Tải bản đầy đủ

Hệ sinh thái biển châu úc Rạn san hô Great Barrier

Trường Đại Học Sài Gòn
Khoa: Khoa Học Xã Hội
Ngành: Sư phạm Địa Lý

Môn: ĐỊA LÝ CÁC LỤC ĐỊA

TÌM HIỂU
HỆ SINH THÁI BIỂN CỦA
CHÂU ÚC

SV thực hiện: Trần Ngọc Hiếu
Lớp:


Trường Đại Học Sài Gòn
Khoa: Khoa Học Xã Hội
Ngành: Sư phạm Địa Lý

Môn: ĐỊA LÝ CÁC LỤC ĐỊA

TÌM HIỂU

HỆ SINH THÁI BIỂN CỦA CHÂU ÚC

SV thực hiện: Trần Ngọc Hiếu
Lớp: DDI3151
Năm học 2015-2016


A. PHẦN MỞ ĐẦU:
Mặc dù phần lớn lãnh thổ Châu Úc là hoang mạc và bán hoang mạc nhưng châu lục
này vẫn sở hữu nhiều loại môi trường sống phong phú. Hàng triệu năm tiến hóa cô lập
cùng với các lục địa khác đã làm cho các loài động thực vật ở Úc tiến hóa theo hướng
khác hẳn với những nơi khác trên thế giới. Ở cấp độ loài có khoảng 85% thực vạt cây có
hoa 74% động vật có vú, hơn 45% các loài chim và khoảng 98% loài cá cùng ôn đới chỉ
tìm thấy ở Úc. Đặc biệt là vùng biển rộng lớn ở Úc với các hệ sinh thái rất phong phú về
các loại động vật dưới nước, tiêu biểu nhất là các hệ sinh thái rạn san hô, rừng ngập mặn
và thảm cỏ biển ở Châu Úc. Rạn san hô Great Barrier ở Úc lớn nhất thế giới được coi là
một trong bảy kì quan thiên nhiên thế giới.
B. NỘI DUNG
I. Khái quát vùng biển Châu Úc.
Châu Úc có vùng biển rộng lớn với vùng đặc quyền kinh tế là 8.148.250 km 2, có
đường bờ biển dài 34.218 km với lục địa Úc và các quần đảo Mi-cro-ne-di, Me-la-ne-di,
Po-li-ne-di và Niu-di-lan.
II. Các hệ sinh thái biển Châu Úc.
Gồm có các hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái rừng ngập mặn và thảm cỏ biển
1. Rạn san hô Great Barrier
Rạn san hô Great Barrier là hệ thống đá ngầm san hô lớn nhất hành tinh được xếp
vào một trong bảy kỳ quan của Thế giới tự nhiên. được công nhận là di sản thiên nhiên
thế giới năm 1981 Rạn san hô này bao gồm khoảng 3.000 tảng đá ngầm riêng rẽ và 900
hòn đảo, kéo dài khoảng 2.600km, bao phủ một vùng có diện tích xấp xỉ 344.400 km2.
Phần đá ngầm nằm ở khu vực Biển San Hô, cách bờ biển Queensland về hướng Đông
Bắc Úc. Một phần lớn đá ngầm được bảo vệ bởi công viên hải dương rạn san hô Great
Barrier. Từ ngoài không gian cũng có thể nhìn thấy rạn san hô này.


