Tải bản đầy đủ

Thực trạng hành vi vệ sinh môi trường của người dao tại một số xã đặc biệt khó khăn tỉnh thái nguyên và thử nghiệm mô hình can thiệp

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

THỰC TRẠNG HÀNH VI VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
CỦA NGƯỜI DAO TẠI MỘT SỐ XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH CAN
THIỆP

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


2


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

THỰC TRẠNG HÀNH VI VỆ SINH MÔI TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DAO TẠI
MỘT SỐ XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH CAN THIỆP

CHUYÊN NGÀNH: VỆ SINH XÃ HỘI HỌC VÀ TCYT
MÃ SỐ: 62.72.01.64

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
2. PGS.TS

THÁI NGUYÊN, NĂM 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


3
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vệ sinh môi trường là một trong những vấn đề được quan tâm không chỉ ở
phạm vi một quốc gia, một khu vực mà đang là vấn đề được quan tâm trên phạm
vi toàn cầu bởi tầm quan trọng của nó với sức khỏe con người. Ở nhiều vùng
nông thôn, vệ sinh môi trường còn kém, chất thải của con người và gia súc chưa
được xử lý đúng cách và chưa đảm bảo hợp vệ sinh, tập quán dùng phân người
bón ruộng làm phát tán mầm bệnh ra môi trường xung quanh đã ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe người dân, đây là một trong những nguyên nhân
gây dịch bệnh đường tiêu hóa cho cộng đồng như tả, lỵ, thương hàn…[1], [5], [6].
Miền núi phía Bắc nước ta là một địa bàn chiến lược rất quan trọng về kinh
tế, chính trị và quốc phòng, là khu vực sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc ít
người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam như Tày, Nùng, Thái, Mường,
Dao, Mông...[54]. Trong chiến lược con người của Đảng ta, việc chăm lo sức
khoẻ cho nhân dân các dân tộc miền núi vừa là mục tiêu, vừa là chính sách động
lực để có một nguồn nhân lực mạnh khoẻ, có trí tuệ nhằm thực hiện việc xây
dựng các vùng trọng điểm chiến lược này. Thế nhưng hiện tại việc chăm sóc sức
khỏe ở một số vùng dân tộc thiểu số còn chưa tốt, tình hình vệ sinh môi trường ở
các cộng đồng dân tộc thiểu số còn nhiều nguy cơ ô nhiễm, tỷ lệ hộ gia đình có

nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh rất thấp [55], [80].
Người Dao là một trong số các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc, lịch sử
người Dao ở nước ta đã hơn 300 năm. Người Dao sống chủ yếu ở vùng sâu vùng
xa khắp biên giới Việt Trung từ tỉnh Lai Châu, Điện Biên cho tới tỉnh Cao Bằng,
Hà Giang và Thái Nguyên. Điều kiện kinh tế văn hóa xã hội và vệ sinh môi
trường của người Dao còn nhiều khó khăn. Trong khi người dân ở các khu đô
thị, miền đồng bằng được sử dụng nước máy và nhà tiêu hợp vệ sinh thì người
Dao và các dân tộc thiểu số khác ở khu vực miền núi không có đủ nước sạch và
nhà tiêu để sử dụng.

đ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ường nă
http://www.lrc-tnu.edu.vn/


4
đ
ười Dao chủ yếu dùng nước suối đầu nguồn (57,6%) và giếng khơi
(18,3%), ngoài ra còn có 21,4% dùng các nguồn nước khác không thuộc các
nguồn nước sạch [26]. Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ hộ gia đình người Dao có
nhà tiêu rất thấp (50,4%) và hầu hết không đảm bảo vệ sinh, tỷ lệ hộ có nhà tiêu
hợp vệ sinh chỉ 5,8%, những hộ gia đình người Dao không có nhà tiêu đều đi
ngoài ra vườn và rừng (85,5%) [26],[40]. Để giải quyết vấn đề vệ sinh môi
trường, đã có một số chương trình can thiệp được triển khai ở các địa phương,
song chưa bao phủ hết các xã đặc biệt khó khăn vì vậy điều kiện vệ sinh môi
trường có thể chưa được cải thiện. Vậy câu hỏi đặt ra là hành vi vệ sinh môi
trường của người Dao tại một số xã đặc biệt khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên hiện
nay ra sao? Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi vệ sinh môi trường của
người Dao nơi đây? Từ đó có những giải pháp nào phù hợp để cải thiện hành vi
vệ sinh môi trường cho người Dao? Để trả lời các câu hỏi trên, nghiên cứu đề
tài:“Thực trạng hành vi vệ sinh môi trường của người Dao tại một số xã đặc biệt
khó khăn tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm mô hình can thiệp” được tiến hành
với mục tiêu sau:
1. Đánh giá thực trạng hành vi vệ sinh môi trường của người Dao tại một số
xã đặc biệt khó khăn tỉnh Thái Nguyên năm 2011.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến hành vi vệ sinh môi trường của người
Dao tại một số xã đặc biệt khó khăn tỉnh Thái Nguyên năm 2011.
3. Đánh giá kết quả thử nghiệm mô hình truyền thông thay đổi hành vi vệ sinh
môi trường cho người Dao tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


5
Chƣơng 1. TỔNG QUAN
1.1. Thực trạng hành vi vệ sinh môi trƣờng của ngƣời Dao ở Việt Nam
1.1.1. Một số khái niệm về hành vi sức khỏe và các yếu tố liên quan
1.1.1.1. Khái niệm về hành vi sức khỏe
“Hành vi của con người là một tập hợp phức tạp của nhiều hành động,
mà những hành động này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong và
bên ngoài, chủ quan cũng như khách quan” [11], [98].
Hành vi luôn chịu tác động của các yếu tố bên trong như kiến thức, thái
độ, niềm tin, giá trị, kinh nghiệm của cá nhân về thực hành hành vi đó và các
yếu tố bên ngoài như pháp luật, qui định, gia đình, bạn bè, những người có uy
tín... Hành vi được lặp đi lặp lại nhiều lần, dần dần trở thành lối sống. Lối sống
còn chịu tác động của các yếu tố nhân chủng học, văn hóa, xã hội, tâm lý... Lối
sống là tập hợp các hành vi, tạo nên cách sống của con người, bao gồm nhiều
vấn đề cụ thể như: Thực hành vệ sinh cá nhân, sử dụng các công trình vệ sinh
(CTVS), tập quán sinh hoạt của cá nhân, gia đình và cộng đồng, phong tục tập
quán… Mỗi hành vi là biểu hiện cụ thể ra bên ngoài và chịu tác động nhiều các
yếu tố cấu thành đó là kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) và niềm tin của con
người trong một sự việc hay hoàn cảnh nhất định nào đó [23], [83], [111], [115].
Hành vi sức khỏe là hành vi của con người có liên quan đến sức khỏe.
Hành vi, lối sống không lành mạnh là cách thực hành hoạt động có hại đến sức
khỏe. Vì vậy, để tăng cường sức khỏe, phòng chống bệnh tật cần phải thay đổi
một số hành vi, lối sống có hại cho sức khỏe hay phong tục tập quán lạc hậu...
[26], [27], [28], [89], [97].
Hành vi lối sống không lành mạnh là cách thực hành hoạt động có hại đến
sức khỏe, bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như sử dụng nước suối, nước ao hồ,
phóng uế bừa bãi, uống nước lã... Thực hành này qua nhiều thế hệ gọi là phong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


