Tải bản đầy đủ

GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH TAT HONG VIỆT NAM

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
1.1. Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ tài chính biểu hiện qua quá trình huy
động và sử dụng vốn để tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp . Hai yếu tố đó gắn liền
với nhau qua hoạt động đầu tư vì đầu tu tạo điều kiện cho sự vận động của các quỹ tiền
tệ trong toàn xã hội. Tài ch nh được xem như là một hệ thống trong thị trường tài
chính, là trung tâm của quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ. Hoạt động của
ngân sách nhà nước, tài chính doanh nghiệp, bảo hiểm và mọi tổ chức tín dụng đều
xoay quanh thị trường tài chính. Tài chính doanh nghiệp có hai chức năng cơ bản là
huy động và sử dụng vốn, nói đến tài chính là nhấn mạnh đến các dòng tiền. Chức
năng huy động còn gọi là chức năng tài trợ, ám chỉ quá trình tạo ra các quỹ tiền tệ từ
nguồn lực bên trong và bên ngoài để doanh nghiệp hoạt động với chi phí thấp nhất.
Chức năng sử dụng vốn hay còn gọi là đầu tư, liên quan đến việc phân bổ vốn ở đâu,
lúc nào vốn được sử dụng sao cho có hiệu quả cao nhất. (Nguồn: Trang 3, Chương 1,
Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp của PGS.TS Trương Bá Thanh)
Phân tích tài chính là việc sử dụng các ký thuật phân tích thích hợp để xử lý số
liệu từ báo cáo tài chính và các tài liệu khác, hình thành hệ thống các chỉ tiêu tài chính
nh m đánh gia thực trạng tào chính và tiềm lực tài ch nh trong tương lai. Như
vậy,phân t ch tài ch nh trước hết là việc chuyển các dữ liệu tài chính trên báo các tài
chính thành những thông tin hữu ích. Quá trình này có thể thực hiện theo nhiều cách

khác nhau tùy vào mục tiêu của nhà phân t ch. Phân t ch tài ch nh được sử dụng như là
công cụ khảo sát cơ bản trong lựa chọn quyết định đầu tư. Nó còn được sử dụng như là
công cụ dự đoán các điều kiện và kết quả tài ch nh trong tương lai, là công cụ đánh giá
của các nhà quản trị doanh nghiệp. Phân tích tài chính sẽ tạo ra các chứng cứ có tính
hệ thống và khoa học đối với các nhà quản trị. (Nguồn: Trang 4, Chương 1, Giáo trình
phân tích tài chính doanh nghiệp của PGS.TS Trương Bá Thanh)
Qua việc phân tích tài chính mới đánh giá được một cách đầy đủ và chính xác về
việc sử dụng, quản lý tài sản và nguồn vốn trong doanh nghiệp, vạch r được những cơ
hội cũng như các nguy cơ có thể xảy ra, trên cơ sở đó các nhà quản lý có thể đưa ra
quyết định một cách đúng đắn và phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp.
1.1.2. Vai trò của việc phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân t ch tài ch nh có nghĩa vô cùng quan trọng trong công tác quản lý tài
chính doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý
1


của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng
trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh.
Vì vậy, tài chính doanh nghiệp là một trong những công cụ đắc lực giúp điều tiết
hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, từ việc phân tích các số liệu cụ thể
giúp định hướng cho các chủ thể trong nền kinh tế, mỗi đối tượng quan tâm đến tình
hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau.
Đối với nhà quản lý doanh nghiệp
Nhà quản lý doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trong việc điều hành các hoạt
động tài chính phát sinh trong doanh nghiệp, từ đó sẽ đưa ra các đường lối, quyết sách
nh m tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn. Phân t ch tài ch nh giúp
cho các doanh nghiệp tìm ra được cơ cấu vốn phù hợp với quy mô cũng như đường lối
hoạt động của mình, tạo điều kiện cho nhà quản lý nắm rõ tình hình doanh thu, chi phí,
lợi nhuận, khả năng thanh toán
nh m hướng tới mục đ ch tối thiểu hóa chi phí và
tối đa hóa lợi nhuận. Cuối cùng phân tích tài chính còn là công cụ để kiểm soát các
hoạt động quản lý.
Đối với các nhà đầu tƣ
Trước khi đưa ra quyết định đầu tư vào doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu
của các nhà đầu tư bao giờ cũng là mức độ rủi ro, thời gian thu hồi vốn và khả năng
sinh lời. Sử dụng công cụ phân t ch tài ch nh như phân t ch lợi nhuận ròng hay thu
nhập trên mỗi cố phiếu (EPS) cùng với các chỉ tiêu tài chính khác sẽ giúp các nhà đầu
tư đánh giá được một cách khách quan nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp,
giảm thiểu rủi ro và tìm kiếm được nơi đầu tư hiệu quả. Các cổ đông sẽ quan tâm
nhiều hơn đến các yêu tố tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ có thể dùng để trả lợi tức cổ

phần, mức chia lãi trên một cổ phiếu năm trước, sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường
và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp nh m đảm bảo quyền lợi của họ.
Từ đó, nhà đầu tư có thể đi đến quyết định cuối cùng có nên đầu tư vào doanh nghiệp
hay không. Vì vậy, việc phân tích tài chính là vô cùng quan trọng đối với các nhà đầu
tư.
Đối với các chủ nợ
Nếu như khi việc phân tích tài chính ảnh hường đến quyết điịnh đầu tư của các
nhà đầu tư thì phân t ch tài ch nh lại giúp các ngân hàng và các nguồn cung cấp tín
dụng thương mại nắm được khả năng chi trả các khoản nợ của doanh nghiệp.
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ được xem xét dựa trên các khoản vay
ngắn hạn cũng như dài hạn. Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc
biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp, nghĩa là khả năng ứng
phó của doanh nghiệp đối với các món nợ khi đến hạn trả. Còn là những khoản cho
2

Thang Long University Library


vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của
doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi sẽ tuỳ thuộc vào khả năng sinh lời này.
Các ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, học đặc biệt quan tâm đến khả năng
trả nợ của doanh nghiệp, vì vậy, họ chú

đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể

chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng
thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Ngoài ra, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay
tín dụng cũng quan tâm đến nguồn vốn chủ sở hữu vì số vốn này là nguồn đảm bảo
cho họ trong trường hợp hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp gặp phải
những rủi ro. Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời
hạn của các khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho
vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp
đi vay.
Đối với các nhà cung ứng vật tư hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp, họ phải
quyết định xem có nên cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng hay không,
họ cần phải biết được khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và trong thời gian
sắp tới.
Đối với ngƣời ao động
Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp, người
được hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính
của doanh nghiệp. Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp có
tác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động. Ngoài ra
trong một số doanh nghiệp, người lao động được tham gia góp vốn mua một lượng cổ
phần nhất định. Như vậy, họ cũng là những người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi
và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp.
Đối với các cơ quan quản

nhà nƣớc

Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhà nước
thực hiện phân t ch tài ch nh để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh
doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng ch nh sách,
chế độ và luật pháp quy định không, đảm bảo tính minh bạch, công b ng trong nghĩa
vụ nộp thuế của từng doanh nghiệp cũng như giúp nhà nước điều tiết các hoạt động
của nền kinh tế trên thị trường.
Việc phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các
báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài ch nh đặc trưng thông qua một hệ thống các
phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân t ch, giúp người sử dụng thông tin từ các góc
độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách
chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu về
3


hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo và
đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp.
1.1.3. Nhiệm vụ và mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp
Với những