Rạn san hô Great
barrier lớn nhất thế
giới chụp từ trên cao.
Nguồn: Internet

1.1 Nguồn gốc( Địa lí và địa chất)

Các đá san hô ngầm sờn lòng ( tiến và lùi ) khi mực nước biển thay đổi. Trọng tâm
nghiên cứu đá ngầm của Úc đã tìm thấy nhiều trầm tích san hô đã tồn tại từ nửa triệu năm
về trước.
Theo công viên hải dương rạn san hô Great Barrier, kiến trúc đá san hô ngầm đang
sinh sống bây giờ đã bắt đầu phát triển trên một nền địa chất cũ khoảng 18.000 năm
trước. Học viện Hải Dương Học Úc ý là sự kiện này đã bắt đầu từ 20.000 năm trước – cả
hai dự đoán này đều đặt sự kiện tại thời kì của giai đoạn Tối Chung Băng Kỳ. Quanh thời
khắc đó, mực nước biển thấp hơn bây giờ khoảng 120m. Vùng đất đã hình thành thử thể
nền của rạn san hô Great Barrier là một vùng đồng bằng ven biển với những ngọn đồi lớn
( trong số đó có những cái là phần còn lại của những tảng đá lâu đời hơn ).
Từ 20.000 cho đến 6.000 năm trước, mực nước biển tăng đều đặn. Khi mực nước biển
tăng , các san hô có xác xuất mọc cao hơn trên những ngọn đồi của miền đồng bằng ven
biển. Khoảng 13.000 năm trước, mực nước biển thấp hơn bây giờ khoảng 60m , và các
san hô đã bắt đầu mọc quanh các ngọn đồi của miền đồng bằng ven biển – sau thời gian
ấy là các hòn đảo lục địa. Khi mực nước biển tăng cao hơn, hồ hết các hòn đảo lục địa bị
nhấn chìm. Các san hô lớn nhanh quá các ngọn đồi để hình thành thử các đảo san hô
( cays ) và đá ngầm san hô. Mực nước biển trên rạn san hô Great Barrier đã không tăng


đáng kể trong 6.000 năm qua. Các kết quả nghiên cứu do trọng tâm nghiên cứu đá ngầm
Úc tài trợ đã dự đoán tuổi của kiến trúc đá ngầm san hô bây giờ vào khoảng 6.000-8.000
năm.
Ở vùng phía bắc của rạn san hô Great Barrier, các đá ngầm dải và đá ngầm châu thổ
đã hình thành tại đây – những kiến trúc đá ngầm này không được tìm thấy trong tuốt
phần còn lại của hệ thống giao thông rạn san hô Great Barrier. San hô lâu đời nhất là một
loài san hô của Porites, có tên là san hô tảng lăn, chỉ khoảng 1.000 năm tuổi ( nó mọc dài
khoảng 1 cm/1năm ). Những phần còn lại của một rạn san hô cổ đại na ná với rạn san hô
Great Barrier có xác xuất được tìm thấy ở vùng The Kimberley ( nằm ở bắc Tây Úc ).
1.2: Phân bố.
Rạn san hô Great Barrier kéo dàn trên 2600 km nằm ở ngoài khơi khu vực Bang
Queesland, đông bắc nước Úc.
Vị trí rạn san hô Great
Barrier ở bang
Queesland Đông Bắc
nước Úc.


1.3 Cấu tạo của Rạn san hô
San hô là các sinh vật biển thuộc lớp San hô (Anthozoa) tồn tại dưới dạng các thể
polip nhỏ giống hải quỳ, thường sống thành các quần thể gồm nhiều cá thể giống hệt
nhau. Các cá thể này tiết ra cacbonat canxi để tạo bộ xương cứng, xây nên các rạn san hô
tại các vùng biển. Một "đầu" san hô thực tế được tạo từ hàng ngàn cá thể polip có cấu tạo
gen giống hệt nhau, mỗi polip chỉ có dường kính vài milimet. Sau hàng ngàn thế hệ, các
polip này để lại một khung xương là đặc trưng về loài của chúng. Mỗi đầu san hô phát
triển nhờ sự sinh sản vô tính của các polip. San hô còn sinh sản hữu tính bằng các giao tử,
được giải phóng đồng thời trong một thời kì từ một đến vài đêm liên tiếp trong kì trăng
tròn. Tuy san hô có thể dùng các tế bào châm (nematocyst) tiết chất độc tại các xúc tu để
bắt phù du, loại động vật này thu nhận phần lớn dưỡng chất từ loại tảo đơn bào cộng sinh
có tên tảo vàng đơn bào (zooxanthella). Do đó, hầu hết san hô phụ thuộc vào ánh sáng
mặt trời và phát triển ở các vùng nước trong và nông, thường ở độ sâu không tới 60 m
(200 ft). San hô có thể đóng góp lớn cho cấu trúc vật lý của các rạn san hô phát triển như
ở rạn san hô Great Barrier ở ngoài khơi bang Queensland, nước Úc.
Cơ thể san hô có vòng xúc tu tạo đĩa miệng, có lỗ miệng, có hầu, có ống tiêu hoá, đĩa
miệng lõm vào tạo rãnh hầu. Có tổ chức vách ngăn tạo thành tầng trung gian, tầng trung
gian chia ra các ngăn số lượng ngăn phù hợp với số lượng xúc tu. Trong có tế bào tuyến
và tế bào thích ty, đa số có bộ xương do lớp ngoài cơ thể san hô tiết ra được lớp đá vôi có
dạng đế hoa để làm giá đỡ cho phần cơ thể sống trùm lên trên khiến cho chỉ có nửa cơ thể
trên cử động còn nửa dưới hoá đá nên hoàn toàn bất động và thường dính lại với nhau tạo
nên bộ xương đá vôi hình cành cây hay dạng đá tảng.
Cấu tạo của một polip san hô
Tuy một đầu san hô trông như một cơ thể sống, nhưng nó thực ra là đầu của nhiều cá
thể giống nhau hoàn toàn về di truyền, đó là các polip. Các polip là các sinh vật đa bào
với nguồn thức ăn là nhiều loại sinh vật nhỏ hơn, từ sinh vật phù du tới các loài cá nhỏ.
Polip thường có đường kính một vài milimet, cấu tạo bởi một lớp biểu mô bên ngoài và


