Tải bản đầy đủ

CHƯƠNG II: BẢO HIỂM XÃ HỘI

CHƯƠNG 2: BẢO HIỂM XÃ HỘI
( 4 Tiết: 3 LT+1 BT)
2.1. Bản chất, đối tượng và chức năng của bảo hiểm xã hội
2.1.1. Bản chất của bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội có thể được coi là thành quả của cách mạng xã hội nhằm đảm bảo đời sống
cho người lao động trong tiến trình phát triển của lịch sử và xã hội. Khi nền kinh tế hàng hóa
phát triển và việc thuê mướn lao động trở thành phổ biến thì mối quan hệ chủ - thợ ngày
càng biến động phức tạp. Lúc đầu giới chủ chỉ cam kết trả lương cho người lao động, nhưng
đồng lương thấp khiến người lao động chỉ đủ duy trì cuộc sống tối thiểu mà hoàn toàn không
có khả năng tích lũy, vì vậy họ dễ dàng rơi vào tình trạng bị động về mặt tài chính khi gặp
phải các rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động…Đứng trước tình hình này giới thợ đã liên kết
với nhau để tiến hành các cuộc cách mạng xã hội yêu cầu giới chủ phải tăng lương, giảm giờ
làm cho người lao động; đồng thời người lao động cũng yêu cầu giới chủ phải trả những
khoản tiền trợ cấp khi người lao động bị ốm đau, bệnh tật…Các yêu cầu của người lao động
là hoàn toàn chính đáng và giới chủ có khả năng đáp ứng được nếu các rủi ro này không xảy
ra một cách dồn dập, nhưng thực tế cho thấy nhiều khi các rủi ro xảy ra liên tục ví dụ bệnh
dịch hay xưởng cháy…lúc này bản thân giới chủ cũng rơi vào tình trạng khó khăn về mặt tài
chính và không thể đáp ứng nhu cầu của người lao động được. Mâu thuẫn chủ thợ vì vậy
ngày càng trở nên gay gắt đến mức độ không thể điều hòa được. Trước tình thế đó nhà nước
đã đứng ra thực hiện vai trò điều tiết xã hội của mình bằng cách buộc cả giới thợ và giới chủ
phải tham gia vào một quỹ do nhà nước thành lập và quản lý, quỹ này được gọi là quỹ bảo

hiểm xã hội. Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của người lao
động và người sử dụng lao động, được nhà nước bổ sung từ nguồn ngân sách nhà nước nếu
thu không đủ chi và được sử dụng để tài trợ cho người lao động khi họ không may gặp phải
các rủi ro như ốm đau, tai nạn…
Như vậy, bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với
người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm mất hoặc giảm thu nhập do mất hoặc
giảm khả năng lao động, mất việc làm, trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập
trung được huy động từ người lao động, người sử dụng lao động và sự tài trợ của nhà nước
nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã
hội.
Vì vậy bản chất của bảo hiểm:


Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan đa dạng và phức tạp của xã hội. Bảo hiểm xã
hội được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động với mục tiêu là thỏa mãn nhu cầu của
người lao động, giúp người lao động có được những khoản thu nhập thay thế cho thu
nhập bị mất khi người lao động bị mất hoặc giảm thu nhập do mất hoặc giảm khả năng
lao động hay mất việc làm. Nền kinh tế hàng hóa càng phát triển, việc thuê mướn lao
động càng phổ biến thì các quan hệ bảo hiểm xã hội càng đa dạng và phức tạp để đáp
ứng các nhu cầu của con người. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của bảo hiểm xã
hội hay bảo hiểm xã hội không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước.
Là chính sách xã hội để đảm bảo đời sống cho người lao động, quan hệ giữa các bên trong
bảo hiểm xã hội được phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và được diễn ra giữa ba bên: bên
tham gia bảo hiểm xã hội, bên bảo hiểm xã hội và bên được bảo hiểm xã hội. Mỗi bên đều có
nghĩa vụ và trách nhiệm độc lập trong việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội.
- Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc bị mất đi khi họ mất hoặc giảm khả năng
lao động sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một quỹ tiền tệ tập trung tồn tích. Nguồn quỹ này
do các bên tham gia bảo hiểm đóng góp là chủ yếu, ngoài ra quỹ còn nhận được sự hỗ trợ từ
phía nhà nước.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động của người lao động là cơ sở để phát
sinh trách nhiệm chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội có thể là những rủi ro ngẫu nhiên như tai
nạn, ốm đau… nhưng cũng có thể là những sự kiện không hoàn toàn mang tính ngẫu nhiên
như thai sản hay tuổi già…Đồng thời những biến cố đó có thể xảy ra cả trong và ngoài quá
trình lao động. Đây là một trong những điểm cơ bản thể hiện tính xã hội, tính cộng đồng và
nhân văn sâu sắc của bảo hiểm xã hội, nó cũng hoàn toàn phù hợp với các đặc điểm sinh lý
và xã hội của người lao động.
- Mục tiêu của bảo hiểm xã hội là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao
động trong trường hợp họ bị mất hoặc giảm thu nhập do mất hoặc giảm khả năng lao
động. Mục tiêu đó được Tổ chức Lao động Quốc tế (INTERNATION LABOUR
ORGANIZATION – ILO) cụ thể hóa như sau:

+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống
thiết yếu của họ.
+ Chăm sóc sức khỏe và chống bệnh tật.
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư đặc biệt là nhu cầu của người
già, người tàn tật và trẻ em.
-


Với những mục tiêu trênbảo hiểm xã hội đã trở thành một trong những quyền cơ bản của con
người và được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/1948 của Liên Hiệp
Quốc “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội đều có quyền hưởng bảo hiểm
xã hội, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa,
nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người”.
2.1.2. Đối tượng bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị mất hoặc bị giảm do người lao
động mất hoặc giảm khả năng lao động sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một quỹ tiền tệ tập
trung tồn tích được huy động từ người lao động, người sử dụng lao động và sự tài trợ của
nhà nước. Vì vậy đối tượng của bảo hiểm xã hội chính là khoản thu nhập bị mất hoặc bị
giảm khi người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bị mất hoặc giảm khả năng lao động, mất
việc làm.
Cần phân biệt giữa đối tượng bảo hiểm xã hội và đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội. Đối
tượng tham gia bảo hiểm xã hội là người lao động và người sử dụng lao động, tùy theo điều
kiện kinh tế xã hội của mỗi nước mà đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội có thể là toàn bộ
người lao động hoặc một bộ phận người lao động.
2.1.3. Chức năng của bảo hiểm xã hội
- Chức năng cơ bản nhất của bảo hiểm xã hội là thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối
với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội khi họ mất hoặc giảm thu nhập do mất hoặc
giảm khả năng lao động, mất việc làm. Bằng việc tài trợ cho người lao động, bảo hiểm xã hội
đã giúp người lao động vượt qua các khó khăn về mặt tài chính, góp phần đảm bảo an toàn
về mặt tài chính cho người lao động và thực hiện công bằng xã hội. Sự thay thế này chắc
chắn sẽ xảy ra bởi suy cho cùng mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi người khi hết
độ tuổi lao động theo các điều kiện quy định của pháp luật nên đây được coi là chức năng
quan trọng nhất của bảo hiểm xã hội, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức
hoạt động của bảo hiểm xã hội.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm xã
hội cũng được coi là chức năng chính của BHXH. Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành trên
cơ sở đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, nó sẽ được dùng để trợ cấp
cho một số ít người lao động tham gia quỹ khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do mất hoặc
giảm khả năng lao động. Số lượng những người hưởng trợ cấp từ quỹ tất nhiên sẽ chỉ chiếm
một tỷ trọng nhỏ trong số những người tham gia bảo hiểm xã hội vì thế thực chất của bảo


hiểm xã hội là hoạt động phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia. Thực hiện chức
năng này có nghĩa là bảo hiểm xã hội đã góp phần thực hiện công bằng xã hội.
- Bảo hiểm xã hội góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất, cải tiến
năng suất lao động cá nhân và góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội. Khi được tham
gia bảo hiểm xã hội, cuộc sống của người lao động và gia đình họ luôn được đảm bảo ổn
định bởi trong trường hợp xấu nhất khi mất khả năng lao động, mất việc làm người lao động
vẫn có được khoản trợ cấp từ phía bảo hiểm xã hội. Với sự yên tâm về mặt tài chính trong
tương lai người lao động sẽ có động lực để nỗ lực lao động góp phần cải tiến năng suất lao
động cá nhân và nâng cao năng suất lao động xã hội. Chức năng này biểu hiện như một đòn
bẩy kinh tế để kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động của mình.
- Bảo hiểm xã hội còn góp phần gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao
động, giữa người lao động với xã hội. Bảo hiểm xã hội không chỉ bảo vệ quyền lợi của
những người lao động mà bản thân người sử dụng lao động cũng có lợi và được bảo vệ. Đối
với nhà nước và xã hội, chi cho bảo hiểm xã hội là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả
nhất nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ,
góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị, xã hội được phát triển và an toàn hơn.
2.2. Những quan điểm cơ bản về bảo hiểm xã hội
Khi thực hiện bảo hiểm xã hội, các nước đều phải lựa chọn hình thức, cơ chế và mức độ thỏa
mãn các nhu cầu bảo hiểm xã hội phù hợp với tập quán, khả năng trang trải và định hướng
phát triển kinh tế - xã hội ở nước mình. Đồng thời phải nhận thức thống nhất năm quan điểm
về bảo hiểm xã hội sau:
Chính sách bảo hiểm xã hội là một bộ phận của chính sách xã hội và là bộ phận quan trọng
nhất trong số các chính sách xã hội.
Hệ thống các chính sách xã hội gồm có: chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách ưu đãi xã
hội và chính sách cứu trợ xã hội. Chính sách bảo hiểm xã hội là chính sách đối với con người
nhằm đáp ứng một trong những quyền cơ bản của con người: nhu cầu an toàn về việc làm, an
toàn lao động và an toàn xã hội…Đây được coi là chính sách xã hội quan trọng nhất vì nó
đảm bảo công bằng xã hội; là động lực để phát triển kinh tế xã hội đồng thời nó còn phản
ánh trình độ văn minh và tiềm lực kinh tế của mỗi quốc gia.
Người sử dụng lao động có nghĩa vụ và trách nhiệm bảo hiểm xã hội cho người lao động.
Người sử dụng lao động thực chất là các cá nhân, tổ chức có thuê mướn và sử dụng lao
động. Theo quy định của pháp luật người sử dụng lao động có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ
bảo hiểm xã hội và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội đối với