nghĩa quan trọng như trên, nhiệm vụ của việc phân tích tình hình tài

chính là việc cung cấp những thông tin chính xác về mọi mặt tài chính của doanh
nghiệp, bao gồm:
Đánh giá một cách khách quan về các nguồn lực trong doanh nghiệp để đảm bảo
hoạt động sản xuất, kinh doanh, nắm rõ tình hình về nguồn vốn, quản lý và phân phối
nguồn vốn một cách hợp lý trong doanh nghiệp. Đồng thời giúp doanh nghiệp phân
tích hiệu quả sử dụng của từng loại nguồn vốn trong quá trình kinh doanh và kết quả
tài chính của doanh nghiệp, tình hình thanh toán cũng như khả năng thanh toán của
doanh nghiệp. Từ đó t nh toán và xác định mức độ có thể lượng hoá của các nhân tố
ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những biện pháp có
hiệu quả để khắc phục những yếu kém và khai thác triệt để những năng lực tiềm tàng
của doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Mục tiêu của phân t ch tài ch nh là đưa ra các công cụ thông qua số liệu thực tế
trên bác cáo tài ch nh để doanh nghiệp có thể nắm rõ và quản lý hiệu quả hoạt động
sản xuất sinh doanh. Là cầu nối giữa doanh nghiệp với các nhà đầu tư cũng như các cơ
quan quản l nhà nước. Thông qua việc phân tích tài chính tại các doanh nghiệp giúp
nhà nước đưa ra các quyết định quản lý nền kinh tế ở tầm vĩ mô nh m phát triển kinh
tế đất nước qua các thời kỳ khác nhau.
1.2. Các phƣơng pháp trong phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích tài
chính nh m xác định xu hướng cũng như biên độ, mức độ biến động của chỉ tiêu cần
phân tích. Vì vậy để tiến hành so sánh phải giải quyết những vấn đề cơ bản, cần phải
đảm bảo các điều kiện đồng bộ để có thể so sánh được các chỉ tiêu tài ch nh. Như sự
thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị t nh toán. Đồng thời
theo mục đ ch phân t ch mà xác định gốc so sánh.
Khi nghiên cứ về nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu gốc để
so sánh là trị số tương đối hoặc tuyệt đối của kỳ trước so với kỳ này. Kỳ phân tích
được lựa chọn có thể là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch.
Trên cơ sở đó, nội dung của các phương pháp so sánh bao gồm:

4

Thang Long University Library


+ So sánh kỳ thực hiện này với kỳ thực hiện trước để đánh giá sự tăng hay giảm
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó có nhận xét về xu hướng thay
đổi về tài chính của doanh nghiệp.
+ So sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch, số liệu của doanh nghiệp với số
liệu trung bình của ngành, của doanh nghiệp khác để thấy mức độ phấn đấu của doanh
nghiệp được hay chưa được.
+ So sánh theo chiều dọc để xem tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so
sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự thay đổi về lượng và về tỷ lệ của
các khoản mục theo thời gian.
1.2.2. Phương pháp phân tích tỉ số
Phân tích tỉ số là kỹ thuật phân t ch căn bản và đóng vai trò quan trọng trong việc
phân tích tài chính. Phân tích các tỷ số tài ch nh liên quan đến việc xác định và sử
dụng các tỷ số tài ch nh để đo lường và đánh giá tình hình và hoạt động tài chính của
doanh nghiệp. Theo phương pháp này, các tỷ lệ tài ch nh được chia thành các nhóm
đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản trong hoạt động của doanh nghiệp.
+ Dựa vào các báo cáo tài chính thì ta có nhiều tỷ số khác nhau; dựa vào nguồn
số liệu để xác định các tỷ số thì ta có các tỷ số sau: các tỷ số được xác định từ bảng
cân đối kế toán, các tỷ số được xác định từ báo cáo kết quả kinh doanh, các tỷ số được
xác định từ số liệu của cả hai bảng.
+ Dựa vào mục tiêu phân tích thì có thể chia thành các tỷ số sau: Các tỷ số thể
hiện khả năng thanh toán, các tỷ số về cơ cấu tài sản và đòn bẩy tài chính, các tỷ số về
khả năng hoạt động, các tỷ số về khả năng sinh lợi và các tỷ số giá thị trường.
1.2.3. Phương pháp Dupont
Phương pháp Dupont là một phương pháp đơn giản và được sử dụng nhiều trong
phân tích tài chính,, cho phép các nhà quản lý doanh nghiệp có một cái nhìn khái quát
về tình hình tài chính của công ty.
Phân t ch Dupont được sử dụng nh m phân tích khả năng sinh lời của doanh
nghiệp b ng cách kết hợp nhiều thông tin trong báo cáo thu nhập với bảng cân đối kế
toán. Trong phân tích tài ch nh, phương pháp này được coi như là cầu nối của các chỉ
tiêu tài chính, giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả kinh doanh một cách sâu sắc và
toàn diện dựa trên đầy đủ những yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp. Tạo gia tiền đề để doanh nghiệp thực hiện các giải pháp nh m nâng cao hiệu
quả kinh doanh.

5


1.2.4. Một số phương pháp khác
Phương pháp cân đối:
Là phương pháp mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế mà giữa chúng tồn tại
mối quan hệ cân b ng hoặc phải tồn tại sự cân b ng như mối quan hệ giữa tài sản và
nguồn vốn hay doanh thu với chi phí và lợi nhuận. Nhờ sự cân b ng về lượng dẫn đến
sự cân b ng về sức biến động về lượng giữa các yếu tố và quá trình kinh doanh. Nếu
một chỉ tiêu thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi của các chỉ tiêu khác, vì vậy trong phân
t ch tài ch nh phương pháp cân đối thường được sử dụng nh m xem xét ảnh hưởng
của từng nhân tố đến biến động của các chỉ tiêu cần xem xét.
Phương pháp cân đối thường kết hợp với phương pháp so sánh để giúp người
phân t ch có được đánh giá toàn diện về tình hình tài chính.
Phương pháp liên hệ tương quan:
Là phương pháp phân t ch tương quan nh m xác định sự tồn tại và dạng của mối
liên hệ giữa các đại lượng ngẫu nhiên và cho phép đánh giá mức độ chặt chẽ giữa các
mối quan hệ đó.
Trình tự tiến hành:
Đầu tiên ta cần phân tích lý luận để giải thích sự tồn tại và bản chất mối liên
hệ.Tiếp theo cần thăm dò các mối quan hệ đó. Sau đó lập phương trình hồi quy căn cứ
vào số tiêu thức, số lần quan sát. Rồi đến bước tính toán các tham số của chương trình.
Cuối cùng ta giải th ch nghĩa kinh tế của các tham số.
Phương pháp thay thế liên hoàn:
Là phương pháp xác định ảnh hưởng của các nhân tố b ng cách thay thế lần lượt
và liên tiếp các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân t ch để xác định trị số của chỉ
tiêu khi nhân tố đó thay đổi. Sau đó so sánh trị số của chỉ tiêu vừa t nh được với trị số
của chỉ tiêu khi chưa có biến đổi cuả nhân tố cần xác định sẽ t nh được mức độ ảnh
hưởng của nhân tố đó.
Phương pháp liên hệ đối chiếu:
Liên hệ, đối chiếu là phương pháp phân tích sử dụng để nghiên cứu, xem xét mối
liên hệ giữa các sự kiện kinh tế và hiện tượng kinh tế, đồng thời xem t nh cân đối chủa
các chỉ tiêu kinh tế trong quá trình hoạt động. Sử dụng phương pháp này cần chú ý
đến mối liên hệ mang tính nội tại. ổn định, chung nhất và được lặp đi lặp lại, các liên
hệ ngược, t nh cân đối tổng thể, cân đối từng phần Vì vậy , cần thu thập và xem xét
thông tin một cách kỹ càng, có chọn lọc có liên hệ với các nguồn chuyển dịch giá trị
và sự vận động của các nguồn lực trong doanh nghiệp.
6

Thang Long University Library


Kết luận: Tùy theo từng mục đ ch nghiên cứu, có thể kết hợp, ứng dụng các
phương pháp khác nhau để có thể xem xét tình hình cụ thể của doanh nghiệp cũng như
đưa ra các quyết định đúng đắn trong ngắn hạn và dại hạn.
1.3. Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.3.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.3.1.1. Phân tích tình hình tài chính thông qua bảng cân đối kế toán
Những số liệu về biến động tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp trong quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh được thể hiện rõ ràng nhất thông qua bảng cân đối
kế toán. Khi phân tích những biến động này cũng như cơ cấu của doanh nghiệp chúng
ta có thể đánh giá một cách tổng quan về tình hình đầu tư cũng như hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp.
a)

