutant).
- Nguồn gốc của các tác nhân ô nhiễm (nguồn ô nhiễm) có thể là do các quá
trình tự nhiên (nguồn tự nhiên). Tuy nhiên nguồn gốc quan trọng hơn là các hoạt
động của con người (nguồn nhân tạo). Trong quá trình sản xuất và phát triển, con
người đã đưa các “chất lạ” vào khí quyển, thủy quyển, thạch quyển; làm thay đổi
thành phần tự nhiên của chúng. Trong một số trường hợp, đã làm thay đổi cân
bằng tự nhiên vốn có trong từng quyển nói riêng, trong sinh quyển nói chung.
- Thật ra sự ô nhiễm môi trường dưới tác động của con người đã xảy ra từ
thời tiền sử. Tuy nhiên chỉ trong khoảng 1 -2 thế kỉ gần đây, từ khi con người
bước vào nền văn minh công nghiệp, quy mô và mức độ ô nhiễm môi trường
ngày càng trầm trọng. Điều đó liên quan đến:
+ Sự tập trung cao độ dân cư, nhà máy do đô thị hóa – công nghiệp hóa,
+ Khai thác, chế biến và sử dụng ngày càng nhiều tài nguyên, nhiên liệu
+ Tạo ra các sản phẩm hoàn toàn mới chưa từng có trong thiên nhiên.
1.1.2.2. Những khái niệm về vấn đề ô nhiễm môi trường

- Khái niệm về ô nhiễm nước: Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và
tính chất của nước, có hại cho hoạt động sống bình thường của con người và sinh
vật, do sự có mặt của các tác nhân quá ngưỡng cho phép.

6


- Khái niệm về ô nhiễm không khí: Không khí tự nhiên có thành phần các
chất khí thích hợp cho đời sống con người và sinh vật (78% nitơ, 21% oxy và 1%
một số khí khác). Không khí bị ô nhiễm khi một số tác nhân thải vào không khí
gây tác hại đến sức khỏe con người, các hệ sinh thái và các vật liệu khác nhau
hoặc gây ra sự giảm tầm nhìn xa.
- Khái niệm ô nhiễm đất: Ô nhiễm đất là một trong các hình thức suy thoái
tài nguyên đất hiện nay. Sự có mặt trong đất các tác nhân ô nhiễm làm ảnh hưởng
trước hết đến các sinh vật trong đất, sau đó đến cây trồng và sản phẩm, rồi đến
con người; gây ô nhiễm các nguồn nước.
- Khái niệm ô nhiễm tiếng ồn: Ô nhiễm tiếng ồn cũng là một dạng ô nhiễm
đáng chú ý (thường được xếp vào ô nhiễm không khí). Khi tiếng ồn vượt quá giới
hạn cho phép sẽ gây tác động xấu đến sức khỏe con người.
Tiếng ồn không chỉ làm hại cơ quan thính giác mà còn ảnh hưởng tới các bộ
phận khác của cơ thể, gây ra các rối loạn về thần kinh, tim mạch, huyết áp, nội
tiết.
1.1.2.3. Mối quan hệ giữa con người với môi trường

- Tác động của môi trường đến con người
+ Tích cực: Môi trường là nơi cư trú, sinh sống của con người, cung cấp
nguồn nguyên liệu và năng lượng cho sự phát triển cuộc sống con người; là nơi
lao động, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí của con người; là nơi tiếp nhận, biến đổi các
chất thải của con người.
+ Tiêu cực: Môi trường ô nhiễm gây khó khăn cho hoạt động sản xuất của
con người, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, gây ra bệnh tật cho con người, dể dẫn
đến tử vong.
- Tác động của con người đến môi trường
+ Tích cực: Con người góp phần bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động
như trồng cây gây rừng, cải tạo đất, xử lí rác thải và bảo vệ nguồn nước ngọt…sử
dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.
+ Tiêu cực: Dân số tăng nhanh gây sức ép lên tài nguyên thiên nhiên và môi
trường do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên; tạo ra các nguồn thải tập
trung vượt quá khả năng tự phân hủy của môi trường tự nhiên trong các khu đô
thị, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; làm suy giảm khả năng của môi trường
trong hạn chế thiên tai, sự cố, thậm chí gia tăng nguy cơ thiên tai; nhất là suy
thoái môi trường do đô thị hóa.
1.1.2.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến môi trường

- Ô nhiễm nước

7


+ Nguồn ô nhiễm: nguồn tự nhiên gồm nhiễm mặn, nhiễm phèn, thối rữa xác
động thực vật; nguồn nhân tạo gồm nước thải từ các khu dân cư, khu công
nghiệp,…
+ Tác nhân gây ô nhiễm: thuốc trừ sâu DDT, dioxin, đường, dầu mỡ, chất
vô cơ (muối amôni, nitrat, nitrit…), kim loại nặng (Pb, Cu, Hg,…), chất phóng
xạ, chất rắn, khí hòa tan, sinh vật gây bệnh.
- Ô nhiễm không khí
+ Nguồn ô nhiễm: Nguồn thiên nhiên gồm bão cát, núi lửa phun, cháy rừng,
xác sinh vật thối rữa; sản xuất công nghiệp gồm khói nhà máy, hóa chất, luyện
kim,…; khí xả từ các phương tiện vận tải; sinh hoạt gồm bếp đun, lò sưởi, đốt
rác.
+ Tác nhân gây ô nhiễm: bụi, sương mù quang hóa, các khí chủ yếu gồm
CO, CO2, NOX, SO2… gây hiệu ứng nhà kính, suy giảm tầng ô dôn, mưa axit.
- Ô nhiễm đất
+ Nguồn ô nhiễm: Do sử dụng phân hữu cơ trong nông nghiệp chưa qua xử
lí mầm bệnh, kí sinh trùng, vi khuẩn; sản xuất công nghiệp, nước thải công
nghiệp, khai thác dầu trên đất liền…
+ Tác nhân gây ô nhiễm: tác nhân sinh học (vi khuẩn, kí sinh trùng), tác
nhân hóa học (phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, dầu mỏ), tác nhân vật lí (nhiệt
độ tăng, chất phóng xạ).
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ THỰC
TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG DO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG
1.2.1. Thực trạng phát triển kinh tế ở ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng đất rộng lớn giàu tiềm năng phát triển
kinh tế, là vùng sản xuất nông nghiệp và thủy sản lớn nhất cả nước, có vị trí đặc
biệt trong chiến lược phát triển KTXH, an ninh quốc phòng của Việt Nam. Từ
tiềm năng và vị trí quan trọng của vùng, trong những năm qua Đảng và Nhà nước
đã dành sự quan tâm đặc biệt, chỉ đạo và hỗ trợ trên nhiều mặt nhằm đẩy mạnh
nhịp độ phát triển. Nhờ vậy, kinh tế của vùng đã có những bước phát triển mạnh
mẽ, bộ mặt KTXH ở các địa phương trong vùng thay đổi, đời sống nhân dân
được nâng cao.
Đặc biệt, bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh thực hiện CNH, HĐH, ĐBSCL đã
tham gia sâu rộng vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Trên cơ
sở tận dụng những điều kiện từ bên ngoài thông qua quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, đồng bằng sông Cửu Long còn phát huy được những lợi thế vốn có, đẩy
nhanh tốc độ phát triển tăng trưởng kinh tế của vùng, xứng tầm là trung tâm sản
xuất hàng hóa nông nghiệp lớn nhất cả nước.
8


