Tải bản đầy đủ

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH DŨNG MẠNH

CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH
VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH
1.1. Tổng quan về vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về vốn kinh doanh
Vốn luôn đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của một doanh
nghiệp. Để định nghĩa “vốn là gì” các nhà kinh tế đã tốn rất nhiều công sức và mỗi
người đều có định nghĩa riêng theo quan điểm riêng của mình.
Theo quan điểm của Marx, dưới giác độ các yếu tố sản xuất, vốn đã được khái
quát hóa thành phạm trù tư bản trong đó nó đem lại giá trị thặng dư và là “một đầu vào
của quá trình sản xuất”. Định nghĩa về vốn của Marx có một tầm khái quát lớn vì nó
bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai trò của vốn. Bản chất của vốn chính là giá trị cho
dù nó có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: nhà cửa, tiền của ,… Vốn là
giá trị thặng dư vì nó tạo ra sự sinh sôi về giá trị thông qua các hoạt động sản xuất kinh
doanh. Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ kinh tế lúc bấy giờ, Marx chỉ bó hẹp khái
niêm về vốn trong khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ kinh doanh vật chất mới
tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.
Theo David Begg, tác giả cuốn “kinh tế học” thì vốn bao gồm: vốn hiện vật và
vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ hàng hóa đã sản xuất để sản xuất ra các hàng hóa
khác, vốn tài chính là tiền và giấy tờ có giá của doanh nghiệp, theo định nghĩa của
mình, tác giả đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực chất vốn
của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả tài sản của doanh nghiệp dùng trong

sản xuất kinh doanh. Bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần có một lượng vốn nhất định để
thực hiện những khoản đầu tư cần thiết như: chi phí thành lập doanh nghiệp, mua sắm
nguyên vật liệu, trả lãi vay, nộp thuế,…đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp được liên tục, chi phí mua công nghệ và máy móc thiết bị mới …để
tái sản xuất mở rộng. Do vậy vốn đưa vào sản xuất kinh doanh có nhiều hình thái vật
chất khác nhau để từ đó tạo ra các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ thị trường. Số
tiền mà doanh nghiệp thu về sau quá trình tiêu thụ phải bù đắp được chi phí đã bỏ ra và
có lãi. Số tiền ban đầu đã được tăng thêm nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh. Quá
trình này diễn ra liên tục bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Trong kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hóa. Nó giống các hàng
hóa khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, song nó có đặc điểm khác vì người sở hữu
vốn có thể bán quyền sử dụng trong một thời giam nhất định. Giá của quyền sử dụng
vốn chính là lãi suất. Chính nhờ sự tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng nên vốn có
thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh và sinh lời.

1


Tóm lại, do có rất nhiều quan niệm về vốn nên rất khó đưa ra một định nghĩa
chính xác và hoàn chỉnh về vốn. Tuy nhiên có thể hiểu một cách khái quát về vốn như
sau: Vốn của doanh nghiệp là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu (đây là các khoản
được tích tụ bởi lao động trong quá khứ được biểu hiện bằng tiền) tham gia liên tục
vào quá trình sản xuất kinh doanh với mục đích đem lại giá trị thặng dư cho chủ sở
hữu.
1.1.2. Đặc điểm của vốn kinh doanh
Vốn là đại diện cho một lượng giá trị tài sản, có nghĩa vốn là biểu hiện bằng giá
trị của các tài sản hữu hình và vô hình như: nhà xưởng, đất đai, máy móc, thiết bị, chất
xám, thông tin,…
Vốn luôn vận động để sinh lời. Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là
dạng tiềm năng của vốn. Để biến thành vốn thì đồng tiền đó phải được đưa vào hoạt
động kinh doanh nhằm kiếm lời. Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi
hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải
là giá trị- là tiền. Đồng vốn phải quay về xuất phát với giá trị lớn hơn- đó là nguyên lý
đầu tư, sử dụng và bảo toàn vốn. Do vậy khi đồng vốn bị ứ đọng, tài sản cố định không
được sử dụng, tài nguyên, sức lao động không được dùng đến và nảy sinh các khoản
nợ khó đòi… là đồng vốn “chết”. Mặt khác, tiền có vận động nhưng bị phân tán quay
về nơi xuất phát với giá trị thấp hơn thì đồng vốn cũng không được đảm bảo, chu kỳ
vận động tiếp theo sẽ bị ảnh hưởng.
Vốn không tách rời chủ sở hữu trong quá trình vận động, mỗi đồng vốn phải gắn
với một chủ sở hữu nhất định. Trong nền kinh tế thị trường, chỉ có xác định rõ chủ sở

hữu thì đồng vốn mới được sử dụng hợp lý và có hiệu quả cao. Cần phải phân biệt
giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, đó là hai quyền khác nhau. Tuy nhiên, tuỳ
theo hình thức đầu tư mà người có quyền sở hữu và quyền sử dụng là đồng nhất hoặc
riêng rẽ. Và dù trong trường hợp nào, người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm bảo
quyền lợi và được tôn trong quyền sở hữu của mình. Đây là một nguyên tắc để huy
động và quản lý vốn.
Phải xem xét về yếu tố thời gian của đồng vốn, điều này có nghĩa là vốn có giá trị
về mặt thời gian. Trong điều kiện cơ chế thị trường, phải xem xét yếu tố thời gian vì
ảnh hưởng sự biến động của giá cả, lạm phát nên giá trị của đồng tiền ở mỗi thời kỳ là
khác nhau.
Vốn phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định mới có thể phát huy
được tác dụng. Doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn của mình mà còn
phải tìm cách thu hút nguồn vốn từ bên ngoài như phát hành cổ phiếu, liên doanh liên

2

Thang Long University Library


kết với các doanh nghiệp khác. Nhờ vậy vốn của doanh nghiệp sẽ tăng lên và được
gom thành món lớn.
Vốn được quan niệm là một loại hàng hoá đặc biệt trong nền kinh tế thị trường.
Những người có vốn có thể cho vay và những người cần vốn sẽ đi vay, có nghĩa là
mua quyền sử dụng vốn của người có quyền sở hữu vốn. Người vay phải trả một tỷ lệ
lợi suất hay chính là giá của quyền sử dụng vốn, vốn khi bán đi sẽ không mất quyền sở
hữu mà chỉ mất quyền sử dụng trong một thời gian nhất định. Việc mua này diễn ra
trên thị trường tài chính, giá mua bán tuân theo quan hệ cung- cầu vốn trên thị trường.
Vốn không chỉ được biểu biện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà nó còn
biểu hiện giá trị của những tài sản vô hình như nhãn hiệu, thương hiệu, bản quyền,
phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ, vị trí địa lý kinh doanh… Cùng với sự phát
triển của nền kinh tế thị trường, sự tiến bộ của khoa học công nghệ thì những tài sản
vô hình ngày càng phong phú và đa dạng, giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra khả
năng sinh lợi của doanh nghiệp. Do vậy, tất cả các tài sản này phải được lượng hoá để
quy về giá trị. Việc xác định chính xác giá trị của các tài sản nói chung và các tài sản
vô hình nói riêng là rất cần thiết khi góp vốn đầu tư liên doanh, khi đánh giá doanh
nghiệp, khi xác định giá trị để phát hành cổ phiếu.
1.1.3. Phân loại vốn kinh doanh trong DN
1.1.3.1. Phân loại theo đặc điểm chu chuyển của vốn
Vốn của doanh nghiệp chia làm 2 loại: Vốn cố định và vốn lưu động.
Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của TSDH, TSDH dùng trong kinh doanh
tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh nhưng về mặt giá trị thì chỉ có thể thu hồi
dần sau nhiều chu kỳ kinh doanh.
Vốn lƣu động: Là biểu hiện bằng tiền của TSNH. VLĐ tham gia hoàn toàn vào
quá trình kinh doanh và giá trị có thể trở lại hình thái ban đầu sau mỗi vòng chu
chuyển của hàng hóa. Nó là bộ phận của vốn sản xuất bao gồm: giá trị nguyên vật liệu
phụ, tiền lương,….Những giá trị này được hoàn lại hoàn toàn cho chủ doanh nghiệp
sau khi đã bán hàng hóa. VLĐ ứng với loại hình doanh nghiệp khác nhau thì khác
nhau. Đối với doanh nghiệp thương mại thì VLĐ bao gồm: VLĐ định mức và VLĐ
không định mức. Trong đó:
1.1.3.2. Phân loại theo nguồn hình thành
Vốn doanh nghiệp được chia làm 2 loại: Vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả.
Vốn chủ sở hữu: Là vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp (doanh nghiệp Nhà
nước thì chủ sở hữu là nhà nước, doanh nghiệp tư nhân thì chủ sở hữu là những người
góp vốn). Khi doanh nghiệp mới thành lập, VCSH hình thành vốn điều lệ, còn có một
3


