Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CP CÔNG TY CP ĐẠI SIÊU THỊ MÊ LINH PLAZA

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH
1.1. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh

1.1.1. Khái niệm về hoạt động sản xuất kinh doanh
Hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ luôn gắn liền với cuộc sống
của con người, công việc sản xuất thuận lợi khi các sản phẩm tạo ra được thị trường
chấp nhận tức là đồng ý sử dụng sản phẩm đó. Để được như vậy thì các chủ thể tiến
hành sản xuất phải có khả năng kinh doanh. Nếu loại bỏ các phần khác nhau nói về
phương tiện, phương thức, kết quả cụ thể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu
kinh doanh là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh
trên thị trường.
Hoạt động kinh doanh có một số đặc điểm ví dụ như chủ thể thực hiện hay còn
gọi là chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp. Kinh doanh
phải gắn với thị trường, các chủ thể kinh doanh có mối quan hệ mật thiết với nhau, đó
là quan hệ với các bạn hàng, với chủ thể cung cấp đầu vào, với khách hàng, với đối thủ
cạnh tranh, với Nhà nước. Các mối quan hệ này giúp cho các chủ thể kinh doanh duy
trì hoạt động kinh doanh đưa doanh nghiệp của mình này càng phát triển. Kinh doanh
phải có sự vận động của đồng vốn: Vốn là yếu tố quyết định cho công việc kinh
doanh, không có vốn thì không thể có hoạt động kinh doanh. Chủ thể kinh doanh sử
dụng vốn mua nguyên liệu, thiết bị sản xuất, thuê lao động... để tạo ra sản phẩm kinh

doanh nhằm đạt tới mục tiêu cuối cùng cũng là mục tiêu chủ yếu của hoạt động kinh
doanh là lợi nhuận.

1.1.2. Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trong cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta, mục tiêu lâu dài bao trùm của các
doanh nghiệp là kinh doanh có hiệu quả và tối đa hoá lợi nhuận. Môi trường kinh
doanh luôn biến đổi đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh thích
hợp. Công việc kinh doanh là một nghệ thuật đòi hỏi sự tính toán nhanh nhạy, biết
nhìn nhận vấn đề ở tầm chiến lược. Hiệu quả hoạt động SXKD luôn gắn liền với hoạt
động kinh doanh, có thể xem xét nó trên nhiều góc độ. Để hiểu được khái niệm hiệu
quả hoạt động SXKD cần xét đến hiệu quả kinh tế của một hiện tượng. “Hiệu quả kinh
tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình
độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu
xác định. Nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi
phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế
đó”[1,trang 408].
1

Thang Long University Library


Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế của một hiện tượng như trên ta có thể hiểu hiệu
quả hoạt động SXKD là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực
để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và
những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng
lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của
doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu
của thị trường.

1.1.3. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả hoạt động SXKD là công cụ quản trị doanh nghiệp: “Để tiến hành bất
kỳ hoạt động SXKD nào con người cũng cần phải kết hợp yếu tố con người và yếu tố
vật chất nhằm thực hiện công việc phù hợp với ý đồ trong chiến lược và kế hoạch
SXKD của mình trên cơ sở nguồn lực sẵn có. Để thực hiện điều đó bộ phận quản trị
doanh nghiệp sử dụng rất nhiều công cụ trong đó có công cụ hiệu quả hoạt động
SXKD. Việc xem xét và tính toán hiệu quả hoạt động SXKD không những chỉ cho biết
việc sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị tìm ra các nhân
tố để đưa ra những các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và
giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả. Bản chất của hiệu quả hoạt động
SXKD là phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào, do đó xét trên phương

diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu quả hoạt động SXKD đóng vai trò rất quan
trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu
nhất để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Với vai trò là phương tiện đánh giá và
phân tích kinh tế, hiệu quả hoạt động SXKD không chỉ được sử dụng ở mức độ tổng
hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng đầu vào ở toàn bộ doanh nghiệp mà còn đánh giá
được trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như
đánh giá được từng bộ phận của doanh nghiệp.”[1,trang 412-413]
Mọi nguồn tài nguyên trên trái đất đều là hữu hạn và ngày càng cạn kiệt, khan
hiếm do hoạt động khai thác, sử dụng hầu như không có kế hoạch của con người.
Trong khi đó mật độ dân số của từng vùng, từng quốc gia ngày càng tăng và nhu cầu
sử dụng sản phẩm hàng hoá dịch vụ là phạm trù không có giới hạn - càng nhiều, càng
đa dạng, càng chất lượng càng tốt. Sự khan hiếm đòi hỏi con người phải có sự lựa
chọn kinh tế, nhưng đó mới chỉ là điều kiện cần.Khi đó con người phát triển kinh tế
theo chiều rộng: tăng trưởng kết quả sản xuất trên cơ sở gia tăng các yếu tố sản xuất.
Điều kiện đủ là cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng có nhiều
phương pháp khác nhau để tạo ra sản phẩm dịch vụ, cho phép cùng những nguồn lực
đầu vào nhất định người ta có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau, sự phát
triển kinh tế theo chiều dọc nhường chỗ cho sự phát triển kinh tế theo chiều sâu: sự
2


tăng trưởng kết quả kinh tế của sản xuất chủ yếu nhờ vào việc cải tiến các yếu tố sản
xuất về mặt chất lượng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ mới, hoàn thiện
công tác quản trị và cơ cấu kinh tế. Nói một cách khái quát là nhờ vào việc nâng cao
hiệu quả hoạt động SXKD.
Trong cơ chế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế sản xuất cái gì, sản
xuất cho ai và sản xuất như thế nào được quyết định theo quan hệ cung cầu, giá cả thị
trường, cạnh tranh và hợp tác, doanh nghiệp phải tự đưa ra chiến lược kinh doanh và
chịu trách nhiệm với kết quả kinh doanh của mình, lúc này mục tiêu lợi nhuận trở
thành mục tiêu quan trọng mang tính chất quyết định. Trong điều kiện khan hiếm các
nguồn lực thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD là tất yếu đối với mọi doanh
nghiệp. Mặt khác doanh nghiệp còn chịu sự cạnh tranh khốc liệt, để tồn tại và phát
triển được, phương châm của các doanh nghiệp luôn phải là không ngừng nâng cao
chất lượng và năng suất lao động, dẫn đến việc tăng năng suất là điều tất yếu.
1.2. Cơ sở lý thuyết đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh

1.2.1. Khái niệm
Hiệu quả phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào và để đạt được kết
quả đầu ra cao nhất với chi phí nguồn lực đầu vào thấp nhất.
Hiệu quả tuyệt đối được xác định bằng công thức:
A= K – C
Trong đó:

A: Hiệu quả sản xuất kinh doanh
K: Kết quả đầu ra
C: Nguồn lực đầu vào

Hiệu quả tương đối được xác định như sau: A= K/C
Ta có thể hiểu:
Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu DT, LN, GTTSL…
Nguồn lực đầu vào bao gồm:vốn, chi phí, lao động, thiết bị, máy móc….

1.2.2. Phân biệt hiệu quả và kết quả
Để hiểu rõ bản chất hiệu quả ta cần phân biệt hiệu quả và kết quả. Kết quả là số
tuyệt đối phản ánh quy mô đầu ra của hoạt động sản xuất kinh doanh như lợi nhuận,
tổng doanh thu, tổng sản phẩm làm ra, giá trị sản xuất. Hiệu quả là số tương đối phản
ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được kết quả cao nhất với chi phí nguồn lực
thấp nhất bỏ ra.