Tuy nhiên, so với tiềm năng thế mạnh vốn có thì những kết quả đạt được trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế xã hội ở ĐBSCL trong thời
gian qua mới chỉ là bước đầu, vẫn còn nhiều hạn chế. Quá trình hội nhập quốc tế
của ĐBSCL vẫn chưa phát huy được hết những tiềm năng hiện có của ĐBSCL.
1.2.2. Thực trạng ô nhiễm môi trƣờng do sự phát triển kinh tế ở ĐBSCL

Theo Chi cục Bảo vệ Môi trường Tây Nam bộ, các tỉnh trong khu vực
ĐBSCL cần nhanh chóng thực hiện các biện pháp ngăn chặn hữu hiệu tình trạng
suy thoái môi trường đang diễn ra với mức độ đáng báo động. Nếu cứ kéo dài
tình trạng này, cùng với việc bón phân hóa học nhiều quá mức thì môi trường
nông nghiệp sẽ ô nhiễm, đất đai mất dần độ phì nhiêu. Nguồn lợi thủy sản cũng
cạn kiệt, sức khỏe người nông dân, người tiêu thụ nông sản cũng bị ảnh hưởng.
Theo Viện lúa ĐBSCL, trong 3 vụ lúa hàng năm, nông dân tại Cần Thơ, Đồng
Tháp bón phân hóa học các loại từ 514-613 kg/ ha. Nếu chỉ sản xuất 2 vụ hè thu
và đông xuân trong năm, nông dân bón từ 348-435 kg/ ha. Nhưng theo các
chuyên gia thì mỗi năm đồng ruộng nhận từ 10.000 tấn trở lên. Chưa tính được
lượng nông dược phun xịt, rải trên vườn cây, trong ao nuôi thủy sản tổng diện
tích hơn 700.000 ha. Ngoài ra, nhiều nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất cứ cho
nước thải công nghiệp chảy ra sông rạch. Cư dân sống ven sông rạch cũng đổ
chất thải sinh hoạt hàng ngày xuống sông rạch càng làm cho môi trường nước
thêm ô nhiễm. Tình trạng nước mặn xâm nhập gia tăng, sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật qúa mức, nguồn chất thải sinh hoạt, sản xuất công nghiệp... đang gây
suy thoái môi trường đất, nước. Rừng ngập mặn đồng bằng sông Cửu Long trước
đây có 239 loài cây, 36 loài thú, 182 loài chim, 34 loài bò sát , 6 loài lưỡng cư,
260 loài cá nhưng đến nay chỉ còn có vài chục loài, có loài bị nguy cơ tuyệt
chủng. Hoạt động đánh bắt thủy sản trên biển, phát triển giao thông sông biển,
thăm dò, khai thác dầu khí, các khu du lịch ven biển, tàu thuyền đậu ở các cảng
cá... cũng thải chất độc hại vào môi trường nước biển. Ô nhiễm môi trường đô thị
vùng đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu do tốc độ đô thị hóa nhanh nhưng trong
thời gian dài, các địa phương chưa có phương án bảo vệ môi trường tương xứng.
Vì vậy, ĐBSCL cần đưa ra các giải pháp để bảo vệ môi trường, nhất là giáo dục
ý thức của người dân để góp phần phát triển kinh tế ĐBSCL ổn định và bền vững
trong tương lai.
1.3. TIỂU KẾT CHƢƠNG 1

Phát triển kinh tế có vai trò quan trọng đối với sự tồn vong của mỗi quốc gia.
Muốn phát triển kinh tế cần có các nguồn lực về tự nhiên và KTXH. Muốn phát
triển kinh tế cần quan tâm đến vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và
9


theo lãnh thổ. Môi trường là là tất cả những gì bao quanh và có ảnh hưởng đến
một vật thể hay sự kiện. Giữa môi trường và con người có mối quan hệ mật thiết,
tác động qua lại lẫn nhau theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Sự phát triển
kinh tế không bền vững là nguồn gốc và tác nhân gây ô nhiễm môi trường; do đó
cần phải bảo vệ môi trường và PTKTBV.

10


CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG DO SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ Ở TỈNH AN GIANG
2.1. CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH AN GIANG
2.1.1. Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ

- Vị trí địa lí: An Giang là một tỉnh thuộc ĐBSCL, phía Tây Nam Tổ quốc
trong khoảng từ 10012’B đến 10057’B và từ 104046’Đ đến 105035’Đ.. Điểm cực
Bắc của tỉnh thuộc xã Khánh An (huyện An Phú), điểm cực Nam ở xã Bình
Thành (huyện Thoại Sơn), điểm cực Tây tại xã Vĩnh Gia (huyện Tri Tôn) và
điểm cực Đông thuộc xã Bình Phước Xuân (huyện Chợ Mới). Phía Bắc và Tây
Bắc giáp Cam-pu-chia dài 104km, phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp dài 107,6km,
phía Nam giáp TP Cần Thơ dài 44,7km, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang dài
70km.
- Phạm vi lãnh thổ: Diện tích 3536,66 km2, gồm 1 thành phố là thành phố
Long Xuyên, 2 TX là TX Châu Đốc, TX Tân Châu và 8 huyện là An Phú, Châu
Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên.
2.1.2. Các nguồn lực tự nhiên
2.1.2.1. Địa hình

Địa hình của tỉnh có hai dạng chính là đồng bằng và đồi núi:
- Địa hình đồng bằng, chiếm 87% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh, gồm hai
loại chính là đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi. Đồng bằng phù sa có độ
nghiêng nhỏ, độ cao khá thấp và tương đối bằng phẳng, bị chia cắt bởi kênh đào,
đất chủ yếu là cát pha đến thịt nhẹ, thích hợp trồng lúa, ngô, cây công nghiệp
hàng năm, cây ăn quả. Đồng bằng ven núi có độ cao từ 5-10 m, hẹp, độ dốc nhỏ
hiện trồng lúa, màu, cây ăn quả.
- Địa hình đồi núi thấp, chiếm 13% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh, phân bố
ở Tri Tôn, Tịnh Biên gồm khu vực Bảy Núi: núi Két, núi Cấm, núi Dài, núi
Tượng, núi Nước, núi Cô Tô, núi Năm Giếng và các núi thấp như núi Sam, núi
Ba Thê, núi Sập. Đất đồi núi thích hợp trồng cây ăn quả và trồng rừng.
2.1.2.2. Khí hậu