số nguồn khác cũng thuộc VCSH như: Lợi nhuận không chia, quỹ đầu tư phát triển,
quỹ dự phòng tài chính, chênh lệch tỷ giá, đánh giá lại tài sản,…
Nợ phải trả: Bao gồm vốn chiếm dụng và các khoản nợ vay. Vốn chiếm dụng
bao gồm toàn bộ số nợ phải trả cho người cung cấp, số phải nộp cho ngân sách, số phải
thanh toán cho cán bộ công nhân viên… Đặc điểm của loại vốn này là doanh nghiệp
được sử dụng nhưng không phải trả lãi. Các khoản nợ vay bao gồm toàn bộ vốn vay
ngân hàng (nợ vay dài hạn, nợ vay ngắn hạn), nợ trái phiếu của doanh nghiệp.
1.1.4. Vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có một lượng vốn
nhất định đủ lớn như là một tiền đề quyết định, không có vốn sẽ không có bất cứ hoạt
động sản xuất kinh doanh nào. Nói cách khác vốn có vai trò đặc biệt quan trọng để bắt
đầu, duy trì và phát triển hoạt động của doanh nghiệp.
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập doanh nghiệp. Để bắt đầu
hoạt động sản xuất kinh doanh, trước hết doanh nghiệp phải mua sắm máy móc, trang
thiết bị, xây dựng nhà xưởng, thuê nhân công… Vì vậy trong giai đoạn này, doanh
nghiệp cần tới một lượng vốn rất lớn và phải huy động vốn. Vốn là điều kiện cần thiết
để doanh nghiệp chủ động thực hiện các dự án mang lại lợi nhuận. Vốn là yếu tố quan
trọng hàng đầu giúp doanh nghiệp có khả năng đầu tư, đổi mới công nghệ, đầu tư cho
quảng cáo…, nhằm tăng cường cạnh tranh trước các đối thủ.
Với vai trò quan trọng to lớn như vậy nên việc bảo tồn và tăng trưởng vốn là một
nguyên lí, là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của doanh nghiệp. Chính
vì vậy mà một trong những vấn đề mà các doanh nghiệp luôn trăn trở là: doanh nghiệp
nên tạo vốn bằng cách nào? Làm thế nào doanh nghiệp có thể huy động vốn tối đa từ
mọi nguồn với một chi phí thấp nhất và một cơ cấu tối ưu?
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp: Là một phạm trù kinh tế phản ánh trình
độ khai thác, sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh
nhằm mục đích sinh lời tối đa với chi phí thấp nhất. Mục đích duy nhất của mọi doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường là sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả nhất định,
lấy hiệu quả kinh doanh làm thước đo cho mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp.
Theo quan điểm chung nhất hiện nay, hiệu quả kinh doanh là lợi ích đạt được
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và do vậy hiệu quả sản xuất kinh doanh
được xác định dưới hai góc độ hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.

4

Thang Long University Library


Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân
lực và vật lực của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình kinh
doanh.
Như vậy hiệu quả sử dụng vốn phản ánh mối quan hệ giữa kết quả thu được từ
hoạt động sản xuất kinh doanh và chi phí bỏ ra
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Thứ nhất: Do sự tác động của cơ chế mới, cơ chế thị trường có sự điều tiết của
nhà nước. Kinh tế thị trường theo đuổi một mục đích lớn và cốt yếu là lợi nhuận và lợi
nhuận ngày càng cao. Tiền đề của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong các
doanh nghiệp là vốn, đồng vốn sản xuất kinh doanh phải có khả năng sinh lời mới là
vấn đề cốt lõi liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Thứ hai: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh có ý nghĩa hết sức
quan trọng đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Giờ đây
người định đoạt số phận của doanh nghiệp chính là thị trường mà không phải là ai
khác, song Nhà nước cũng có vai trò nhất định. Nếu sử dụng đồng vốn hiệu quả thì
việc đáp ứng nhu cầu thị trường là điều không khó khăn đối với doanh nghiệp nữa.
Thứ ba: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng là một nội dung cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp, trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt hiện nay thì điều này càng được
khẳng định chắc chắn hơn. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì điều kiện
tiên quyết không thể thiếu được doanh nghiệp phải xem xét vấn đề chất lượng sản
phẩm, mẫu mã sản phẩm và phải quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, vấn đề
này quyết định lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một tất yếu trong cơ chế thị
trường cạnh tranh gay gắt. Nó góp phần nâng cao khả năng hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất, tăng nhanh tốc độ hoạt
động của doanh nghiệp nhằm đem lại cho doanh nghiệp lợi nhuận và lợi nhuận ngày
càng cao, góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội.
1.2.3. Phân tích quy mô và chính sách quản lý vốn
1.2.3.1. Phân tích vốn kinh doanh theo tích chất luân chuyển
Theo vai trò và tính chất luân chuyển vốn thì vốn được chia làm 2 loại là vốn cố
định và vốn lưu động, tỷ trọng của VCĐ và VLĐ được phân ra rõ rệt, giúp chủ doanh
nghiệp nhìn nhận và đưa ra các biện pháp cơ cấu sao cho VCĐ không bị ứ động, VLĐ
không thiếu hoặc có khả năng thanh toán cao.
Các chỉ tiêu phản ánh:
Vốn cố định
5


Tỷ trọng vốn cố định: Cho biết trong tổng số nguồn vốn thì có bao nhiêu phần
trăm là vốn cố định đầu tư vào doanh nghiệp như các tài sản dài hạn, nhà xưởng,
phương tiện vận tải,... Tỷ trọng này càng cao càng tốt vì nó cho biết năng lực sản xuất
và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Tuy nhiên kết cấu vốn cố định giữa
các ngành sản xuất thì không giống nhau, sự khác nhau hay sự biến động về kết cấu
của mỗi doanh nghiệp trong các thời kỳ phụ thuộc vào các nhân tố như: Khả năng tiêu
thụ sản phậm trên thị trường, khả năng thu hút vốn đầu tư, phương hướng mục tiêu sản
xuất kinh doanh, trình độ trang bị kỹ thuật, quy mô sản xuất. Việc phân loại và phân
tích tình hình kết cấu của chúng là một căn cứ quan trọng để xem xét quyết định đầu tư
cũng như giúp cho việc tính toán chính xác khấu hao.
Một là, phải đạt được về mặt giá trị đến một mức độ nhất định (ví dụ hiện nay giá
trị của nó phải lớn hơn hoặc bằng 30 triệu đồng). Hai là, thời gian sử dụng phải từ trên
1 năm trở lên. Với những tiêu chuẩn như vậy thì hoàn toàn bình thường với đặc điểm
hình thái vật chất của tài sản cố định giữ nguyên trong thời gian dài. Tài sản cố định
thường được sử dụng nhiều lần, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và chỉ tăng lên khi
có xây dựng cơ bản mới hoặc mua sắm.
Cơ cấu TSCĐ là tỷ trọng giữa nguyên giá của một loài TSCĐ nào đó so với tổng
nguyên giá toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Cơ cấu
TSCĐ của các doanh nghiệp thì không giống nhau. Cơ cấu này phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như trang bị kỹ thuật, quy mô sản xuất, loại hình kinh doanh, tình hình tài
chính. Thậm chí giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành cũng có trường hợp không
giống nhau do đặc thù riêng của từng doanh nghiệp.
Phân tích tình hình cơ cấu của TSCĐ là một căn cứ quan trọng để xem xét quyết
định đầu tư, đổi mới TSCĐ, hiện đại hóa những TSCĐ lạc hậu, tăng tỷ trọng những bộ
phận TSCĐ quan trọng có ý nghĩa quyết định đến năng suất lao động của doanh
nghiệp và tính cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ tung ra thị trường.
Vốn lƣu động

Cơ cấu vốn lưu động là tỷ trọng giữ từng bộ phận VLĐ trên tổng số VLĐ của
doanh nghiệp. Do VLĐ được phân bổ ở cả 3 khâu của quá trình sản xuất kinh doanh
nên nhìn chung có 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu VLĐ đó là:
Nhóm nhân tố về cung ứng tiêu thụ: Trong sản xuất kinh doanh, các doanh
nghiệp thường cần rất nhiều vật tư, hàng hóa và do nhiều đơn vị cung cấp khác nhau.
6