6
tục tập quán. Phong tục tập quán và truyền thống là các hành vi được nhiều
người cùng chia sẻ trong cộng đồng, được thực hiện trong thời gian dài, truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhiều phong tục tập quán có thể trở thành niềm
tin trong các cộng đồng và thể hiện lối sống đặc trưng của từng dân tộc, ảnh
hưởng đến sức khoẻ [24], [110], [114], [116].
1.1.1.2. Các yếu tố liên quan đến hành vi sức khỏe
* Yếu tố bản thân: Với mỗi người chúng ta có thể có các suy nghĩ và tình
cảm khác nhau. Những suy nghĩ và tình cảm của chúng ta lại bắt nguồn từ các
hiểu biết, niềm tin, thái độ và quan niệm về giá trị. Đây chính là các yếu tố bên
trong của mỗi cá nhân. Chính các yếu tố như kiến thức, niềm tin, thái độ và
quan niệm về giá trị của mỗi cá nhân đã dẫn đến những quyết định của mỗi người
thực hành, hành vi này hay hành vi khác. Yếu tố thuộc về bản thân gồm có:
- Kiến thức: Kiến thức hay hiểu biết của mỗi người được tích lũy dần qua
quá trình học tập và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống. Mỗi người có thể thu
được kiến thức từ thầy cô giáo, cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp, những người xung
quanh, sách vở và các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp. Kiến thức là một
trong các yếu tố quan trọng giúp con người có các suy nghĩ và tình cảm đúng đắn,
từ đó dẫn đến hành vi phù hợp trước mỗi sự việc. Kiến thức của mỗi người được
tích lũy trong suốt cuộc đời. Vai trò của ngành y tế và cán bộ y tế trong việc cung
cấp kiến thức cho người dân trong cộng đồng là rất quan trọng, thông qua việc
thực hiện nhiệm vụ truyền thông giáo dục sức khỏe (TT-GDSK).
- Niềm tin: Niềm tin là sản phẩm xã hội của nhận thức cá nhân kết hợp với
các kinh nghiệm thu được của cá nhân cũng như của nhóm hay cộng đồng
trong cuộc sống. Mỗi một xã hội đều hình thành và xây dựng niềm tin về tất cả
các khía cạnh của đời sống xã hội. Hầu hết các niềm tin có nguồn gốc từ lâu
đời và vì thế xã hội thường chấp nhận và ít khi đặt câu hỏi về giá trị của niềm
tin. Niềm tin thường bắt nguồn từ ông bà, cha mẹ và từ những người mà chúng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


7
ta kính trọng. Người ta thường chấp nhận niềm tin mà không cần cố gắng để
xác định niềm tin đó là đúng hay sai. Một người hình thành niềm tin do học tập
trong suốt cuộc sống và quan sát những người khác. Những niềm tin được hình
thành từ tuổi trẻ, hay từ những người được tin cậy thường rất khó thay đổi.
- Thái độ: Thái độ được coi là trạng thái chuẩn bị của cơ thể để đáp ứng
với những tình huống hay hoàn cảnh cụ thể. Thái độ cũng là cách nhìn nhận
của con người về các vấn đề trong đó có sức khoẻ. Thái độ phản ánh những
điều người ta thích hoặc không thích, mong muốn hay không mong muốn, tin
hay không tin, đồng ý hay không đồng ý, ủng hộ hay ngăn cản... Thái độ
thường bắt nguồn từ kiến thức, niềm tin và kinh nghiệm thu được trong cuộc
sống, đồng thời thái độ cũng chịu ảnh hưởng của những người xung quanh.
Thái độ rất quan trọng dẫn đến hành vi của mỗi người, do vậy khi xem xét một
thái độ chưa hợp lý nào đó đối với vấn đề bệnh tật, sức khỏe, cần phải tìm hiểu
rõ nguyên nhân của thái độ này, từ đó tìm phương pháp TT-GDSK hợp lý để
thuyết phục đối tượng thay đổi thái độ.
- Giá trị: Giá trị là các tiêu chuẩn có vai trò quan trọng tác động đến suy
nghĩ và tình cảm của con người. Một tiêu chuẩn nào đó được một người coi là
có giá trị với họ sẽ là động cơ thúc đẩy các hành động. Mỗi người, mỗi gia
đình, mỗi cộng đồng có thể có những quan niệm giá trị khác nhau. Các quan
niệm về giá trị thường trở thành động cơ thúc đẩy các hành vi liên quan đến
phấn đấu để đạt được những tiêu chuẩn giá trị mong muốn. Mỗi cá nhân có thể
có các tiêu chuẩn giá trị riêng của mình, nhưng thường thì giá trị là một phần
của đời sống văn hóa và được chia sẻ trong cộng đồng hay trong một đất nước.
Sức khỏe là một trong số các giá trị quan trọng của mỗi người. Trong TTGDSK chúng ta cần cố gắng làm cho mọi người hiểu được giá trị của cuộc
sống khỏe mạnh, giá trị của sức khỏe, từ đó động viên mọi người suy nghĩ về
giá trị của sức khỏe đối với cuộc sống và thực hiện những hành động thiết thực
để duy trì và phát triển sức khỏe [11], [19], [92], [94], [104].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


8
* Tác động của những người xung quanh: Sống trong xã hội, mỗi người
đều có quan hệ và chịu ảnh hưởng của những người xung quanh. Tất cả chúng
ta đều chịu ảnh hưởng của những người khác trong mạng lưới quan hệ xã hội
phức tạp. Khi một ai đó được chúng ta coi là những người quan trọng thì chúng
ta thường dễ dàng nghe và làm theo những điều họ khuyên hoặc những việc họ
làm. Một số người muốn hành động nhưng những người khác lại có quan điểm
ngược lại. Những người nào có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi người hay của
cộng đồng sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh của cá nhân và cộng đồng cũng như nền
văn hóa cộng đồng. Người thực hiện TT-GDSK cần phát hiện những người có
vai trò tích cực, tạo ra các áp lực xã hội tốt cho tăng cường các hành vi có lợi
cho sức khỏe và hạn chế ảnh hưởng của những người cản trở thực hành hành vi
có lợi cho sức khỏe của đối tượng.
* Yếu tố nguồn lực: Để thực hành các hành vi nâng cao sức khỏe, phòng
chống bệnh tật cho người dân, cộng đồng hay cá nhân cần có các điều kiện nhất
định về nguồn lực. Nguồn lực cho thực hiện hành vi bao gồm các yếu tố như
thời gian, nhân lực, tiền, cơ sở vật chất trang thiết bị, thể chế, luật pháp... Nhiều
cá nhân có đủ kiến thức, họ hiểu rất rõ nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhưng vì
thiếu các điều kiện nguồn lực nên họ không thực hiện được hành vi mong
muốn. Tuy nhiên trong thực tế người TT-GDSK cần chú ý phát hiện giáo dục
một số đối tượng mặc dù họ có khả năng về nguồn lực nhưng lấy lý do thiếu
nguồn lực để từ chối hay trì hoãn thực hiện các hành vi sức khỏe lành mạnh.
* Yếu tố văn hóa: Văn hoá là tổng hợp của nhiều yếu tố bao gồm kiến
thức, niềm tin, phong tục tập quán, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, thói quen và
tất cả những năng lực mà con người thu được trong cuộc sống. Văn hoá được
thể hiện trong cách sống hàng ngày của các thành viên xã hội hay văn hoá là
"cách sống". Hành vi của con người là biểu hiện của nền văn hoá và nền văn
hóa có ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi của con người. Cán bộ y tế, cán bộ TTGDSK khi làm việc với một cộng đồng nào phải tìm hiểu văn hoá cộng đồng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