một lớp mô bên trong giống như sứa được gọi là ngoại chất. Polip có hình dạng đối xứng
trục với các xúc tu mọc quanh một cái miệng ở giữa - cửa duy nhất tới xoang vị (hay dạ
dày), cả thức ăn và bã thải đều đi qua cái miệng này. Dạ dài đóng kín tại đáy polip, nơi
biểu mô tạo một bộ xương ngoài được gọi là đĩa nền. Bộ xương này được hình thành bởi
một vành hình khuyên chứa canxi ngày càng dầy thêm (xem ở dưới). Các cấu trúc này
phát triển theo chiều thẳng đứng và thành một dạng ống từ đáy polip, cho phép nó co vào
trong bộ xương ngoài khi cần trú ẩn. Polip mọc bằng cách phát triển khoang hình cốc
(calices) theo chiều dọc, đôi khi chia thành vách ngăn để tạo một đĩa nền mới cao hơn.
Qua nhiều thế hệ, kiểu phát triển này tạo nên các cấu trúc san hô lớn chứa canxi, và lâu
dài tạo thành các rạn san hô. Sự hình thành bộ xương ngoài chứa canxi là kết quả của
việc polip kết lắng aragonit khoáng từ các ion canxi thu được từ trong nước biển. Tuy
khác nhau tùy theo loài và điều kiện môi trường, tốc độ kết lắng có thể đạt mức 10 g/m²
polip/ngày. Điều này phụ thuộc mức độ ánh sáng, sản lượng ban đêm thấp hơn 90% so
với giữa trưa.
Tentacle: tua
Nematocyst: tế bào châm( dùng để
phóng độc)
outer epidermis: lớp biểu bì bên
ngoài
mouth: miệng
stomach: dạ dày
gastrodermis:
coenosarc: cơ thể chung
mesogle:lớp mô bên trong
digestive filament: tiêu hóa dây tóc
septum: ngăn của bao tử
theca:
basal plate: đĩa nền