Thang Long University Library


Nếu đơn vị cung ứng vật tư, hàng hóa càng nhiều, càng gần thì vốn dự trữ càng ít.
Ngoài ra trong điều kiện tiêu thụ sản phẩm cũng có ảnh hưởng nhất định đến cơ cấu
vốn lưu động. Khối lượng tiêu thụ sản phẩm mỗi lần nhiều hay ít, khoảng cách giữa
doanh nghiệp với đơn vị mua hàng dài hay ngắn đều trực tiếp ảnh hưởng tới cơ cấu
vốn lưu động
Nhóm nhân tố về mặt thanh toán: Sử dụng thể thức thanh toán khác nhau thì
vốn chiếm dụng trong quá trình thanh toán cũng khác nhau. Do đó nó ảnh hưởng đến
việc tăng giảm vốn lưu động chiếm dụng ở khâu này
1.2.3.2. Phân tích vốn kinh doanh theo nguồn hình thành
Một cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng với mọi doanh nghiệp không
chỉ bởi nhu cầu tối đa lợi ích thu được từ các cá nhân và tổ chức mà còn tác động tới
năng lực kinh doanh của doanh nghiệp đó trong môi trường cạnh tranh.
Các chỉ tiêu phản ánh:

Tỷ trọng nợ: Phản ánh nợ phải trả chiếm bao nhiều phần trăm số vốn của doanh
nghiệp, hay trong tài sản của doanh nghiệp có bao nhiêu phần trăm được hình thành từ
nợ phải trả. Chủ nợ thường thích công ty có tỷ số nợ thấp vì như vậy công ty có khả
năng trả nợ cao hơn. Ngược lại, cổ đông muốn có tỷ số nợ cao vì như vậy làm gia tăng
khả năng sinh lợi cho cổ đông. Tuy nhiên muốn biết tỷ số này cao hay thấp cần phải so
sánh với tỷ số nợ của bình quân ngành. Tỷ số nợ càng thấp thì mức độ bảo vệ dành cho
các chủ nợ càng cao trong trường hợp doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản và phải
thanh lý tài sản. Hiện tại ở Việt Nam chưa xây dựng được chỉ số trung bình ngành vì
thế các nhà phân tích vẫn so sánh chỉ số nợ này qua vài năm.
Nợ và vốn chủ sở hữu còn là sự kết hợp dùng để chỉ đòn bảy tài chính. Đòn bảy
tài chính sẽ rất lớn trong các doanh nghiệp có tỷ trọng nợ phải trả cao hơn tỷ trọng của
vốn chủ sở hữu. Ngược lại, đòn bảy tài chính sẽ thấp khi tỷ trọng nợ phải trả nhỏ hơn
tỷ trọng của vốn chủ sở hữu. Đòn bẩy tài chính vừa là một công cụ thúc đẩy lợi nhuận
sau thuế trên một đồng vốn chủ sở hữu, vừa là một công cụ kìm hãm sự gia tăng đó.
Sự thành công hay thất bại này tuỳ thuộc vào sự khôn ngoan hay khờ dại khi lựa chọn
cơ cấu tài chính. Khả năng gia tăng lợi nhuận cao là điều mong ước của các chủ sở
hữu, trong đó đòn bẩy tài chính là một công cụ được các nhà quản lý ưa dùng.
Vì lãi vay phải trả không đổi khi sản lượng thay đổi, do đó đòn bẩy tài chính sẽ
rất lớn trong các doanh nghiệp có tỷ số nợ cao, và ngược lại đòn bẩy tài chính sẽ rất
nhỏ trong các doanh nghiệp có tỷ số nợ thấp. Những doanh nghiệp không mắc nợ (tỷ
số bằng không) sẽ không có đòn bẩy tài chính. Như vậy, đòn bẩy tài chính đặt trọng
7


tâm vào tỷ số nợ. Khi đòn bảy tài chính cao, chỉ cần một sự thay đổi nhỏ của lợi nhuận
trước thuế và lãi vay cũng làm thay đổi lớn tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở
hữu nghĩa là tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu sẽ rất nhạy cảm với lợi nhuận
trước thuế và lãi vay. Về thực chất, đòn bảy tài chính phản ánh sự thay đổi của tỷ suất
lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ trước sự thay đổi của lợi nhuận trước thuế và lãi vay.
Như vậy, độ lớn của đòn bẩy tài chính được xem như là tỷ lệ thay đổi của tỷ suất
lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu phát sinh do sự thay đổi của lợi nhuận trước
thuế và lãi vay. Vì thế công thức độ lớn đòn bảy tài chính được sử dụng:

Tỷ trọng vốn chủ sở hữu: Cho biết vốn CSH chiếm tỷ trọng bao nhiêu phần
trăm trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện khả
năng độc lập cao về mặt tài chính hay mức tự tài trợ của công ty càng tốt bởi hầu hết
tài sản mà công ty hiện có không phải đi vay mượn mà đầu tư bằng nguồn vốn của
mình. Việc thay đổi cơ cấu nguồn vốn phản ánh sự thay đổi trong khả năng tự chủ tài
chính của doanh nghiệp. Từ đó, công ty có thể đánh giá mức độ rủi ro trong hoạt động
sản xuất kinh doanh. Tỷ số nợ phụ thuộc rất nhiều yếu tố như loại hình doanh nghiệp,
quy mô doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, mục đích vay. Tuy nhiên tỷ lệ này thông
thường ở mức 60/40 được cho là an toàn tài chính mà chủ nợ dễ chấp nhận. Nghĩa là
doanh nghiệp có hệ số nợ là 60%.
Vì nguồn vốn của doanh nghiệp được hình thành từ 2 nguồn là nợ phải trả và
VCSH nên hệ số nợ có thể được biểu thị qua công thức:

1.2.3.3. Phân tích chính sách quản lý vốn
Nguyên tắc tài trợ: Huy động nguồn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn, huy
động nguồn dài hạn để tài trợ cho nguồn dài hạn. Có 3 chính sách quản lý vốn trong
doanh nghiệp: Chiến lược mạo hiểm, chiến lược thận trọng và chiến lược dung hòa.
Chiến lƣợc mạo hiểm: Dùng một phần nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản
dài hạn. Khi đó tài sản ngắn hạn được duy trì ở mức thấp tương đương với tiền, hàng
tồn kho, phải thu khách hàng ở mức thấp nên các khoản chi phí về lưu kho, chi phí duy
trì chính sách tín dụng và chi phí cơ hội được giảm tối đa từ đó lợi nhuận thu được sẽ
tăng lên. Tuy nhiên lợi nhuận tăng đồng nghĩa với việc rủi ro cũng tăng theo như dự
trữ hàng tồn kho ở mức thấp có thể dẫn tới tình trạng không đủ hàng để cung cấp từ đó
8

Thang Long University Library


làm mất khách hàng dần dần dẫn đến mất các cơ hội làm ăn lớn,…). Bên cạnh đó, khi
công ty sử dụng chiến lược mạo hiểm thì nguồn vốn ngắn hạn ở mức cao. Chi phí của
nguồn vốn ngắn hạn thường thấp hơn so với nguồn vốn dài hạn nhưng công ty sẽ luôn
phải chịu áp lực về việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Rủi ro mà công ty có thể
gặp phải là chưa thu hồi kịp vốn để hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn.
Hình 1.1. Mô hình chiến lƣợc mạo hiểm
TSNH

NVNH

TSDH

NVDH

Chiến lƣợc thận trọng: Dùng một phần nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho TSNH.
Chiến lược này là sự kết hợp giữa chính sách quản lý tài sản thận trọng và quản lý
nguồn vốn thận trọng. Khi đó tài sản ngắn hạn và nợ dài hạn sẽ ở mức cao. Chính sách
này có độ an toàn cao vì công ty sử dụng vốn dài hạn có mức độ ổn định cao để tài trợ
cho những tài sản ngắn hạn có thời gian thu hồi vốn nhanh. Các khoản tài trợ này có
thời gian hoàn trả trong thời gian dài vì vậy mà công ty không chịu áp lực về vấn đề
trả nợ hàng kỳ đồng thời công ty có thể có lợi nhuận và thu hồi được vốn trước khi
phải thanh toán cho các khoản nợ nên những khoản lợi nhuận và vốn đã thu hồi được
công ty có thể tiếp tục tái đầu tư. Tuy nhiên chi phí sử dụng vốn của nguồn tài trợ dài
hạn này lại cao hơn và công ty cũng phải gánh chịu thêm những chi phí khác như chi
phí lưu kho, chi phí cơ hội do dự trữ lượng lớn tiền mặt…làm giảm lợi nhuận thu được
của công ty.
Hình 1.2. Mô hình chiến lƣợc thận trọng
NVNH
TSNH
H
NVDH
TSDH