người lao động. Việc thực hiện bảo hiểm xã hội cho người lao động không chỉ mang lại lợi
ích cho người lao động mà người sử dụng lao động cũng có lợi bởi khi đã được đảm bảo
cuộc sống bằng các chế độ bảo hiểm xã hội người lao động sẽ gắn bó với công việc; yên tâm
tích cực lao động, góp phần nâng cao năng suất lao động và tăng hiệu quả kinh doanh cho
doanh nghiệp.
Người lao động được bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi đối với bảo hiểm xã hội không
phân biệt giới tính, tôn giáo, nghề nghiệp, huyết thống…
Bảo hiểm xã hội là hệ thống chính sách đảm bảo an toàn về mặt tài chính cho người lao
động, giúp họ có được khoản trợ cấp thay thế cho thu nhập bị mất khi họ gặp phải những rủi
ro làm mất hoặc giảm sức lao động, mất việc làm. Hoàn toàn không có sự phân biệt đối xử
đối với người tham gia bảo hiểm xã hội về nghĩa vụ đóng góp và quyền lợi trợ cấp bảo hiểm
xã hội. Tuy nhiên để được hưởng khoản trợ cấp này người lao động cũng cần thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ của mình, bởi xét cho cùng bảo hiểm xã hội là một quỹ tương hỗ chung toàn xã
hội, để tạo ra khoản tiền tài trợ cho những người lao động bị mất hoặc giảm thu nhập do mất
hoặc giảm khả năng lao động cần đến sự đóng góp của rất nhiều người lao động khác, và bởi
bất kỳ người lao động nào cũng sẽ đến giai đoạn bị mất hoặc giảm khả năng lao động nên
việc tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động ngày hôm nay chính là để đảm bảo cho
tương lai của họ trong mai sau.
Mức trợ cấp bảo hiểm xã hội phụ thuộc vào các yếu tố: Tình trạng mất khả năng lao động;
Tiền lương lúc đang đi làm của người lao động; Ngành nghề công tác và thời gian công tác;
Tuổi thọ bình quân của người lao động; Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng
thời kỳ. Về nguyên tắc mức trợ cấp bảo hiểm xã hội phải thấp hơn mức lương lúc đang đi
làm của người lao động, nhưng thấp nhất cũng phải đủ để người lao động duy trì cuộc sống
tối thiểu.
Quan điểm này phản ánh tính cộng đồng và nguyên tắc phân phối của bảo hiểm xã hội: bảo
hiểm xã hội là việc đảm bảo đời sống cho người lao động khi họ gặp rủi ro về khả năng lao
động vì vậy mức trợ cấp bảo hiểm xã hội không thể thấp hơn mức sống tối thiểu; mặt khác
trợ cấp bảo hiểm xã hội là loại trợ cấp thay thế tiền lương. Mà tiền lương là khoản tiền mà
người lao động nhận được khi họ thực hiện một khối lượng công việc nhất định. Khi mất
hoặc giảm khả năng lao động đương nhiên người lao động không thể hoàn thành khối lượng
công việc như trước được vì vậy khoản trợ cấp không thể cao hơn tiền lương mà họ đã nhận
được. Trên thực tế một mức trợ cấp quá cao sẽ làm mất đi động lực lao động, người lao động
sẽ không tích cực làm việc để có thu nhập cao mà sẽ lợi dụng bảo hiểm xã hội để được nhận