Cấu Tạo của San hô


Nematocyst phóng độc: Một nematocyst phản ứng với một con mồi gần đó đang
chạm phải gai châm ngứa, nắp mở, tua châm cắm vào con mồi tiêm chất độc làm tê liệt
con mồi, sau đó các xúc tu kéo con mồi vào miệng. Các xúc tu của polip bẫy mồi bằng
cách sử dụng các tế bào châm được gọi là nematocyst. Đây là các tế bào chuyên bắt và
làm tê liệt các con mồi như sinh vật phù du, khi có tiếp xúc, nó phản ứng rất nhanh bằng
cách tiêm chất độc vào con mồi. Các chất độc này thường yếu, nhưng ở san hô lửa, nó đủ
mạnh để gây tổn thương cho con người. Các loài sứa và hải quỳ cũng có nematocyst.
Chất độc mà nematocyst tiêm vào con mồi có tác dụng làm tê liệt hoặc giết chết con mồi,
sau đó các xúc tu kéo con mồi vào trong dạ dày của polip bằng một dải biểu mô co dãn
được được gọi là hầu. Các polip kết nối với nhau qua một hệ thống phức tạp gồm các
kênh hô hấp tiêu hóa cho phép chúng chia sẻ đáng kể các chất dinh dưỡng và các sinh vật
cộng sinh. Đối với các loài san hô mềm, các kênh này có đường kính khoảng 50-500 µm
và cho phép vận chuyển cả các chất của quá trình trao đổi chất và các thành phần tế bào.
=> Vậy san hô là tập đoàn nhiều cá thể có khả năng tạo ra bộ xương đá vôi vững chắc
cho phép chúng tồn tại ở các vùng biển có nước triều lên xuống và nước xô sóng vỗ.
Sinh sản: Có 2 hình thức sinh sản là hữu tính và vô tính.
Sinh sản hữu tính:
San hô chủ yếu sinh sản hữu tính, với 25% san hô phụ thuộc tảo (san hô đá) tạo thành
các quần thể đơn tính trong khi phần còn lại là lưỡng tính. Khoảng 75% san hô phụ thuộc
tảo "phát tán con giống" bằng cách phóng các giao tử (trứng và tinh trùng) vào trong
nước để phát tán các quần thể san hô ra xa. Các giao tử kết hợp với nhau khi thụ tinh để
hình thành một ấu trùng rất nhỏ gọi là planula, thường có mầu hồng và hình ôvan; một
quần thể san hô cỡ trung bình mỗi năm có thể tạo vài nghìn ấu trùng này để vượt qua xác
suất rất nhỏ của việc ấu trùng tạo được một quần thể mới.
Ấu trùng planula bơi về phía ánh sáng, thể hiện quang xu hướng tính dương, lên đến
vùng nước bề mặt nơi chúng trôi dạt và phát triển một thời gian trước khi bơi trở lại
xuống phía đáy biển để tìm một bề mặt mà nó có thể bám vào đó và xây dựng một quần


thể mới. Nhiều giai đoạn của quá trình này có tỷ lệ thất bại lớn, và mặc dù mỗi quần thể
san hô phát tán hàng triệu giao tử, chỉ có rất ít quần thể mới được hình thành. Thời gian
từ khi phóng giao tử cho đến khi ấu trùng định cư thường là 2 hoặc 3 ngày, nhưng có thể
kéo dài đến 2 tháng. Ấu trùng san hô phát triển thành một polip san hô và cuối cùng trở
thành một đầu san hô bằng cách sinh sản vô tính tạo các polip mới.
Hầu hết các loài san hô, mà không phải san hô đá, đều không phát tán giao tử. Các
loài này phóng tinh trùng nhưng giữ trứng, cho phép phát triển các ấu trùng planula lớn
hơn để sau này khi thả ra sẽ đủ sẵn sàng để lắng xuống. Ấu trùng phát triển thành polip
san hô và cuối cùng trở thành đầu san hô bằng mọc chồi vô tính và phát triển để tạo ra
các polip mới.
Các khoang hình cốc (đĩa nền) của Orbicella annularis cho thấy 2 phương pháp nhân
giống: mọc chồi (khoang nhỏ ở giữa) và phân chia (khoang đôi lớn).
Việc phóng giao tử đồng bộ thường xảy ra và rất điển hình tại các rạn san hô, ngay cả
khi tại rạn có nhiều loài, tất cả san hô trên rạn phóng giao tử vào cùng một đêm. Sự đồng
bộ này rất thiết yêu để các giao tử đực và cái có thể gặp nhau để tạo thành ấu trùng
planula. Những dấu hiệu hướng dẫn cho việc phóng giao tử rất phức tạp, nhưng xét thời
gian ngắn, nó bao gồm các thay đổi về mặt trăng, thời gian mặt trời lặn, và có thể cả tín
hiệu hóa học. Việc phóng giao tử đồng thời có thể tạo ra kết quả là sự hình thành các
dạng san hô lai, có lẽ tham gia vào quá trình tạo loài san hô mới. Tại một số nơi, hiện
tượng san hô phóng giao tử có thể rất nổi bật, thường xảy ra vào ban đêm, nước biển vốn
trong trở nên mờ đục bởi các "đám mây" giao tử.
San hô phải phụ thuộc vào các dấu hiệu môi trường, tùy theo từng loại, để xác định
thời gian chính xác để giải phóng các giao tử vào trong nước. Có hai phương pháp mà
san hô dùng để sinh sản hữu tính, chúng khác nhau ở chỗ giao tử cái có được giải phóng
hay không:
San hô gieo rắc: phần lớn trong chúng sinh sản hàng loạt, phụ thuộc nặng nề vào các
dấu hiệu môi trường, do ngược lại với san hô ấp trứng, chúng giải phóng cả tinh trùng lẫn