- An Giang nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa mang tính chất cận xích
đạo. Lượng bức xạ tương đối lớn, tổng nhiệt độ trung bình năm là 100000C. Số
giờ nắng bình quân trong năm khoảng 2520 giờ. Nhiệt độ trung bình năm khá
cao và ổn định 270C., cao nhất là 29,50C (tháng 4), thấp nhất là 240C (tháng 12).
- Độ ẩm trong năm trên 80%, tổng lượng mưa từ 1200 – 1300mm.
11


- Chế độ gió mùa:
+ Mùa khô có gió Tín phong Đông Bắc thịnh hành, kéo dài từ tháng 11 đến
tháng 4, thời tiết trong sáng, ít mưa, chỉ chiếm 10% lượng mưa cả năm.
- Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, gió mùa Tây Nam mang khối
khí biển nhiệt đới và xích đạo, lượng ẩm dồi dào, mưa nhiều, chiếm tới 90%
lượng mưa cả năm.
=> Khí hậu An Giang thuận lợi cho chăn nuôi, trồng trọt, thủy sản, GTVT,
du lịch… nhưng cũng có nhiều thiên tai như bão, lũ lụt, mùa khô thiếu nước.
2.1.2.3. Sông ngòi

An Giang là một trong hai tỉnh đầu nguồn của sông Mê Công (phần Việt
Nam), có các con sông lớn chảy qua, nhiều rạch tự nhiên và kênh đào khá chằng
chịt. Mật độ sông ngòi là 0,72km/km2, thuộc mức cao nhất trong các tỉnh Đồng
bằng sông Cửu Long.
- Các sông chính là sông Tiền, sông Hậu - là hai nhánh chính của hạ lưu
sông Mê Công trước khi đổ ra biển Đông. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có các
sông như: Vàm Nao, Bình Di, Châu Đốc.
- Ngoài các sông lớn, trên bề mặt lãnh thổ An Giang có một hệ thống rạch tự
nhiên, kênh đào và hồ. Hệ thống rạch tự nhiên phân bố rải rác khắp địa bàn cả
tỉnh, những rạch tự nhiên lớn là Long Xuyên, Ông Chưởng, Cái Tắc, Mặc Cần
Dưng, …
- An Giang có nhiều kênh đào như kênh Vĩnh Tế, Thoại Hà, Vĩnh An, Trà
Sư, Thần Nông, …
- Ở An Giang còn có một số hồ tự nhiên như Búng Bình Thiên lớn, Búng
Bình Thiên nhỏ, Nguyễn Du, Soài So…
=> Sông ngòi An Giang thuận lợi phát triển thủy sản, GTVT, cung cấp nước
sinh hoạt và sản xuất, du lịch sông nước… nhưng gây lũ lụt ảnh hưởng đến phát
triển knih tế.
2.1.2.4. Đất đai

- An Giang có diện tích tự nhiên là 353.666 ha. Trên lãnh thổ toàn tỉnh có 3
nhóm đất chính:
+ Nhóm đất phù sa chiếm 72,5% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các
huyện An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới, Châu Phú, Châu Thành, Thoại
Sơn, một phần TP.Châu Đốc và TP.Long Xuyên => Thích hợp trồng lúa, hoa
màu, cây ăn quả, cây công nghiệp hàng năm.

12


+ Nhóm đất phèn, chiếm 18,9% diện tích tự nhiên, phân bố ở những vùng xa
sông Hậu và một phần của tứ giác Long Xuyên => Thích hợp sản xuất lúa 2 vụ
trong năm.
+ Nhóm đất đồi núi, chiếm 8,6% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu tại hai
huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và một phần nhỏ ở huyện Thoại Sơn => Thích hợp
trồng cây ăn quả, trồng rừng.
- Cơ cấu sử dụng đất của tỉnh An Giang lớn nhất là đất nông nghiệp chiếm
80%, đất lâm nghiệp là 3,9%, đất chuyên dùng là 11,1%, đất ở là 4,3%, đất chưa
sử dụng là 0,7% (năm 2011).
2.1.2.5. Sinh vật

- Do khí hậu thuận lợi và đất đai màu mỡ nên động - thực vật ở An Giang
phát triển phong phú, có nhiều loài. Năm 2011, An Giang có 1075 ha rừng đặc
dụng. 8725 ha rừng phòng hộ, 4112 ha rừng sản xuất tập trung chủ yếu ở Tịnh
Biên, Tri Tôn.
- Rừng tự nhiên ở Tri Tôn chủ yếu là cây lá rộng, có 154 loài cây quý hiếm
thuộc 54 họ với nhiều loài cây quý như dầu, sao, kiền kiền.
=> Rừng ở An Giang thuận lợi phát triển lâm nghiệp, bảo vệ môi trường
sinh thái nhưng hiện nay đang bị suy giảm nghiêm trọng.
2.1.2.6. Khoáng sản

An Giang có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đáng kể nhất có vật
liệu xây dựng, than bùn, nước khoáng, cao lanh, quặng mô-lip-đen, đi-a-tô-mit,
nước khoáng => thuận lợi phát triển các ngành công nghiệp.
2.1.3. Các nguồn lực KT-XH
2.1.3.1. Dân cư và nguồn lao động

- An Giang là tỉnh đông dân, năm 2011 có 2,15 triệu người, đứng thứ 6
trong cả nước, đứng đầu vùng ĐBSCL. Dân số tăng nhanh từ 2,05 triệu người
năm 1999 tăng lên 2,15 triệu người năm 2011 tăng 0,1 triệu người, nhờ thực hiện
KHHGĐ nên tỉ suất gia tăng tự nhiên giảm còn 1,03% năm 2011.
- An Giang có 29 dân tộc, trong đó có 4 dân tộc có số dân đông là Việt
(chiếm 94,92% dân số), Khơ-me (3,85%), Chăm (0,61%), Hoa (0,55%). Ngoài ra
còn một số dân tộc khác với số lượng không đáng kể như Tày, Mường, Nùng,
Thái,…
- An Giang có 1,89 triệu người theo tôn giáo, trong đó phổ biến nhất là Phật
giáo với 0,56 triệu người, đạo Hòa Hảo với 0,78 triệu người, Cao Đài với 0,08

13


triệu người, Công giáo với 0,06 triệu người và đạo Hồi với 0,01 triệu nguồi.
Ngoài ra còn một số ít người theo đạo Tin lành.
- An Giang có cơ cấu dân số trẻ, dân số nam chiếm 49,7% dân số, dân số nữ
chiếm 50,3% dân số, số người trong độ tuổi lao động chiếm 55,4% dân số toàn
tỉnh, cơ cấu lao động chủ yếu trong khu vực I chiếm 58%, khu vực II chiếm
11,6%, khu vực III chiếm 30,4%.
- An Giang có MĐDS cao 608 người/km2 gấp 2,3 lần cả nước và 1,4 lần
ĐBSCL, nhưng phân bố không hợp lí, 89% dân số tập trung ở đồng bằng, 11%
dân số tập trung ở vùng núi. Tỉ lệ dân thành thị năm 2011 là 29,9%.
=> Dân số đông nên An Giang có nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu
thụ rộng lớn, đây là nguồn lực quý báo để phát triển kinh tế nhưng nguồn lao
động với chất lượng và trình độ còn chưa cao, tình trạng thất nghiệp đang là vấn
đề nan giải cho cả tỉnh.
2.1.3.2. Nguồn vốn