Chiến lƣợc dung hòa: Ngoài 2 chính sách cấp tiến và thận trọng thì khi kết hợp
sẽ có thêm 1 chính sách nữa là chính sách dung hòa. Nếu doanh nghiệp theo đuổi
chính sách quản lý vốn dung hòa nghĩa là doanh nghiệp tuân thủ nguyên tắc tài trợ
(phù hợp hay tương thích). Ở chiến lược này thì công ty sử dụng nguồn vốn ngắn hạn
9


tài trợ cho tài sản ngắn hạn, dùng nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn. Đây
là chiến lược được coi là nguyên tắc chủ đạo áp dụng trong chính sách quản lý vốn vì
khi đó công ty sử dụng đúng nguồn tài trợ cho các loại tài sản. Nhờ đó chi phí sẽ giảm
mà vẫn đảm bảo được tính an toàn cho công ty, giảm thiếu các rủi ro có thể xảy ra.
Hình 1.3. Mô hình chiến lƣợc dung hòa

TSNH

NVNH

TSDH

NVDH

1.2.4. Phân tích chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn theo tính chất luân chuyển
1.2.4.1. Các chỉ tiêu đánh giá chung tổng vốn

Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA): Là tỷ suất sinh lợi trên tài sản, nghĩa
là đo lường hiệu quả hoạt động của công ty mà không quan tâm đến cấu trúc tài chính.
Chỉ số này cho biết công ty tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế từ một đồng
tài sản. Thông thường để đánh giá, ta thường so sánh với chỉ số này của năm trước đó
hoặc với các công ty có cùng quy mô trên thị trường. Chỉ số này phụ thuộc từng ngành
cụ thể. Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi. Tỷ số càng
cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả. Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ. Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân
tổng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để
tạo ra thu nhập của doanh nghiệp.

Hiệu suất sử dụng tổng vốn: Là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng nguồn
vốn trong một công ty. Nó giúp cho các nhà phân tích biết được khi đầu tư 1 đồng vốn
thì có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Vì nó phản ánh hiệu suất sử dụng
tổng vốn nên chỉ tiêu này càng lớn càng tốt

10

Thang Long University Library


1.2.4.2. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định

Hiệu suất sử dụng vốn cố định: Là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố
định, nó giúp cho các nhà phân tích biết được đầu tư một đồng vốn cố định vào hoạt
động sản xuất kinh doanh có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Nó phản ánh hiệu
suất sử dụng của vốn cố định vì vậy chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.

Suất hao phí vốn cố định: Là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử
dụng vốn cố định. Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu cần phải bỏ vào
sản xuất bao nhiêu đồng vốn cố định. Suất hao phí càng lớn thì hiệu quả sử dụng
TSCĐ càng thấp. Chính vì vậy chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt.
Tỷ suất sinh lời trên VCĐ =
Tỷ suất sinh lời trên vốn cố định: Phản ánh khả năng sinh lời của vốn cố định.
Chỉ tiêu này thể hiện một đồng vốn cố định bỏ vào sản xuất đem lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Khả năng sinh lời của vốn cố định càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn càng tốt.
1.2.4.3. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Tỷ suất sinh lời trên vốn lƣu động: Cho biết một đồng vốn lưu động bỏ vào sản
xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tỷ lệ này phản
ánh hiệu qủa sử dụng vốn lưu động.

Vòng quay VLĐ trong kỳ: Là chỉ số tính bằng tỷ lệ giữa DTT trong một kỳ chia
cho VLĐ bình quân trong một kỳ của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này phản ảnh tốc độ luân
chuyển của VLĐ nhanh hay chậm, trong một chu kỳ kinh doanh VLĐ sẽ quay được
bao nhiều vòng. Nếu chỉ số này tăng so với những kỳ trước thì chứng tỏ doanh nghiệp
hoạt động luân chuyển vốn có hiệu quả hơn và ngược lại nếu chỉ số này thấp hơn so
với những kỳ trước thì chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động luân chuyển vốn không có
hiệu quả.

11


Kỳ luân chuyển vốn lƣu động: Thể hiện số ngày cần thiết cho một vòng quay
của vốn lưu động trong kì phân tích. Thời gian luân chuyển của vốn lưu động càng
ngắn thì chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động rất linh hoạt, tiết kiệm và tốc độ
luân chuyển của nó sẽ càng lớn

Hệ số đảm nhiệm vốn lƣu động: phản ánh để được một đồng doanh thu tiêu thụ
thì cần phải bỏ ra bao nhiêu đồng vốn lưu động. Hệ số này càng cao thì chứng tỏ hiệu
quả sử dụng vốn lưu động càng cao, số vốn lưu động tiết kiệm được càng lớn.
Mức tiết kiệm VLĐ tương đối được tính bằng công thức:

Trong đó:
Vtk: Số VLĐ có thể tiết kiệm (-) hay phải tăng thêm (+) do ảnh hưởng của tốc độ
luân chuyển VLĐ của kỳ này so với kỳ gốc
M1: Tổng mức luân chuyển của VLĐ trong kỳ này (DTT của kỳ kế hoạch)
K0: Kỳ luân chuyển của VLĐ kỳ trước (kỳ báo cáo)
K1: Kỳ luân chuyển của VLĐ kỳ này (kỳ kế hoạch)
Mức tiết kiệm vốn lƣu động tƣơng đối có được do sự thay đổi tốc độ luân
chuyển vốn lưu động. Nếu thời gian luân chuyển vốn lưu động kỳ này ngắn hơn kỳ
trước thì doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được vốn lưu động. Số vốn lưu động tiết kiệm
được có thể sử dụng vào mục đích khác nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Nếu
thời gian luân chuyển vốn lưu động kỳ này dài hơn kỳ trước thì doanh nghiệp đã lãng
phí vốn lưu động.
Mức tiết kiệm VLĐ tuyệt đối được tính bằng công thức:

Trong đó: M0: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động của năm báo cáo.
Mức tiết kiệm VLĐ tuyệt đối: Là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh
nghiệp có thể tiết kiệm được một số vốn lưu động để sử dụng vào công việc khác. Nói
một cách khác với mức luân chuyển vốn không thay đổi (hoặc lớn hơn báo cáo) song
do tăng tốc độ luân chuyển nên doanh nghiệp cần số vốn ít hơn. Điều kiện để có vốn
lưu động tiết kiệm tuyệt đối là tổng mức luân chuyển vốn kỳ kế hoạch phải không nhỏ
hơn tổng mức luân chuyển vốn kỳ báo cáo và vốn lưu động kỳ kế hoạch phải nhỏ hơn
vốn lưu động kỳ báo cáo.
12

Thang Long University Library


Vòng quay hàng tồn kho: Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng
quản trị hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình
quân luân chuyển trong kỳ. Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua
các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Hệ số
này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu
hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp. Cần lưu ý, hàng tồn kho mang
đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức
tồn kho cao là xấu. Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh
nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều. Có nghĩa là doanh
nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị
giảm qua các năm. Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa
là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì
rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị
phần. Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có
thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần
phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng.

Thời gian luân chuyển kho: Đây là thước đo thể hiện khả năng về mặt tài chính
của công ty. Chỉ số này cho các nhà đầu tư biết về khoảng thời gian cần thiết để công
ty có thể thanh lý được hết số lượng hàng tồn kho của mình (bao gồm cả hàng hoá còn
đang trong quá trình sản xuất). Số ngày trên càng ngắn thì công ty hoạt động càng hiệu
quả - hàng tồn kho được kiểm soát với thời gian ngắn nhất và tồn đọng vốn thấp nhất.
Ngược lại nếu số ngày càng dài, điều đó có thể có nghĩa là tình hình bán hàng không
khả quan và hàng tồn kho ngày càng nhiều.Tuy nhiên, việc nhận biết con số không thể
là đủ tại bất kỳ thời điểm cụ thể nào. Các nhà đầu tư cần phải biết số liệu hàng tồn kho
đang được cải thiện hay tồi tệ hơn trong nhiều giai đoạn. Để có phán đoán xu hướng
một cách hợp lý, phải tính toán các số liệu về doanh thu hàng tồn kho hàng quý trong
vòng ít nhất 2 năm...