trứng vào trong nước. San hô sử dụng các dấu hiệu dài hạn như độ dài thời gian ban
ngày, nhiệt độ nước, và/hoặc tốc độ thay đổi nhiệt độ; và dấu hiệu ngắn hạn thông thường
nhất là chu kỳ trăng, với lúc mặt trời lặn điều khiển thời gian giải phóng. Khoảng 75%
các loài san hô là san hô gieo rắc, phần lớn trong chúng là phụ thuộc tảo vàng đơn bào
hay san hô tạo rạn. Các giao tử với sức nổi dương trôi nổi về phía bề mặt nơi sự thụ tinh
diễn ra để tạo thành các ấu trùng planula. Các ấu trùng planula bơi về phía ánh sáng bề
mặt để đi vào các dòng chảy, nơi chúng ở lại khoảng 2 ngày, nhưng có thể tới 3 tuần, và
trong một trường hợp đã biết là 2 tháng, sau đó chúng chìm xuống và biến hóa thành các
polip và tạo thành các quần thể mới.
San hô ấp trứng thông thường nhất là không phụ thuộc tảo vàng đơn bào (không tạo
rạn), hoặc một số san hô phụ thuộc tảo vàng đơn bào trong các khu vực có tác động của
sóng hay luồng chảy mạnh. San hô ấp trứng chỉ giải phóng tinh trùng, với sức nổi âm, và
có thể lưu trữ trứng đã thụ tinh trong vài tuần, giảm bớt nhu cầu đối với các sự kiện sinh
sản đồng bộ hàng loạt, nhưng nó vẫn có thể xảy ra. Sau khi thụ tinh thì san hô giải phóng
các ấu trùng planula đã sẵn sàng chìm lắng xuống.
Sinh Sản Vô tính
Tại các đầu san hô, các polip giống hệt nhau về di truyền sinh sản vô tính để phát triển
quần thể. Điều này được thực hiện bằng nảy mầm hay mọc chồi (khi một polip mới mọc
ra từ một polip trưởng thành), hoặc phân chia (thành 2 polip lớn bằng polip ban đầu), cả
hai được minh họa trong hình về Orbicella annularis.
Mọc chồi: Mở rộng kích thước của quần thể san hô. Nó diễn ra khi corallite mới mọc
ra từ polip trưởng thành. Khi polip mới phát triển nó sinh ra xoang vị (dạ dày), tua cảm
và miệng. Khoảng cách giữa các polip mới và trưởng thành tăng lên, và cùng với nó là
coenosarc. Việc mọc chồi có thể diễn ra theo các cách sau:
Phân chia theo chiều dọc bắt đầu với mở rộng polip ra, sau đó phân chia xoang vị.
Miệng phân chia và các tua cảm mới hình thành. Khác biệt với điều này là mỗi polip phải
hoàn thiện phần bị mất của mình về cơ thể và bộ xương ngoài.