trợ cấp và rủi ro mất khả năng lao động lại trở thành cơ hội tăng thu nhập. Như vậy để đảm
bảo công bằng xã hội, đảm bảo nguyên tắc dàn trải rủi ro của bảo hiểm thì mức trợ cấp bảo
hiểm xã hội phải thấp hơn mức lương lúc đang đi làm của người lao động nhưng cũng phải
đủ để họ duy trì mức sống tối thiểu.
Nhà nước quản lý thống nhất chính sách bảo hiểm xã hội và tổ chức bộ máy thực hiện chính
sách bảo hiểm xã hội.
Bảo hiểm xã hội được thực hiện thông qua một quy trình chặt chẽ: hoạch định chính sách;
giới hạn về đối tượng tham gia; xác định phạm vi bảo hiểm; đảm bảo vật chất cho việc trợ
cấp xã hội; tổ chức quản lý các đối tượng tham gia và tổ chức xét cấp bảo hiểm xã hội và cấp
bảo hiểm xã hội…Để có thể thực hiện được toàn bộ quy trình này đòi hỏi phải có một chiến
lược quản lý dài hạn, có kế hoạch hoạch định chính sách dài hạn và có bộ máy cưỡng chế đủ
mạnh để duy trì mối quan hệ giữa các bên trong bảo hiểm xã hội phát triển theo đúng định
hướng đề ra. Vì thế nhà nước phải quản lý toàn bộ quy trình này một cách chặt chẽ và thống
nhất. Thực tế đã chỉ rõ nếu không có sự can thiệp của nhà nước, không có sự quản lý vĩ mô
của nhà nước thì mối quan hệ giữa người lao động, người sử dụng lao động và tổ chức bảo
hiểm xã hội sẽ không được duy trì bền vững và không có cơ sở để thực thi bảo hiểm xã hội.
Để có thể quản lý được toàn bộ quy trình bảo hiểm xã hội, việc đầu tiên và quan trọng nhất
là phải hoạch định các chính sách bảo hiểm xã hội . Sự quản lý nhà nước trong khâu này thể
hiện ở việc xây dựng và ban hành các dự án luật, các văn bản pháp quy về bảo hiểm xã hội;
hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra các tổ chức, cá nhân thực hiện chính sách.
Việc đảm bảo vật chất cho bảo hiểm xã hội của nhà nước phụ thuộc vào chính sách bảo hiểm
xã hội do nhà nước ban hành. Nếu quỹ bảo hiểm xã hội là do ngân sách nhà nước cung cấp
thì nhà nước sẽ là chủ thể trực tiếp quản lý và đảm bảo vật chất cho quỹ một cách toàn diện.
Nếu nguồn đảm bảo trợ cấp do người sử dụng lao động, người lao động và nhà nước đóng
góp thì nhà nước chỉ giữ vai trò quản lý.
Việc tổ chức thực hiện các chính sách xã hội, thường được nhà nước giao cho Bộ Lao động
hoặc Bộ Xã hội trực tiếp điều hành. Hệ thống bảo hiểm xã hội thường được tổ chức theo hệ
thống dọc thống nhất từ Trung Ương đến địa phương.
2.3. Hệ thống chế độ bảo hiểm xã hội
Chính sách bảo hiểm xã hội là chính sách xã hội cơ bản nhất của các quốc gia. Việc ban
hành các chính sách bảo hiểm xã hội phải dựa vào điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước
trong từng thời kỳ và xu hướng vận động khách quan của nền kinh tế - xã hội. Chính sách


này có thể được biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp luật song lại rất khó được thực hiện
nếu không được cụ thể hóa thông qua các chế độ bảo hiểm xã hội.
Chế độ bảo hiểm xã hội là sự cụ thể hóa chính sách bảo hiểm xã hội, là hệ thống các quy
định được pháp luật hóa về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trường
hợp bảo hiểm xã hội cụ thể. Chế độ bảo hiểm xã hội thường được biểu hiện dưới dạng các
văn bản luật và dưới luật.
Cần lưu ý rằng dù có cụ thể đến đâu thì các chế độ bảo hiểm xã hội cũng khó có thể bao hàm
được đầy đủ mọi chi tiết trong quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, vì vậy khi
thực hiện mỗi chế độ thường phải nắm vững những vấn đề mang tính cốt lõi của chính sách
bảo hiểm xã hội để đảm bảo tính đúng đắn và nhất quán trong toàn bộ hệ thống các chế độ
bảo hiểm xã hội.
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) nêu trong Công ước số 102 tháng 6
năm 1952 tại Gèneve, hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội bao gồm:
1. Chăm sóc y tế
2. Trợ cấp ốm đau
3. Trợ cấp thất nghiệp
4. Trợ cấp tuổi già
5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
6. Trợ cấp gia đình
7. Trợ cấp sinh đẻ
8. Trợ cấp khi tàn phế
9. Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng)
Chín chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội. Tùy theo điều kiện
kinh tế - xã hội mà mỗi nước tham gia vào Công ước thực hiện khuyến nghị đó ở một mức
độ khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được 3 chế độ, trong đó phải có ít nhất một trong
năm chế độ (3)(4)(5)(8)(9).
Việc xây dựng mỗi chế độ bảo hiểm xã hội cũng như toàn bộ hệ thống các chế độ bảo hiểm
xã hội phải có căn cứ khoa học, dựa trên nền tảng cơ sở kinh tế - xã hội: như cơ cấu ngành
kinh tế quốc dân, thu nhập của người lao động, hệ thống tài chính quốc gia…và các yếu tố
sinh học, yếu tố môi trường như tuổi thọ bình quân của người lao động, nhu cầu dinh dưỡng,
độ tuổi sinh đẻ của phụ nữ…