Hệ số thu nợ: Chỉ tiêu này cho biết cứ x đồng doanh thu sẽ có 1 đồng cho khách
hàng nợ vì thế nó đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ. Chỉ tiêu này càng cao
càng tốt vì nếu chỉ tiêu này lớn tức là doanh thu thuần công ty nhận được trong quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh là lớn và phải thu khách hàng là nhỏ. Ngược lại
13


nếu chỉ số này nhỏ thì doanh thu thuần công ty nhận được là ít và phải thu khách hàng
là lớn. Công ty sẽ gặp rủi ro trong việc thu hồi nợ và phát sinh các chi phí liên quan,
nguy cơ các khoản nợ lớn trở thành nợ xấu khó đòi.

Thời gian thu nợ: Chỉ số này cho các nhà đầu tư biết được thời gian có thể cho
khách hàng nợ trung bình là bao nhiều ngày. Thời gian thu nợ càng ngắn càng tốt vì
khi chỉ số này nhỏ tức là khách hàng thanh toán sớm hoặc thanh toán các khoản nợ
đúng hạn. Công ty sẽ không mất thêm các khoản chi phí như chi phí thu hồi nợ, chi phí
quản lý. Mặt khác công ty có thể sử dụng luôn số tiền này để tiếp túc sản xuất kinh
doanh hoặc đem đầu tư sinh lời. Ngược lại, nếu chỉ số này lớn tức là khách hàng nợ
quá lâu. Công ty sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ và không có vốn để tiếp tục
hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.2.5. Phân tích chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn theo nguồn hình thành
1.2.5.1. Phân tích hiệu quả sử dụng nợ vay

Khả năng thanh toán nhanh: Thể hiện mỗi 1 đồng nợ ngắn hạn sẽ đảm bảo bởi
bao nhiêu đồng TSLĐ mà doanh nghiệp không cần dùng hàng tồn kho. Tỷ số này phản
ánh chính xác hơn tỷ số thanh toán hiện hành. Một DN có tỷ số thanh toán nhanh nhỏ
hơn 1 sẽ khó có khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn nên nếu tỷ số này nhỏ hơn
hẳn so với tỷ số thanh toán hiện hành thì điều đó có nghĩa là tài sản ngắn hạn của DN
phụ thuộc quá nhiều vào hàng tồn kho.

Khả năng thanh toán ngắn hạn: Cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn được bù đắp
bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn, vì vậy đây là chỉ tiêu phản ánh tổng quát nhất
khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để thanh toán nợ ngắn hạn cho doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện khả năng các khoản nợ ngắn hạn sẽ được thanh
toán kịp thời. Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn < 1à tài sản ngắn hạn không đủ
bù đắp cho nợ ngắn hạn. Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = 1 thể hiện tài sản
ngắn hạn vừa đủ bù đắp các khoản nợ ngắn hạn cho DN à DN có khả năng thanh toán
nợ ngắn hạn, tuy nhiên trong thực tế, nếu chỉ tiêu này ở mức 1 thì khả năng thanh toán
nợ ngắn hạn của DN cũng vẫn rất mong manh.

14

Thang Long University Library


Khả năng thanh toán tức thời: Cho biết sử dụng để đánh giá khả năng thanh
toán ngay các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp bằng tài sản ngắn hạn có thể chuyển
thành tiền một cách nhanh nhất. Nếu chỉ số cao sẽ thể hiện khả năng thanh toán nhanh
của công ty tốt nhưng nếu quá cao sẽ khiến cho công ty bỏ qua nhiều cơ hội để đầu tư
sinh lời.

Khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả
lãi như thế nào. Nếu công ty quá yếu về mặt này, các chủ nợ có thể đi đến gây sức ép
lên công ty, thậm chí dẫn tới phá sản công ty. Việc tìm xem một công ty có thể thực
hiện trả lãi đến mức độ nào cũng rất quan trọng. Rõ ràng, khả năng thanh toán lãi vay
càng cao thì khả năng thanh toán lãi của doanh nghiệp cho các chủ nợ của mình càng
lớn. Khả năng trả lãi vay của doanh nghiệp thấp cũng thể hiện khả năng sinh lợi của tài
sản thấp. Khả năng thanh toán lãi vay thấp cho thấy một tình trạng nguy hiểm, suy
giảm trong hoạt động kinh tế có thể làm giảm Lãi trước thuế và lãi vay xuống dưới
mức nợ lãi mà công ty phải trả, do đó dẫn tới mất khả năng thanh toán và vỡ nợ. Tuy
nhiên rủi ro này được hạn chế bởi thực tế Lãi trước thuế và lãi vay không phải là
nguồn duy nhất để thanh toán lãi. Các doanh nghiệp cũng có thể tạo ra nguồn tiền mặt
từ khấu hao và có thể sử dụng nguồn vốn đó để trả nợ lãi. Những gì mà một doanh
nghiệp cần phải đạt tới là tạo ra một độ an toàn hợp lý, bảo đảm khả năng thanh toán
cho các chủ nợ của mình. Chỉ riêng hệ số khả năng thanh toán lãi vay thì chưa đủ để
đánh giá một công ty vì hệ số này chưa đề cập đến các khoản thanh toán cố định khác
như trả tiền nợ gốc, chi phí tiền thuê, và chi phí cổ tức ưu đãi.

Tỷ suất sinh lời trên nợ vay: Cho biết công ty sử dụng một đồng nợ vay vào
hoạt động sản suất kinh doanh thì đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng nợ vay của một công ty. Một công ty mà có tỷ
suất sinh lời trên nợ vay quá cao hoặc quá thấp thì đều không tốt. Nếu chỉ tiêu này cao
thể hiện công ty đi vay ít như vậy công ty sẽ không gặp phải rủi ro trong việc thanh
toán các khoản lãi khi đến kỳ. Ngược lại nếu chỉ số này thấp thể hiện công ty đi vay
nhiều. Một công ty có tỷ lệ nợ cao thì rủi ro cũng lớn nhưng ngược lại nợ vay cũng là
lá chắn thuế chắc chắn mà nhiều công ty lựa chọn.

15


Hệ số nợ: Cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp được hình
thành từ nguồn vốn vay. Qua đây biết được khả năng tự chủ tài chính của doanh
nghiệp. Tỷ số này mà quá nhỏ, chứng tỏ doanh nghiệp vay ít. Điều này có thể hàm ý
doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao. Song nó cũng có thể hàm ý là doanh
nghiệp chưa biết khai thác đòn bẩy tài chính, tức là chưa biết cách huy động vốn bằng
hình thức đi vay. Ngược lại, tỷ số này mà cao quá hàm ý doanh nghiệp không có thực
lực tài chính mà chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh. Điều này cũng hàm ý là mức độ
rủi ro của doanh nghiệp cao hơn.

Hiệu suất sử dụng nợ vay: Phản ánh hiệu quả sử dụng vốn vay, nó giúp doanh
nghiệp biết được khi đầu tư một đồng vốn vay có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.
Nó phản ánh khả năng sinh lời của vốn vay vì vậy chỉ tiêu này càng lớn càng tốt. Chỉ
tiêu này càng lớn thể hiện một đồng vốn vay có thể tạo ra càng nhiều đồng doanh thu
thuần hơn. Và ngược lại chỉ tiêu này càng nhỏ thể hiện việc sử dụng vốn vay chưa hiệu
quả.
1.2.5.2. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE): Cho biết một đồng vốn chủ sở
hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Đây cũng là chỉ số đáng tin cậy về khả
năng sinh lời của công ty trong tương lai. Công ty đạt được ROE càng cao thì khả
năng cạnh tranh càng mạnh. Do đó, ROE sẽ giúp nhà đầu tư đánh giá các công ty trong
cùng ngành nghề để ra quyết định lựa chọn đầu tư. Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ
công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một
cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh trong quá
trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Theo Warren Buffett, ROE > 20% được coi là
hợp lý.

Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu: Cho biết một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra
được bao nhiều đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt vì khi đó 1 đồng
vốn chủ sở hữu ta có thể tạo ra được nhiều đồng doanh thu thuần hơn và ngược lại chỉ
tiêu này nhỏ thì 1 đồng vốn CSH tạo ra được ít đồng DTT.