Phân tích biến động về tài sản và nguồn vốn
Biến động về tài sản
Tình hình biến động của tài sản phụ thuộc vào sự biến động của các bộ phận cấu

thành nên tổng tài sản trong doanh nghiệp vào một khoảng thời gian nhất định, từ đó
có thể đánh giá được mức độ hợp lý trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, tạo điều
kiện cho nhà quản l đưa ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong
doanh nghiệp.
Để phân tích sự biến động của từng chỉ tiêu tài sản qua các năm cả về số tuyệt
đối và số tương đối ở bảng cân đối kế toán. Ngoài ra ta cần phải xem xét sự biến động
của từng chỉ tiêu là do nguyên nhân nào, thông qua việc phân tích này thì chúng ta sẽ
nhận thức được tác động của từng loại tài sản đối với quá trình kinh doanh và tình hình
tài chính của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, để phân tích biến động của tổng tài sản ta còn có thể xem xét cơ
cấu vốn có hợp lý hay không, nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến quá trình kinh
doanh. Để làm điều này thì chúng ta cần tiến hành phân tính tỷ trọng của từng chỉ tiêu
trong tổng tài sản, tỷ trọng của các chỉ tiêu thuộc tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản
ngắn hạn, tương tự cho tài sản dài hạn. Sau đó so sánh chúng qua nhiều thời kỳ khác
nhau để thấy được sự biến động của cơ cấu vốn, khi đánh giá việc phân bổ vốn có hợp
lý hay không ta nên xem xét đặc điểm ngành nghề và kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
Biến động về nguồn vốn
Trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, doanh nghiệp có thể
huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Yếu tố quyết định là doanh nghiệp cần phải
kết hợp các nguồn vốn đó để đưa ra một cơ cấu vốn hợp lý, mang lại lợi ích tối đa
7


cũng như đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán cho doanh nghiệp. Qua việc phân
tích biến động về nguồn vốn cho thấy được tính chủ động trong chính sách tài chính
hay do sự bị động trong hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra. B ng việc so sánh sự
biến động cả về số tuyệt đối và tương đối của các chi tiêu phần nguồn vốn, tính tỷ
trọng của từng chỉ tiêu trong tổng nguồn vốn, tỷ trọng của từng chỉ tiêu thuộc nợ phải
trả trong tổng nợ phải trả, tương tự cho vốn chủ sở hữu; sau đó so sánh chúng qua
nhiều năm khác nhau để thấy được cơ cấu và sự biến động nguồn vốn của doanh
nghiệp.
b)

Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Bảng 1.1. Mối liên hệ giữa vốn chủ sở hữu với tài sản
Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu

Tài sản (không bao gồm các khoản bị chiếm dụng)
I.Tài sản ngắn hạn
1. Tiền và các khoản tương đương tiền
2. Các khoản đầu tư tài ch nh ngắn hạn
3. Hàng tồn kho
4. Chi ph trả trước ngắn hạn
5. Tài sản ngắn hạn khác
II. Tài sản dài hạn
1. Tài sản cố định
2. Bất động sản đầu tư
3. Các khoản đầu tư tài ch nh dài hạn
4. Chi ph trả trước dài hạn
5. Tài sản dài hạn khác
(Nguồn: Ths. Vũ Quang Kết - TS. Nguyễn Văn Tấn)

Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn sẽ cho thấy doanh nghiệp sử dụng chiến
lược quản lý nào nhờ vào sự so sánh cơ cấu tài sản- nguồn vốn cũng như các đối tượng
bên trong tác động đến tài sản- nguồn vốn. Từ những đặc điểm đó, doanh nghiệp có
thể lựa chọn 1 trong 3 chiến lược quản lý vốn sau:
Chiến lược quản lý vốn thận trọng: Là chiến lược dùng một phần nguồn vốn dài
hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Khi áp dụng chiến lược quản lý vốn này doanh
nghiệp sẽ luôn đảm bảo được khả năng thanh toán của mình. Tuy nhiên hiệu quả từ
chiến lược sử dụng vốn này đem lại không cao do chi ph huy động vốn dài hạn sẽ cao
hơn so với ngắn hạn, khiến cho lợi nhuận giảm.
Chiên lược quản lý vốn mạo hiểm: Là khi doanh nghiệp dùng một phần nguồn
vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn. Chiến lược này sẽ giúp cho doanh nghiệp
giảm bớt được chi ph huy động vốn, tăng khả năng sinh lời cho chủ sở hữu. Đi cùng

8

Thang Long University Library


với điều đó là rủi ro về khả năng thanh toán cũng tăng lên, doanh nghiệp cần cân nhắc
kỹ về tình hình tài chính của mình trước khi quyết định sử dụng chiến lược này.
Chiến lược quản lý vốn dung hòa: Là chiến lược sử dụng nguồn vốn dài hạn tài
trợ cho tài sản dài hạn, nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Đảm bảo
được lợi nhuận cũng như t nh an toàn, dung hòa được giữa hai chiến lược quản lý vốn
thận trọng và mạo hiểm.
1.3.1.2. Phân tích tình hình tài chính thông qua báo cáo kết quả kinh doanh
Là một phần quan trọng trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp, báo cáo kết
quả kinh doanh cho biết chi tiết tình hình doanh thu, chi phí cho hoạt động sản suất
kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ kế toán. Ngoài ra, số liệu trong báo cáo kết quả
kinh doanh còn là căn cứ cho nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp. Từ báo cáo kết quá
kinh doanh có thể thấy một cái nhìn cái quát về hoạt động của doanh nghiệp có hiệu
quả hay không cũng như tình hình lãi lỗ trong ký của doanh nghiệp.
Để có phân tích một cách chi tiết các số liệu trong bản báo cáo kết quả kinh
doanh thì ta phải so sánh sự biến động của các chỉ tiêu qua nhiều kỳ khác nhau; tính tỷ
trọng của một số chỉ tiêu trong doanh thu thuần hoạt động bán hàng, đồng thời so sánh
chúng qua các năm ... từ đó có thể đưa ra các giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nội dung nghiên cứu từ các số liệu tỏng bản báo cáo kết quả kinh doanh là các
hiện tượng kinh tế, quá trình kinh tế đã và đang xảy ra tại một cơ sở hạch toán kinh tế
độc lập dưới sự tác động của những nhân tố chủ quan và khách quan khác nhau. Điều
này được thể hiện qua các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí và lợi nhuận
Phân t ch tình hình tài ch nh thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tê
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà bất kỳ
doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin của doanh
nghiệp. Nếu bảng cân đối kế toán cho biết những nguồn lực cũng như mối quan hệ
giữa tài sản – nguồn vốn trong doanh nghiệp, báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu
nhập và chi ph phát sinh để t nh được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì báo
cáo lưu chuyển tiền tệ được lập để trả lời các vấn đề liên quan đến luồng tiền vào ra
trong doanh nghiệp, tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp. Những luồng vào ra
của tiền và các khoản coi như tiền được tổng hợp thành ba nhóm: lưu chuyển tiền tệ từ
hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài ch nh và lưu chuyển
tiền tệ từ hoạt động bất thường.
Để phân t ch báo cáo lưu chuyển tiền tệ, các nhà phân tích có thể sử dụng
phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp:
9


Phương pháp trực tiếp: Các dòng tiền được liệt kê theo các khoản thu và chi trả.
Từ đó ta có thể t nh được lưu chuyển thuẩn dòng tiền đó nhờ vào sự chênh lệch giữa
dòng tiền vào và dòng tiền ra trong doanh nghiệp.
Phương pháp gián tiếp: Là phương pháp sử dụng các khoản mục phi tiền tệ của
luồng tiền từ hoạt động kinh doanh và tìm mối liên hệ giữa các khoản mục đó với các
thông tin liên quan ở luồng tiền từ hoạt động, từ đó đưa các các tỷ số, tỷ lệ đánh giá
chi tiết ảnh hưởng của các dòng tiền tới hoạt động của doanh nghiệp.
1.3.2. Phân tích tình hình tài chính thông qua các chỉ tiêu tài chính
1.3.2.1. Chỉ tiêu khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán là khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài ch nh đúng thời hạn,
khi doanh nghiệp không còn có thể chi trả cho các khoản nợ tới hạn là khi doanh
nghiệp mất khả năng thanh toán. Khả năng thanh toán được đo lường b ng mức độ
thanh khoản, tức là mức độ dể dàng và nhanh chóng để chuyển một tài sản thành tiền
mà không làm giảm đáng kể giá trị của tài sản đó. Những số liệu từ việc phân tích khả
năng thanh toán sẽ cho ta thấy được thực trạng về tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Khi doanh nghiệp làm ăn có lãi vẫn có thể gặp phải những vấn đề liên quan
đến khả năng thanh toán nếu như ch nh sách quản lý các quản phải trả không hợp lý.Vì
vậy chỉ tiêu khả năng thanh toán là một trong những chỉ tiêu vô cùng quan trọng trong
việc phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Tài sản ngắn hạn
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn =

=
Tổng nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn được dùng để đánh giá khả năng chi trả các khoản
nợ ngắn hạn đến hạn. Hệ số này cho biết bình quân một đồng nợ ngắn hạn được đảm
bảo b ng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Nợ ngắn hạn là các khoản nợ mà doanh
nghiệp có nghĩa vụ thanh toán trong thời gian một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh.
Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền, các khoản đầu tư tài ch nh ngắn hạn, các khoản phải
thu ngắn hạn, hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn khác. Hệ số này càng cao hơn một thì
được đánh giá là khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cao, tuy nhiên chúng ta cần tìm
hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến sự tăng cao của hệ số thì mới có thể đưa ra những nhận
xét, đánh giá ch nh xác, hệ số thanh toán nợ ngắn hạn cao đôi khi bắt nguồn từ việc
doanh nghiệp có quá nhiều các khoản phải thu mà không có khả năng thu hồi, hoặc do
doanh nghiệp dự trữ lượng hàng tồn kho quá nhiều. ,.. Tuy nhiên, nếu hệ số này nhỏ
hơn một thì chứng tỏ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp kém, vì nợ
ngắn hạn nhiều hơn so với tài sản ngắn hạn, muốn đảm bảo thanh toán thì doanh
10

Thang Long University Library


nghiệp phải cân nhắc đến việc bán tài sản dài hạn có tính thanh khoản cao để thanh
toán nợ ngắn hạn.
Hệ số thanh toán nhanh =

Tài sản ngắn hạn – hàng tồn kho
Tổng số nợ ngắn hạn

Khả năng thanh toán của một doanh được đo lường b ng mức độ thanh khoản
của các loại tài sản, tính thanh khoản của một loại tài sản là khả năng nhanh chóng
chuyển đổi thành tiền mà không làm giảm đáng kể giá trị của tài sản đó. Vì hàng tồn
kho của doanh nghiệp cần phải qua quá trình tiêu thụ mới có thể chuyển thành tiền,
chưa t nh đến việc hàng hóa không tiêu thụ được, hàng ứ đọng kém phẩm chất, vì vậy
tính thanh khoản của nó thấp. Để đánh giá khắt khe hơn về khả năng thanh toán của
doanh nghiệp ta sử dụng tỷ số thanh khoản nhanh; tỷ số này cho biết bình quân một
đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo b ng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn nhưng không
bao gồm hàng tồn kho.
Hệ số thanh toán tức thời =

Tiền và các khoản tương đương tiền
Tổng số nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán tức thời thể hiện mối quan hệ giữa tiền và các khoản tương
đương tiền với các khoản nợ ngắn hạn. Tiền và các khoản tương đương tiền là những
tài sản có tính thanh khoản cao nhất trong doanh nghiệp như: tiền mặt, tiền gửi ngân
hàng, các khoản đầu tư tài ch nh ngắn hạn, các khoản đầu tư khác có thể dễ dàn
chuyển đồi thành tiền ... Nếu hệ số này thấp chứng tỏ doanh nghiệp đang có ch nh sách
kiểm soát đầu tư khá tốt vì có thể tận dụng tối đa được các khoản tiền nhàn rồi của
mình. Tuy nhiên nếu quá chú trọng vào việc tận dụng các loại tài sản có tính thanh
khoản cao như tiền và các khoản tương đương tiền sẽ dẫn đến rủi ro về việc không
đảm bảo được khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay =

EBIT
Chi phí lãi vay

Một doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn vay hiệu quả khi việc sử dụng vốn vay của
doanh nghiệp ít nhất phải tạo ra lợi nhuận đủ để bù đắp phần chi phí lãi vay. Thông
qua đánh giá hệ số khả năng thanh toán lãi vay thì ta thấy được mức độ hiệu quả của
việc sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, khả năng chi trả lãi vay của doanh
nghiệp. Nếu tỷ số này càng cao hơn một thì các chủ sở hữu sẽ có lợi, tuy nhiên nếu lợi
nhuận tạo ra không đủ để trả lãi vay thì các chủ sở hữu phải gánh chịu hậu quả của
việc sử dụng nợ này.
11


1.3.2.2. Chỉ tiêu hoạt động
a)

Quản lý tài sản
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện b ng việc kết hợp các

loại tài sản ngắn hạn và dài hạn (nguồn lực đầu vào) với mục đ ch để tao ra doanh thu
và lợi nhuận (kết quả đầu ra). Khi doanh nghiệp tao ra càng nhiều doanh thu và lợi
nhuận từ một khoản đầu tư vào tài sản thì có nghĩa doanh nghiệp đó đang hoạt động
một cách hiệu quả. Thông qua việc phân tích các tỷ số thể hiện khả năng hoạt động ta
sẽ thấy được mức độ khai thác các nguồn lực đầu vào của doanh nghiệp, từ đó chúng
ta sẽ đánh giá được việc quản lý và sử dụng vốn trong doanh nghiệp có hợp lý, tiết
kiệm và hiệu quả hay không.
 Quản lý tổng tài sản
Để đánh giá tổng quan hiệu quả trong việc sử dụng tổng tài sản trong doanh
nghiệp, ta cần cân nhắc đến chỉ tiêu sau:
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản =

Thời gian quay vòng tổng tài sản

=

Doanh thu thuần
Tổng tài sản

365
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Đây là chỉ tiêu phản ánh một cách toàn diện về hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghệp, chỉ tiêu này cho biết bình quân một đồng tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng
doanh thu, nếu tỷ số này càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao, góp phần làm
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nếu tỷ số này quá cao thì chứng tỏ r ng doanh
nghiệp đang sử dụng hết công suất các nguồn lực đầu vào của mình, vì vậy khó mà
tăng thêm nếu không đầu tư thêm vốn. Thời gian quay vòng tổng tài sản cho biết số
lần luân chuyển của tổng tài sản trong một năm, trái với hiệu suất sử dụng tổng tài sản
con số này càng nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng và quản lý tổng tài sản một
cách hiệu quả.
Hệ số đảm nhiệm tổng tài sản =

Tổng tài sản
Doanh thu thuần

Hệ số đảm nhiệm tổng tài sản càng thấp chứng sự vận động, luân chuyển của
tổng tài sản trong doanh nghiệp càng nhanh, tạo điều kiện cho việc cải thiện tình hình
doanh thu trong doanh nghiệp. Chỉ tiêu này chủ yếu dựa trên hai nhân tố ảnh hường
chính, cho biết khi doang nghiệp muốn có được một đồng doanh thu thuần thì cần phải
bỏ ra bao nhiêu đồng tổng tài sản. Ngoài ra chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào quy mô,
loại hình cũng như ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh riêng của doanh nghiệp. Cụ thể
như tại các công ty sản xuất, con số này sẽ cao hơn so với các công ty thương mại, do
12