9
đó, nghiên cứu kỹ nguyên nhân của các hành vi liên quan đến sức khỏe bệnh
tật. Điều này sẽ giúp cho cán bộ TT-GDSK có thể tìm ra các giải pháp can
thiệp TT-GDSK phù hợp với nền văn hoá cộng đồng [93], [95], [117], [119].
Nghiên cứu đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe của con
người là cần thiết để tránh những thất bại khi thực hiện giáo dục sức khỏe. Khi
giáo dục sức khỏe cần phải xác định các hành vi sức khỏe nào là của cá nhân
kiểm soát và các hành vi nào do ảnh hưởng của cộng đồng.
1.1.2. Một số khái niệm về các công trình vệ sinh
1.1.2.1. Nước sạch
- Là nước dùng cho các mục đích sinh hoạt cá nhân và gia đình, không sử
dụng làm nước ăn uống trực tiếp [4].
- Là nước có đủ 22 chỉ tiêu đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch do Bộ Y
tế ban hành [4].
- Là nước không màu, không mùi, không vị, không chứa các thành phần
có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, có thể dùng để ăn uống sau
khi đun sôi [4].
1.1.2.2. Nhà tiêu hợp vệ sinh
Các loại nhà tiêu hợp vệ sinh theo

-

(QCVN 01:2011/BYT) của Bộ Y tế [17], bao gồm: Nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại
chỗ, nhà tiêu chìm có ống thông hơi, nhà tiêu thấm dội nước, nhà tiêu tự hoại
dùng cho gia đình. Các loại nhà tiêu này được Bộ Y tế quy định là nhà tiêu hợp
vệ sinh về mặt kỹ thuật và đảm bảo các yêu cầu sau:
- Quản lý được phân người, ngăn không cho phân chưa được xử lý tiếp
xúc với người, động vật và côn trùng.
- Có khả năng tiêu diệt được tác nhân gây bệnh có trong phân (vi rút, vi
khuẩn, đơn bào, trứng giun, sán) và không làm ô nhiễm môi trường xung quanh
[17], [31].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


10
1.1.2.3. Chuồng gia súc, gia cầm
Chuồng chăn nuôi hợp vệ sinh: Là chuồng trại được xử lý chất thải chăn
nuôi hợp vệ sinh bao gồm các loại:
- Chuồng xây có mái che, nền cứng có độ nghiêng để thoát nước thải, có
hố ủ phân và bể tự hoại 3 ngăn để xử lý phân và nước thải.
- Chuồng trại áp dụng công nghệ sản xuất phân hữu cơ vi sinh quy mô hộ
gia đình hoặc trang trại.
- Chuồng trại áp dụng công nghệ biogas để xử lý chất thải chăn nuôi…
1.1.3. Thực trạng hành vi vệ sinh môi trường của người Dao
1.1.3.1. Hành vi sử dụng nguồn nước sạch ở người Dao
Sự hiểu biết của người Dao về tên các nguồn nước sạch còn thấp, tỷ lệ
người không biết bất cứ nguồn nào là nước sạch chiếm tới 33%, cao nhất trong
các dân tộc thiểu số (DTTS) được điều tra trong 20 tỉnh ở nước ta. Tỷ lệ người
biết nước suối đầu nguồn là nước sạch nhiều nhất (52,%), sau đến nước giếng
khơi (24,1%); các loại nguồn nước sạch còn lại, tỷ lệ người biết tên rất ít, chỉ
dưới 6% cho mỗi loại. Đáng chú ý là vẫn còn 1,7% số người cho rằng nước
sông, ao, hồ là sạch và 8,7% đưa ra các tên khác không phải là nước sạch. Cộng
đồng người Dao chủ yếu dùng nước suối đầu nguồn và giếng khơi, rất ít người
dùng nước máy, nước mưa và nước giếng khoan, do đó tỷ lệ người nói được
tên các nguồn nước sạch tập trung vào chính các nguồn nước họ thường dùng.
Đa số người Dao được hỏi (72%) không biết tên những loại bệnh tật có thể gây
ra bởi việc sử dụng nước không sạch. Bệnh tiêu chảy được nhiều người biết
nhất cũng chỉ chiếm 22,7%; các loại bệnh có thể gây ra do sử dụng nước không
sạch nhưng rất ít người biết như bệnh về mắt (3,6%), bệnh giun sán (4,4%),
bệnh ngoài da (3,8%) và bệnh phụ khoa (0,9%). Trong thực tế, tỷ lệ hộ gia đình
cho biết tên các nguồn nước họ đang sử dụng cũng tương tự với sự hiểu biết
của họ về nguồn nước sạch: cao nhất là 57,6% số hộ dùng nước suối đầu nguồn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


11
và 18,3% số hộ dùng nước giếng khơi; số hộ dùng các nguồn nước khác rất ít
(0,7% số hộ dùng nước giếng khoan); không hộ nào dùng nước máy và nước
mưa. Tuy vậy 2,1% số hộ vẫn dùng nước sông, ao, hồ và 21,4% còn dùng các
nguồn nước khác không thuộc các nguồn nước sạch. Gần nửa số hộ người Dao
trong điều tra (49,7%) đã thừa nhận còn uống nước lã, tức nước chưa đun sôi.
Trong khi đó, 75,4% số hộ cho biết rằng họ không xử lý nước trước khi ăn
uống. Đây là một tỷ lệ khá cao, bên cạnh đó còn 4,8% số hộ không biết rằng
nước dùng cho ăn uống cần được xử lý nước trước khi dùng. Người Dao cũng
như hầu hết các dân tộc thiểu số khác đều không xử lý trước khi ăn uống bằng
các phương pháp có hóa chất, hoặc đánh phèn, họ chủ yếu chỉ dùng cách để
lắng (10,6%) hoặc lọc (9,1%) [27], [45], [48], [99].
1.1.3.2. Hành vi sử dụng nhà tiêu của người Dao
Người Dao kể tên các loại nhà tiêu hợp vệ sinh còn rất hạn chế. Giống
như ở các dân tộc thiểu số khác, đa số những người Dao được hỏi (73,2%)
không biết tên bất kỳ loại nhà tiêu hợp vệ sinh nào. Số người nêu được tên chủ
yếu là nhà tiêu tự hoại (20%) và nhà tiêu hai ngăn (10,8%); rất ít người nói
được tên nhà tiêu thấm dội nước (0,9%). Người Dao ít biết về tên các bệnh có
thể gây ra do sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh. Tỷ lệ người không biết bất
kỳ một bệnh nào chiếm tới 63,9% số người được hỏi, cao hơn so với một số
dân tộc như Tày, Thái, Mường, Nùng. Tỷ lệ người biết về tên bệnh nhiều nhất
là đối với bệnh tiêu chảy (28,7%), còn các bệnh khác đều ít, như bệnh giun
(5,5%), bệnh mắt (2,1%)... Đa số người Dao (59,5%) trong số được phỏng vấn
đã không biết bất kỳ một cách nào để phòng bệnh tiêu chảy và bệnh giun.
Những cách phòng bệnh được nhiều người đưa ra là: vệ sinh nhà cửa (19,1%)
và không uống nước lã (19%), sau đến không ăn rau sống (10,9%)... nhưng chỉ
có 6,2% số người được hỏi biết phải sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh. Có thể nói
rằng dân tộc Dao là một trong nhiều dân tộc thiểu số còn thiếu hiểu biết về sử
dụng nhà tiêu hợp vệ sinh để phòng bệnh tiêu chảy và bệnh giun ở trẻ em. Đa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