16

Thang Long University Library


1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
1.3.1. Những nhân tố khách quan.
Môi trường kinh doanh: Doanh nghiệp là một cơ thể sống tồn tại và phát triển
trong mối quan hệ qua lại với môi trường xung quanh. Thị trường là nhân tố quan
trọng quyết định tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó, thị trường vốn
quyết định tới việc huy động vốn của doanh nghiệp, thị trường hàng hóa quyết định tới
việc sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Môi trường tự nhiên: Là toàn bộ các yếu tố tự nhiên tác động tới doanh nghiệp
như khí hậu, thời tiết môi trường. Khoa học càng phát triển thì con người càng nhận
thức được rằng họ là một bộ phận không thể tách rời với tự nhiên. Các điều kiện làm
việc trong môi trường tự nhiên thích hợp sẽ tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả
công việc. Tính thời vụ, thiên tai, lũ lụt… gây khó khăn rất lớn cho nhiều doanh
nghiệp.
Môi trường kinh tế: Là tác động của các yếu tố như tăng trưởng kinh tế, thu nhập
quốc dân, lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái… đến các hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Chẳng hạn do nền kinh tế có lạm phát, sức mua của đồng tiền giảm sút dẫn
đến sự tăng giá các loại vật tư hàng hóa… Vì vậy, nếu doanh nghiệp không kịp thời
điều chỉnh giá trị các loại tài sản đó thì sẽ làm cho vốn của doanh nghiệp mất dần theo
tốc độ trượt giá của tiền tệ.
Môi trường pháp lý: Là hệ thống các chủ trương, chính sách, hệ thống pháp luật
tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trên cơ sở pháp luật và các biện
pháp kinh tế - chính trị, nhà nước tạo môi trường điều hành cho các doanh nghiệp phát
triển sản suất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch vĩ mô. Với bất kì
sự thay đổi nào trong chế độ chính sách hiện hành đều chi phối các mảng hoạt động
của doanh nghiệp. Các văn bản pháp luật về tài chính, về quy chế đầu tư như các nghị
định về trích khấu hao, tỷ lệ trích lập các quỹ ,các văn bản về thuế … đều ảnh hưởng
lớn tới hoạt động của doanh nghiệp.
Môi trường chính trị, văn hóa: Tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp đều hướng
tới khách hàng. Do đó các phong tục tập quán của khách hàng sẽ ảnh hưởng trực tiếp
tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp hoạt động trong môi
trường văn hóa lành mạnh, chính trị ổn định thì hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ được
nâng cao.
Môi trường khoa học công nghệ: Là sự tác động của các yếu tố như trình độ tiến
bộ của khoa học kỹ thuật,công nghệ. Trong điều kiện hiện nay, chênh lệch về trình độ
công nghệ giữa các nước rất lớn. Doanh nghiệp muốn kinh doanh có hiệu quả thì cần

17


phải nắm bắt được công nghệ hiện đại vì công nghệ hiện đại sẽ giúp doanh nghiệp tăng
năng suất, giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh…
Môi trường cạnh tranh: Cơ chế thị trường là cơ chế có sự cạnh tranh gay gắt,
khốc liệt. Mỗi doanh nghiệp muốn tìm được cho mình một chỗ đứng vững chắc trong
đó đòi hỏi họ phải có những nhân tố chỉ mình biết thì mới có thể thắng trong cạnh
tranh. Doanh nghiệp phải sản xuất ra mặt hàng phải căn cứ vào nhu cầu hiện tại và
tương lai. Sản phẩm để cạnh tranh phải có chất lượng cao, giá thành hạ, mà điều này
chỉ có được ở những doanh nghiệp nâng cao hàm lượng công nghệ, kỹ thuật TSCĐ.
Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có kế hoạch đầu tư, cải tạo đầu tư mới tài sản cố
định trước mắt cũng như lâu dài.
Nhân tố giá cả: Đây là nhân tố do doanh nghiệp quyết định nhưng lại phụ thuộc
vào mức chung của thị trường. Khi giá cả tăng, các kết quả kinh doanh tăng dẫn đến
hiệu quả sử dụng vốn tăng, đồng thời sự biến động về giá cả làm cho hoạt động của
doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn gây ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp.
1.3.2. Những nhân tố chủ quan.
Ngoài các nhân tố khách quan trên, còn có rất nhiều nhân tố chủ quan do chính
bản thân doanh nghiệp tạo nên làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn. Nhân tố này
gồm nhiều yếu tố tác động trực tiếp đến kết quả cuối cùng của của hoạt động kinh
doanh về cả trước mắt cũng như lâu dài. Bởi vậy, việc xem xét đánh giá và ra quyết
định đối với các yếu tố này cực kì quan trọng. Thông thường, trên góc độ tổng quát
người ta xem xét những yếu tố sau:
Ngành nghề kinh doanh: Nhân tố tạo ra điểm xuất phát cho doanh nghiệp cũng
như định hướng cho doanh nghiệp trong suốt quá trình tồn tại. Với một ngành nghề
kinh doanh được chọn, chủ doanh nghiệp buộc phải giải quyết những vấn đề đầu tiên
về tài chính bao gồm: Cơ cấu vốn hợp lý; Chi phí vốn của công ty bao nhiêu là hợp lý
để giữ không làm thay đổi số lợi nhuận dành cho chủ sở hữu công ty; Cơ cấu tài sản
được đầu tư như thế nào thì hợp lý, mức độ hiệ tại so với đối thủ cạnh tranh đến đâu;
Nguồn tài được tài trợ được huy động từ đâu, có bảo đảm lâu dài và an toàn không;
Ngoài ra, qua ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp còn có thể tự xác định được mức
độ lợi nhuận đạt được, khả năng chiếm lĩnh và phát triển trên thị trường tương lai, sự
đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh… để có thể bố trí nguồn lực cho phù
hợp.
Lao động:
 Trình độ quản lý của lãnh đạo: Vai trò của người lãnh đạo trong sản xuất kinh
doanh là rất quan trọng, thể hiện sự kết hợp một cách tối ưu và hài hòa giữa
18

Thang Long University Library


các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm giảm những chi phí không
cần thiết, đồng thời nắm bắt những cơ hội kinh doanh, đem lại cho doanh
nghiệp sự tăng trưởng và phát triển.
 Trình độ tay nghề của người lao động: thể hiện ở khả năng tìm tòi sáng tạo
trong công việc, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
 Cung ứng hàng hóa: là quá trình tổ chức nguồn hàng cho hoạt động bán ra bao
gồm hoạt động mua và dự trữ. Để đảm bảo việc kinh doanh và hiệu quả sử
dụng vốn, mua hàng phải đảm bảo chi phí tối ưu tức là phải hạ thấp giá thành
sản phẩm đầu vào. Mục tiêu chất lượng trong mua hàng là phải phù hợp với
chi phí bỏ ra và nhu cầu của thị trường với khả năng thanh toán của khách
hàng.
 Bán hàng: Là khâu quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
trong đó việc xác định giá bán tối ưu hết sức phức tạp, thể hiện rõ trình độ và
năng lực tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp.
Trình độ quản lý và sử dụng vốn: Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Công cụ chủ yếu để quản lý các nguồn tài chính là
hệ thống kế toán tài chính. Nếu công tác kế toán thực hiện không tốt sẽ dẫn đến mất
mát chiếm dụng, sử dụng không đúng mục đích… gây lãng phí tài sản, đồng thời có
thể gây các tệ nạn tham ô, hối lộ… là căn bệnh thường gặp trong cơ chế hiện nay. Hơn
nữa việc sử dụng vốn còn thể hiện thông qua phương án đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư.
Việc lựa chọn không phù hợp vào các lĩnh vực không hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng vừa
thừa lại vừa thiếu vốn, gây ứ đọng, hao hụt mất mát làm cho hiệu quả sử dụng vốn
thấp.
Mối quan hệ của doanh nghiệp: Mối quan hệ này được đặt trên hai phương diện
là quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng và mối quan hệ giữa doanh nghiệp với
nhà cung cấp. Điều này rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng tới nhịp độ sản xuất, khả năng
phân phối sản phẩm, lượng hàng hóa tiêu thụ… là những vấn đề trực tiếp tác động tới
lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có mối quan hệ tốt với khách hàng và
nhà cung cấp thì nó sẽ đảm bảo tương lai lâu dài cho doanh nghiệp bởi đầu vào được
đảm bảo đầy đủ và sản phẩm làm ra được tiêu thụ hết. Để được vậy, doanh nghiệp cần
phải có kế hoạch cụ thể để duy trì những bạn hàng lâu năm lại vừa tăng cường them
những bạn hàng mới. Biện pháp mà mỗi doanh nghiệp dề ra không giống nhau mà còn
phụ thuộc vào tình hình hiện tại của từng doanh nghiệp. Nhưng chủ yếu là các biệ
pháp như: đổi mới quy trình thanh toán thuận tiện, mở rộng mạng lưới bán hàng và thu
mua nguyên vật liệu, đa dạng hóa sản phẩm…