Trong phát triển kinh tế, dịch vụ và nông nghiệp được xem là thế mạnh chủ
lực của tỉnh, nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp của tỉnh được chú
trọng. Năm 2010, số vốn đầu tư vào phát triển nông nghiệp đạt 1.250 tỉ đồng,
chiếm 12,5% trong cơ cấu thực hiện vốn đầu tư phát triển do địa phương quản lí.
Tuy nhiên, nguồn vốn này vẫn còn hạn chế, chủ yếu vẫn là vốn tự có của nông
dân. Vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỉ trọng không đáng kể, tập trung chủ yếu
thông qua việc xây dựng nhà máy, xí nghiệp chế biến.
2.1.3.3. Khoa học công nghệ

Khoa học công nghệ là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế. Việc ứng dụng khoa học công nghệ được thực hiện trên nhiều lĩnh
vực nhất là trong nông nghiệp. Các cơ sở sản xuất giống lúa phát triển rộng khắp
toàn tỉnh, đáp ứng hơn 90% nhu cầu giống cho sản xuất lúa. Toàn tỉnh hiện có
trên 200 tổ giống và 14 công ty sản xuất kinh doanh giống hoạt động. Ngoài ra,
chương trình nhân nuôi nấm xanh đã ứng dụng cho 190,4 ha lúa và mô hình ghi
chép sổ tay VietGAP trên lúa đã được ứng dụng 455 ha.
2.1.3.4. Chính sách phát triển của tỉnh

Xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, từ năm 1987, An Giang đã
thực hiện hàng loạt các chủ trương nhằm đẩy mạnh phong trào tăng vụ thâm
canh, giao quyền sử dụng đất ổn định và lâu dài cho nông dân, đẩy mạnh chương
trình khuyến nông, chính sách tín dụng cho vay, chủ trương tự do thương mại và
phát triển các thành phần kinh tế... Các chính sách trên tạo điều kiện cho nền
kinh tế phát triển với tốc độ nhanh. Các chính sách đã tạo điều kiện cho nhân dân

14


an tâm chuyển đổi cơ cấu kinh tế phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
nhiều lần so với trước đây, đưa nền kinh tế tỉnh nhà phát triển đúng hướng và
vững chắc.
2.1.3.5. Thị trường

Với dân số đông 2,15 triệu người, thị trường nội địa đầy tiềm năng cho sự
phát triển kinh tế để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm, máy móc thiết bị,
hàng tiêu dùng, tham quan nghỉ dưỡng… Mặt khác, với vị trí giáp vùng Đông
Nam Bộ, thông qua hệ thống giao thông huyết mạch, phát triển kinh tế An Giang
có nhiều cơ hội để đưa các sản phẩm thâm nhập thị trường đầy tiềm năng. Bên
cạnh thị trường nội địa, các ngành kinh tế của tỉnh đã mở rộng ra các nước trong
khu vực và thế giới như Đông Âu, EU… Tuy nhiên, thị trường đầy tiềm năng
này đòi hỏi hoạt động sản xuất phải mang tính hàng hóa, có quy trình và chất
lượng đảm bảo theo tiêu chuẩn quốc tế, là những thách thức đối với phát triển
kinh tế của tỉnh.
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở TỈNH AN GIANG
2.2.1. Đặc điểm chung

GDP giá thực tế trên địa bàn tỉnh tăng liên tục đạt 47.154 tỉ đồng năm 2010,
đứng đầu vùng ĐBSCL, tốc độ tăng trưởng là 9,3%, TNBQĐN là 21,9 triệu
đồng.
Kinh tế đang có xu hướng chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH. Trước đây,
khu vực I chiếm tỉ trọng cao, hiện nay đã giảm rõ rệt từ 41,5% năm 2000 còn
34,4% năm 2010, tỉ trọng khu vực II, III tăng lên tương ứng là 11,2%; 34,7%
năm 2000 lên 12,1%; 53,5% năm 2010.
2.2.2. Thực trạng phát triển các ngành nông nghiệp
2.2.2.1. Ngành trồng trọt

- Cây lương thực: Diện tích trồng cây lương thực là 599.020 ha năm 2010,
tăng 1,27 lần so với năm 2000 và 1,04 lần so với năm 2005. Sản lượng lương
thực của tỉnh cũng có xu hướng tăng nhanh từ 2.379,91 tấn năm 2000 lên
3.727,52 tấn năm 2010 đứng đầu cả nước, năng suất cây lương thực đạt 62,2
tạ/ha năm 2010. Sự gia tăng của sản lượng đã góp nâng cao bình quân lương thực
đầu người của tỉnh, từ 1.154 kg/người năm 2000 lên 1.734kg/người năm 2010.
Trong cơ cấu lượng thực, cây lúa giữ vai trò chủ đạo.

15


Bảng 2.1. Diện tích, sản lƣợng và năng suất lúa tỉnh An Giang trong giai
đoạn 2000 – 2010
Năm

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Năng suất (tạ/ha)

2000

464.533

2.349.377

50,58

2005

529.698

3.141.544

59,31

2010

589.253

3.659.097

62,10

[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh An Giang năm 2010]
+ Trong giai đoạn 2000 - 2010, diện tích gieo trồng lúa đã tăng 124.720 ha
nhờ chuyển diện tích đất lúa 1 vụ sang 2 - 3 vụ/năm, sản lượng lúa tăng 1,55 lần,
đạt 3,6 triệu tấn năm 2010, giữ vị trí số 1 cả nước, việc đưa các giống lúa mới
vào sản xuất đã thúc đẩy năng suất lúa toàn tỉnh tăng ổn định và giữ vị trí cao so
với các tỉnh trong vùng. Năm 2010, năng suất đã đạt 62,1 tạ/ha, sản lượng lúa cao
và tăng nhanh khi dân số tăng chậm đã thúc đẩy SLLBQĐN tăng và đạt mức cao
với 1.702,3 kg/người năm 2010, gấp 4 lần so với cả nước. Về phân bố: Thoại
Sơn là huyện có diện tích và sản lượng lúa lớn nhất cả tỉnh, TP Long Xuyên và
TX Châu Đốc là nơi có diện tích và sản lượng lúa ít nhất toàn tỉnh.
+ Bên cạnh cây lúa, tỉnh còn trồng các loại cây hoa màu lương thực như
ngô, khoai, sắn; diện tích và sản lượng ngô ngày càng tăng, phân bố ở An Phú,
Tân Châu, Chợ Mới.
- Cây công nghiệp: Diện tích CCNHN và CCNLN từ 2000 – 2010 có xu
hướng giảm lần lượt là 3,3 nghìn ha; 3,4 nghìn ha xuống còn 2,8 nghìn ha; 2,5
nghìn ha. Các cây công nghiệp quan trọng của tỉnh là đậu nành, mè, mía, điều…
tập trung ở Tịnh Biên, Tri Tôn, Chợ Mới, Tân Châu.
- Cây ăn quả: xoài, nhãn, mít, chuối là thế mạnh của tỉnh với tổng diện tích
là 8,7 nghìn ha, sản lượng là 23,5 nghìn tấn, góp phần phục phụ nhu cầu trong
tỉnh và đáp ứng thị trường xuất khẩu.
2.2.2.2. Ngành chăn nuôi