12
số người Dao được phỏng vấn (77,1%) không biết hậu quả của việc sử dụng
phân tươi. Trong những người biết hậu quả của việc sử dụng phân tươi, nhiều
nhất cho rằng đó là nguồn gieo rắc bệnh tật (16,8%), các ý kiến khác rất thấp,
ví dụ nhiễm bẩn nguồn nước chỉ chiếm 2,1% và nhiễm bẩn thực phẩm là 2,6%.
Do nhiều người không biết các hậu quả của việc dùng phân tươi nên dẫn đến
chỉ gần một nửa số người được hỏi biết rằng cần phải ủ phân trước khi sử dụng
(46%). Tuy nhiên, trong những người biết cần phải ủ phân lại chỉ có 21,99% trả
lời đúng thời gian cần ủ phân là trên 6 tháng, còn đa số (61,7%) đã trả lời sai
thời gian cần ủ phân; đáng chú ý là còn 16,4% số người không biết cần ủ trong
mấy tháng. Trong những hộ chưa có nhà tiêu và có nhà tiêu nhưng không hợp
vệ sinh, 38,7% có ý định sẽ xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh; đồng thời hầu hết
những hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh rồi nhưng chưa đạt tiêu chuẩn về xây dựng
cũng có dự định xây dựng lại nhà tiêu (92,9%). Họ chủ yếu muốn xây nhà tiêu
hai ngăn (25,4%), các loại khác rất ít người đề cập. Tuy nhiên, còn 31% số
người có ý định xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh đã đưa ra các loại nhà tiêu
không có trong danh mục nhà tiêu hợp vệ sinh theo quy định của Bộ Y tế và
39,9% không biết sẽ xây loại nhà tiêu hợp vệ sinh nào. Lý do giải thích cho
việc không có dự định xây dựng nhà tiêu của người Dao cũng giống như các
dân tộc thiểu số khác chủ yếu là "không có tiền" (76,9%); một số "không cần"
(21,3%) và "không thích" (1,2%). Vì vậy, nếu được Nhà nước cho vay tiền
không phải chịu lãi, thì 80% số người được hỏi sẽ xây dựng nhà tiêu hợp vệ
sinh; đa số những hộ chưa có nhà tiêu và có rồi nhưng chưa hợp vệ sinh
(79,7%) cũng muốn xây nhà tiêu hợp vệ sinh. Trong thực tế, tỷ lệ hộ gia đình
người Dao có nhà tiêu chiếm 50,4% số hộ được điều tra, trong đó tỷ lệ hộ có
nhà tiêu hợp vệ sinh rất thấp, chỉ 5,8%. Tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh và đạt tiêu
chuẩn về xây dựng rất thấp, hoặc đạt tiêu chuẩn về bảo quản và sử dụng, hoặc
đạt tiêu chuẩn về bảo quản, sử dụng và xây dựng còn thấp hơn nữa, tương ứng
là các tỷ lệ 1%, 0,2% và 0,2%. Trong những hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh, chỉ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


13
5,1% là nhà tiêu hai ngăn, 0,3% là nhà tiêu tự hoại, 0,3% là nhà tiêu thấm dội
nước. Trong đó tỷ lệ đạt tiêu chuẩn về xây dựng nhà tiêu hai ngăn ở người Dao
còn rất thấp, chỉ chiếm 0,7% trong tổng số hộ được điều tra. Nhìn chung chỉ có
loại nhà tiêu thấm dội nước là đảm bảo đạt tiêu chuẩn xây dựng, đạt tiêu chuẩn
về bảo quản và sử dụng hợp lý. Gần một nửa số hộ người Dao được điều tra
(44,6%) đang sử dụng các loại nhà tiêu không hợp vệ sinh và gần một nửa số
còn lại không có nhà tiêu. Những hộ gia đình người Dao không có nhà tiêu đều
đi vệ sinh ra vườn và rừng (85,5%), rất ít người đi nhờ nhà người khác (4,5%)
hoặc đi vào chuồng gia súc (10%), [26], [31].
Nghiên cứu của Nguyễn Đình Thắng [65] về VSMT ở người Dao - Hợp
Tiến (Thái Nguyên) cho thấy kiến thức thái độ thực hành của người Dao ở khu
vực này về vấn đề VSMT còn chưa tốt thể hiện tỷ lệ người dân có kiến thức,
thái độ, thực hành đạt về VSMT còn thấp như: Kiến thức đạt 19,13%; Thái độ
đạt 15,85.8%; Thực hành đạt 10,93%. Một số yếu tố liên quan tới kiến thức thái
độ thực hành về vấn đề VSMT của người Dao - Hợp Tiến là yếu tố kinh tế,
tuổi, giới và trình độ học vấn. Một số nghiên cứu khác về người Dao cũng thu
được kết quả tương tự [27], [42], [60].
Nhìn chung hành vi VSMT sống của người dân tộc thiểu số các tỉnh miền
núi phía bắc còn chưa tốt, nhất là người Dao. Qua đó chúng ta thấy đây là một
trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường đó là hành vi
về VSMT, nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh còn kém. Đặc biệt thái độ về vai trò
và tác hại của nguồn nước, nhà tiêu không hợp vệ sinh liên quan đến sức khoẻ
và bệnh tật của con người. Đây cũng là vấn đề quan trọng mà ngành y tế cần
phải quan tâm đặc biệt, cần có những giải pháp can thiệp thích hợp cho miền
núi để cải thiện hành vi VSMT, góp phần thực hiện có hiệu quả nội dung chăm
sóc sức khoẻ ban đầu cho người DTTS ở miền núi. Tình trạng này cũng tương
tự như một số nước đang phát triển trong khu vực [86], [88], [119].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