3

Thang Long University Library


Về bản chất, hiệu quả và kết quả khác nhau ở chỗ kết quả phản ánh mức độ, quy
mô, là cái mà doanh nghiệp đạt được sau mỗi kỳ kinh doanh, có kết quả mới tính được
hiệu quả, đó là sự so sánh giữa kết quả là khoản thu về so với khoản bỏ ra là chính các
nguồn lực đầu vào. Như vậy, dùng kết quả để tính hiệu quả kinh doanh cho từng kỳ.
Hiệu quả và kết quả có mối quan hệ mật thiết với nhau nhưng lại có khái niệm khác
nhau. Có thể nói, kết quả là mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh, còn hiệu quả
là phương tiện để đạt được mục tiêu đó.

1.2.3. Phân loại hiệu quả
1.2.3.1. Hiệu quả về mặt kinh tế
Hiệu quả về mặt kinh tế phản ánh trình đồ lợi dụng các nguồn lực để đạt được
các mục tiêu kinh tế ở một thời kỳ nào đó. Nếu đứng trên phạm vi từng yếu tố riêng lẻ
thì chúng ta có phạm trù hiệu quả kinh tế, và xem xết vấn đề hiệu quả trong phạm vi
các doanh nghiệp thì hiệu quả kinh tế chính là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiệu quả có thể hiểu là hệ số giữa kết quả thu về với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả
đó, và nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực tham gia vào quá trình kinh doanh.
Tóm lại, hiệu quả kinh tế phản ánh đồng thời các mặt của quá trình sản xuất kinh
doanh như: kết quả kinh doanh, trình độ sản xuất, tổ chức sản xuất và quản lý, trình độ
sử dụng các yếu tố đầu vào…đồng thời nó yếu cầu doanh nghiệp phải phát triển theo
chiều sâu. Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và
là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong
từng thời kỳ. Sự phát triển tất yếu đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh
doanh, đây là mục tiêu cơ bản của mỗi doanh nghiệp.
1.2.3.2. Hiệu quả về mặt xã hội
Hiệu quả xã hội là phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất nhằm đạt
được những mục tiêu xã hội nhất định. Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh
tế quốc dân thì hiệu quả xã hội và hiệu quả chính trị là chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng
của hoạt động kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu chung
của toàn bộ nền kinh tế xã hội. Bởi vậy hai loại hiệu quả này đều có vị trí quan trọng
trong việc phát triển của nền kinh tế xã hội ở các mặt: trình độ tổ chức sản xuất, trình
độ quản lý, trình độ lao động, mức sống bình quân.

1.2.4. Bản chất của hiệu quả
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động
kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc
thiết bị, nguyên vật liệu, tiền vốn) trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất
4


lao động xã hội và tiết kiệm lao động sản xuất. Đây là hai mặt có mối quan hệ mật
thiết của vấn đề hiệu quả kinh doanh. Chính việc khan hiếm các nguồn lực và sử dụng
cũng có tính chất cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra
yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực. Để đạt được mục
tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy
năng lực, hiệu lực của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí.
Về mặt định lượng: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội
biểu hiện trong mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Xết về tổng
lượng thì hiệu quả thu được khi kết quả kinh tế đạt được lớn hơn chi phí, sự chênh lệch
này càng lớn thì hiệu quả càng cao, sự chênh lệch này nhỏ thì hiệu quả đạt được nhỏ.
Về mặt định tính: Hiệu quả kinh tế thu được là mức độ phản ánh sự nỗ lực của
mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống kinh tế, phản ánh trình độ năng lực quản lý kinh tế
và giải quyết những yêu cầu và mục tiêu chính trị, xã hội.
Vì vậy, yêu cầu nâng cao kinh doanh là phải đạt được kết quả tối đa với chi phí
tối thiểu, hay phải đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định. Chi phí ở đây được hiểu
theo nghĩa rộng là chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời
phải bao gồm cả chi phí cơ hội.
1.3. Nội dung phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.3.1. Phân tích biến động tài sản-nguồn vốn
1.3.1.1. Tình hình biến động tài sản
Tài sản doanh nghiệp cơ bản công bố trên bảng cân đối kế toán thể hiện cơ sở vật
chất, tiềm lực kinh tế doanh nghiệp dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân tích
khái quát về tài sản hướng đến đánh giá cơ sở vật chất, tiềm lực kinh tế quá khứ, hiện
tại và những ảnh hưởng đến tương lai của doanh nghiệp. Xuất phát từ mục đích này,
phân tích khái quát về tình hình tài chính được thể hiện qua các vấn đề cơ bản sau:
đánh giá năng lực kinh tế thực sự của tài sản doanh nghiệp hiện tại và đánh giá tính
hợp lý của những chuyển biến về giá trị, cơ cấu tài sản.
Để nhận định được năng lực kinh tế thực sự của tài sản doanh nghiệp, trước tiên
người phân tích nên tiến hành thẩm định giá trị kinh tế thực của tài sản doanh nghiệp
nắm giữ, xem xét tình hình chuyển đổi của chúng trên thị trường. Cụ thể, việc xem xét
này thường được tiến hành theo nội dung cơ bản sau:
Xem xét và đánh giá các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp hiện
nay trên thị trường có giá trị kinh tế hay không, so với giá trị kế toán trên báo cáo kế
toán cao hay thấp hơn, khả năng chuyển đổi trên thị trường của các khoản đầu tư
chứng khoán ngắn hạn như thế nào. Một khi các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn
5