Trong CCGTSXNN, chăn nuôi chiếm tỉ trọng thấp, 6,9% và có xu hướng
tăng chậm. Chăn nuôi gia súc chiếm 50% giá trị. Trâu, bò được nuôi nhiều ở Tri
Tôn, Tịnh Biên; lợn được nuôi ở Chợ Mới, Phú Tân; gia cầm nuôi nhiều ở vùng
Tứ giác Long Xuyên. Về sự thay đổi về số lượng gia súc, gia cầm được thể hiện
ở bảng 2.2.

16


Bảng 2.2. Số lƣợng đàn gia súc, gia cầm tỉnh An Giang giai đoạn 2000 – 2010

Năm

2000

2005

2010

Đàn trâu (Con)

3.199

5.447

5.683

Đàn bò (Con)

37.342

69.765

75.317

Đàn lợn (Con)

186.050

209.197

170.768

Đàn gia cầm (Con)

2.492.000

2.835.000

4.097.000

[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh An Giang năm 2005, 2010]
2.2.1.3. Ngành thủy sản
Tấn
300.000

279.775

250.000
200.000

180.809
Nuôi trồng

150.000
100.000

Khai thác
91.268
80.156
51.330

50.000

37.209

0
2000

2005

2010

Biểu đồ 2.1. Sản lƣợng thủy sản khai thác và nuôi trồng tỉnh An Giang giai đoạn
2000 – 2010
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh An Giang năm 2005, 2010]

Biểu đồ 2.1 cho thấy tổng sản lượng thủy sản của tỉnh đạt 316,9 nghìn tấn
năm 2010, tăng 1,84 lần so với năm 2000, 1,36 lần năm 2005. Tổng sản lượng
thủy sản tăng chủ yếu do sự tăng lên của sản lượng nuôi trồng từ 80.156 tấn năm
2000 lên 279.775 tấn năm 2010 tăng 3,5 lần trong khi sản lượng khai thác giảm
mạnh còn 37.209 tấn năm 2010. Ngành nuôi trồng thủy sản cho thấy ưu thế hơn
ngành khai thác thủy sản khi sản lượng và tỉ trọng sản lượng tăng liên tục, chiếm
88,3% cơ cấu tổng sản lượng thủy sản chung của tỉnh năm 2010. Cá tra, cá basa
có giá trị hàng đầu trong cơ cấu SXTS của tỉnh.
2.2.1.4. Ngành lâm nghiệp

17


Diện tích đất lâm nghiệp có rừng tăng lên và đạt 13.912,47 ha, tăng 2.122 ha
so với năm 2000, độ che phủ rừng đạt 3,9% năm 2010. Rừng ở An Giang khá đa
dạng, có hai hệ sinh thái chính là hệ sinh thái thực vật rừng vùng đồi núi và hệ
sinh thái thực vật vùng ngập nước úng phèn, tập trung chủ yếu ở 2 huyện Tri
Tôn, Tịnh Biên, một phần ở núi Ba Thê (Thoại Sơn) và Núi Sam (Châu Đốc). Hệ
sinh thái với nhiều loại có giá trị như Dầu Song nàng, Sao đen, Cẩm liên, Bằng
lăng ổi, chim, cò, sến ...
2.2.3. Thực trạng phát triển các ngành công nghiệp
2.2.3.1. Đặc điểm chung

GTSXCN trong thời gian qua tăng nhanh, từ 2.782 tỉ năm 2000 lên 5.706 tỉ năm
2010. Với chính sách đầu tư của tỉnh, tốc độ tăng trưởng của sản xuất công
nghiệp và tiêu thụ công nghiệp khá cao, bình quân hàng năm đạt 11,42%. Tuy
nhiên tỉ trọng công nghiệp trong cơ cấu GDP của tỉnh vẫn còn nhỏ và chuyển
dịch chậm, năm 2005 chiếm 12,1% GDP.
2.2.3.2. Ngành công nghiệp chế biến
Đây là ngành giữ vai trò quan trọng của công nghiệp An Giang, đứng đầu về
giá trị sản xuất, số lao động và số cơ sở sản xuất. Giá trị sản xuất của ngành
chiếm 94,3% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.
Ngành công nghiệp chế biến phát triển ổn định, với tốc độ tăng trưởng bình
quân thời kỳ 1986 – 1997 là 9,13%. Ưu thế là các ngành như: xay xát , lau bóng
gạo, chế biến thủy sản đông lạnh, chế biến rau quả, chế biến khô và nước mắm,
sản xuất nước tương,…
Nhiều doanh nghiệp chế biến nổi tiếng và có giá trị xuất khẩu cao như:
Công ty trách nhiệm hữu hạn Nam Việt, Công ty xuất nhập khẩu nông sản thực
phẩm (AFIEX), Công ty xuất nhập khẩu thủy sản (AGIFISH), Công ty dịch vụ
kỹ thuật nông nghiệp An Giang (ANTESCO),…
2.2.3.3. Ngành công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng
Đây cũng là ngành thế mạnh của tỉnh, đứng thứ 2 về giá rị sản xuất công
nghiệp, chiếm 4,8%. Sản phẩm của ngành đa dạng: gạch ngói, xi – măng, gạch
bông, đá khai thác, đá ốp – lát,…
Công nghiệp khai thác khoáng sản bao gồm nghề khai thác đá xây dựng tập
trung ở Tri Tôn, Tịnh Biên; khai thác cát sông ở Long Xuyên, Châu Thành, Châu
Phú, Tân Châu; sản xuất than tổ ong ở Châu Phú.
An Giang là tỉnh duy nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long có thế mạnh về đá
xây dựng, nhất là đá granite. Năng lực khai thác của tỉnh khoảng 2,9 triệu m3