Mọc chồi nội tua cảm hình thành từ các đĩa miệng của polip, nghĩa là cả hai polip có
cùng kích thước và nằm trong cùng một vòng tua cảm.
Mọc chồi ngoại tua cảm tạo thành từ đáy của polip, và các polip mới là nhỏ hơn.
Phân chia theo chiều ngang diễn ra khi các polip và bộ xương ngoài phân chia theo
chiều ngang thành hai phần. Điều này có nghĩa là một polip có đĩa nền (đáy) còn polip
kia có đĩa miệng (đỉnh). Hai polip mới cũng phải tự hoàn thiện các phần bị mất.
Phân đôi diễn ra ở một số san hô, đặc biệt là trong họ Fungiidae, trong đó quần thể có
khả năng tự tách thành 2 hay nhiều quần thể trong các giai đoạn đầu của sự phát triển của
chúng.
Cả quần thể san hô có thể sinh sản vô tính qua sự phân mảnh hay thoát ra ngoài, khi
một mảnh vỡ từ một đầu san hô được sóng đem đi nơi khác có thể tiếp tục phát triển tại
địa điểm mới. Polip thoát ra ngoài diễn ra khi một polip từ bỏ quần thể và tái thiết lập
trên một nền mới để tạo ra quần thể trưởng thành mới. Phân mảnh, trên thực tế có thể coi
như là một kiểu của phân đôi, với các cá thể bị vỡ ra khỏi quần thể do bão hay trong các
tình huống khác mà việc vỡ ra này có thể xảy ra. Các cá thể tách biệt có thể bắt đầu cho
các quần thể mới.
Vào những thời điểm áp lực, ví dụ như nhiệt độ cực kỳ nóng, san hô nấm cái (còn gọi
là san hô fungiid) đã đổi giới tính khiến hầu hết quần thể san hô đều là giống đực. Theo
nhà nghiên cứu san hô nổi tiếng thế giới, lợi ích của điều này chính là san hô đực có thể
nhanh chóng đối phó với áp lực hơn khi tài nguyên hạn chế. Rõ ràng khi thế thời trở nên
khốc liệt, tự nhiên trao vận mệnh cho đấng mày râu.
1.4: Đa dạng sinh học của rạn san hô Great Barrier
Rạn san hô Great Barrier là khu vực đa dạng sinh học bao gồm cả nhiều loài đang lâm
nguy, có khoảng 30 loài cá voi, cá heo đã được ghi nhận tại rạn san hô kể cả loài cá voi
Dwarf Minke, cá heo Inđo-pacific Humpback và cá voi Humback.


Cá heo quý hiếm
Inđo-Pacific
Humback
Nguồn:
www.aquabio.com

Great Barrier cũng có khoảng 1500 loài cá, 136 loài cá mập, 630 loài động vật da gai
gồm cả sao biển và biển nhiếm.
Có sáu loài rùa biển đã đến rạn san hô để gây giống như Green, Leather back, Haw
Ksbill, Loggen Head, Flat back, Olive Ripley.

Loài rùa quý hiếm Olive Ridley cũng được tìm thấy ở Great Barrier. Nguồn: vtc.vn


Có trên 2000 loài chim (bao gồm cả 40 loài chim nước) sống trên vùng trời của rạn
san hô Great Barrier, kể cả loại Đại bàng bụng trắng, chim nhạn hồng.
Khoảng 5000 loài động vật thân mềm cũng đã được ghi nhận, có cả loài trai khổng lồ,
nhiều loài Nudibranch, Ốc sên vỏ hình nón.
Đại bàng bụng trắng
sống trên vùng Great
Barrier
Nguồn:
www.naturfoto.cz

Hơn 1500 loài cá có cả loài Clownfish, Red bass, Red-Throat Emperor và nhiều loài
cá Sapper, cá hồi san hô. Có hơn 400 loài san hô mềm và san hô cứng
Có 15 loài cỏ biển gần rạn san hô, 5000 loài tảo biển hoặc tảo đại dương, có 17 loài
rắn biển. Loài sứa Iru Kandji cũng sinh sông ở rạn san hô này.
Loài cá Clowfish ( cá hề)
sinh sống ở rạn san hô
Great Barier
Nguồn: wikipedia.org/wiki


1.6: Vai trò của rạn san hô Great Barrier
Các rạn san hô đa dạng và tuyệt mỹ đã tham gia hình thành và bảo vệ hàng
ngàn hòn đảo. Chúng cũng có tầm quan trọng lớn ở nhiều đảo lớn và vùng bờ biển trong
việc bảo tồn đất đai và sự tồn tại của con người. Rạn có ý nghĩa thật sự đối với cộng đồng
ven biển và các quốc gia nhiệt đới. Do sự khác nhau về yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa,
giá trị của rạn san hô được đánh giá một cách khác nhau giữa các nước hoặc các cộng
đồng. Đối với các cộng đồng kinh tế phát triển, rạn san hô được coi là tài nguyên về xã
hội và văn hóa. Giá trị kinh tế được hiểu ở phương diện giải trí và du lịch. Các đặc sản
cũng rất hấp dẫn nhưng không phải là thiết yếu. Nhiều cộng đồng như thế đã hổ trợ cho
chương trình nghiên cứu khoa học nhằm hiểu biết chức năng của các hệ rạn san hô và tổ
hợp phức tạp này liên quan như thế nào đến môi trường biển và lục địa. Sau đây là những
đặc tính của rạn san hô góp phần tạo nên giá trị về mặt xã hội và văn hóa và được coi là
một nguồn lợi đặc biệt (Kenchington & Hudson, 1988).
Đối với Du lịch:
Rạn san hô Great barrier ở bang Queesland, Úc được công nhận là di sản thiên nhiên
thế giới, có giá trị du lịch to lớn. Đây là nơi thu hút khách du lịch bậc nhất ở Úc, thu về
hơn 5 tỷ USD/ năm của Úc.
Sức sản xuất:
Cácrạn san hô được coi là hệ sinh

thái có năng xuất cao nhất trên thế giới.