Thang Long University Library


doanh nghiệp đang nắm giữ có giá trị kinh tế cao hơn giá trị kế toán, khả năng chuyển
đổi trên thị trường diễn thuận lợi thì đây là một dấu hiệu tốt về tiềm lực kinh tế các
khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp, dấu hiệu này ít nhất cũng tác động
tích cực đến tiềm năng kinh tế của doanh nghiệp trong kỳ kế toán tiếp theo.
Xem xét các khoản phải thu trên bảng cân đối kế toán có thực hay không và tình
hình thu hồi có diễn ra thuận lợi hay không. Thông thường, khi xem xét năng lực kinh
tế của các khoản phải thu chúng ta nên quan tâm đến những dấu hiệu của các con nợ
về uy tín, về khả năng tài chính. Một khi, các dấu hiệu về con nợ đều lạc quan thì khả
năng kinh tế của các khoản nợ phải thu sẽ cao, mức sai lệch giữa giá trị thực với giá trị
kế toán nhỏ và nó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp
trong kỳ kế tiếp. Ngược lại, nếu những dấu hiệu về con nợ bi quan thì giá trị kinh tế
của nợ phải thu thường sẽ thấp, mức chênh lệch giữa giá trị thực với giá trị kế toán sẽ
tăng cao và đôi khi nó chỉ còn tồn tại trên danh mục tài sản doanh nghiệp chỉ là con số
kế toán.
Xem xét các mục hàng tồn kho của doanh nghiệp có tính hữu dụng trong sản xuất
kinh doanh và có giá trị kinh tế thực sự trên thị trường hay không.
Xem xét tài sản lưu động khác có khả năng thu hồi hay không, có ảnh hưởng đến
chi phí, thu nhập của doanh nghiệp tương lai hay không.
Xem xét tài sản cố định của doanh nghiệp hiện có nguyên giá bao nhiêu, hệ số
hao mòn như thế nào, giá trị hữu dụng và giá trị kinh tế của nó trên thị trường. Nếu
một doanh nghiệp có lực lượng tài sản cố định với tổng nguyên giá lớn, hệ số hao mòn
nhỏ, tính hữu dụng và giá trị kinh tế trên thị trường cao thì doanh nghiệp có một tiềm
lực kinh tế cao. Ngược lại, nếu một doanh nghiệp có lực lượng tài sản cố định với tổng
nguyên giá lớn, hệ số hao mòn cao, tính hữu dụng và giá trị kinh tế trên thị trường thấp
thì doanh nghiệp có một tiềm lực kinh tế kém. Ngày nay, những tiến bộ khoa học kỹ
thuật ngày càng phát triển nhanh chóng thì giá trị tài sản cố định trên sổ sách kế toán
có xu hướng giảm thấp so với giá thị trường nên đôi khi số liệu tài sản trên bảng cân
đối kế toán thường xa rời năng lực kinh tế thực sự của nó. Nhiều lúc người phân tích
dễ bị đánh lừa bởi số liệu khổng lồ về giá trị tài sản cố định trên bảng cân đối kế toán
nhưng đó chỉ là những tài sản không còn hữu dụng mà doanh nghiệp không thể thanh
lý, nhượng bán được. Ngược lại, những tài sản cố định như quyền sử dụng đất, tài sản
vô hình lại có hướng tăng cao nếu không xem xét rõ năng lực kinh tế tài sản cố định
rất dễ đánh giá thấp tiềm năng kinh tế của doanh nghiệp với số liệu trên bảng cân đối
kế toán.
Như đã đề cập, việc phân tích khái quát tình hình biến động tài sản còn thể hiện
thông qua việc phân tích sự biến động các khoản mục tài sản. Phân tích biến động các
6


khoản mục tài sản nhằm giúp người phân tích tìm hiểu sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng
của tài sản qua các thời kỳ như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu
tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việc nâng
cao năng lực kinh tế để phục vụ cho chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp hay không. Phân tích biến động các mục tài sản doanh nghiệp cung cấp
cho người phân tích nhìn về quá khứ sự biến động tài sản doanh nghiệp. Vì vậy, phân
tích biến động về tài sản của doanh nghiệp thường được tiến hành bằng phương pháp
so sánh theo chiều ngang (Phân tích theo chiều ngang so sánh các khoản mục cụ thể
của báo cáo tài chính qua một số chu kỳ kế toán) và theo chiều dọc (Phương pháp này
là so sánh một số khoản mục với một khoản mục nhất định trong cùng một kỳ kế
toán). Quá trình so sánh tiến hành quá nhiều thời kỳ thì sẽ giúp cho người phân tích có
được sự đánh giá đúng đắn hơn về xu hướng, bản chất của sự biến động.
1.3.1.2. Tình hình biến động nguồn vốn
Tương tự như phân tích khái quát về tình hình biến động tài sản, việc phân tích
tình hình biến động nguồn vốn được tiến hành thông qua các vấn đề cơ bản sau: Đánh
giá tính hợp lý, hợp pháp nguồn vốn của doanh nghiệp và Phân tích sự biến động các
khoản mục nguồn vốn.
Để nhận định được tính hợp lý và hợp pháp của nguồn vốn doanh nghiệp, trước
hết nên tiến hành xem xét những danh mục nguồn vốn trên báo cáo tài chính doanh
nghiệp hiện có tại một thời điểm có thực không, nó tài trợ cho những tài sản nào,
những nguồn vốn này doanh nghiệp được phép khai thác hợp pháp hay không. Cụ thể
việc xem xét này thường được tiến hành theo nội dung sau:
Xem xét và đánh giá các khoản nợ ngắn hạn doanh nghiệp đang khai thác như
vay ngắn hạn, phải trả người bán, người mua trả trước, thuế các khoản phải nộp nhà
nước có phù hợp với đặc điểm luân chuyển vốn trong thanh toán của doanh nghiệp hay
do bị động trong hoạt động sản xuất kinh doanh hình thành.
Xem xét và đánh giá các khoản nợ dài hạn doanh nghiệp đang khai thác như vay
dài hạn, nợ dài hạn khác có phù hợp với mục đích sử dụng dài hạn, phù hợp với đặc
điểm luân chuyển vốn trong thanh toán dài hạn của doanh nghiệp hay do bị động trong
sản xuất kinh doanh hình thành.
Xem xét và đánh giá các khoản nợ khác như chi phí phải trả, tài sản thừa chờ xử
lý, nhận ký quỹ ký cược dài hạn có thực sự tồn tại và phù hợp với mục đích sử dụng
vốn hay không. Đặc biệt là chi phí phải trả cần phải được xem xét trong mối quan hệ
với kế hoạch dài hạn của chi phí này, tính hiện thực của nó trong tương lai. Chi phí
phải trả có thể làm giảm lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp và lại làm tăng lợi nhuận
7

Thang Long University Library


trong tương lai. Vì vậy, nếu không phân tích rõ nguồn gốc thì dễ nhận xét sai lầm về
bức tranh tài chính của doanh nghiệp.
Xem xét và đánh giá vốn chủ sở hữu doanh nghiệp đang khai thác như nguồn
vốn kinh doanh, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, nguồn vốn đầu tư xây
dựng cơ bản... có phù hợp với loại hình doanh nghiệp hay không, phù hợp với quy
định tối thiểu về mức vốn cho từng doanh nghiệp, có phù hợp với mục đích trích lập
từng loại quỹ hay không.
Phân tích biến động các mục nguồn vốn nhằm giúp người phân tích tìm hiểu sự
thay đổi về giá trị, tỷ trọng của nguồn vốn qua các thời kỳ như thế nào, sự thay đổi này
bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh
doanh, có phù hợp với việc nâng cao năng lực tài chính, tính tự chủ tài chính, khả năng
tận dụng, khai thác nguồn vốn trên thị trường cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay
không và có phù hợp với chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
hay không. Phân tích biến động về nguồn vốn của doanh nghiệp thường được tiến
hành bằng phương pháp so sánh theo chiều ngang và theo chiều dọc tương tự như
phân tích tình hình biến động các khoản mục tài sản.