18


trong năm 2010. Tham gia khai thác đá xây dựng là các doanh nghiệp nhà nước
như: Công ty khai thác và chế biến đá An Giang, Công ty liên doanh khai thác đá
khối Latina, Xí nghiệp khai thác đá Quyết Thắng,…
Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng bao gồm nghề sản xuất gạch ngói ở
Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới, Phú Tân; sản xuất gạch bông ở Long Xuyên,
Châu Đốc; sản xuất xi – măng ở Long Xuyên…
An Giang chỉ có một nhà máy sản xuất xi – măng trực thuộc Công ty Xây
lắp An Giang, đặt tại thành phố Long Xuyên, với công suất nghiền hơn 100.000
tấn xi – măng /năm. Sản phẩm của nhà máy được tiêu thụ 70% trong tỉnh, còn lại
tiêu thụ ngoài tỉnh.
2.2.3.4. Ngành công nghiệp cơ khí
Ngành này đang được đầu tư phát triển, nhất là trong lĩnh vực chế tạo máy
nông nghiệp, sản xuất phụ tùng thay thế… Sản phẩm chủ lực của ngành là nông
cụ cầm tay, máy tuốt lúa có động cơ… Công ty Cơ khí An Giang có thế mạnh về
sản xuất máy móc thiết bị nông nghiệp, giao thông, xây dựng, với các sản phẩm
nổi tiếng: máy gặt xếp dãy, máy tuốt lúa, cầu sắt nông thôn… Tuy nhiên, việc
đầu tư vông nghệ còn ở mức trung bình, chưa có dây chuyền hiện đại, công nghệ
cao, do đó chưa tạo ra được sản phẩm có sức cạnh tranh cao, có thể xuất khẩu.
2.2.3.5. Tiểu thủ công nghiệp
An Giang là tỉnh có thế mạnh về các ngành tiểu thủ công nghiệ với nhiều
ngành, nghề truyền thống nổi tiếng.
- Nghề mộc ở Chợ Mới, hàng năm giải
nhập cho hàng nghìn lao động địa phương.

quyết việc làm và tạo thêm thu

- Cở sở làm đường thốt nốt ở Tri Tôn, Tịnh Biên,Châu Đốc. dựa trên nguồn
nguyên liệu từ cây thốt nốt. Sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong và ngoài tỉnh.
- Cơ sở thêu may Kim Chi ở Long Xuyên, với nhiều sản phẩm phong phú,
xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới.
Ngoài ra trong tỉnh còn có nhiều sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, các làng
nghề nổi tiếng: khô cá tra phồng, mắm ở Châu Đốc, dệt lụa ở Tân Châu, nghề rèn
ở Phú Tân, cầu lông Hoàng Yến ở Chợ Mới
2.2.3.6. Các khu công nghiệp
Tỉnh đã và đang thành lập nhiều khu công nghiệp, để đẩy mạnh ngành công
nghiệp hóa – hiện đại hóa, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, góp phần làm
cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh. Toàn tỉnh hiện có 2 khu công nghiệp quy mô
lớn và nhiều khu công nghiệp nhỏ ở các huyện, thị, thành.
19


- Khu công nghiệp Bình Long, có quy mô 41,75 ha, nằm cạnh quốc lộ 91 và
giáp với sông hậu, thuộc huyện Châu Phú. Khu công nghiệp Bình Long có vị trí
thuận lợi về giao thông đường bộ lẫn đường thủy. Các ngành công nghiệp thích
hợp là: chế biến nông sản, vệt liệu xây dựng, dệt – may, cơ kh1 sữa chữa…
- Khu công nghiệp Bình Hòa, có quy mô 146 ha, nằm tại Ngã 3 Lộ Tẻ,
thuộc huyện Châu Thành. Các ngành công nghiệp thích hợp là: chế biến lương
thực – thực phẩm, dệt – may, cơ khí, sản xuất hàng tiêu dùng,…
Ngoài ra, tỉnh đang tiến hành quy hoạch một số khu công nghiệp ở các
huyên, thị, thành như: khu công nghiệp Mỹ Quý (Long Xuyên), Phú Hòa (Thoại
Sơn), Tân Trung (Phú Tân), Hòa An (Chợ Mới), các khu công nghiệp ở các cửa
khẩu Tịnh Biên, Khánh Bình, Vĩnh Xương
2.2.4. Thực trạng phát triển các ngành dịch vụ
2.2.4.1. Ngành giao thông vận tải

- Đường bộ: tổng chiều dài đường bộ của An Giang là 3560km, trong đó có
356km đường nhựa, còn lại là đường đá, đường cấp phôi và đường đất. Hệ thống
đường bộ trên địa bàn tỉnh bao gồm:
+ Quốc lộ 91, nối Cần Thơ với Long Xuyên, Châu Đốc với Cam-pu-chia,
dài 91km. Trên suốt chiều dài quốc lộ có 42 cầu với tổng chiều dài 1854km.
+ Hệ thống tỉnh lộ có 14 tuyến (941, 942, 943, 948, 955…) với tổng chiều
dài 404km, 114 cầu.
- Đường thủy: toàn tỉnh có 541 tuyến đường sông với tổng chiều dài
2504km, mật độ đường là 0,73km/km2. Trên địa bàn tỉnh có 8 bến phà (trong đó
có 2 bến phà liên tỉnh), 8 bến tàu (2 bến liên tỉnh), 139 bến đò ngang và 1 bến
cảng.
2.2.4.2. Ngành thương mại

- Nội thương: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội trên địa bàn tỉnh
tăng khá nhanh, từ 7.255 tỉ đồng năm 1999 lên 11.068 năm 2003 và 49.075 tỉ
đồng năm 2010. Về cơ cấu khu vực năm năm 2010, khu vực ngoài nhà nước
chiếm 98,5%, khu vực nhà nước chiếm 1,4%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
chiếm 0,1%. Hiện nay tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng các trung tâm thương
mại để tổ chức tốt giao thương hàng hóa trong thời gian tới. Tỉnh cũng đang triển
khai xây dựng các chợ mang tính chất đầu mối như: chợ nông sản lúa nếp Phú
Tân, chợ gia súc ở Châu Đốc và Tịnh Biên, chợ cửa khẩu Vĩnh Xương (Tân
Châu), Xuân Tô (Tịnh Biên), Khánh Bình (An Phú). Nhìn chung, mạng lưới chợ
trên địa àn toàn tỉnh đã phát triển tương đối toàn diện, bước đầu đẩy mạnh hoạt

20


động mua bán trao đổi và lưu thông hàng hóa, góp phần khai thác tốt thị trường
nội địa.
- Ngoại thương:
Nghìn USD
900.000
784.790

800.000

89.652
700.000
600.000
500.000
392.075
51.771

400.000

695.138

300.000
200.000
100.000

152.802
45.262

340.304

107.540
0
Giá trị xuất khẩu

2000
2005
2010
Giá trị nhập khẩu
Tổng giá trị xuất nhập khẩu

Biểu đồ 2.2. Giá trị xuất khẩu và nhập khẩu từ 2000 đến 2010

[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh An Giang năm 2005, 2010]
Biểu đồ 2.2 cho thấy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng liên tục, từ
152.802 nghìn USD lên 784.790 nghìn tỉ USD tăng 5,1 lần; trong đó, xuất khẩu
luôn cao hơn nhập khẩu, năm 2010 xuất khẩu gấp 7,8 lần nhập khẩu => An
Giang là tỉnh xuất siêu có cán cân xuất nhập khấu luôn dương.
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu chủ yếu: thủy sản, gạo chiếm 34,9% và thủy sản
chiếm 49,2% giá trị xuất khẩu của tỉnh (năm 2010). Hàng hóa nhập khẩu gồm
nguyên liệu phục vụ cho sản xuất như: gỗ, bánh dầu nành, hóa chất các loại…
trong đó chiếm 98,5% giá trị nhập khẩu (năm 2010).
Thị trường xuất khẩu hiện nay mở rộng trên 33 nước, nâng tổng số quan hệ
mua bán gần 60 quốc gia; các mặt hàng xuất khẩu ngày càng được nâng cao về
chất lượng đã tạo được uy tín nhất định trên thị trường thế giới. nguồn ngoại tệ
thu được qua xuất khẩu đã góp phần cân đối cho nhu cầu nhập khẩu vật tư,
nguyên nhiên liệu, thiết bị, hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ phát triển sản xuất
địa phương.