Thang Long University Library


các công ty sản xuất cần đầu tư nhiều hơn cho tài sản cố định cũng nh m phục quá
trình sản xuất ra hàng hóa, hay đối với các ngành công nghiệp nhẹ thì lượng TSNH
chiếm trong doanh thu rất cao và ngược lại với các ngành công nghiệp nặng, điều này
nghiễm nhiên ảnh hưởng đến cơ cấu của tổng tài sản.
 Quản lý tài sản ngắn hạn:
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng TSNH =
Tổng tài sản ngắn hạn
Hệ số này cho biết khi bỏ ra một đơn vị TSNH trong kỳ thì sẽ thu lại cho doanh
nghiệp bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần, hay nói cách khác là trong kỳ thì vốn lưu
động quay được mấy lần. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng
và khai thác nguồn tài sản ngắn hạn của mình một cách hiệu quả. Ngược lại, nếu hệ số
này nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp thấp, chính sách tồn kho
không hợp lý, có thể là thành phẩm không tiêu thụ được, nợ phải thu cao, tồn quỹ tiền
mặt nhiều.
Tài sản ngắn hạn
Suất hao phí của TSNH so với DTT =
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để có được một đồng doanh thu thuần thì doanh nghiệp cần
phải đầu tư bao nhiêu đồng cho tài sản ngắn hạn. Con số này càng thấp chứng tỏ doanh
nghiệp đang sử dụng tài sản ngắn hạn một cách tiết kiệm và hiệu quả. Chỉ tiêu này
cũng giúp ch cho nhà quản lý ra quyết định trong việc đầu tư vào tài sản ngắn hạn.
Nếu như chỉ tiêu này quá thấp doanh nghiệp cần xem xét đầu tư thêm vào tài sản ngắn
hạn đề đạt hiệu quả lâu dài và ngược lại nếu con số này quá cao chứng tỏ doanh
nghiệp chưa tận dụng hết nguồn tài sản ngắn hạn đang có của mình, cần cân nhắc cắt
giảm, thanh lý tài sản ngắn hạn đề phù hợp với tình hình của doanh nghiệp nh m đạt
được hiệu quả kinh doanh một cách tối đa.
Thời gian luân chuyển vốn bằng tiền trung bình = Thời gian lưu kho +
Thời gian thu nợ trung bình - Thời gian trả nợ trung bình
Chỉ tiêu này cho thấy khoảng thời gian kể từ khi chi thực tế đến khi doanh nghiệp
thu được tiền về. Thời gian quay vòng tiền càng cao chứng tỏ lượng tiền mặt trong
doanh nghiệp đang trở nên khan hiếm . Ngược lại nếu con số này nhỏ chứng tỏ doanh
nghiệp đang có khả năng quản lý vốn lưu động mội cách hiệu quả. Chỉ tiêu này giúp
doanh nghiệp rút ngắn vòng xoay tiền mặt cũng như cải thiện hiệu qủa kinh doanh.
Hệ số thu nợ

=

13

Doanh thu thuần
Các khoản phải thu


Thời gian thu nợ trung bình =

365
Hệ số thu nợ

Hệ số thu nợ và thời gian thu nợ trung bình cho biết trong kỳ các khoản phải thu
quay được bao nhiêu vòng. Hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc
độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải
thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra
sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất. Ngược lại, nếu hệ số
này càng thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền
mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ
nguồn vốn lưu động trong sản xuất và có thể doanh nghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để
tài trợ thêm cho nguồn vốn lưu động này.
Thời gian thu nợ trung bình cho biết doanh nghiệp phải mất bình quân là bao
nhiêu ngày để thu hồi các khoản nợ của mình. Từ chỉ số này, ta có thể thấy được chính
sách bán trả chậm của doanh nghiệp, con số này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp
đang có những biện pháp thu hồi nợ hiệu quả.
Hệ số lưu kho =

Giá vốn hàng bán
Giá trị hàng tồn kho

Thời gian luân chuyển kho trung bình =

365
Hệ số lưu kho

Vòng quay hàng tồn kho thể hiện số lần xuất hàng của doanh nghiệp trong kỳ,
như vậy nếu số vòng quay hàng tồn kho càng lớn thì chứng tỏ r ng hiệu quả sử dụng
hàng tồn kho càng cao. Và ngược lai, nếu số vòng quay hàng tồn kho càng nhỏ thì có
thể r ng doanh nghiệp đang đầu tư quá nhiều vào hàng tồn kho hoặc hàng tồn kho của
doanh nghiệp khó có khả năng luân chuyển.
Hệ số lưu kho cho biết trung bình thì bao nhiêu ngày doanh nghiệp xuất hàng
một lần. Như vậy ta thấy, nếu số ngày trung bình một lần xuất hàng càng nhỏ thì
chứng tỏ tốc độ luân chuyển hàng tồn kho cao, hiệu quả sử dụng hàng tồn kho càng
lớn và ngược lại.
Dự trữ hàng tồn kho sẽ làm phát sinh các khoản chi ph lưu kho nh m để lưu trữ,
bảo quản hàng tồn kho, ngoài ra doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu chi ph cơ hội trong
việc sử dụng vốn, do đó có một lượng vốn lớn bị đọng lại trong hàng tồn kho. Vì vậy
việc phân tích, dự đoán, nắm bắt nhu cầu của khách hàng là việc doanh nghiệp cần làm
nh m tiết kiệm chi ph cũng như đảm bảo đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng,
không bị lỡ mất những cơ hội tạo doanh thu.

14

Thang Long University Library


 Quản lý tài sản dài hạn
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng
=
tài sản dài hạn
Tài sản dài hạn
Tương tự như hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn, hiệu suất sử dụng tài sản dài
hạn cho biết mỗi đồng tài sản dài hạn tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Tài sản
dài hạn trong doanh nghiệp thường bao gồm tài sản cố định, các khoản đầu tư tài ch nh
dài hạn, các khoản trả trước dài hạn và các loại tài sản dài hạn khác. Chỉ tiêu này cao
chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng một cách hiệu quả nguồn tài sản dài hạn của
mình.
Tài sản dài hạn
Suất hao phí của TSDH so với DTT =
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết khi doanh nghiệp muốn có một đồng doanh thu thuần trong
kỳ phải bỏ ra bao nhiêu đồng để đầu tư cho tài sản dài hạn. Giúp làm căn cứ để doanh
nghiệp đưa ra quyết định đầu tư phù hợp, xác định nhu cầu vốn của doanh nghiệp để
đạt được mức doanh thu thuần mong muốn. Ngược lại với hiệu suất sử dụng tài sản dài
hạn, suất hao phí của tài sản dài hạn càng thấp càng chứng tỏ doanh nghiệp đang sử
dụng nguồn tài sản dài hạn một cách hiệu quả.
Doanh thu
Hiệu suất sử dụng
=
tài sản cố định
Nguyên giá tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định phản ánh mức độ sử dụng tài sản cố định để tạo
ra doanh thu cũng như mức độ đầu tư vào tài sản cố định. Tỷ số này nói lên một đồng
nguyên giá tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng
cao chứng tỏ doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng tốt các loại tài sản cố định của mình.
Để nâng cao chỉ tiêu này, doanh nghiệp cần khai thác tối đa tối đa công suất của tài sản
cố định.
Tỷ số này còn được gọi là Mức quay vòng của tài sản cố định, phản ánh tình hình
quay vòng của tài sản cố định, và là một chỉ tiêu ước lượng hiệu suất sử dụng tài sản
cố định. Như vậy, tỷ số này cho biết hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào tài sản cố định
của doanh nghiệp, hay nói cách khác là một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu
đồng doanh thu trong một năm. Tỷ số này cao chứng tỏ tình hình hoạt động của doanh
nghiệp tốt đã tạo ra doanh thu thuần cao so với tài sản cố định, chứng tỏ việc đầu tư
vào tài sản cố định của doanh nghiệp là xác đáng, cơ cấu hợp lý, hiệu suất sử dụng
cao. Ngược lại, nếu vòng quay tài sản cố định không cao thì chứng tỏ hiệu suất sử
dụng thấp, kết quả đối với sản xuất không nhiều, năng lực kinh doanh của doanh
nghiệp không mạnh. Mặt khác, tỷ số còn phản ánh khả năng sử dụng hữu hiệu tài sản
các loại.
15


Suất hao phí của TSCĐ so với DTT =

Tài sản cố định
Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết muốn đạt được một đồng doanh thu thuần thì daonh nghiệp
cần đầu tư bao nhiêu đồng cho tài sản cố định, con số này giúp ích cho việc phân tích
hiệu quả sử dụng của tài sản cố định trong doanh nghiệp cũng như xác định nhu cầu về
vốn.
b)

Quản lý nợ
Tỷ số nợ trên tổng tài sản
Tỷ số nợ trên tài sản = 100% 

Tổng nợ
Tổng tài sản

Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp là từ đi vay,
tỷ số này mà quá nhỏ, chứng tỏ doanh nghiệp vay t. Điều này có nghĩa doanh nghiệp
có khả năng tự chủ tài ch nh cao. Đi cùng với điều đó, là doanh nghiệp chưa biết khai
thác đòn bẩy tài chính, tức là chưa biết cách huy động vốn b ng hình thức đi vay.
Ngược lại, tỷ số này mà cao quá hàm ý doanh nghiệp không có thực lực tài chính mà
chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh. Điều này cũng hàm là mức độ rủi ro của doanh
nghiệp cao hơn.
Tỷ số này (thường tính b ng %) được tính b ng cách lấy tổng nợ (tức là gồm cả
nợ ngắn hạn lẫn nợ dài hạn) của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó chia cho giá trị
tổng tài sản trong cùng kỳ. Các số liệu này có thể lấy từ bảng cân đối kế toán của
doanh nghiệp.
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu = 100% 