1.3.2. Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh
1.3.2.1. Doanh thu
Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm,
cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp. Trong
kinh tế học, doanh thu thường được xác định bằng giá bán nhân với sản lượng. Doanh
thu luôn là một con số lớn hơn hoặc bằng 0 nhưng trên thực tế nó luôn lớn hơn 0.
Doanh thu càng cao thì càng chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả.
1.3.2.2. Chi phí
Chi phí là các hao phí về nguồn lực để doanh nghiệp đạt được một hoặc những
mục tiêu cụ thể. Nói một cách khác, hay theo phân loại của kế toán tài chính thì đó là
số tiền phải trả để thực hiện các hoạt động kinh tế như sản xuất, giao dịch, v.v... nhằm
mua được các loại hàng hóa, dịch vụ cần thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh.
Trong kinh doanh chi phí luôn được các doanh nghiệp tối thiểu hóa tới mức thấp nhất
có thể để khả năng làm ăn có lãi đạt mức tối đa.
1.3.2.3. Lợi nhuận
Lợi nhuận, trong kinh tế học, là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu
tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi phí cơ hội; là
phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Lợi nhuận, trong kế toán, là phần
chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất. Sự khác nhau giữa định nghĩa ở hai lĩnh
8


vực là quan niệm về chi phí. Trong kế toán, người ta chỉ quan tâm đến các chi phí
bằng tiền, mà không kể chi phí cơ hội như trong kinh tế học. Trong kinh tế học, ở
trạng thái cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận sẽ bằng 0. Chính sự khác nhau này dẫn tới
hai khái niệm lợi nhuận: lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán.
Lợi nhuận kinh tế lớn hơn 0 khi mà chi phí bình quân nhỏ hơn chi phí biên, cũng
tức là nhỏ hơn giá bán. Lợi nhuận kinh tế sẽ bằng 0 khi mà chi phí bình quân bằng chi
phí biên, cũng tức là bằng giá bán. Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo (xét trong dài
hạn), lợi nhuận kinh tế thường bằng 0. Tuy nhiên, lợi nhuận kế toán có thể lớn hơn 0
ngay cả trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo.
Một doanh nghiệp trên thị trường muốn tối đa hoá lợi nhuận sẽ chọn mức sản
lượng mà tại đó doanh thu biên bằng chi phí biên.Tức là doanh thu có thêm khi bán
thêm một đơn vị sản phẩm bằng phần chi phí thêm vào khi làm thêm một đơn vị sản
phẩm. Trong cạnh cạnh tranh hoàn hảo, doanh thu biên bằng giá. Ngay cả khi giá thấp
hơn chi phí bình quân tối thiểu, lợi nhuận bị âm. Tại điểm doanh thu biên bằng chi phí
biên, doanh nghiệp lỗ ít nhất.
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Lợi nhuận của doanh nghiệp có thể được hình thành từ hoạt động kinh doanh, từ
hoạt động tài chính, từ các hoạt động kinh doanh khác.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS):
ROS =

LN
*100%
DT


Tỷ số này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu. Tỷ số
này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi; tỷ số càng lớn nghĩa là lãi
càng lớn. Tỷ số mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ.
Tuy nhiên, tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Vì thế,
khi theo dõi tình hình sinh lợi của công ty, người ta so sánh tỷ số này của công ty với
tỷ số bình quân của toàn ngành mà công ty đó tham gia.

1.3.3. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản
1.3.3.1. Hiệu quả sử dụng tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản hay vòng quay tổng tài sản:
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản= Doanh thu thuần/ Tổng TS
Ý nghĩa: Cho biết 1đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu. Cao hơn mức
trung bình của ngành là tốt, thấp hơn chứng tỏ hiệu quả sử dụng tổng tài sản của DN
thấp.
9

Thang Long University Library


1.3.3.2. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn (TSNH)
Sức sinh lời của TSNH:
LNST
Sức sinh lời của TSNH

=
Bình quân TSNH

Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng TSNH có thể tạo ra được bao nhiều đồng LNST.
Hệsố này càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp càng cao.
Sức sản xuất của TSNH (Sô vòng quay của TSNH):
Sức sản xuất cuả
TSNH

Doanh thu trong kỳ
=
Bình quân TSNH

Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH, phản ánh số lần luân chuyển
TSNH trong kỳ SXKD, tức là 1 đồng TSNH tạo ra được bao nhiều đồng doanh thu. Số
vòng quay càng cao càng giúp doanh nghiệp thu lại được nhiều doanh thu hơn từ
TSLĐ.
Hệ số đảm nhiệm TSNH của doanh nghiệp:
Bình quân TSNH

Hệ số đảm nhiệm TSNH

=

của doanh nghiệp

Doanh thu trong kỳ

Hệ số đảm nhiệm phản ánh trong 1 đồng DT thì doanh nghiệp phải huy động bao
nhiều đồng TSNH. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng
cao.
Thời gian một vòng quay TSNH:
Thời gian một vòng quay
TSNH

360
=
Số vòng quay TSNH

Chỉ tiêu này cho biết số ngày để TSNH quay được một vòng. Thời gian này càng
ngắn thì hiệu quả sử dụng TSNH càng cao và ngược lại.
Số vòng quay HTK (Hệ số lƣu kho):
Số vòng quay HTK = GVHB Bình quân HTK
GVBH
Số vòng quay HTK

=
Bình quân hàng tồn kho
10


Để đánh giá tốc độ luân chuyển HTK, người ta thường sử dụng hệ số vòng quay
HTK, so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị HTK là tốt hay xấu. Hệ số
này càng cao càng cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho lớn. Doanh
nghiệp bán hàng nhanh và HTK không bị ứ đọng nhiều (có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít
rủi ro hơn nếu khoản mục HTK trong BCTC có xu hướng giảm qua các năm). Tuy
nhiên hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy tức là lượng hàng dự trữ trong kho
không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị
mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần.
Thời gian quay vòng HTK:
Thời gian quay vòng
HTK

360
=

Số vòng quay HTK

Thời gian quay vòng HTK cho biết 1 vòng quay của HTK mất bao nhiêu ngày,
hay còn gọi là số ngày HTK được lưu giữ. Chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ HTK vận
động nhanh, góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Vòng quay các khoản phải thu:
Hệ số vòng quay các
khoản phải thu

DTT
=

Bình quân các khoản phải thu

Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành
tiền mặt. Chỉ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ rằng tốc độ thu hồi
nợ của doanh nghiệp nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt
cao và ngược lại.
Thời gian bình quân thu hồi các khoản phải thu:
Thời gian thu nợ
trung bình

360
=

Số vòng quay các khoản phải thu

Chỉ tiêu này dùng để đo lường khả năng thu hồi vốn (khoản nợ do mua chịu, mua
trả chậm,...) của khách hàng. Đây là một chỉ số được tính bằng số ngày trung bình mà
một công ty cần để thu hồi lại tiền bán hàng sau khi đã bán được hàng. Nếu như kỳ thu
tiền bình quân ở mức thấp có nghĩa là công ty chỉ cần ít ngày để thu hồi được tiền
khách nợ. Nếu tỷ lệ này cao có nghĩa là công ty chủ yếu bán chịu cho khách hàng, thời
gian nợ dài hơn.