14
1.2. Phong tục tập quán ảnh hƣởng đến sức khỏe, vệ sinh môi trƣờng của
ngƣời Dao
1.2.1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của người Dao
Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở người Dao có các tên gọi khác:
Mán, Đông, Trại, Dìu Miền, Kim Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản,
Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu... Ở Việt Nam, người Dao tuy có dân số không
đông nhưng các bản làng của họ trải rộng tại các miền rừng núi phía Bắc (Cao
Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang,...) đến một số tỉnh
trung du như: Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và miền biển
Quảng Ninh (người Dao Thanh Y). Ngoài ra, người Dao còn chia ra thành
nhiều nhóm khác nhau, với những nét riêng về phong tục tập quán mà biểu hiện
rõ rệt nhất là trên trang phục của họ như: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh
Y, Dao Áo Dài, Dao Quần Trắng... Mặc dù họ có nhiều nhóm người khác nhau
như vậy nhưng ngôn ngữ của họ là thống nhất để đảm bảo mối quan hệ gắn kết
giữa các cộng đồng người Dao với nhau [72]. Tiếng Dao thuộc ngữ hệ Mông Dao và người Dao ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc. Quá trình di cư
vào Việt Nam phức tạp, kéo dài từ thế kỷ thứ XIII cho đến những năm 40 của
thế kỷ XX 27 , [81].
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Dao ở Việt Nam có
dân số 751.067 người, chiếm 0,87% dân số cả nước, đứng hàng thứ 9 nhóm dân
tộc cư trú tại 61 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố, đông thứ 2 trong các nước có
người Dao trên thế giới. Người Dao cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang
(109.708 người, chiếm 15,1% dân số toàn tỉnh và 14,6% tổng số người Dao tại
Việt Nam), Tuyên Quang (90.618 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và
12,1% tổng số người Dao tại Việt Nam), Lào Cai (88.379 người, chiếm 14,4%
dân số toàn tỉnh và 11,8% tổng số người Dao tại Việt Nam), Yên Bái (83.888
người, chiếm 11,3% dân số toàn tỉnh và 11,2% tổng số người Dao tại Việt
Nam), Thái Nguyên (25.360 người, chiếm 2,3% dân số toàn tỉnh và 3,4% tổng
số người Dao tại Việt Nam), Quảng Ninh (59.156 người, chiếm 5,2% dân số
toàn tỉnh), Bắc Kạn (51.801 người, chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh), Cao Bằng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


15

(51.124 người, chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh), Lai Châu (48.745 người, chiếm
13,2% dân số toàn tỉnh), Lạng Sơn (25.666 người)… [27], [72]. Người Dao
thường sống xen kẽ và biết tiếng nói của các dân tộc cùng địa phương và giữ
gìn bản sắc dân tộc mình. Họ thường sống nơi thung lũng, đồi thấp hoặc quanh
chân núi, dọc khe suối, nơi đầu nguồn nước. Họ sống thành từng cụm, từng bản
nhỏ riêng và tụ tập xung quanh người có uy tín trong cộng đồng người Dao. Có
2 loại hình xóm bản người Dao:
- Xóm bản cư trú phân tán: Với những nhóm người Dao du canh, du cư,
thường chỉ 5 - 7 hộ. Kiểu xóm bản này cản trở trong phong trào tổ chức sản
xuất, xây dựng đời sống kinh tế, văn hóa và chăm sóc sức khỏe.
- Xóm bản cư trú tập trung: Thường ở những nơi đã định canh - định cư
hoặc du canh - định cư. Mỗi xóm bản có khoảng 20 - 30 hộ liền kề với nhau.
Kiểu xóm bản này thuận lợi cho lối làm ăn tập thể, nhưng khó bảo đảm vệ sinh
chung, dễ mắc dịch bệnh, hạn chế việc chăn nuôi gia súc và trồng rau màu [27].
Do người Dao di cư vào Việt Nam trong một thời gian kéo dài, sống phân tán,
du canh, du cư, nên quá trình hình thành tộc người rất chậm, các nhóm người
Dao đều mang những nét văn hóa địa phương nhất định. Họ được mang những
tên gọi khác nhau theo đặc điểm sắc phục, tên địa phương cư trú ban đầu. Do đó,
người Dao được chia thành nhiều nhóm, nhưng họ vẫn luôn nhận rõ mối quan hệ
với nhau về nguồn gốc và duy trì được ngôn ngữ chung. Các nhóm người Dao có
tương đồng về phong tục, tập quán, các hình thái kinh tế, tín ngưỡng. Ngày nay,
nhờ sự giao lưu rộng rãi, nên đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Dao ở
Việt Nam đã có nhiều thay đổi... Việc bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá của
người dân tộc Dao có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với đời sống dân cư nông
thôn khu vực miền núi phía Bắc 27 , [78].

1.2.2. Một số tập quán của người Dao có liên quan đến vệ sinh môi trường
- Tập quán canh tác, định canh, định cư: Theo nghiên cứu của Bế Viết
Đằng, trước đây canh tác nương rẫy, du canh với cây ngô và lúa nương đã trở
thành tập quán của dân tộc Dao nên họ thu nhập rất thấp. Cuộc sống của
người Dao không ổn định du canh, du cư, không được tiếp cận với các kiến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


16
thức khoa học, cũng như không được chăm sóc y tế nên họ nghèo đói và lạc
hậu. Tình trạng bệnh tật, ốm đau và tỷ lệ trẻ em tử vong còn nhiều, do đó
người Dao thường đẻ nhiều, đông con dẫn đến cuộc sống ngày càng nghèo
khó. Ngày nay mặc dù hầu hết đồng bào Dao đã định cư, nhưng tình trạng du
canh nương rẫy vẫn còn tồn tại. Trong những năm gần đây được sự quan tâm
của Đảng và Chính phủ đã có nhiều chương trình được triển khai nhằm thực
hiện xóa đói giảm nghèo, đời sống kinh tế xã hội của đồng bào Dao đang
được cải thiện. Tuy nhiên đời sống kinh tế của đại đa số hộ gia đình người
Dao hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nghèo đói là nguyên nhân chính
gây bệnh tật ở người Dao [26], [27].
- Tập quán xây dựng nhà ở: Theo Đàm Khải Hoàn, người Dao ở miền núi
phía Bắc đa số ở nhà đất. Họ cho rằng ở nhà nền đất mới có chỗ để cúng Bàn
Vương. Trong nhà thường được chia làm nhiều ngăn như các phòng ngủ, phòng
kho, gian bếp... trên gác thường rải gỗ hoặc ván để chứa thóc rẫy, ngô và các
loại dụng cụ gia đình khác. Nhà người Dao thường làm mái thấp, với cách bày
trí như trên làm cho nhà luôn bị thiếu ánh sáng. Hơn nữa tập quán đun nấu trong
nhà gây ô nhiễm khói nặng, hầu hết đàn ông và nam thanh niên người Dao hút
thuốc lào hoặc thuốc lá, càng làm tăng thêm tình trạng ô nhiễm khói, do đó
người Dao dễ mắc các bệnh về hô hấp, nhất là trẻ em. Ngày nay cùng với sự phát
triển chung của toàn xã hội, nhiều căn nhà người Dao ở vùng định canh, định cư
đã thay đổi. Tuy nhiên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa thì thay đổi không đáng kể
[42]. Một nghiên cứu về người Dao Đỏ cho thấy họ thường ở nhà đất nằm dưới
chân đồi, cạnh khe suối để dẫn được nước về đến tận bếp. Nhà ở của người Dao
làm rất thấp là do ngày xưa họ thường làm treo leo trên lưng chừng đồi nên làm
nhà thấp để tránh gió bão, đến bây giờ vẫn thành thói quen. Người Dao ở nhà đất
cho phù hợp với phong tục cúng bói (việc cúng bói phải nhảy múa nhiều). Một
ngôi nhà của người Dao thường làm ba phòng (gian); một phòng khách, một
phòng bếp và một phòng ngủ. Phòng ngủ gọi là “buộng lộn”, chạy dọc theo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