Tổng nợ
Giá trị vốn chủ sở hữu

Tỷ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động b ng đi vay và vốn chủ sở hữu. Tỷ
số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn b ng vay
nợ; có thể hàm ý doanh nghiệp chịu độ rủi ro thấp. Tuy nhiên điều này cũng có nghĩa
doanh nghiệp chưa biết cách tận dụng tối đa nguồn vốn vay để kinh doanh và khai thác
lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế. Khi dùng tỷ số này để đánh giá cần so sánh tỷ số
của một doanh nghiệp cá biệt nào đó với tỷ số bình quân của toàn ngành.
Tỷ số này (thường tính b ng %) được tính b ng cách lấy tổng nợ (tức là gồm
cả nợ ngắn hạn lẫn nợ dài hạn) của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó chia cho giá
trị vốn chủ sở hữu trong cùng kỳ. Các số liệu này có thể lấy từ bảng cân đối kế toán
của doanh nghiệp.
16

Thang Long University Library


Tỷ số khả năng trả nợ
Tỷ số khả năng trả nợ =

Giá vốn hàng bán + Khấu hao + EBIT
Phải trả người bán + Lương, thưởng, thuế...

Thời gian trả nợ
trung bình

365
Tỷ số khả năng trả nợ

=

Tỷ số khả năng trả nợ được dùng để phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của
doanh nghiệp đối với các nhà cung cấp. Nếu tỷ số này năm sau nhỏ hơn so với năm
trước chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn lâu hơn và thanh toán chậm hơn so với
năm trước. Nếu tỷ số khả năng trả nợ quá nhỏ sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro cũng như áp lực
cho doanh nghiệp về khả năng thanh toán. Tuy nhiên, việc chiếm dụng vốn này cũng
giúp doanh nghiệp giảm được áp lực về chi phí vốn đồng thời cũng thúc đẩy mối quan
hệ với các nhà cung cấp.
Thời gian trả nợ trung bình cho biết số ngày trung bình mà doanh nghiệp chi trả
các khoản nợ cho nhà cung cấp, người lao động, các khoản thuế ... Con số này càng
lớn chứng tỏ doanh nghiệp đang chiếm dụng vốn từ các nguồn trên trong thời gian
càng dài và ngược lại.
Khả năng thanh toán lãi vay
Khả năng thanh toán lãi vay =

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Chi phí lãi vay

Khả năng thanh toán lãi vay cho biết khả năng đảm bảo trong việc trả các khoản
lãi hàng năm của doanh nghiệp.Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ năng lực dủa doanh
nghiệp trong việc sử dụng lợi nhuận để chi trả cho chi phí lãi vay càng lớn và lợi
nhuận của các nhà đầu tư càng cao. Nếu như chỉ tiêu này thấp dưới mức 1, chứng tỏ
doanh nghiệp đang làm ăn thua lỗ. Đây là một trong những chỉ tiêu được ngân hàng và
các nhà đầu tư quan tâm để đánh giá mức độ ổn định cũng như rủi ro của doanh nghiệp
mà họ định đầu tư vào.
1.3.2.3. Chi tiêu đánh giá khả năng sinh lời
Đối với các doanh nghiệp, mục tiêu hoạt động sau cùng vẫn là lợi nhuận, nhưng
để có thể đánh giá được một các kỹ lưỡng, sâu sắc, chi tiết khả năng quản lý doanh
nghiệp ta cần kết hợp phân tích lợi nhuận trong mối quan hệ với các yếu tố tạo ra lợi
nhuận như doanh thu, vốn... b ng các chỉ tiêu tài chính nhất định.
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) =

17

Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu


Tỷ số này cho thấy khả năng tạo ra lợi nhuận trên cở sở doanh thu trong kỳ. Cho
biết cứ 1 đồng doanh thu thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho doanh
nghiệp. Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là doanh nghiệp đang làm ăn có lãi và
ngược lại. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu càng cao thì càng chứng tỏ tình hình kinh
doanh của doanh nghiệp đang trên đà phát triển.
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) =

Tỷ suất doanh lợi tổng tài sản cho biết bình quân một đồng vốn đầu tư vào doanh
nghiệp thì tạo ra được bao nhiêu đồng lơi nhuận sau thuế, đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu
quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.Tỷ số này cho ta biết hiệu quả trong việc quản
lý và sử dụng tài sản cố định nh m tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cao
chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng tài sản một cách hiệu quả.
Tỷ suất sinh lời trên tài sản ngắn hạn =

Lợi nhuận sau thuế
Tài sản ngắn hạn

Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ngắn hạn cho biết một đồng tài sản ngắn hạn doanh
nghiệp sử dụng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản
ngắn hạn tại doanh nghiệp. Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ngắn hạn càng cao thì trình
độ sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao và ngược lại. Thông thường,
ngoại trừ những chiến lược kinh doanh đặc biệt thì tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ngắn
hạn được xem là hợp lý khi ít nhất phải lớn hơn hoặc b ng lãi suất cho vay ngắn hạn
trên thị trưởng trong kỳ.
Tỷ suất sinh lời trên tài sản dài hạn =

Lợi nhuận sau thuế
Tài sản dài hạn

Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản dài hạn sẽ tạo ra cho doanh nghiệp bao
nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đang tận
dụng tốt nguồn tài sản dài hạn của mình và ngược lại. Chí tiêu này giúp cho doanh
nghiệp có cái nhìn khái quát về hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn trước khi đưa ra quyết
định đầu tư.
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) =

Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu

Đối với chủ sở hũu thì tỷ số quan trọng nhất đối với họ là doanh thu và lợi nhuận
từ nguồn vốn chủ sở hữu, tỷ số này phản ánh khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu; tỷ
số này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau
thuế. Chỉ tiêu này cao chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng hiệu quả nguồn vốn chủ sở
hữu góp phần thúc đẩy đầu tư trong doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh trên thị
trường cũng như sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở
18

Thang Long University Library


hữu phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh cũng như quy mô của công ty. Để có thể so
sánh một cách ch nh xác hơn ta có thể so sánh với tỷ số bình quân toàn ngành hoặc với
những doanh nghiệp có quy mô, kết cấu tương tự.
1.3.2.4. Một số chỉ tiêu tài chính khác
EPS

Lợi nhuận ròng - Cổ tức ưu đãi
Số lượng cổ phiếu thường

=

Chỉ số EPS là thu nhập trên mỗi cổ phần thường. EPS cho biết nhà đầu tư được
hưởng lợi nhuận trên mỗi cổ phần họ đang nắm giữ hàng năm là bao nhiêu. Chỉ số này
càng cao thì càng được đánh giá tốt vì khi đó khoản thu nhập trên mỗi cổ phiếu sẽ cao
hơn.
Tỷ số tăng trưởng bền vững =100%

Lợi nhuận giữ lại

Vốn chủ sở hữu
(Nguồn: Nguyễn Minh Kiều, Tài chính doanh nghiệp căn bản (2009) của nhà xuất bản
thống kê thành phố Hồ Chí Minh, trang 99)
Tỉ số này cho biết tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận cao nhất mà doanh nghiệp có
thể đạt được nếu không thay đổi vốn chủ sở hữu, từ đó giúp doanh nghiệp có thể đưa
ra quyết định trong việc sử dụng nguồn lợi nhuận để lại của mình sao cho hợp lý, hiệu
quả.
1.3.3. Phân tích Dupont
Phương pháp này được lấy tên theo một nhà quản trị tài ch nh người Pháp.
Phương pháp Dupont là một phương pháp đơn giản nhưng đem lại hiểu quả cao trong
phân tích tài chính b ng việc chia các tỷ số ROA và ROE thành những bộ phận có mối
quan hệ với nhau để đánh giá tác động của từng bộ phận lên kết quả sau cùng. Đây là
kỹ thuật mà các nhà quản lý trong nội bộ doanh nghiệp thường sử dụng để thấy được
tình hình tài chính và quyết định xem nên cải thiện tình hình tài chính của doanh
nghiệp như thế nào. Kỹ thuật này dựa vào hai phương trình cơ bản sau:
+ Phương trình thứ nhất thể hiện mối liên hệ giữa doanh lợi tổng tài sản ROA,
doanh lợi doanh thu và hiệu suất sử dụng tổng tài sản như sau:
ROA=