11

Thang Long University Library


Vòng quay các khoản phải trả:
DTT

Hệ số vòng quay các
khoản phải trả

=

Bình quân các khoản phải trả

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với nhà
cung cấp. Hệ số vòng quay các khoản phải trả năm nay nhỏ hơn năm trước chứng tỏ
doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn năm trước. Ngược lại, nếu hệ
số vòng quay các khoản phải trả năm nay lớn hơn năm trước chứng tỏ doanh nghiệp
chiếm dụng vốn và thanh toán nhanh hơn năm trước.
Nếu chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá nhỏ (các khoản phải trả lớn), sẽ
tiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh khoản. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý việc chiếm dụng
khoản vốn này có thể sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể
hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối với nhà cung cấp và chất lượng sản phẩm đối với
khách hàng.
Thời gian trả nợ:
Thời gian trả nợ
trung bình

360
=

Số vòng quay các khoản
phải trả

Chỉ số này thể hiện thời gian trả nợ trung bình của doanh nghiệp, nếu hệ số vòng
quay khoản phải trả càng thấp thì thời gian trả nợ càng dài,thể hiện doanh nghiệp có
thể vướng vào các khoản nợ khó trả, điều này đối với doanh nghiệp không hề tốt, uy
tín và mức độ tin cậy có thể bị sụt giảm.
1.3.3.3. Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn (TSDH)
Sức sinh lời của TSDH
LNST
Sức sinh lời của TSDH

=
TSDH

Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng giá trị TSDH bình quân sử dụng trong kỳ thì tạo
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Sức sinh lời càng cao càng hấp dẫn các nhà đầu tư
vì điều đó chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSDH của doanh nghiệp tốt.
Sức sản xuất của TSDH
Doanh thu
Sức sản xuất của TSDH

=
TSDH
12


Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng TSCĐ được sử dụng vào hoạt động SXKD thì tạo ra
được bao nhiêu đồng DTT. Nếu chỉ số này lớn hơn 1 nghĩa là doanh nghiệp có cách
thức sử dụng tài sản hiệu quả và ngược lại.
Suất hao phí của TSDH so với DTT
TSDH

Suất hao phí của TSDH so

=

với DTT

Doanh thu

Chỉ tiêu này phản ánh giá trị TSDH mà DN cần để tạo ra 1 đồng DTT. Nó cũng
được coi như căn cứ để xác định nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệp khi muốn đạt
doanh thu như mong muốn.
Suất hao phí của TSDH so với LNST:
TSDH

Suất hao phí của

=

TSDH so với LNST

LNST

Chỉ tiêu trên cho biết muốn có 1 đồng LNST thì doanh nghiệp cần bao nhiêu
đồng giá trị TSDH. Chỉ tiêu này càng thấp càng tốt, bên cạnh đó, nó còn là căn cứ để
xác định nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệp khi muốn đạt mức lợi nhuận như
mong muốn.
Sức sinh lời của TSCĐ:
Sức sinh lời của TSCĐ

LNST
=

Bình quân giá trị TSCĐ còn lại

Sức sinh lời của TSCĐ phản ánh LNST doanh nghiệp thu về trong kỳ từ 1 đồng
TSCĐ tham gia vào hoạt động SXKD. Chỉ tiêu này càng lớn càng chứng tỏ hiệu quả
sử dụng TSCĐ hiệu quả.
Sức sản xuất của TSCĐ:
Sức sản xuất của TSCĐ

Doanh thu
=

TSCĐ bình quân

Chỉ tiêu này thể hiện cứ 1 đồng giá trị TSCĐ đầu tư trong kỳ thì thu được bao
nhiêu đồng DTT. Sức sản xuất của TSCĐ càng cao chứng tỏ TSCĐ mà doanh nghiệp
đang vận dụng vào SXKD hoạt động càng có năng suất.

13

Thang Long University Library


1.3.4. Phân tích hiệu quả sử dụng nguồn vốn
1.3.4.1. Hiệu quả sử dụng trên tổng nguồn vốn
Vốn kinh doanh là một trong những yếu tố đầu vào rất quan trọng để đảm bảo
cho doanh nghiệp hoạt động và phát triển kinh doanh. Nếu thiếu vốn thì doanh nghiệp
có thể không thể hoạt động hoặc hoạt động kém đi, hiệu quả thấp, bên cạnh đó còn
không có diều kiện để mở rộng sản xuất, phát triển doanh nghiệp và nâng cao đời sống
cho người lao động,…
Hệ số sinh lời của vốn KD
Hệ số sinh lời của vốn KD = lợi nhuận trƣớc thuế và lãi suất / Vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng vốn kinh doanh thì đem lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận trước thuế và lãi. Nếu chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ khả năng sinh lời củ
vồn kinh doanh càng cao và ngược lại.
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng nguồn vốn
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng nguồn vốn=

LN
*100%
 vôn

Chỉ tiêu này cho biết với mỗi đồng vốn bỏ ra thì doanh nghiệp thu được bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất càng cao chứng tỏ việc sử dụng nguồn vốn là càng có
hiệu quả.
1.3.4.2. Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
Hệ số sinh lời của VCSH = Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này cho biết với mỗi đồng vốn chủ sở hữu thì đem lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận sau thuế cho công ty. Nếu chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ khả năng sinh lời
càng cao của vốn chủ sở hữu và ngược lại.

1.3.5. Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí
Chi phí là một chỉ tiêu bằng tiền của tất cả các chi phí trong doanh nghiệp bỏ ra
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nếu giảm chi phí sẽ làm tốc độ TSNH quay
nhanh hơn và biện pháp qua trọng để hạ giá sản phẩm.
-

Hệ số chi phí được xác định theo công thức:
Hệ số chi phí = Tổng doanh thu/ Tổng chi phí

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi phí cho hoạt động SXKD trong kì thu được
bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt vì nó thể hiện mỗi đồng chi
phí doanh nghiệp bỏ ra để SXKD đã mang lại hiệu quả tốt.
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí:
14


Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí =

LN
*100%
 CPSX & TTTK

Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí kinh doanh mà doanh nghiệp bỏ ra mang
lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất càng cao thì ta càng thấy được việc kiểm soát chi
phí đầu ra

1.3.6. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
Lao động là nhân tố rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, số lượng và chất lượng lao động là yếu tố tác động tới hiệu quả kinh
doanh. Hiệu quả sử dụng lao động biểu hiện ở năng suất lao động, mức sinh lời của lao
động hiệu suất tiền lương.
1.3.6.1. Năng suất lao động
Doanh thu trên một lao động (sức sản xuất của lao động hay năng suất lao động):
Doanh thu trên một lao động = Tổng doanh thu/tổng số lao động
Chỉ tiêu này cho thấy với mỗi một lao động, một năm tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu cho doanh nghiệp.
Sản lượng lao động trực tiếp = Năng suất LĐ x Tổng lao động trực tiếp
Sản lượng lao động gián tiếp = Năng suất LĐ x Tổng lao động gián tiếp
1.3.6.2. Mức sinh lời của lao động
Mức lợi nhuận trên một lao động = lợi nhuận sau thuế/tổng số lao động
Chỉ tiêu này biểu hiện trực tiếp kết quả sử dụng yếu tố lao động trong việc thực
hiện nghiệp vụ kinh doanh, nó phản ánh lợi nhuận của một lao động tạo ra trong một
đơn vị thời gian (1 năm, tháng, quý …)
1.4. Các yếu tố tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh

1.4.1. Yếu tố khách quan
1.4.1.1. Tình hình kinh tế
Môi trường kinh tế là một nhân tố bên ngoài tác động rất lớn đến hiệu quả SXKD
của doanh nghiệp. Tăng trưởng kinh tế quốc dân, chính sách kinh tế của Chính phủ,
tốc độ tăng trưởng, chất lượng của sự tăng trưởng hàng năm của nền kinh tế, tỷ lệ lạm
phát, thất nghiệp, cán cân thương mại...luôn là các nhân tố tác động trực tiếp đến các
quyết định cung cầu và từ đó tác động trực tiếp đến kết quả va hiệu quả hoạt động
SXKD của từng doanh nghiệp. Là tiền đề để Nhà nước xây dựng các chính sách kinh
tế vĩ mô như chính sách tài chính, các chính sách ưu đãi với các doanh nghiệp, chính
15