19


CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI
CÔNG TY TNHH DŨNG MẠNH
2.1. Giới thiệu về Công ty TNHH Dũng Mạnh
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Giới thiệu chung về công ty:
Tên công ty: Công ty TNHH Dũng Mạnh
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 5300205617, do Sở kế hoạch và đầu tư
Tỉnh Lào Cai cấp ngày 25/01/2002.
Trụ sở chính: Thôn Phú Thành – thị trấn Phố Lu – huyện Bảo Thắng – tỉnh Lào Cai.
Văn phòng giao dịch: Thôn Phú Thành – thị trấn Phố Lu – huyện Bảo Thắng –
tỉnh Lào Cai.
Mã số thuế: 5300205617
Điện thoại: 84–202862543
Fax : 0202862543
Email: CongtyDungManh@gmail.com
Người đại diện theo pháp luật của Công ty: Giám đốc Nguyễn Thị Thiệp
Quá trình hình thành và phát triển của công ty: Công ty TNHH Dũng Mạnh của
bà Nguyễn Thị Thiệp được thành lập và hoạt động kinh doanh theo Chứng nhận đăng
kí kinh doanh số 5300205617 của Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố Lào Cai cấp ngày
25/01/2002.
2.1.2. Lĩnh vực ngành nghề kinh doanh
Công ty Dũng Mạnh là một công ty có hoạt động kinh doanh chủ yếu trong lĩnh
vực xây dựng và thương mại. Trong suốt 23 năm qua từ khi còn là một cửa hàng bán
vật liệu xây dựng với số lượng mặt hàng còn hạn chế như: xi măng, sắt, thép, cót ép,
gạch, đá,… để phục vụ cho các công trình xây dựng có quy mô vừa và nhỏ ở địa bàn
tỉnh thì hiện tại công ty TNHH Dũng Mạnh đã trở nên lớn mạnh và có uy tín trong
trong khu vực miền bắc. Bước đầu công ty cũng gặp rất nhiều khó khăn do việc tiếp
cận thị trường và đội ngũ giám đốc và nhân viên đều non trẻ thiếu kinh nghiệm và hiểu
biết trong ngành nghề nhưng đều nhờ sự cố gắng và nỗ lực của mỗi thành viên trong
công ty và những ý kiến đóng góp từ khách hàng mà đến nay công ty đã phát triển hơn
để mở rộng ra được thị trường và quy mô cũng lớn mạnh nhằm phục vụ cho các công
trình và dự án thi công lớn như nhà xưởng, trại cai nghiện, trường học, trung tậm giáo
dục,... Ngoài việc cung cấp kinh doanh buôn bán vật liệu xây dựng thì hiện nay công
ty đã mở rộng lĩnh vực kinh doanh của mình là mở được xưởng cơ khí chuyên làm cửa
hoa, cửa xếp, hàng rào, lan can, cầu thang, cổng,... Cung cấp các thiết bị cấp thoát
20

Thang Long University Library


nước, mở hoạt động cho thuê máy móc và mở luôn dịch vụ lao động và việc làm để
đào tạo cũng như tạo công ăn việc làm cho người dân trên địa bàn tỉnh.
2.1.3. Bộ máy quản lý công ty
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty
Giám đốc

Phòng kế
toán

Phòng
quản lý
tổng hợp

Phòng
kinh doanh

Phòng kỹ
thuật

Xưởng sản
xuất

(Nguồn: Phòng Tài chính – Kế toán)
Giám đốc: Là người chịu trách nhiệm chung về mọi hoạt động và tất cả các vấn
đề liên quan đến Công ty như ngoại giao đồng thời là người ra quyết định, định hướng
phát triển và lập các kế hoạch của Công ty. Giám đốc cũng là người đại diện trước
pháp luật cho Công ty. Kết hợp chặt chẽ với các phòng ban chức năng và nghiệp vụ
của công ty tạo điều kiện cho các tổ chức đoàn thể hoạt động theo đúng quy chế. Giám
đốc không chỉ ở công ty, giám đốc còn phải biết lắng nghe, chăm lo đời sống của nhân
viên trong công ty.
Phòng Kế toán: Kiểm soát tất cả các hoạt động liên quan đến tài chính và kế
toán của công ty. Bao gồm 3 công việc chính:
 Kế toán bán hàng: Thực hiện các hoạt động kế toán, ghi hóa đơn khi công ty
có nghiệp vụ bán hàng phát sinh.
 Kế toán kho: Kiểm tra số lượng và kê khai hóa đơn cho hàng hóa nhập, xuất
trong kỳ; kết toán hàng hóa tồn đầu kỳ, cuối kỳ của công ty.
 Tổng kết số liệu từ bộ phận kế toán kho và bán hàng để lập báo cáo kết quả
kinh doanh và bảng cân đối kế toán vào cuối mỗi kỳ, báo cáo tài chính mỗi
năm nộp lên cơ quan thuế.
Phòng quản lý tổng hợp: Đảm nhiệm quản lý chuyên sâu hơn về hoạt động của
các phòng ban trong công ty, đôn đốc và giám sát hoạt động của các nhân viên, báo
cáo lên Giám đốc, Phát lương cho nhân viên. Tuyển nhân viên mới cho công ty, phỏng
vấn, giám sát quá trình thử việc, ký kết hợp đồng lao động với nhân viên.
Theo dõi sự có mặt, vắng mặt, giờ giấc đi làm, nghỉ phép của các nhân viên trong
công ty. Bên cạnh đó hỗ trợ nhiệm vụ quản lý giám sát, đánh giá hoạt động của nhân
viên cho Giám đốc và Phó giám đốc. Theo dõi tổng hợp công tác thi đua, khen thưởng,
kỷ luật; công tác hành chính, quản trị và đời sống; Công tác vệ sinh môi trường…
21


Phòng kinh doanh: Thực hiện công tác marketing, nghiên cứu thị trường; chọn
lựa sản phẩm chủ lực và xây dựng chiến lược phát triển, thúc đẩy hoạt động xúc tiến
thương mại, tham gia hội thảo, tìm kiếm đối tác; thực hiện liên doanh, liên kết, mở
rộng mạng lưới kinh doanh trên thị trường nội địa và nước ngoài. Chủ động giao dịch,
đàm phán trong và ngoài nước, ký các thư từ, đơn chào hàng, trao đổi thông tin với
khách hàng trong nước và nước ngoài trong quá trình giao dịch khi đi đến ký kết hợp
đồng kinh doanh của Công ty.
Xây dựng và triển khai thực hiện phương án kinh doanh sau khi được Ban Giám
đốc Công ty phê duyệt. Thống kê, báo cáo hoạt động kinh doanh theo đúng tiến độ và
quy định. Chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh trước Ban Giám đốc
Công ty. Lưu trữ các hồ sơ, hợp đồng kinh tế có liên quan đến công tác kinh doanh của
Công ty theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
Phòng kỹ thuật: Chỉ huy điều hành sản xuất, phụ trách kỹ thuật và an toàn lao
động. Tham mưu cho giám đốc Công ty trong việc tổ chức, triển khai, điều hành và
quản lý toàn bộ các hoạt động về kỹ thuật của Công ty. Tham mưu cho Giám đốc
Công ty về tổ chức hệ thống chất lượng, kỹ thuật, nghiên cứu sản phẩm/dịch vụ và
kiểm tra chất lượng sản phẩm/dịch vụ. Báo cáo (định kỳ hoặc đột xuất) tình hình hoạt
động trong lĩnh vực sản xuất lên ban lãnh đạo công ty.
Xƣởng sản xuất: Là nơi lập kế hoạch sản xuất và tổ chức công việc phù hợp với
quy trình để đảm bảo hoàn thành đúng thời hạn các hợp đồng hợp đồng của các công
trình. Ở đây tạo ra các sản phẩm như: hàng rào, lan can, cửa hoa, cầu thang, cửa
xếp,...; Chứa đựng các vật tư vật liệu xây dựng như xi măng, sắt thép, ống nước,…;
Cân đối năng lực sản xuất của công ty, chủ động đề xuất các giải pháp nâng cao hệ số
khai thác, sử dụng máy móc và nguồn nhân lực của công ty. Triển khai kế hoạch sản
xuất, tổ chức phân công, giao việc hàng ngày cho các tổ và nhân viên trong xưởng
đảm bảo sử dụng tối ưu máy móc và nhân công. Đôn đốc và kiểm tra các tổ của công
ty thực hiện sản xuất theo đúng quy trình công nghệ, đảm bảo đúng chất lượng, tiến độ
theo yêu cầu. Vận chuyển hàng hóa nhập kho, xuất kho từ công ty đến nơi khách hàng
yêu cầu.