Lợi nhuận sau thuế

=(

Lợi nhuận sau thuế

)(

Doanh thu thuần

)

Tổng tài sản
Doanh thu thuần
Tổng tài sản
Hay: ROA = ROSHiệu suất sử dụng tổng tài sản (SOA)
Thông qua phương trình này thì nhà quản lý sẽ thấy r ng ROA phụ thuộc vào hai
yếu tố đó là lợi nhuận sau thuế trên một đồng doanh thu và bình quân một đồng tài sản
tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu. Thông qua phương trình này thì sẽ giúp cho
19


nhà quản lý có cách để tăng ROA đó là: tăng tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu có được
hoặc tăng hiệu suất sử dụng tổng tài sản, tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.
+ Phương trình thứ hai thể hiện mối quan hệ giữa doanh lợi vốn chủ sở hữu
(ROE) với doanh lợi doanh thu, hiệu suất sử dụng tài sản và hệ số nhân vốn chủ sở
hữu theo phương trình sau:
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
Tổng tài sản
)(
)(
)
Doanh thu thuần
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu
ROE = ROA Đòn bẩy tài chính (DFL)
ROE = ROS Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (SOA) Đòn bẩy tài chính

ROE = (

(DFL)
Dựa vào công thức trên, các nhà quản lý sẽ thấy được ba chỉ tiêu giúp tăng chỉ số
ROE như sau. Thứ nhất, tăng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu; muốn làm điều này thì
phải có cách để quản lý chi phí, tiết kiệm chi ph , tăng doanh thu và đạt tốc độ tăng lợi
nhuận lớn lơn tốc độ tăng doanh thu. Thứ hai, tăng tốc độ luân chuyển tổng tài sản,
muốn làm được điều này thì doanh nghiệp phải tìm cách tăng doanh thu, dự trữ tài sản
hợp lý. Thứ ba, giảm tỷ lệ vốn chủ sở hữu, có nghĩa là doanh nghiệp phải đảm bảo tốc
độ tăng vốn chủ sở hữu nhỏ hơn tốc độ tăng tài sản. Đồng thời thông qua phân tích chỉ
số Dupont thì cổ đông sẽ thấy là có lợi hơn khi giảm tỷ lệ vốn chủ sở hữu và ngược lại.
Phân tích Dupont cho tỉ suất sinh lời TSNH
Ta có:
Tỷ suất sinh lời TSNH=

Lợi nhuận sau thuế

=(

Tài sản ngắn hạn

Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần

)(

Doanh thu thuần
Tài sản ngắn hạn

Dựa vào công thức trên, ta có thể thấy tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn phụ
thuộc vào 2 yếu tố chính là TSNH và doanh thu thuần, 2 nhân tố này có mối quan hệ
đồng biến, nếu doanh thu thuần tăng đồng nghĩa với mức độ dự trữ tài sản ngắn hạn
cũng tăng theo và ngược lại, điều này sẽ dẫn đến tăng hệ số sinh lời của doanh nghiệp.
Nhờ phân tích này doanh nghiệp có thể cân b ng mối liên hệ giữa doanh thu, lợi nhuận
với TSNH trong doanh nghiệp sao cho đạt đến lợi ích tối đa mà doanh nghiệp mong
muốn.
1.3.4. Phân tích đòn bẩy
Đòn bẩy tài chính là một công cụ tài ch nh được nhiều doanh nghiệp trên thị
trường sử dụng nh m mục đ ch tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp. Khi doanh
nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính thì lãi vay là một khoản chi phí cố định, do đó bất kỳ
sự thay đổi nào của lợi nhuận trước thuế và lãi vay cũng ảnh hưởng đến tỉ suất lợi

20

Thang Long University Library

)


nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) hoặc thu nhập trên một cổ phần (EPS) đối với các
công ty cổ phần.
Để đánh giá ảnh hưởng của đòn bẩy tài ch nh đến ROE và EPS, người ta dùng
thước đo gọi là mức độ tác động của đòn bẩy tài ch nh hay đòn bẩy tài chính (Degree
of Financial Leverage – DFL) và độ bẩy của đòn bẩy hoạt động (Degree of Operating
Leverage – DOL)
Phân tích điểm hòa vốn:
Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó tổng doanh thu b ng với tổng chi phí. Hay nói
cách khác tại điểm hòa vốn doanh nghiệp bắt đầu thu được lợi nhuận.
Mặc dù điểm hòa vốn không phải là mục tiêu hoạt động mà doanh nghiệp hướng
tới nhưng việc phân t ch điểm hòa vốn sẽ chỉ ra các giải pháp cần thiết giúp doanh
nghiệp không bị thua lỗ, b ng phân t ch điểm hòa vốn sẽ chỉ ra doanh số bán tối thiểu
mà doanh nghiệp cần đạt được.
Ngoài ra phân t ch điểm hòa vốn còn cung cấp thông tin liên quan đến cách ứng
xử với các loại chi phí tại những mức tiêu thụ khác nhau. Giúp doanh nghiệp đưa ra
các kế hoạch kinh doanh trong ngắn hạn.
Công thức tính điểm hòa vốn:
Q =

FC
PO – VC

Trong đó:
Q: Sản lượng hòa vốn
FC: Chi phí cố định
VC: Chi phí biến đổi trên mỗi đơn vị sản phẩm
PO: Giá bán sản phẩm
1.3.4.1. Phân tích đòn bẩy hoạt động
Đòn bẩy hoạt động hay còn gọi là đòn bẩy kinh doanh được sủ dụng với mục
đ ch nh m sử dụng các tài sản có chi phí cố định thấp để tăng lợi nhuận trước lãi vay
và thuế hoặc tỷ suất sinh lời của tài sản.
Mức độ sử dụng đòn bẩy hoạt động của doanh nghiệp được thể hiện ở tỷ trọng
của chi phí cố định trong tổng chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Nếu như doanh nghiệp có tỷ trọng chi phí cố định ở mức cao có nghĩa doanh
nghiệp đang có đòn bẩy hoạt động lớn và ngược lại. Như vậy, nếu doanh nghiệp có
đòn bẩy hoạt động cao thì chỉ cần một sự thay đổi nhỏ về doanh thu cũng tạo ra sự
thay đổi của lợi nhuận trước thuế và lãi vay ở mức độ lớn hơn.
21


Độ bẩy của đòn bẩy hoạt động (DOL)
Để đo lường mức độ tác động của đòn bẩy hoạt động tới tình hình tài chính của
doanh nghiệp, ta sử dụng chỉ tiêu độ bẩy của đòn bẩy hoạt động đo lường mức độ thay
đổi lợi nhuận trước thuế và lãi vay do sự thay đổi của doanh thu bán hàng, độ bẩy có
thể thay đổi tại những mức sản lượng (hoặc doanh thu) khác nhau.
DOL =