Thang Long University Library


sách ưu đãi các hoạt động đầu tư... ảnh hưởng rất cụ thể đến kế hoạch SXKD và kết
quả SXKD của mỗi doanh nghiệp.
Ngoài ra, tình hình kinh doanh hay sự xuất hiện thêm của các đối thủ cạnh tranh
cũng buộc doanh nghiệp cần quan tâm đến chiến lược kinh doanh của mình. Một môi
trường cạnh tranh lành mạnh sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp cùng phát triển, cùng
hướng tới mục tiêu hiệu quả SXKD của mình. Tạo điều kiện để các cơ quan quản lý
kinh tế nhà nước làm tốt công tác dự báo điều tiết đúng đắn các hoạt động và cú cỏc
chính sách mang lại hiệu quả kinh tế cho các doanh nghiệp.
1.4.1.2. Tình hình văn hóa – xã hội
Hình thức, thể chế đường lối chính trị của Đảng và Nhà nước quyết định các
chính sách, đường lối kinh tế chung, từ đó quyết định các lĩnh vực, loại hình hoạt động
SXKD của các doanh nghiệp. Môi trường chính trị ổn định sẽ có tác dụng thu hút các
hình thức đầu tư nước ngoài liên doanh, liên kết tạo thêm được nguồn vốn lớn cho
doanh nghiệp mở rộng hoạt động SXKD của mình. Ngược lại nếu môi trường chính trị
rối ren, thiếu ổn định thì không những hoạt động hợp tác SXKD với các doanh nghiệp
nước ngoài hầu như là không có mà ngay hoạt động SXKD của doanh nghiệp ở trong
nước cũng gặp nhiều bất ổn.
Môi trường văn hoá- xã hội bao gồm các nhân tố điều kiện xã hội, phong tục tập
quán, trình độ, lối sống của người dân... Đây là những yếu tố rất gần gũi và có ảnh
hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Doanh nghiệp
chỉ có thể duy trì và thu được lợi nhuận khi sản phẩm làm ra phù hợp với nhu cầu, thị
hiếu khách hàng, phù hợp với lối sống của người dân nơi tiến hành hoạt động sản xuất.
Mà những yếu tố này do các nhân tố thuộc môi trường văn hoá- xã hội quy định.
1.4.1.3. Đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh trong ngành gồm các doanh nghiệp hiện có mặt trong ngành
và các doanh nghiệp tiềm ẩn có khả năng tham gia vào ngành trong tương lai. Số
lượng các đối thủ, đặc biệt các đối thủ có quy mô lớn trong ngành càng nhiều thì mức
độ cạnh tranh trong ngành càng gay gắt. Cạnh tranh là quá trình đấu tranh giữa các
doanh nghiệp khác nhau nhằm đứng vững được trên thị trường và tăng lợi nhuận. Sự
cạnh tranh một mặt sẽ trừng phạt các doanh nghiệp có chi phí cao bằng các hình thức
như loại doanh nghiệp đó ra khỏi thị trường hoặc doanh nghiệp chỉ thu được lợi nhuận
thấp, mặt khác sẽ khuyến khích các doanh nghiệp có chi phí thấp thu được lợi nhuận
cao. Chính nguyên tắc trừng phạt và khuyến khích của cạnh tranh đã tạo áp lưc buộc
các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để tối đa hóa hiệu quả hoạt động bao gồm
công tác sử dụng tài sản vì đó là cơ sở cho sự tồn tại hay phá sản của doanh nghiệp
16


Phân tích các đối thủ cạnh tranh trong ngành nhằm nắm được các điểm mạnh và
yếu của đối thủ để từ đó xác định đối sách của mình nhằm tạo được thế đứng vững
mạnh trong môi trường ngành.
1.4.1.4. Môi trường chính trị - pháp lý
Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật,… Mọi quy định pháp
luật về kinh doanh đều tác động trực tiếp kết kết quả và hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Môi trường pháp lý đảm bảo tính bình đẳng của mọi loại hình doanh
nghiệp cùng hoạt động kinh doanh, cạnh tranh nhau một cách lành mạnh, mỗi doanh
nghiệp đều phải chú ý phát triển nội lực, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật và
khoa học quản trị tiên tiến nhằm phát triển kinh doanh của mình.
Các yếu tố thuộc môi trường chính trị - pháp luật chi phối mạnh mẽ đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Sự ổn định chính trị được coi là một tiền đề quan
trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Sự thay đổi của môi trường chính
trị có thể ảnh hưởng có lợi cho một nhóm doanh nghiệp này nhưng lại kìm hãm sự
phát triển của nhóm doanh nghiệp khác hoặc ngược lại. Mức độ hoàn thiện, sự thay
đổi và thực thi pháp luật trong nền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ
chức thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Tóm lại, môi trường chính trị - pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao
hiệu quả kinh doanh bằng cách tác động đến hoạt động của doanh nghiệp thông qua hệ
thống công cụ luật pháp, công cụ vĩ mô…
1.4.1.5. Khoa học – công nghệ
Yếu tố khoa học công nghệ và khoa học ứng dụng là lực lượng mang đầy tính
cấp thiết, có ảnh hưởng quan trọng và trực tiếp đến môi trường kinh doanh của doanh
nghiệp. Mọi công nghệ mới đều thay thế vị trí của công nghệ cũ. Bất kì ngành khoa
học công nghệ mới nào cũng gây ra rất nhiều hệ quả to lớn và lâu dài mà không phải
lúc nào cũng lường trước được. Mặt khác, sự gia tăng các quá trình đầu tư nghiên cứu
đạt được những tiến bộ kĩ thuật và công nghệ mới đã tạo ra khả năng làm biến đổi tận
gốc hàng hóa và quá trình sản xuất, tác động sâu sắc đến hai yếu tố cơ bản tạo nên khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường, đó là chất lượng sản phẩm và
giá bán sản phẩm.
Doanh nghiệp cần hiểu rõ những biến đổi đang diễn ra của các yếu tố khoa học
công nghệ. Phân tích yếu tố khoa học công nghệ giúp cho doanh nghiệp nhận thức
được các thay đổi về mặt công nghệ và khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa học công
nghệ đó vào doanh nghiệp của mình.