Nền tảng kinh tế xã hội và các yếu tố sinh học, yếu tố môi trường khác nhau dẫn đến việc
hình thành các hệ thống chế độ bảo hiểm xã hội khác nhau. Nhưng nhìn chung hệ thống các
chế độ bảo hiểm xã hội có các đặc điểm sau đây:
- Các chế độ bảo hiểm xã hội được xây dựng trên cơ sở pháp luật mỗi nước và mang tính
chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính.
- Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia bảo
hiểm xã hội và quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả
sẽ cao và ổn định.
- Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ và dùng tiền làm phương tiện để chi trả và thanh
quyết toán.
- Các chế độ bảo hiểm xã hội thường được điều chỉnh định kỳ để phù hợp với điều kiện phát
triển của kinh tế - xã hội.
2.4. Quỹ bảo hiểm xã hội
2.4.1. Khái niệm
Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước. Mục
đích tạo lập quỹ bảo hiểm xã hội là dùng để chi trả cho người lao động, giúp họ ổn định cuộc
sống khi gặp các biến cố hoặc rủi ro. Chủ thể của quỹ chính là người tham gia đóng góp để
hình thành nên quỹ bao gồm: người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước.
Cần phân biệt giữa quỹ bảo hiểm xã hội với ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước là
tổng thể các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước dùng quyền lực chính trị
của mình để tập trung một phần thu nhập quốc gia nhằm tạo quỹ tiền tệ nhà nước (ngân sách
nhà nước) và sử dụng ngân sách để trang trải các chi phí của bộ máy nhà nước và thực hiện
chức năng kinh tế xã hội theo kế hoạch của nhà nước. Sự ra đời, phát triển và tồn tại của
ngân sách nhà nước gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước để thực hiện các chức
năng kinh tế - xã hội. Quan hệ phân phối của ngân sách nhà nước thường mang tính pháp lý
rất cao và dựa vào quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế của nhà nước. Quan hệ phân phối
này chủ yếu là phân phối lại, không mang tính chất hoàn trả và phản ánh lợi ích xã hội, lợi
ích quốc gia nhằm đảm bảo cho nền kinh tế, xã hội của đất nước phát triển ổn định. Còn sự
ra đời và phát triển của quỹ bảo hiểm xã hội lại gắn với sự phát triển của nền kinh tế hàng
hóa và mối quan hệ thuê mướn nhân công. Mặc dù thu chi của bảo hiểm xã hội cũng được
nhà nước quy định bằng các văn bản quy phạm pháp luật, nhưng nó lại mang tính chất bồi
hoàn tức là chỉ những người đã tham gia bảo hiểm xã hội mới được hưởng các chế độ bảo
hiểm xã hội. Quan hệ phân phối của quỹ có tính pháp lý thấp hơn so với ngân sách nhà nước


và mối quan hệ này trước hết phản ánh lợi ích của các bên tham gia, sau đó mới đến lợi ích
của xã hội.
2.4.2. Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ các ba nguồn chủ yếu: sự đóng góp của người lao
động; sự đóng góp của người sử dụng lao động; và sự tài trợ của nhà nước, tuy nhiên mỗi
quốc gia lại có quy định riêng về mức đóng góp và phương thức đóng góp vào quỹ.
Mức đóng góp của bảo hiểm xã hội thực chất là phí bảo hiểm xã hội. Việc chi trả các chế độ
bảo hiểm chủ yếu phụ thuộc vào quy mô của quỹ vì vậy để đảm bảo thực thi tốt các chính
sách bảo hiểm xã hội cho người lao động mức đóng góp vào quỹ phải được thực hiện một
cách khoa học. Việc tính toán mức đóng góp bảo hiểm xã hội có có thể được thực hiện theo
một trong các cách sau:
- Xác định mức trợ cấp bảo hiểm xã hội trên cơ sở tiền lương và thang lương; sau đó lấy mức
trợ cấp bảo hiểm xã hội làm cơ sở để xác định mức phí đóng.
- Quy định mức đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội trước rồi từ đó xác định mức hưởng.
- Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức hưởng, rồi từ mức
hưởng này xác định mức phí phải đóng.
Mỗi quốc gia khi xây dựng chính sách phí bảo hiểm xã hội của mình đều có những quan
điểm riêng dựa vào nền tảng kinh tế - xã hội, đặc điểm văn hóa và hệ thống pháp luật của
mình. Vì thế mức đóng góp bảo hiểm xã hội ở các quốc gia có thể rất khác nhau
Về phương thức đóng góp bảo hiểm xã hội của người lao động và người sử dụng lao động
hiện vẫn còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng phải căn cứ vào mức lương và quỹ
lương của doanh nghiệp để xác định mức đóng góp. Quan điểm thứ hai lại cho rằng phải căn
cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh
tế quốc dân để xác định mức đóng góp.
2.4.3. Mục đích sử dụng của quỹ bảo hiểm xã hội
Sau khi được hình thành quỹ bảo hiểm xã hội được sử dụng để chi trả cho ba mục đích
chính là chi trợ cấp cho các chế độ bảo hiểm xã hội, chi phí cho sự nghiệp quản lý bảo hiểm
xã hội và chi đầu tư, tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội
Trong ba nội dung chi trả nêu trên thì chi trợ cấp cho các chế độ bảo hiểm xã hội là khoản
chi chiếm tỷ trọng lớn nhất và cũng được coi là khoản chi quan trọng nhất. Khoản chi này
được quy định theo luật và phụ thuộc vào phạm vi trợ cấp của từng hệ thống bảo hiểm xã
hội. Về nguyên tắc, có thu mới có chi; thu trước, chi sau, vì vậy quỹ chỉ chi cho các chế độ
trong phạm vi có nguồn thu, thu của chế độ nào thì chi trả cho chế độ đó; ngoài ra việc chi