21


2.2.4.3. Ngành du lịch

An Giang hiện đã và đang đầu tư vào các khu du lịch nổi tiếng: núi Cấm,
núi Sam, núi Sập – Ba Thê, Tức Dụp, Soài So… Năm 2006, toàn tỉnh đón trên 3
triệu lượt khách, trong đó các doanh nghiệp du lịch trong tỉnh đón 249.484 du
khách trong và ngoài nước, đạt doanh thu 93 tỉ đồng. Số ngày khách lưu trú trung
bình hàng năm còn thấp, khoảng 1,2 ngày. Điều này, cho thấy kết quả hoạt động
du lịch còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương, các loại hình
chưa phát triển nên chưa lưu giữ được khách lâu hơn. Trong tương lai phát triển
du lịch, tỉnh cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất – kỹ thuật, sản phẩm du lịch cần
đa dạng, phát triển nhiều loại hình mới để thu hút khách.
Những loại hình du lịch đang được khai thác: du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng,
kết hợp hội chợ mua sắm… liên kết với các tỉnh bạn và vương quốc Cam- puchia đã hình thành một số tuyến du lịch:
- Tuyến Long Xuyên – Núi Sam – Núi Cấm – Tức Dụp: tham quan khu lưu
niệm Bác Tôn, lăng Thoại Ngọc Hầu, miếu Bà Chúa Xứ, Lâm Viên núi Cấm, đồi
Tức Dụp.
- Tuyến Long Xuyên – Châu Đốc – Hà Tiên: tham quan khu lưu niệm Bác
Tôn, lăng Thoại Ngọc Hầu, miếu Bà Chúa Xứ, làng bè Châu Đốc, thị xã Hà Tiên.
- Tuyến Long Xuyên – Châu Đốc - Phnôm – pênh: tham quan khu lưu niệm
Bác Tôn, lăng Thoại Ngọc Hầu, miếu Bà Chúa Xứ, thành phố Phnôm – pênh,…
- Tuyến Long Xuyên – Mỹ Hòa Hưng – Ba Thê: tham quan khu lưu niệm
Bác Tôn, trại cá sấu Long Xuyên, khu di chỉ văn hóa Óc Eo.
Tuy nhiên, cơ sở vật chất – kỹ thuật cho ngành còn nhiều hạn chế: số phòng,
khách sạn đạt chỉ tiêu chuẩn cao cấp còn thiếu, giao thông chưa phát triển đồng
bộ, các loại hình du lịch và các sản phẩm du lịch chưa đa dạng để thu hút du
khách. Các khu vui chơi giải trí còn đơn điệu chưa hấp dẫn du khách lưu trú
nhiều ngày. Ý thức người dân cũng còn hạn chế trong việc giữ gìn và tôn tạo các
di tích lịch sử, bảo vệ rừng,…
2.3. THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG DO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Ở TỈNH AN GIANG

Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong xã hội hiện nay là tình trạng ô
nhiễm môi trường sống, trước hết là ô nhiễm không khí, nước uống, thực
phẩm do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra. Vấn đề
này ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền
vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai.

22


2.3.1. Thực trạng ô nhiễm môi trƣờng do sự phát triển nông nghiệp

Tình trạng ô nhiễm môi trường ở tỉnh An Giang do chất thải từ nông nghiệp
đang ở mức báo động, chủ yếu do 70% lượng rác và nước thải được đổ thẳng
xuống kênh rạch chảy vào sông Tiền, sông Hậu. Kết quả quan trắc của Sở Tài
nguyên và Môi trường An Giang cho thấy hầu hết nguồn nước được kiểm tra đều
có chất lượng xấu.
Ngoài ra, chất thải thường xuyên từ hàng nghìn bè, ao hầm nuôi thủy sản, dư
lượng thuốc trừ sâu cùng phân bón của hơn 250.000 ha đất nông nghiệp và chất
thải chưa được xử lý hết của 14 nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh cũng làm
cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngày càng tăng.
Theo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang, bình quân mỗi ngày toàn
tỉnh phát sinh trên 1.300 tấn rác thải rắn từ sinh hoạt; ngoài ra còn có hơn 1.126
tấn/năm rác thải thuốc BVTV. T oàn tỉnh mới thu gom, xử lý được 60%, số còn
lại do nhân dân tự đốt hoặc thải ra sông ngòi, kênh, rạch, gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng. Công tác thu gom, xử lý rác thải rắn gây ô nhiễm môi trường đang
là bài toán khó cho tỉnh An Giang.
Nguyên nhân do cộng đồng chưa ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường; chưa
thống nhất đơn vị dịch vụ công từ tỉnh, huyện, thị, xã, chủ yếu chính quyền địa
phương tự tổ chức thu gom, vì vậy đầu tư không đồng bộ, thiếu về lực lượng,
phương tiện, thiết bị thu gom xuống cấp. Đặc biệt, điểm quy tập rác thải rắn thiếu
trầm trọng, nên thu gom rác không hiệu quả và triệt để, chỉ đạt 60% ở khu vực
thành thị, từ 5% - 15% khối lượng rác phát sinh trong ngày ở vùng nông thôn. Lo
lắng nhất hiện nay là toàn tỉnh mới có 11 bãi rác lớn và số ít bãi rác nhỏ, là bãi lộ
thiên xây dựng không đúng quy trình kỹ thuật, không đảm bảo yêu cầu vệ sinh
môi trường, đang quá tải, gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường đất, không khí.
2.3.2. Thực trạng ô nhiễm môi trƣờng do sự phát triển công nghiệp

Theo đánh giá, đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động thiên
về lợi nhuận kinh tế thuần túy trong sản xuất của các khu công nghiệp, làng nghề
và sinh hoạt tại các đô thị lớn. Hầu hết các khu, cụm, điểm công nghiệp chưa đáp
ứng được những tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường theo quy định. Một số khu
công nghiệp không có hệ thống xử lý nước thải tập trung, hoặc có nhưng hầu như
không vận hành vì để giảm chi phí, họ thải trực tiếp nước thải ra các kênh, rạch,
sông và các điểm xả… gây tác động xấu đến nguồn nước cho người dân. Cùng
với sự ra đời ồ ạt các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề thủ công truyền
thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Việc phát triển các làng nghề
có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm
ở các địa phương.
23