Chúng

chiếm khoảng 0,1% diện tích bề mặt quả đất. Nhưng nghề cá liên quan trực tiếp hoặc
gíán tiếp với rạn san hô và được đánh giá là chiếm khoảng 10% sản lượng nghề cá thế
giới. Sức sản xuất cao có được nhờ tính hiệu quả của chu trình chuyển hóa vật chất.
Trong đó tảo cộng sinh Zooxanthellea, tảo có khả năng cố định N và vi khuẩn sống trong
trầm tích đóng vai trò quyết định.
Tính đa dạng:


Rạn san hô cũng được coi là hệ sinh thái đa dạng nhất. Chúng bao gồm nhiều loài đặc
trưng đại diện cho hầu hết các nhóm động vật biển. Một số lượng lớn các hang hốc trên
rạn cung cấp nơi trú ẩn cho cá, động vật không xương sống đặc biệt là cá con. Để bổ sung
cho chiến lược cạnh tranh, các loài sống trong điều kiện mật độ dày trên rạn có thể hình
thành nhiều kiểu quan hệ. Một trong những quan hệ phổ biến nhất là quan hệ đối kháng.
Các phức chất hóa sinh hoạt tính cao đã được chiết xuất từ nhiều đối tượng san hô, một
số có thể được sử dụng trong y học.
Tính đa dạng của các loài trên san hô cao đến mức nhiều loài; đặc biệt là động vật
không xương sống như giun, tôm vẫn chưa được mô tả. Vì vậy rạn được coi là "kho dự
trữ " gen. Chúng nắm giữ nhiều dấu vết để chúng ta có thể hiểu được các quần thể động
thực vật phát triển như thế nào và có chức năng gì. Một số loài mang lại lợi ích kinh tế và
xã hội trực tiếp cho con người.
Nơi ở của các loài:
Rạn là môi trường mà nhiều loài phụ thuộc hoàn toàn vào nó. Nền đáy cứng trên rạn
là nơi mà nhiều sinh vật đáy đặc trưng như sò, trai, hải miên, huệ biển, hải quì và tảo
bám sinh trưởng. Với những loài này rạn san hô là nơi ở bắt buộc. Nhiều loài khác coi
rạn là nơi ở cấp thiết trong giai đoạn dễ bị đe dọa của chu trình sống và rạn được sử dụng
để kiếm ăn, đẻ trứng hoặc được coi là bãi ương con và trú ẩn. Việc thoát khỏi đe dọa nhờ
nơi ở là cơ sở quan trọng duy trì nghề cá và giúp tránh khỏi sự tiêu diệt của các loài có
giá trị cao. Rùa biển là một ví dụ về chức năng này của rạn san hô. Chúng là thành phần
quan trọng của quần xã rạn san hô. Rùa Xanh đi đẻ và ấp trứng trên bãi ương con trên
cạn. Đồi Mồi không di cư xa như Rùa Xanh và phân bố ở rạn nhiều hơn. Chúng ăn ngủ
trên rạn và đẻ trứng trên các bãi cát san hô của các đảo san hô hoặc các đảo có rạn riềm.
Đối với con người:
Các loại san hô như san hô đỏ và san hô đen, san hô sừng hươu .. Là nguyên liệu quý
để làm đồ trang sức và đồ trang trí. San hô đá là một trong những nguồn cung cấp nguyên
liệu vôi cho xây dựng .


Hoá thạch san hô là vật chỉ thị quan trọng của các địa tầng trong nghiên cứu địa chất.
San hô được dùng thay xương nhân tạo trong chấn thương chỉnh hình ở mặt.
2. Hệ sinh thái Rừng ngập mặn Châu Úc.
2.1:




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×