trả các chế độ bảo hiểm xã hội còn phụ thuộc vào phương thức thành lập quỹ bảo hiểm xã
hội:
Nếu quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành theo phương thức tập trung thì việc chi trả cũng
phải đảm bảo tính thống nhất theo các nội dung chi. Có nghĩa là tất cả các nguồn thu đều
được tập trung để hình thành một quỹ chung, sau đó quỹ được sử dụng để chi trả cho các chế
độ bảo hiểm, chi quản lý quỹ và chi đầu tư tăng trưởng quỹ. Phương thức thành lập và chi trả
này rất đơn giản. Việc chi trả theo phương thức này có tác dụng chủ yếu là quản lý tập trung
được quỹ và dễ dàng điều tiết giữa các chế độ bảo hiểm trong quá trình chi trả.
Nếu quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành theo hai loại quỹ bảo hiểm ngắn hạn và quỹ bảo
hiểm dài hạn thì việc chi trả và quản lý chi sẽ cụ thể hơn. Quỹ bảo hiểm xã hội ngắn hạn
được chi trả cho các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản, bệnh nghề nghiệp…. Nguồn quỹ
này sẽ được cân đối theo từng năm, thậm chí có thể được hình thành ngay trong doanh
nghiệp để chi trả trực tiếp. Quỹ bảo hiểm xã hội dài hạn thì được chi trả cho các chế độ hưu
trí, tử tuất…Nguồn quỹ này phải được cân đối trong nhiều năm và dùng tài khoản cá nhân để
chi trả là có hiệu quả nhất. Phương thức này đảm bảo cho công tác chi trả bảo hiểm xã hội
sát thực tế và đúng mục đích hơn. Đồng thời còn tạo điều kiện để mọi thành phần kinh tế
tham gia các chế độ bảo hiểm xã hội dài hạn.
Nếu quỹ bảo hiểm xã hội được thành lập theo từng chế độ: quỹ ốm đau, quỹ thai sản, quỹ
hưu trí…thì việc chi trả càng trở nên đơn giản và đảm bảo đúng mục đích.
Nội dung chi trả còn gắn liền với nội dung kinh tế - xã hội của từng chế độ hoặc từng nhóm
chế độ. Cụ thể đối với chế độ hưu trí và tử tuất: việc chi trả các chế độ này nhằm đảm bảo
đời sống cho người lao động và gia đình họ khi người lao động hết tuổi lao động, già yếu và
qua đời. Trên thực tế đây là những sự kiện mà bất kỳ người lao động nào cũng phải trải qua.
Muốn được chi trả người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia đóng góp vào
quỹ trong một khoảng thời gian nhất định. Mức hưởng của người lao động trong chế độ này
tương ứng với mức đóng góp và thời gian đóng góp của từng người lao động. Đối với các
chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: việc chi trả chế độ này bắt
nguồn từ việc ổn định sản xuất kinh doanh, ổn định kinh tế cho người sử dụng lao động và
ổn định đời sống cho người lao động khi người lao động bị ốm đau, tai nạn lao động, thai
sản…nên nguồn quỹ này cũng được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của người lao động
và người sử dụng lao động. Trợ cấp cho các chế độ này thường diễn ra trong một không gian
và thời gian nhất định nhưng lại mang tính trực tiếp và ngắn hạn vì vậy nếu để cho đơn vị


trực tiếp thu và chi trả các chế độ này thì việc xác định thời gian hưởng, mức hưởng cũng
như vệc chi trả các chế độ bảo hiểm sẽ nhanh chóng và chính xác hơn.
2.5. Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Việc đảm bảo đời sống cho người lao động thông qua các chế độ bảo hiểm xã hội đã được
Chính phủ Việt Nam khởi xướng từ sau Cách mạng tháng Tám. Sau nhiều lần sửa đổi thay
thế các quy định của chính sách bảo hiểm xã hội cho phù hợp với điều kiện kinh tế và sự
phát triển của xã hội, hiện nay chính sách bảo hiểm xã hội đã được cụ thể hoá trong Luật bảo
hiểm xã hội năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
2.5.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
Các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội được quy định tại điều 2 Luật bảo hiểm như sau và
được chia thành hai nhóm chính: đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và đối tượng
tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:
- Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có
thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;
- Cán bộ, công chức, viên chức;
- Công nhân quốc phòng, công nhân công an;
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ
quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng
lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;
- Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có
thời hạn;
- Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt
buộc.
Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước,
đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ
quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp,
hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng
và trả công cho người lao động.
Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam làm việc theo hợp
đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc
xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng với người sử dụng lao động.


Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động,
không thuộc nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Như vậy có thể thấy theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội hiện hành các đối tượng tham
gia bảo hiểm xã hội đã được mở rộng hơn rất nhiều so với trước đây (theo quy định tại Nghị
định số 12CP ngày 26 tháng 1 năm 1995 về Điều lệ bảo hiểm xã hội cho người lao động, bảo
hiểm xã hội chỉ áp dụng bắt buộc đối với các đơn vị có sử dụng thường xuyên từ 10 lao động
trở lên); các phương thức tham gia bảo hiểm xã hội cũng được mở rộng (không chỉ có bảo
hiểm bắt buộc mà còn có bảo hiểm tự nguyện) để đảm bảo đời sống cho người lao động; các
chế độ bảo hiểm xã hội cũng được mở rộng hơn.
2.5.2. Các chế độ bảo hiểm xã hội
Các chế độ bảo hiểm xã hội hiện nay được quy định tại điều 4 Luật bảo hiểm xã hội và được
chia thành 2 nhóm: bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện; ngoài ra Luật
bảo hiểm xã hội 2006 còn quy định cả về chế độ trợ cấp thất nghiệp. Bảo hiểm xã hội bắt buộc
gồm có năm chế độ là trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiêp; trợ cấp hưu trí và chế độ tử tuất.
Chế độ trợ cấp ốm đau cho người lao động được quy định tại mục 1, chương 2 Luật bảo
hiểm xã hội. Chế độ này giúp cho người lao động có được một khoản trợ cấp thay thế cho
thu nhập bị mất do không làm việc được khi bị đau ốm. Người lao động chỉ được hưởng chế
độ trợ cấp này khi bị đau ốm bất thường và xác nhận của cơ sở y tế; những trường hợp cố ý
huỷ hoại sức khoẻ, sử dụng rượu, ma tuý hoặc các chất kích thích khác dẫn đến tổn thất về
sức khoẻ thì không được hưởng chế độ này. Thời gian hưởng chế độ trợ cấp ốm đau và mức
trợ cấp được quy định cụ thể phụ thuộc vào thời gian tham gia bảo hiểm xã hội của người lao
động, mức độ bệnh tật và mức đóng góp vào bảo hiểm xã hội. Thể hiện sự quan tâm toàn
diện tới đời sống của người lao động chế độ bảo hiểm này còn quy định trong trường hợp
con dưới 7 tuổi bị ốm người lao động nghỉ việc chăm sóc con cũng được hưởng trợ cấp với
mức trợ cấp như khi bản thân người lao động ốm, thời gian nghỉ chăm sóc con được quy
định không quá 20 ngày đối với con dưới 3 tuổi và không quá 15 ngày khi con từ 3 – 7 tuổi.
Chế độ trợ cấp thai sản được quy định tại mục 2 chương 2 Luật bảo hiểm xã hội. Theo chế
độ trợ cấp này người lao động trong thời gian thai sản sẽ được nghỉ dưỡng sức và hưởng
nguyên lương (theo mức đóng bảo hiểm xã hội); thời gian nghỉ sinh con của lao động nữ vẫn
được tính là thời gian tham gia bảo hiểm xã hội và được quy định là 4 tháng trước và sau khi
sinh con trong điều kiện bình thường. Ngoài ra trong mỗi lần thai sản lao động nữ còn được
hưởng trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con. Chế độ này cũng


được áp dụng trong trường hợp người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi, người
lao động nghỉ vệc khi thực hiện kế hoạch hoá ..
Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được quy định tại mục 3 chương 2
Luật bảo hiểm xã hội. Theo chế độ này người lao động khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh
nghề nghiệp có quyền được chăm sóc sức khoẻ; được hưởng trợ cấp một lần hoặc trợ cấp
hàng tháng; được cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình… tùy thuộc vào
tình trạng suy giảm khả năng lao động, thời gian tham gia bảo hiểm xã hội và mức đóng góp
bảo hiểm xã hội.
Chế độ trợ cấp hưu trí được quy định tại mục 4 chương 2 Luật bảo hiểm xã hội. Đây là chế
độ nhằm cung cấp cho người lao động những khoản trợ cấp thay thế cho phần thu nhập
không nhận được nữa từ nghề nghiệp do nghỉ hưu. Theo chế độ này người lao động tham gia
đóng bảo hiểm xã hội từ 20 năm trở lên khi đủ tuổi (trong điều kiện bình thường là 55 tuổi
đối với lao động nữ và 60 tuổi đối với lao động nam) thì được hưởng chế độ trợ cấp hưu trí.
Mức trợ cấp phụ thuộc vào thời gian tham gia bảo hiểm xã hội và mức đóng góp bảo hiểm xã
hội của người lao động.
Chế độ trợ cấp tử tuất được quy định tại mục 5 chương 2 Luật bảo hiểm xã hội. Chế độ
này không chỉ giúp cho thân nhân của người lao động có được một khoản trợ cấp hỗ trợ cho
việc mai táng và đảm bảo duy trì cuộc sống tối thiểu nếu người lao động bị mất là lao động
chính trong gia đình mà còn thể hiện sự bình đẳng trong việc đóng và hưởng chế độ bảo
hiểm xã hội. Theo chế độ này người lao động đang trong thời gian lao động, đang chờ hưởng
các chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc đang hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội chết thì
thân nhân sẽ được hưởng trợ cấp mai táng một lần với mức trợ cấp là 10 tháng lương tối
thiểu. Trong trường hợp thân nhân của người lao động bị chết không có khả năng lao động
và người lao động chết là lao động chính trong gia đình thì thân nhân của người lao động
được hưởng trợ cấp hàng tháng, mức trợ cấp được quy định là từ 50% hoặc 70% mức lương
tối thiểu chung phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế của gia đình người lao động. Người lao
động đã tham gia đóng bảo hiểm xã hội trên 15 năm hoặc đang chờ hưởng các chế độ trợ cấp
bảo hiểm xã hội chết, nếu thân nhân không nhận trợ cấp tuất hàng tháng thì sẽ được hưởng
trợ cấp tuất một lần, mức trợ cấp phụ thuộc vào thời gian tham gia bảo hiểm xã hội và mức
đóng góp vào bảo hiểm xã hội của người lao động đã mất nhưng thấp nhất cũng bằng 3 tháng
mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội. Những người đang hưởng trợ cấp
hưu trí mất thân nhân cũng được hưởng chế độ trợ cấp tuất 1 lần, mức hưởng phụ thuộc vào