Tình trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng
nghề là than, lượng bụi và khí thải ra trong quá trình sản xuất quá mức cho phép.
Hoạt động gây ô nhiễm môi trường sinh thái tại các khu công nghiệp và làng
nghề không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sinh hoạt và sức khỏe của
những người dân trong vùng mà còn ảnh hưởng đến cả những người dân sống ở
vùng lân cận. Họ phải sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm
chất thải. Từ đó, gây bất bình, dẫn đến những phản ứng, đấu tranh quyết liệt của
người dân đối với những hoạt động gây ô nhiễm môi trường. Các cơ sở sản xuất
gạch không đúng cách gây ô nhiễm môi trường. Các cơ sở hoạt động suốt ngày
đêm, khói bụi bay mù mịt, ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống của bà con xung
quanh. Lúc nào cũng có bụi bay đầy, vừa quét lau xong khoảng vài phút sau là
bụi bám. Những lúc ngay luồng gió thổi thì bụi càng nhiều hơn, ảnh hưởng đến
cuộc sống của người dân.
Trong khi đó, tại các đô thị lớn, tình trạng ô nhiễm về nước thải, rác thải sinh
hoạt, rác thải y tế, không khí, tiếng ồn... cũng ở mức báo động. Những năm gần
đây, dân số ở các đô thị tăng nhanh khiến hệ thống cấp thoát nước không đáp ứng
nổi và xuống cấp nhanh chóng. Nước thải, rác thải sinh hoạt (vô cơ và hữu cơ) ở
đô thị hầu hết đều trực tiếp xả ra môi trường mà không có bất kỳ một biện pháp
xử lý môi trường nào ngoài việc vận chuyển đến bãi chôn lấp. Mỗi ngày người
dân ở các thành phố lớn thải ra hàng nghìn tấn rác, đó là chưa kể đến khối lượng
lớn rác thải y tế được thải ra từ các bệnh viện và cơ sở y tế; các cơ sở sản xuất
thải ra hàng trăm nghìn mét khối nước thải độc hại; các phương tiện giao thông
thải ra hàng trăm tấn bụi, khí độc. Người dân đang phải hàng ngày chung sống
với những phế thải độc hại; cùng với đó là rau quả, thức ăn được sử dụng hóa
chất, có hại cho sức khỏe và sự sống. Biết bao căn bệnh hiểm nghèo đã và đang
gây tổn hại nhiều mặt trong đời sống xã hội.
2.3.3. Thực trạng ô nhiễm môi trƣờng do sự phát triển các ngành dịch vụ

- Hoạt động GTVT phát triển do nhu cầu đi lại của con người cũng như vận
chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất nên có nhiều phương tiện vận tải ra đời nhất là
môtô, ôtô,… thải ra bầu khí quyển một lượng khí CO2, khói bụi. Hàng tấn bụi,
khí SO2, NO2, CO2... cứ đều đặn được thải vào mội trường hàng ngày gây ô
nhiễm môi trường không khí trầm trọng, gây ra hiệu ứng nhà kính làm Trái Đất
nóng lên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và đời sống nhân dân. Bên cạnh
đó Ô nhiễm tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du khách có thể gây phiền
hà cho cư dân địa phương và các du khách khác kể cả động vật hoang dại.
- Hoạt động du lịch ở tỉnh An Giang cũng ảnh hưởng không nhỏ đến môi
trường:

24


+ Nước thải: Nếu như không có hệ thống thu gom nước thải cho khách sạn,
nhà hàng thì nước thải sẽ ngấm xuống bồn nước ngầm hoặc các thuỷ vực lân cận
(sông, hồ, biển), làm lan truyền nhiều loại dịch bệnh như giun sán, đường ruột,
bệnh ngoài da, bệnh mắt hoặc làm ô nhiễm các thuỷ vực gây hại cho cảnh quan
và nuôi trồng thủy sản.
+ Rác thải: Vứt rác thải bừa bãi là vấn đề chung của mọi khu du lịch. Ðây là
nguyên nhân gây mất cảnh quan, mất vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng
đồng và nảy sinh xung đột xã hội.
+ Ô nhiễm không khí: Tuy được coi là ngành "công nghiệp không khói",
nhưng du lịch có thể gây ô nhiễm khí thông qua phát xả khí thải động cơ xe máy
đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính, gây hại cho cây cối, động
vật hoang dại và các công trình xây dựng bằng đá vôi và bê tông.
+ Ô nhiễm phong cảnh: Ô nhiễm phong cảnh có thể được gây ra do khách sạn
nhà hàng có kiến trúc xấu xí thô kệch, vật liệu ốp lát không phù hợp, bố trí các
dịch vụ thiếu khoa học, sử dụng quá nhiều phương tiện quảng cáo nhất là các
phương tiện xấu xí, dây điện, cột điện tràn lan, bảo dưỡng kém đối với các công
trình xây dựng và cảnh quan. Phát triển du lịch hỗn độn, pha tạp, lộn xộn là một
trong những hoạt động gây suy thoái môi trường tệ hại nhất.
+ Làm nhiễu loạn sinh thái: Việc phát triển hoạt động du lịch thiếu kiểm soát
có thể tác động lên đất (xói mòn, trượt lở), làm biến động các nơi cư trú, đe doạ
các loài động thực vật hoang dại (tiếng ồn, săn bắt, cung ứng thịt thú rừng, thú
nhồi bông, côn trùng...). Xây dựng đường giao thông và khu cắm trại gây cản trở
động vật hoang dại di chuyển tìm mồi, kết đôi hoặc sinh sản, phá hoại rạn san hô
do khai thác mẫu vật, cá cảnh hoặc neo đậu tàu thuyền...
2.4. TIỂU KẾT CHƢƠNG 2

An Giang nằm ở phía Tây Nam đất nước, nguồn lực tự nhiên của tỉnh thuận lợi
cho sự phát triển các ngành kinh tế, đất màu mỡ với diện tích lớn, khí hậu á xích
đạo, nguồn nước dồi dào. Nguồn lực kinh tế - xã hội có vai trò quyết định sự phát
triển của nền kinh tế tỉnh nhà. Dựa trên các nguồn lực về tự nhiên và kinh tế xã
hội, Phát triển kinh tế tỉnh An Giang đã có những bước phát triển nhanh và vững
chắc.. Nông nghiệp ở An Giang nổi bật ở hai lĩnh vực được xem là chủ đạo: sản
xuất lúa và NTTS; công nghiệp tỉnh An Giang nổi bật là các ngành công nghiệp
chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, tiểu thủ công nghiệp; dịch vụ là thế
mạnh vượt bật của tỉnh nhất là về lĩnh vực thương mại và du lịch. Sự phát triển
kinh tế của tỉnh tác động mạnh mẽ đến môi trường làm ô nhiễm môi trường trầm
trọng gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người nên cần có giải pháp giải quyết kịp
thời. Do đó, người dân An Giang cần bảo vệ môi trường, PTKTBV.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×