17

Thang Long University Library


1.4.2. Yếu tố chủ quan
1.4.2.1. Sản phẩm dịch vụ
Ngày nay chất lượng của sản phẩm trở thành một công cụ cạnh tranh quan trọng
của các doanh nghiệp trên thị trường, vì chất lượng của sản phẩm nó thoả mãn nhu cầu
của khách hàng về sản phẩm, chất lượng sản phẩm càng cao sẽ đáp ứng được nhu cầu
ngày càng tăng của người tiêu dùng tốt hơn. Chất lượng sản phẩm luôn luôn là yếu tố
sống còn của mỗi doanh nghiệp, khi chất lượng sản phẩm không đáp ứng được những
yêu cầu của khách hàng, lập tức khách hàng sẽ chuyển sang tiêu dùng các sản phẩm
khác cùng loại. Chất lượng của sản phẩm góp phần tạo nên uy tín danh tiếng của
doanh nghiệp trên thị trường. Những đặc tính mang hình thức bên ngoài của sản phẩm
như : Mẫu mã, bao bì, nhãn hiệu…trước đây không được coi trọng nhưng ngày nay nó
đã trở thành những yếu tố cạnh tranh quan trọng không thể thiếu được. Thực tế cho
thấy, khách hàng thường lựa chọn các sản phẩm theo trực giác, vì vậy những loại hàng
hoá có mẫu mã bao bì nhãn hiệu đẹp và gợi cảm…luôn giành được ưu thế hơn so với
các hàng hoá khác cùng loại. Các đặc tính của sản phẩm là nhân tố quan trọng quyết
định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp góp phần rất lớn tới việc tạo uy tín, đẩy
nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm làm cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
nên có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.4.2.2. Tổ chức bộ máy quản lý
Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, bộ máy quản trị doanh
nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp, bộ
máy quản trị doanh nghiệp phải đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau
Nhiệm vụ đầu tiên của bộ máy quản trị doanh nghiệp và xây dựng cho doanh
nghiệp một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp. Nếu xây dựng được một
chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp hợp lý (phù hợp với môi trường kinh
doanh, phù hợp với khả năng của doanh nghiệp) sẽ là cơ sở là định hướng tốt để doanh
nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Xây dựng các kế hoạch kinh doanh, các phương án kinh doanh và kế hoạch hoá
các hoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở chiến lược kinh doanh và phát triển doanh
nghiệp đã xây dựng.
Tổ chức thực hiện các kế hoạch, các phương án và các hoạt động sản xuất kinh
doanh đã đề ra.
Tổ chức kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh các quá trình trên. Với chức năng và
nhiệm vụ vô cùng quan trọng của bộ máy quản trị doanh nghiệp, ta có thể khẳng định
rằng chất lượng của bộ máy quản trị quyết định rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh
18


doanh của doanh nghiệp. Nếu bộ máy quản trị được tổ chức với cơ cấu phù hợp với
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gọn nhẹ linh hoạt, có sự phân chia
nhiệm vụ chức năng rõ ràng, có cơ chế phối hợp hành động hợp lý, với một đội ngũ
quản trị viên có năng lực và tinh thần trách nhiệm cao sẽ đảm bảo cho các hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Nếu bộ máy quản trị doanh
nghiệp được tổ chức hoạt động không hợp lý (quá cồng kềnh hoặc quá đơn giản), chức
năng nhiệm vụ chồng chéo và không rõ ràng hoặc là phải kiểm nhiệm quá nhiều, sự
phối hợp trong hoạt động không chặt chẽ, các quản trị viên thì thiếu năng lực và tinh
thần trách nhiệm sẽ dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không
cao.
1.4.2.3. Khả năng về tài chính
Doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh thì không những đảm bảo cho các hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục và ổn định mà còn giúp
cho doanh nghiệp có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ và áp dụng kỹ thuật tiên tiến
vào sản xuất nhằm làm giảm chi phí, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Ngược lại, nếu như khả năng về tài chính của doanh nghiệp yếu kém thì doanh nghiệp
không những không đảm bảo được các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp diễn ra bình thường mà còn không có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ, áp
dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất do đó không nâng cao được năng suất và chất
lượng sản phẩm. Khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín
của doanh nghiệp. Khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín
của doanh nghiệp, tới khả năng chủ động trong sản xuất kinh doanh tới tốc độ tiêu thụ
và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới mục tiêu tối thiểu hoá chi phí
băng cách chủ động khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu vào. Vì vậy tình
hình tài chính của doanh nghiệp tác động rất mạnh tới hiệu quả sản xuất kinh doanh
của chính doanh nghiệp đó.
1.4.2.4. Năng suất lao động trong doanh nghiệp
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, lực lượng lao động của doanh nghiệp có
thể sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới và đưa chúng vào sử dụng để tạo ra tiềm năng
lớn cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Cũng chính lực lượng lao động sáng tạo ra
những sản phẩm mới với kiểu dáng phù hợp với cầu của người tiêu dùng, làm cho sản
phẩm dịch vụ của doanh nghiệp có thể bán được tạo cơ sở nâng cao hiệu quả kinh
doanh. Lực lượng lao động tác động trực tiếp đến năng suất lao động, đến trình độ sử
dụng các nguồn lực khác (máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu …) nên tác động trực tiếp
đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

19

Thang Long University Library


Ngày nay sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế tri thức. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức là hàm lượng khoa học công
nghệ kết tinh trong sản phẩm (dịch vụ) rất cao. Đòi hỏi lực lượng lao động phải là lực
lượng có trình độ khoa học kỹ thuật cao, điều này khẳng định vai trò ngày càng quan
trọng của lực lượng lao động đối với việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
Công cụ lao động là phương tiện mà con người sử dụng để tác động vào đối
tượng lao động. Quá trình phát triển sản xuất luôn gắn liền với quá trình phát triển của
công cụ lao động, tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, chất lượng sản phẩm và hạ
giá thành. Như thế, cơ sở vật chất kỹ thuật là nhân tố hết sức quan trọng tạo ra tiềm
năng năng suất, chất lượng và tăng hiệu quả kinh doanh. Chất lượng hoạt động của
doanh nghiệp chịu tác động mạnh mẽ của trình độ kỹ thuật, tính đồng bộ của máy móc
thiết bị, chất lượng của công tác bảo dưỡng, sửa chữa máy móc.
1.4.2.5. Trình độ công nghệ
Cơ sở vật chất kỹ thuật trong doanh nghiệp là yếu tố vật chất hữu hình quan
trọng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm nền tảng quan
trọng để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh. Cơ sở vật chất đem lại sức
mạnh kinh doanh cho doanh nghiệp trên cơ sở sức sinh lời của tài sản. Cơ sở vật chất
dù chiếm tỷ trọng lớn hay nhỏ trong tổng tàu sản của doanh nghiệp thì nó vẫn có vai
trò quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinh doanh, nó thể hiện bộ mặt kinh doanh của
doanh nghiệp qua hệ thống nhà xưởng, kho tàng, cửa hàng, bến bãi…Cơ sở vật chất kỹ
thuật của doanh nghiệp càng được bố trí hợp lý bao nhiêu thì càng góp phần đem lại
hiệu quả cao bất nhiêu. Điều này thấy khá rõ nếu một doanh nghiệp có hệ thống nhà
xưởng, kho tàng, cửa hàng, bến bãi được bố trí hợp lý, nằm trong khu vực có mật độ
dân cư lớn, thu nhập về cầu về tiêu dùng của người dân cao…và thuận lợi về giao
thông sẽ đem lại cho doanh nghiệp một tài sản vô hình rất lớn đó là lợi thế kinh doanh
đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao. Trình độ kỹ thuật và
trình độ công nghệ sản xuất của doanh nghiệp ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng sản
phẩm, ảnh hưởng tới mức độ tiết kiệm hay tăng phí nguyên vật liệu do đó ảnh hưởng
đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có trình độ kỹ
thuật sản xuất còn có công nghệ sản xuất tiên tiến và hiện đại sẽ đảm bảo cho doanh
nghiệp sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm,
còn nếu trình độ kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp thấp kém hoặc công nghệ sản
xuất lạc hậu hay thiếu đồng bộ sẽ làm cho năng suất, chất lượng sản phẩm của doanh
nghiệp rất thấp, sử dụng lãng phí nguyên vật liệu.