17
phòng khách. Các phòng thường không có cửa sổ, cửa ra vào phòng khách và
xuống bếp thường chật hẹp nên không khí ngột ngạt dễ mắc các bệnh về đường
hô hấp. Phòng bếp được chia làm ba khu vực: bếp ngoài là nơi đun nước cho đàn
ông tiếp khách; bếp trong là nơi dành cho phụ nữ nấu ăn; phía trong cùng có
máng nước được quây lại là nơi để tắm rửa. Trong nhà, ở góc trái của phòng
khách giáp với phòng bếp có đặt tủ thờ ma và tổ tiên. Trong tủ phải có bộ tranh
Tam Thanh do người được cấp phép vẽ cho (là thầy cúng, thầy vẽ và đã được cấp
sắc 12 đèn). Nếu thiếu bộ tranh Tam Thanh thì không được bày tủ thờ chung mà
chỉ có một bàn vuông dưới đất để thờ tổ tiên và bàn vuông trên cao thờ ma [27].
- Tập quán ma chay: Đám ma người Dao thường kéo dài ba ngày đêm với
nhiều nghi thức, thủ tục phức tạp nhằm đưa linh hồn người chết về Dương Châu.
Trước đây, do tập quán du canh, du cư nên hầu hết các nhóm người Dao đều có
tục lệ hỏa táng với những người trên 12 tuổi, rồi bỏ một ít tro vào lọ hoặc ống
nứa để mang theo thờ cúng mỗi khi di cư đi đến nơi ở mới. Ngày nay tập quán
này chỉ còn thấy ở người Dao Áo dài hoặc chỉ còn tàn dư ở người Dao Quần
trắng. Người Dao Tiền còn có tục lệ táng lộ thiên trên sàn cao (nếu chết vào giờ
xấu, sẽ cho vào một cỗ áo quan đặc biệt được ghép bằng trúc hay nứa nguyên
cây, đặt lên sàn cao khoảng 2 mét, 4 cột sàn được làm thật nhẵn để tránh thú
rừng, khi thịt rữa hết, xương được cho vào lọ đem chôn). Đây là một hủ tục cần
được bãi bỏ vì ảnh hưởng đến VSMT và lây lan nguồn bệnh, có hại cho sức khỏe
cộng đồng [27], [106].
1.3. Một số mô hình truyền thông giáo dục sức khỏe thay đổi hành vi vệ sinh
môi trƣờng
Một số nghiên cứu đã đưa ra sơ đồ nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến
hành vi VSMT như sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


18

Tăng tỷ lệ bệnh nhiễm
trùng và ký sinh trùng

Ô nhiễm đất, nƣớc
và thực phẩm

TỶ LỆ SỬ DỤNG
NHÀ TIÊU HỢP
VỆ SINH THẤP

Sử dụng nhà tiêu
không đúng cách

Tỷ lệ nhà tiêu
Không hợp vệ sinh cao

- Cộng đồng không chấp nhận.

- Kỹ thuật xây nhà tiêu chưa đúng.

- Dân thiếu hiểu biết về nhà tiêu
(dân trí thấp kém, TT-GDSK
kém..).

- Không chọn được loại nhà tiêu
thích hợp.

- Tập quán sử dụng phân tươi…

- Thu nhập của dân thấp (tăng dân
số, thất nghiệp)

- Cán bộ y tế còn yếu kém.

- Thiếu quan tâm của cộng đồng
- Yếu tố khác.

Sơ đồ 1.1. Nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ hộ gia đình ngƣời Dao sử dụng
nhà tiêu hợp vệ sinh thấp

1.3.1. Phương pháp truyền thông giáo dục sức khỏe có sự tham gia của cộng đồng
TT-GDSK tại cộng đồng đòi hỏi cán bộ phải linh hoạt. Những phương
pháp và kỹ năng làm việc với cá nhân, nhóm và cộng đồng là những kỹ năng cần
thiết mà cán bộ làm công tác TT-GDSK cần được đào tạo một cách cơ bản [40].
Để đảm bảo công tác TT-GDSK đạt kết quả cần vận dụng một nguyên lý quan
trọng của chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ), đó là sự tham gia của cộng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


19

đồng. Sự tham gia của cộng đồng đã được vận dụng thành công trong nhiều
chương trình CSSKBĐ ở nước ta cũng như nhiều nước khác trên thế giới [43].
Cộng đồng luôn có những tiềm năng to lớn, có nhiều sáng kiến, sáng tạo trong
tham gia xây dựng kế hoạch và thực hiện các chương trình chăm sóc sức khỏe.
Nếu biết khai thác đạt các nguồn lực của cộng đồng sẽ tạo nên sức mạnh tổng
hợp giải quyết được nhiều vấn đề sức khỏe, bệnh tật quan trọng kể cả vấn đề
VSMT. Nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đã được rút ra từ sự tham gia của
cộng đồng vào các chương trình giải quyết các vấn đề sức khỏe như cung cấp
nước sạch, VSMT, dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe sinh sản... Ở Việt Nam cộng
đồng đã có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe, đặc
biệt là trong các phong trào vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch. Hiện nay huy động
cộng đồng rất phù hợp với chủ trương xã hội hoá công tác y tế. Đó chính là giải
pháp thích hợp để tiếp tục huy động tiềm năng to lớn của cộng đồng và các tổ
chức xã hội tham gia giải quyết các vấn đề bệnh tật, sức khỏe cộng đồng một
cách chủ động, có tổ chức, có kế hoạch [29], [44], [77], [85], [125].
1.3.2. Huy động cộng đồng thực hiện vệ sinh môi trường
Huy động cộng đồng tham gia thực hiện VSMT là một quá trình hoạt động
do người cán bộ y tế tham mưu cho chính quyền địa phương thực hiện để tạo ra
sự ủng hộ, hỗ trợ, nhất trí từ các bên liên quan trong cộng đồng, nhằm tạo ra một
môi trường mọi người đều có trách nhiệm để đạt được những mục tiêu của
chương trình [33], [42], [84], [107].
1.3.2.1. Các bên liên quan trong thực hiện vệ sinh môi trường
- Các tổ chức đang có ở địa phương như: tổ chức Đảng, chính quyền, các
ban ngành, đoàn thể ở địa phương (xã, xóm)... Hoạt động của những tổ chức này
có liên quan rất nhiều đến vấn đề VSMT. Chính vì vậy cần huy động các tổ chức
này tham gia phối hợp với trạm y tế xã để làm tốt công tác VSMT. Muốn huy
động được các tổ chức này cán bộ y tế cần phải truyền thông cho các cán bộ lãnh
đạo các tổ chức, họ phải thật thông, tức là họ phải hiểu rõ nội dung VSMT và tác
hại của nó với sức khỏe cộng đồng. Họ phải có quan điểm ủng hộ tích cực, có
trách nhiệm cao khi tham gia. Họ tìm mọi cách để tham gia, từ đó họ sẽ triển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