22

Thang Long University Library


2.1.4. Kết quả kinh doanh của công ty TNHH Dũng Mạnh
Bảng 2.1. Kết quả kinh doanh của công ty TNHH Dũng Mạnh
Đơn vị: Đồng Việt Nam
Chênh lệch 2011 - 2012
Chỉ tiêu

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Tuyệt đối

Tƣơng
đối (%)

Chênh lệch 2012 - 2013
Tuyệt đối

Tƣơng
đối (%)

Doanh thu

15.991.789.997

15.278.608.910 17.911.245.190

(713.181.087)

(4,46) 2.632.636.280

17,23

Giá vốn hàng bán

12.188.446.817

13.487.001.682 15.044.353.188

1.298.554.865

10,65 1.557.351.506

11,55

Chi phí tài chính

1.419.089.361

512.010.162

968.047.675

(907.079.199)

(63,92)

456.037.513

89,07

- Trong đó: Chi phí lãi vay

1.419.089.361

512.010.162

968.047.675

(907.079.199)

(63,92)

456.037.513

89,07

Chi phí quản lý kinh doanh

2.063.517.629

1.186.500.321

1.709.362.628

(877.017.308)

(42,50)

522.862.307

44,07

Lợi nhuận thuần

321.755.290

94.731.245

190.341.799

(227.024.045)

(70,56)

95.610.554

100,93

Lợi nhuận sau thuế

310.493.855

76.833.924

180.831.787

(233.659.931)

(75,25)

103.997.863

135,35

(Nguồn: Phòng Tài chính – Kế toán và sinh viên tự tổng hợp)

23


Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một Báo cáo tài chính phản ánh tổng
hợp tất cả doanh thu, chi phí và kết quả của các hoạt động kinh doanh của công ty đạt
được trong kỳ. Vì vậy, thông qua báo cáo kết quả kinh doanh của công ty TNHH Dũng
Mạnh trong 3 năm 2011 – 2013 ta biết được kết quả sản xuất kinh doanh của công ty
đạt được như sau:
Doanh thu: Nhìn vào bảng trên ta có thể thấy được doanh thu của công ty qua 3
năm 2011 – 2013 có biến động giảm vào năm 2012 và tăng mạnh vào năm 2013. Cụ
thể: Năm 2012 doanh thu của công ty đạt 15.278.608.910 đồng giảm 713.181.087
đồng, tương ứng giảm 4,46% so với năm 2011. Sang đến năm 2013 thì doanh thu tăng
vượt trội đạt mức 17.911.245.190 đồng tăng 2.632.636.280 đồng, tương ứng tăng
17,23% so với năm 2012. Điều này thể hiện năm 2012 công ty làm ăn không tốt bằng
năm 2011 do sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế khiến nền kinh tế nhìn chung bị suy
giảm khiến lượng cầu về hàng hóa, dịch vụ của công ty cũng giảm sút theo làm cho
doanh thu của công ty giảm. Nhưng đến năm 2013 công ty đã làm ăn tốt hơn giành
được nhiều hợp đồng và bán được nhiều hàng hơn so với năm trước là 17,23%. Đó là
nhờ sự cố gắng của nhân viên kinh doanh, bán hàng trong việc tiếp cận và thuyết phục
khách hàng sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp.
Giá vốn hàng bán: Nhìn vào bảng ta có thể thấy được giá vốn hàng bán của
công ty có xu hướng tăng qua các năm. Cụ thể: Năm 2012 chiếm 13.487.001.682 đồng
tăng 1.298.554.865 đồng, tương ứng tăng 10,65% so với năm 2011. Đến năm 2013 chỉ
số này đạt mức 15.044.353.188 đồng tăng 1.557.351.506 đồng, tương ứng tăng
11,55% so với năm 2012. Sự gia tăng này thể hiện chi phí hàng hóa, nguyên vật liệu
đầu vào có xu hướng tăng qua các năm làm cho giá vốn hàng bán cũng tăng theo.
Chi phí tài chính: Chỉ tiêu này của công ty có biến động mạnh. Cụ thể: Năm
2012 chi phí tài chính của công ty là 512.010.162 đồng giảm 907.079.199 đồng, tương
ứng giảm 63,92% so với năm 2011. Đến năm 2013 tăng lên đạt mức 968.047.675 đồng
tăng 968.047.675 đồng, tương ứng tăng 89,07% so với năm 2012. Trong đó 100% là
chi phí lãi vay. Điều này thể hiện trong năm 2012 do mặt bằng chi phí lãi vay, lãi suất
tín dụng tăng, chưa có các chính sách hỗ trợ tiếp cận tín dụng của ngân hàng dành cho
doanh nghiệp vừa và nhỏ tốt. Vì thế doanh nghiệp vay ít hơn để giảm thiểu rủi ro
thanh toán. Ngược lại thì năm 2013 các chi phí này lại giảm, chính phủ đưa ra các
chính sách hỗ trợ ưu đãi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên công ty đã tận dụng cơ
hội này đi vay nhiều hơn để phát triển và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chi phí quản lý kinh doanh: Chi phí này của công ty có xu hướng giảm mạnh
vào năm 2012 và lại tăng vào năm 2013. Cụ thể: Năm 2012 chiếm 1.186.500.321 đồng
giảm 877.017.308 đồng, tương ứng giảm 42,50% so với năm 2011. Đến năm 2013 thì
tăng 522.862.307 đồng, tương ứng tăng 44,07% so với năm 2012. Điều này thể hiện
24

Thang Long University Library


năm 2012 tình hình công ty khó khăn hơn nên công ty phải cắt giảm các khoản trợ cấp
cho nhân viên như lương thưởng, hoa hồng,… Đến năm 2013 thì tình hình kinh doanh
của công ty khá hơn để khuyến khích động viên tinh thần làm việc của nhân viên, công
ty đã đưa ra nhiều chính sách hấp dẫn cho nhân viên như hoa hồng, lương thưởng, các
khoản trợ cấp,.. do đó chi phí quản lý kinh doanh tăng. Tuy nhiên mức tăng này là khá
cao vì vậy công ty cần có những chính sách kiểm soát tốt hơn.
Lợi nhuận sau thuế: Khoản mục này của công ty cũng có xu hướng giảm mạnh
vào năm 2012 và lại tăng vào năm 2013. Cụ thể: Năm 2012 chỉ đạt 76.833.924 đồng
giảm 233.659.931 đồng, tương ứng giảm 75,25% so với năm 2011. Sang năm 2013
tăng lên đạt mức 180.831.787 đồng tăng 103.997.863 đồng, tương ứng 135,35% so với
năm 2012. Điều này thể hiện năm 2012 tình hình kinh doanh của công ty kém hiệu quả
nhất trong 3 năm. Nguyên nhân là do doanh thu bán hàng giảm trong khi giá vốn hàng
bán lại tăng. Nhưng sang năm 2013 thì tình hình kinh doanh của công đã khả quan hơn
nguyên nhân là do doanh thu năm 2013 tăng mạnh trong khi các khoản nợ khó đòi thì
giảm. Đây là 2 yếu tố quyết định quan trọng nhất làm cho lợi nhuận sau thuế của công
ty năm 2013 tăng.
2.2. Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của công ty TNHH Dũng Mạnh
2.2.1. Phân tích quy mô cơ cấu vốn theo tính chất luân chuyển
Sơ đồ 2.2. Quy mô tổng vốn của công ty TNHH Dũng Mạnh

Triệu đồng
16.680

17.000
16.000
15.000

Năm 2011

14.000
13.000

Năm 2012
12.173

12.223

Năm 2013

12.000
11.000
10.000
Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

(Nguồn: Phòng Tài chính – Kế toán)
Nhìn vào sơ đồ 2.2 ta có thể thấy được tổng nguồn vốn của công ty TNHH
Dũng Mạnh năm 2013 chênh lệch khá lớn so với 2 năm trước. Tổng nguồn vốn của
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×