thời gian đã hưởng trợ cấp hưu trí và mức hưởng trợ cấp hưu trí nhưng thấp nhất cũng bằng
3 tháng lương hưu đang hưởng.
Ngoài các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, để đảm bảo quyền lợi cho mọi tầng lớp lao động
trong xã hội Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 còn quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Bảo hiểm xã hội tự nguyện được áp dụng cho mọi lao động có nhu cầu tham gia bảo hiểm xã
hội và bao gồm hai chế độ : hưu trí và tử tuất.
2.5.3. Nguồn hình thành và mục đích sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội
Các quy định về việc hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay được
quy định tại chương VI Luật Bảo hiểm xã hội 2006. Quỹ BHXH bắt buộc ở Việt Nam được
hình thành từ sự đóng góp của người lao động ; sự đóng góp của người sử dụng lao động;
tiền sinh lời của hoạt động đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội; sự hỗ trợ từ phía nhà nước và các
nguồn thu hợp pháp khác. Cụ thể như sau:
- Hàng tháng người lao động đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử
tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 8%.
- Người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của người
lao động tham gia bảo hiểm xã hội tại đơn vị mình với mức đóng như sau:
+ 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; trong đó người sử dụng lao động giữ lại 2% để trả kịp thời
cho người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ ốm đau, thai sản.
+ 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
+ 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho
đến khi đạt mức đóng là 14%.
Đối bảo hiểm xã hội tự nguyện mức đóng góp hàng tháng của người lao động tham
gia là 16% (kể từ ngày 01.01.2008); từ năm 2010 trở đi cứ hai năm một lần đóng thêm 2%
cho đến khi đạt mức đóng là 22%. Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng bảo hiểm xã hội
được thay đổi tuỳ theo khả năng của người lao động trong từng thời kỳ nhưng thấp nhất cũng
phải bằng tiền lương tối thiểu chung và cao nhất bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung.
Ngoài sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động động, quỹ bảo hiểm xã
hội còn được bổ sung bằng sự tài trợ của nhà nước và tiền đầu tư sinh lời của quỹ. Quỹ bảo
hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện được hỗ trợ theo phương thức bù thiếu;
còn quỹ bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng nhà nước được hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ
tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia
bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần.


Sau khi được hình thành quỹ bảo hiểm xã hội được sử dụng để chi trả cho các chế độ bảo
hiểm xã hội, chi đầu tư tăng trưởng quỹ và chi quản lý quỹ. Theo quy định của Luật Bảo
hiểm xã hội 2006 chi phí quản lý quỹ bảo hiểm xã hội hàng năm được trích từ tiền sinh lời
của hoạt động đầu tư quỹ và mức chi quản lý quỹ bảo hiểm xã hội bằng mức chi phí của cơ
quan quản lý hành chính nhà nước.
2.5.5. Tổ chức và quản lý bảo hiểm xã hội
Tổ chức bảo hiểm xã hội là tổ chức sự nghiệp, có chức năng thực hiện chế độ chính sách bảo
hiểm xã hội, quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật BHXH. Cụ thể:
- Tổ chức thu BHXH và chi trả BHXH cho người lao động tham gia BHXH các khoản trợ
cấp BHXH.
- Xay dựng và tổ chức thực hiện các dự án và biện pháp để đảm bảo giá trị và tăng trưởng
quỹ BHXH theo quy định của Chính phủ.
- Tổ chức thực hiện công tác thống kê, kế toán - hạch toán hướng dẫn nghiệp vụ thu chi
BHXH.
- Kiểm tra việc thực hiện thu chi BHXH.
- Giải quyết các khiếu nại về việc thực hiện chính sách BHXH.
Về mặt tổ chức BHXH Việt Nam được hình thành theo một hệ thống dọc từ Trung Ương đến
địa phương và được chia thành 3 cấp: cấp Trung Ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
Ương; và cấp quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh.
Để quản lý các đối tượng tham gia BHXH, tổ chức BHXH tiến hành cấp sổ BHXH đối với
từng người lao động để theo dõi việc đóng, hưởng các chế độ BHXH và là cơ sở để giải
quyết các chế độ BHXH. Mẫu sổ BHXH do tổ chức BHXH quy định và sẽ được thay thế dần
bằng thẻ BHXH điện tử trong quá trình áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý BHXH.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×