EBIT + FC
EBIT

Hoặc:
DOL =

Q(P-V)
Q(P-V) - F

Trong đó:
Q: Sản lượng tiêu thụ
P: Giá bán
V: Chi phí biến đổi
F: Chi phí cố định
Độ bẩy hoạt động cho ta thấy sự tác động của việc doanh thu thay đổi đến lợi
nhuận trước thuế và lãi vay. Nắm được độ bẩy hoạt động sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra
được các chính sách doanh thu và chi phí sao cho hợp lý và hiệu quả nhất. Nếu lợi
nhuận di chuyển càng xa điểm hòa vốn thì lợi nhuận hoạt động hoặc lỗ sẽ càng lớn,
ngược lại, độ bẩy hoạt động (DOL) càng nhỏ. Kiểm soát được độ bẩy hoạt động sẽ làm
giảm thiểu tối đa rủi ro khi doanh nghiệp có sự biến động về doanh thu và chi phí sản
xuất.
1.3.4.2. Phân tích đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy tài chính là khái niệm để chỉ sự kết hợp giữa vốn chủ sở hữu và nợ phải
trả trong doanh nghiệp. Đòn bẩy tài chính sẽ rất lớn trong những doanh nghiệp có các
khoản nợ phải trả cao hơn vốn chủ sở hữu và ngược lại.
Đòn bẩy tài chính vừa là công cụ để thúc đẩy lợi nhuận sau thuế trên một đồng
vốn chủ sở hữu, vừa là công cụ kìm hãm sự gia tăng đó. Điều này phụ thuộc vào cơ
cấu tài chính của doanh nghiệp.
Do lãi vay không đổi trong khi sản lượng thay đổi, nên đòn bẩy tài chính sẽ rất
lớn trong những doanh nghiệp có các khoản nợ phải trả cao. Những doanh nghiệp có
tỷ số nợ b ng 0 sẽ không có đòn bẩy tài ch nh. Như vậy trọng tâm của đòn bẩy tài
chính là tỷ số nợ. hi đòn bẩy tài chính ở mức cao thì chỉ cần một thay đổi nhỏ của lợi
nhuận trước thuế và lãi vay cững sẽ tác động lớn đến lợi nhuận sai thuế trên vốn chủ
sở hữu.
22

Thang Long University Library


Độ bẩy của đòn bẩy tài chính (DFL)
Để đo lường sức ảnh hưởng của đòn bẩy tài ch nh người ta dùng khái niệm độ
bẩy tài chính (DFL), giúp chúng ta đánh giá ch nh xác hơn về đòn bẩy tài ch nh. Độ
bẩy tài chính là một khái niệm mang t nh định lượng dùng để đo lường mức độ biến
động của thu nhập trên cổ phiếu thường (EPS) khi thu nhập trước thuế và lãi vay thay
đổi (EBIT). Ngoài ra độ bẩy tài chính còn thể hiện khả năng khuếch đại thu nhập trên
cổ phiếu thường khi EBIT thay đổi.
DFL =

% Thay đổi của EPS
% Thay đổi của EBIT

Hoặc:
DFL=

EBIT
EBIT-I

=

(P-V)QO - F
(P-V)QO - F - I

1.3.4.3. Phân tích đòn bẩy tồng hợp
Đòn bẩy hoạt động hoạt động phản ánh mối quan hệ giữa chi phí cố định và chi
phí biến đổi , nhưng đòng bẩy hoạt động chỉ tác động đến lợi nhuận trước thuế và lãi
vay bới tỷ số nợ không ảnh hưởng tới độ lớn của đòn bẩy hoạt động
Ngược với đòn bẩy hoạt động, đòn bẩy tài chính chỉ phụ thuộc vào hệ số nợ
không phụ thuộc vào kết cấu chi phí cố đinh và chi ph biến đổi của doanh nghiệp. Do
đó đòn bẩy tài ch nh tác động tới lợi nhuận sau thuế và lãi vay. Vì vậy khi ảnh hưởng
của đòn bẩy hoạt động chấm dứt thì đòn bẩy tài chính sẽ thay thế nh m khuếch đại
doanh lợi vốn chủ sở hữu khi doanh thu thay đổi. Do đó, ta có thể sử dụng kết hợp đờn
bẩy hoạt động và đòn bẩy tài ch nh thành đòn bẩy tổng hợp (DTL).
Công thức tính đòn bẩy tổng hợp (DLT)
DTL = DOL  DFL
1.3.5. Phân tích SWOT
Mô hình phân tích SWOT là một công cụ hữu dụng được sử dụng nh m hiểu rõ
Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities) và Nguy cơ
(Threats) trong một dự án hoặc tổ chức kinh doanh được Albert Humphrey phát triển
vào những năm 1960 – 1970 và là kết quả của một dự án nghiên cứu do đại học
Stanford của Mỹ thực hiện. Thông qua phân tích SWOT, doanh nghiệp sẽ nhìn rõ mục
tiêu của mình cũng như các yếu tố trong và ngoài tổ chức có thể ảnh hưởng tích cực
hoặc tiêu cực tới mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Trong quá trình xây dựng kế hoạch
chiến lược, phân t ch SWOT đóng vai trò là một công cụ căn bản nhất, hiệu quả cao
giúp bạn có cái nhìn tổng thể không chỉ về chính doanh nghiệp mà còn những yếu tố
luôn ảnh hưởng và quyết định tới sự thành công của doanh nghiệp.
23


Điểm mạnh ( Strengths): Là những thế mạnh bên trong doanh nghiệp, mang
tính tích cực và giúp ích cho việc đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, là
lợi thế của doanh nghiệp, là điểm mạnh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.
Điểm yếu ( Weaknesses): Là những vấn đề, những tác nhân, những hạn chế, yêu
kém bên trong còn tồn trong doanh nghiệp, những khó khăn gây cản trở mục tiêu đề ra
của doanh nghiệp.
Cơ hội ( Opportunities): Là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp như: thị
trường kinh doanh, môi trường pháp luật, văn hóa, xã hội
có lợi trong việc đat đến mục tiêu của doanh nghiệp

mang t nh t nh cực hoặc

Nguy cơ ( Threats): Là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp mang tính tiêu
cực, cản trở việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Nắm được nguy cơ sẽ giúp
doanh nghiệp có những phương án, đường lối, biện pháp cụ thể để có thể tránh được
những các nguy cơ cũng như rủi ro do các nguy cơ đó mang lại.
1.4. Các nhân tố ảnh hƣờng đến đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
Phân tích tài chính có ý nghĩa quan trọng với nhiều đối tượng khác nhau, ảnh
hưởng đến các quyết định khác nhau về đầu tư vốn, tài trợ, cấp vốn... Tuy nhiên, phân
tích tài chính chỉ thật sự phát huy tác dụng khi nó phản ánh một cách trung thực, chính
xác tình trạng tài chính của doanh nghiệp, vị thế của doanh nghiệp so với các doanh
nghiệp khác trong ngành. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc phân tích tài chính trong
doanh nghiệp được chia thành hai nhóm chính, nhân tố chủ quan và nhân tố khách
quan.
1.4.1. Nhân tố chủ quan
Quy mô của doanh nghiệp: Quy mô của doanh nghiệp biểu hiện qua quy mô về
tài sản, nguồn nhân lực hay vốn chủ sở hữu cũng là một trong những nhân tố ảnh
hưởng đến việc phân tích tài chính doanh nghiệp, các doanh nghiệp lớn hơn trên thị
trường thường có nhiều lợi thế hơn so với các doanh nghiệp nhỏ trong việc huy động
vốn, đảm bảo dòng tiền ổn định hơn giúp cho việc định hướng phân t ch được dễ dàng,
thuận lợi hơn.
Chính sách tài chính của doanh nghiệp: Các chính sách tài chính trong doanh
nghiệp về quyết định đầu tư, nguồn vốn, phân chia lợi nhuận, chi trả cho người lao
động
góp phần đảm bảo hoạt động tài chính một cách trơn chu trong doanh nghiệp,
giúp nhà phân tích có thể nhìn nhận r ràng hơn về tình hình doanh nghiệp và đưa ra
quyết định tài chính phù hợp theo đúng định hướng phát triển của doanh nghiệp đề ra.

24

Thang Long University Library


1.4.2. Nhân tố khách quan
Nền kinh tế: Tài chính doanh nghiệp n m trong tổng thể nền tài chính. Do vậy,
bất kỳ biến động nhỏ nào của các thành phần trong nền kinh tế hoặc lĩnh vực kinh
doanh của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng ít nhiều đến doanh nghiệp.Nền kinh tế có thể
tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc xâm nhập mở rộng thị trường, ngành hàng này
nhưng lại hạn chế sự phát triển cuả ngành hàng khác. Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng
đến sức mua, sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng hay xu hướng phát triển của các ngành
hàng như: Hoạt động ngoại thương, lạm phát, sự thay đổi của cơ cấu kinh tế, tốc độ
tăng trưởng kinh tế
Các chính sách vĩ mô của nhà nước: Những quy định chung của Nhà nước như
các khoản nộp thuế, các khoản nộp Nhà nước hay các quy định về hạch toán kế toán,
cách thức lập báo cáo tài ch nh hoăc các ch nh sách tài khóa,

Sự thay đổi của hệ

thống pháp lý này có thể kéo theo sự thay đổi của các số liệu sử dụng phân tích.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×