20

khai việc tham gia chương trình bằng các hoạt động cụ thể như ra các văn bản,
nghị quyết (Đảng ủy, Ủy ban, các ban ngành…). Họ đưa việc thực hiện VSMT
vào các tiêu chuẩn thi đua cho các thành viên trong các tổ chức ở địa phương.
- Các hội ở địa phương như: Hội người cao tuổi, Hội nông dân, Hội phụ nữ,
Hội chữ thập đỏ.... Hoạt động của các hội này ít nhiều có liên quan đến các hoạt
động chăm sóc sức khỏe vì thế chúng ta cần vận động họ phối hợp chặt chẽ với
Trạm y tế để TT-GDSK thực hiện VSMT cho cộng đồng. Ví dụ Hội nông dân tham
gia bằng cách vận động hội viên xây dựng các CTVS trong các hộ gia đình. Hội
đưa vào tiêu chuẩn thi đua hàng năm cho các Hội viên trong việc thực hiện VSMT.
- Ban chăm sóc sức khoẻ: Hiện nay ở nước ta, hầu hết các xã đều có Ban
CSSKBĐ, Ban Dân số/Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ), Ban chỉ đạo an toàn vệ
sinh thực phẩm (ATVSTP)... Các ban này thường do chính quyền (Chủ tịch hoặc
Phó chủ tịch xã) làm trưởng ban, Trưởng trạm y tế làm phó ban thường trực phụ
trách về công tác chuyên môn. Ngoài ra các thành viên của ban là cán bộ phụ
trách các ban, ngành của xã. Để hoạt động có hiệu quả cán bộ y tế phải là người
tham mưu giỏi cho người lãnh đạo để sử dụng thật tốt ban này vào thực hiện
chăm sóc sức khỏe nhân dân. Trong các nội dung chăm sóc sức khỏe thì công tác
VSMT luôn luôn là vấn đề quan trọng song rất ít khi được ưu tiên vì thái độ của
các nhà lãnh đạo, của Ban CSSKBĐ chưa coi trọng đúng đắn về vấn đề này. Mọi
người thường cho rằng công tác VSMT chưa thực hiện ngay thì cũng chưa gây
hậu quả chết người như giải quyết các dịch bệnh như tả, cúm A hay sốt rét… Vì
vậy, trước hết cần truyền thông giáo dục cho chính các lãnh đạo các Ban này.
VSMT kém chính là nguyên nhân chính có thể gây ra các vụ dịch chết người ở
cộng đồng. Mọi người cần chung tay thực hiện VSMT thì các nguy cơ dịch bệnh
mới được khống chế và người dân mới được bảo vệ sức khỏe.
- Người dân trong cộng đồng: Không phải bao giờ người ta cũng hiểu tại
sao mình lại cần phải cố gắng nâng cao sức khoẻ bằng những nỗ lực của chính
mình. Đôi khi họ cảm thấy rằng chăm sóc sức khoẻ là trách nhiệm của Nhà
nước, tất nhiên Nhà nước có trách nhiệm về vấn đề này. Việc nâng cao lòng tin
của người dân vào các lợi ích của dịch vụ chăm sóc sức khỏe là nhiệm vụ tăng
cường TT-GDSK của cán bộ y tế. Truyền thông để mọi thành viên trong cộng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


21

đồng nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề VSMT để họ tự nguyện tham
gia. Sự hợp tác tích cực và sự tham gia của cộng đồng thể hiện từ bước thảo
luận bàn bạc tại sao phải xây dựng các CTVS hay xây dựng các công trình
VSMT ở địa phương như thế nào đến việc tổ chức thực hiện. Thu hút sự tham
gia của cộng đồng đòi hỏi một sự đầu tư rất lớn về nguồn nhân lực, cũng như
thời gian và công sức. Không một cán bộ y tế nào có thể thực hiện sự đầu tư
ấy một cách có hiệu quả mà không có sự cam kết của cộng đồng. Các cán bộ
được giao nhiệm vụ phải nhận thức được việc làm cho cộng đồng hiểu điều đó
có giá trị hơn nhiều so với khả năng chuyên môn và kiến thức kỹ thuật. Mọi
người cần phải cam kết thực hiện chương trình. Khi mọi người nhận ra điều
đó và tham gia thì các chương trình VSMT sẽ được triển khai thực hiện rất
tốt. Chúng ta muốn huy động người dân trước tiên chúng ta phải huy động
những người có trách nhiệm trước. Đó là các đảng viên, các cán bộ địa
phương từ lãnh đạo xã đến thôn xóm. Mọi cán bộ đều gương mẫu tham gia
trước tất nhiên người dân sẽ theo.
- Những người có uy tín ở cộng đồng: Những người có uy tín ở cộng
đồng tuy họ không phải là những người lãnh đạo chính quyền hay các tổ chức
xã hội song họ rất có trách nhiệm với mọi người và được mọi người kính
trọng. Khi những người này nói thì mọi người sẵn sàng nghe theo, những
người này còn được gọi là "Người lãnh đạo dư luận". Những người lãnh đạo
dư luận thường được nhiều người ủng hộ. Mỗi khu vực hoặc mỗi nhóm dân
cư đều có người lãnh đạo dư luận riêng của mình. Một số người lãnh đạo dư
luận có danh tiếng rất dễ nhận ra họ như già làng, trưởng tộc, trưởng họ... ở
người Dao, vai trò của Trưởng họ, già làng rất quan trọng. Ai là người lãnh
đạo dư luận ở cộng đồng này? Nếu sau khi nói chuyện với một số người trong
cộng đồng, chúng ta thấy người nào được nhiều người biết đến và kính trọng
nhất, đó chính là người lãnh đạo dư luận của cộng đồng đó. Họ nói gì thì mọi
người dân, con cháu đều nghe theo vì họ có uy tín rất lớn trong cộng đồng và
trong nội tộc. VSMT là vấn đề khó thực hiện nên rất cần huy động những
người lãnh đạo dư luận này tham gia [32], [34], [105], [108], [112].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


22
1.3.2.2. Phân nhóm các bên liên quan trong thực hiện vệ sinh môi trường
Một trong những nguyên tắc của huy động cộng đồng thực hiện VSMT là
việc tiếp cận được nhiều bên liên quan, vì vậy ngay từ đầu phải xác định được các
bên liên quan giữ vai trò quan trọng đối với chương trình huy động cộng đồng.
Dựa trên kết quả phân tích các bên liên quan, người cán bộ có thể tạo dựng được
sự hỗ trợ từ họ nhằm giúp đạt được mục tiêu đề ra. Các bên liên quan có thể chia
thành 4 nhóm:
- Những người ra quyết định, hoạch định chính sách, lập pháp: đây là
những người có quyền lực, có thẩm quyền đề ra các quyết định và tổ chức thực
hiện nhằm tạo ra những thay đổi mong muốn. Những người ra quyết định là
những đối tượng quan trọng nhất trong chương trình. Họ có tác động rất lớn đến
chương trình vận động. Mục đích của huy động nhằm đạt được sự thay đổi các
quyết định có lợi với chương trình VSMT. Đó là lãnh đạo xã (Bí thư, Chủ tịch),
những người có thể ra các văn bản nghị quyết hay quyết định huy động nguồn
lực cho chương trình. Họ cần phải được huy động đầu tiên và tham gia tích cực
thì khả năng thực hiện thành công chương trình mới cao.
- Các đối tác và người ủng hộ: bao gồm các cá nhân, các nhóm và các tổ
chức cam kết cùng giải quyết vấn đề trên cùng quan điểm, sẵn sàng giành thời
gian và nguồn lực cho việc thúc đẩy thực hiện mục tiêu của chương trình VSMT.
Họ là ai? Ở địa phương đó là các cơ quan, doanh nghiệp đóng

phương. Người cán bộ y tế cần xác định xem sự đóng góp của các đối tác đối với
vấn đề VSMT cụ thể là gì? Những yếu tố có thể làm tăng cường mối quan hệ đối
tác có thể bao gồm cả việc thỏa thuận về mục tiêu, mục đích của mối quan hệ đối
tác, chia sẻ thông tin và bài học thu được, giao tiếp cởi mở và chân thực, gặp gỡ
và trao đổi thông tin thường xuyên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


23
- Những người hưởng lợi: là những người thừa hưởng lợi ích trực tiếp từ
kết quả của chương trình. Nếu biết cách huy động, những người hưởng lợi sẽ trở
thành người đi vận động thuyết phục đáng tin cậy, đó chính là người dân. Người
dân cũng cần được huy động tích cực vào các hoạt động VSMT cho chính họ và
cộng đồng. Đóng góp của họ có thể là công sức lao động, lớn hơn nữa đó là tiền
bạc. Vận động họ tham gia như thế nào? Rõ ràng phải TT-GDSK để họ hiểu
được VSMT là gì? Ý nghĩa của VSMT với sức khỏe của chính họ ra sao ? Sự
cần thiết, tầm quan trọng của việc tham gia vào xây dựng môi trường vệ sinh của
họ, từ đó họ có thái độ tốt, có trách nhiệm xây dựng các CTVS cho chính họ và
có trách nhiệm với cộng đồng.
- Nhóm đối lập: họ là những cá nhân, những nhóm có quan điểm khác biệt
hoặc đối lập về chương trình VSMT. Số này không nhiều, không nên xem họ là
đối thủ cạnh tranh, mà nên coi họ là những người có nhận thức và niềm tin khác
về vấn đề này. Một người phản đối về vấn đề này nhưng có thể tán thành những
vấn đề khác. Điều quan trọng là xác định những người phản đối là ai, tìm hiểu
quan điểm của họ thế nào để có cơ sở đối thoại, trao đổi với họ. Để đảm bảo các
quan điểm đối lập không có tác động tiêu cực đến vấn đề mình đang huy động,
người cán bộ y tế phải sẵn sàng trình bày những lập luận có tính thuyết phục thông
qua các số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu và những số liệu cập nhật [38], [86],
[100], [101], [103].
1.3.2.3. Các bước tiến hành huy động cộng đồng tham gia VSMT
Bước 1: Xác định nội dung cần huy động đối với một vấn đề VSMT, tầm
quan trọng đối với cộng đồng: Lựa chọn một vấn đề mà cộng đồng đánh giá cao
có thể giúp việc tạo lập mối quan hệ đối tác với các tổ chức và khuyến khích các
thành viên cộng đồng tham gia trong việc lựa chọn giải pháp. Điều quan trọng là
chúng ta cần phải xác định vấn đề huy động một cách thận trọng và cẩn thận để
tạo ảnh hưởng quan trọng với cộng đồng và đưa đến những thay đổi quyết định.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


24
Bước 2: Tìm hiểu vấn đề và thu thập số liệu: Sử dụng các báo cáo, thống kê
có sẵn, các chỉ số đánh giá sức khỏe cộng đồng, các thông tin từ cơ quan y tế và
các đơn vị liên quan của địa phương.
Bước 3: Xây dựng mục tiêu chung, cũng như mục tiêu cụ thể để huy động
cộng đồng.
Bước 4: Xác định các giải pháp và các hoạt động cụ thể nhằm vào các bên
có liên quan, các cán bộ quản lý và đại diện phương tiện thông tin đại chúng của
địa phương.
Bước 5: Xây dựng các cộng cụ đánh giá để đo lường thành công của kế
hoạch huy động đã đề ra [40], [83], [107], [118].
1.3.3. Một số mô hình huy động cộng đồng truyền thông giáo dục sức khỏe để
cải thiện hành vi sức khỏe của người dân
1.3.3.1. Thế giới
a) Mô hình nhân viên y tế cộng đồng ở Zimbabue
Từ năm 1987 có hơn 5.000 nhân viên y tế công cộng được đào tạo trước
khi Bộ Y tế chuyển giao cho Bộ Phụ nữ. Nhân viên y tế cộng đồng được cộng
đồng lựa chọn, phải là người lớn và có uy tín trong cộng đồng, biết đọc biết viết.
Các nhân viên y tế cộng đồng được đào tạo hai tháng lý thuyết và một tháng thực
hành. Khi thực hiện nhiệm vụ tại xóm/bản họ chịu sự giám sát của người lãnh
đạo cộng đồng và các y tá từ các bệnh viện. Họ được nhận số tiền khuyến khích
là 35 đôla Zimbabue/1 tháng, một chiếc xe đạp và một túi thuốc, cộng đồng
không chi gì thêm, mỗi năm được đào tạo lại một lần. Mô hình chăm sóc sức
khoẻ này thể hiện rõ vai trò lãnh đạo cộng đồng, những người có uy tín tại cộng
đồng, điều này rất quan trọng vì các hoạt động y tế tại địa phương (thôn/bản)
không có vai trò của trưởng bản thì tính bền vững và hiệu quả sẽ kém, vì họ là
người có uy tín trong bản, nên việc triển khai các cuộc vận động về chăm sóc sức
khoẻ, VSMT mới có thể thực hiện tốt được. Chính vì vậy, việc làm rõ lợi ích của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


25
người dân khi tham gia các chương trình y tế không những đối với đối tượng hưởng
lợi trực tiếp là rất quan trọng, nhưng cũng cần chú ý làm rõ mục tiêu, nội dung, lợi
ích của các bên liên quan (Trưởng bản, Phụ nữ, Thanh niên, Hội cựu chiến binh tại
địa phương) thì mới có sự phối hợp, hợp tác có hiệu quả tốt [11], [12].
b) Mô hình chăm sóc sức khoẻ toàn diện dựa trên cộng đồng và gia đình
(WHO, 2004)
Mục đích của mô hình này là nhằm đảm bảo tốt hơn việc tiếp cận và sử
dụng dịch vụ y tế và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ có chất lượng nhằm đáp ứng
nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ngày càng cao của người dân và sử dụng hiệu quả
nguồn lực sẵn có. Mô hình này nhấn mạnh bệnh nhân/khách hàng là trung tâm,
những tri thức và sự đóng góp của cá nhân, gia đình và cộng đồng là những yếu
tố quyết định đến việc bảo vệ, duy trì sức khoẻ, quản lý bệnh tật và ốm đau. Đây
là hướng tiếp cận khách hàng là trung tâm, lấy sự thoả mãn nhu cầu của khách
hàng là tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, cách tiếp cận
này đối với sự cạnh tranh gay gắt của thị trường đã được đề cập từ lâu, tuy nhiên
đối với y tế, chỉ vào thập niên 90 cho tới nay, ngày càng được quan tâm đúng
mức [11].
c) Cách tiếp cận “Vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ"; (Community led
total sanitation, viết tắt là: CLTS)
Cách tiếp cận do TS. Kamal Kar (Ấn Độ) đề xướng và được áp dụng lần đầu
tiên tại Ấn Độ. Hiện nay cách tiếp cận này đã được áp dụng tại trên 30 quốc gia trên
thế giới và đạt kết quả tốt. CLTS là phương pháp nhằm đạt được và duy trì tình
trạng không phóng uế bừa bãi thông qua việc hướng dẫn cộng đồng phân tích
thực trạng vệ sinh, thói quen đi vệ sinh và hậu quả của nó, từ đó có hành động
tập thể cụ thể nhằm không phóng uế bừa bãi ra môi trường. Không giống các
cách tiếp cận khác trợ cấp bằng tiền mặt hay vật liệu cho hộ gia đình hoặc tập
trung vào xây dựng nhà vệ sinh. CLTS tập trung vào động cơ thay đổi hành vi vệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×