20


CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
CÔNG TY CP CÔNG TY CP ĐẠI SIÊU THỊ MÊ LINH PLAZA
2.1. Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Đại siêu thị Mê Linh plaza

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
 Tên công ty bằng tiếng Việt

:CÔNG TY CP ĐẠI SIÊU THỊ MÊ LINH PLAZA

 Tên công ty bằng tiếng nước
ngoài

:MELINH PLAZA HYPERMARKET JOINT
STOCK COMPANY

 Tên công ty viết tắt

: MLP., JSC.

 Mã số doanh nghiệp

:0101981912

 Địa chỉ

:Km 8 đường cao tốc Thăng Long Nội Bài

 Email

: info@melinhplaza.biz

 Điện thoại

:(84-4) 3 88 68 808

 Fax

:(84-4) 3 88 68 818

Công ty cổ phần Đại siêu thị Mê Linh (Mê Linh plaza) thành lập vào 14/4/2006
là hệ thống trung tâm thương mại bao gồm: Trung tâm thương mại Mê Linh Nội Bài
plaza được khánh thành vào 11/12/2006 nằm trên km số 8, cao tốc Thăng Long Nội
Bài được xây dựng trên diện tích 14.000m2 mặt bằng (khoảng 10.000m2 diện tích
trưng bày) và Trung tâm thương mại Mê Linh plaza Hà Đông khai trương
17/10/2012được xây dựng trên khu đất rộng hơn 1,7 ha với tổng diện tích mặt sàn là
54.000 m2 nằm trên đường Tô Hiệu, Hà Cầu, Hà Đông, Hà Nội. Mê Linh plaza lúc
đầu là Đại Siêu thị Vật liệu xây dựng hoàn thiện và đồ dùng dụng cụ gia đình sau mở
rộng thêm Mê Linh plaza Hà Đông là trung tâm mua sắm và giải trí.
Trung tâm thương mại Mê Linh Nội Bài trưng bày hơn 40.000 mặt hàng với
nhiều chủng loại phong phú khác nhau: 30% hàng hóa được nhập trực tiếp từ các nhà
cung cấp Châu Âu; gần 20% từ các nhà sản xuất Trung Quốc; 50% các sản phẩm còn
lại được cung cấp bởi các nhà cung cấp và sản xuất tại Việt Nam. Đại Siêu thị Mê
Linh là nơi góp mặt của nhiều thương hiệu nổi tiếng với 13 ngành hàng như: Sản phẩm
đồ gia dụng và dụng cụ gia đình; Đồ trang trí nội thất và mỹ nghệ; Sản phẩm điện tử,
giải trí gia đình; Sản phẩm điện gia dụng; Đèn và thiết bị điện; Xe đạp, xe máy và phụ
tùng; Sản phẩm trang trí sân vườn và dụng cụ làm vườn; Thiết bị, đồ dùng văn phòng
và máy tính; Thiết bị vệ sinh và phòng tắm; Cửa, vách ngăn; Vật liệu ốp sàn; Dụng cụ
điện, dụng cụ cầm tay; Đồ kim khí; Dụng cụ thể thao, đồ chơi...
Trung tâm thương mại Mê Linh plaza Hà Đông bao gồm 5 tầng nổi và 1 tầng
hầm để xe. Nhiều thương hiệu lớn đã có mặt tại Melinh PLAZA Hà Đông như: Trung
21

Thang Long University Library


tâm bán sỉ Metro Cash & Carry, siêu thị điện máy Topcare, siêu thị nội thất Hoàn Mỹ,
trung tâm chiếu phim Lotte Cinema, Pizza Hut, KFC, BBQ, World Game và nhiều
thương hiệu nổi tiếng khác thuộc các lĩnh vực: thời trang, đồng hồ, túi xách, nội thất,
trang trí và hoàn thiện…Ngoài ra Công ty còn cho thuê mặt bằng tổ chức sự kiện, kinh
doanh.

2.1.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 2.1 Bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Đại siêu thị Mê Linh Plaza
Hội đồng quản
trị
Ban kiểm soát
Ban Giám đốc

Phòng
Hành
Chính Nhân Sự

Phòng Tài
Chính Kế Toán

Phòng
Kinh
Doanh Marketing

Phòng Kỹ
thuật

(Nguồn: Phòng Tài chính- Kế toán)
Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban như sau:
Hội đồng quản trị
Có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ
của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông như:
Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh
hằng năm của công ty;
Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại;
Quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới hạn theo
quy định của Luật này hoặc Điều lệ công ty;
Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty
quy định; quyết định mức lương và lợi ích khác của những người quản lý đó; cử người
đại diện theo uỷ quyền thực hiện quyền sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp ở công ty
khác, quyết định mức thù lao và lợi ích khác của những người đó;
22


Giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác trong
điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty;
Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty, quyết định thành lập
công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của
doanh nghiệp khác;
Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
Ban kiểm soát
Ban kiểm soát của công ty bao gồm 5 thành viên, trong đó có: 1 Trưởng Ban
kiểm soát, 2 thành viên Ban kiểm soát chuyên trách và 3 thành viên Ban kiểm soát
không chuyên trách. Quyền hạn và nhiệm vụ chính của Ban kiểm soát bao gồm:
Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản
lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập
báo cáo tài chính.Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính theo các
định kỳ của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị lên Đại
hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên.
Kiểm tra bất thường khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông. Sau đó phải
báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng quản trị và cổ
đông và nhóm cổ đông có yêu cầu.
Can thiệp vào hoạt động khác của công ty khi cần như: Kiến nghị Hội đồng quản
trị các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động
kinh doanh của công ty.Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc
vi phạm nghĩa vụ của người quản lý công ty phải thông báo ngay bằng văn bản với
Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có
giải pháp khắc phục hậu quả.
Ban Giám đốc
Ban giám đốc công ty bao gồm 01 tổng giám đốc và 04 phó tổng giám đốc. Tổng
giám đốc Công ty do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, chịu sự giám sát của Hội đồng quản
trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước Pháp luật về việc thực hiện
các quyền và nhiệm vụ được giao. Ban tổng giám đốc có nhiệm vụ:
Tổ chức điều hành, quản lý mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty theo
quyết định của HĐQT, Điều lệ Công ty và tuân thủ Pháp luật.
Xây dựng và trình HĐQT các quy chế quản lý điều hành nội bộ, kế hoạch sản
xuất kinh doanh, kế hoạch tài chính hàng năm và dài hạn của Công ty.
Đề nghị HĐQT quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với
Phó Giám đốc, Kế toán trưởng.
23

Thang Long University Library


Ký kết, thực hiện các hợp đồng theo quy định của Pháp luật.
Báo cáo HĐQT về tình hình hoạt động, kết quả sản xuất kinh doanh, chịu trách
nhiệm trước HĐQT và Pháp luật về những sai phạm gây tổn thất cho Công ty.
Thực hiện các nghị quyết của HĐQT, kế hoạch kinh doanh và kế hoạch đầu tư
của Công ty đã được HĐQT thông qua.
Phòng Hành chính – Nhân Sự
Phòng hành chính – nhân sự có nhiệm vụ nghiên cứu, soạn thảo các nội quy, quy
chế về tổ chức lao động trong nội bộ Công ty.
Giải quyết các thủ tục về việc hợp đồng lao động, tuyển dụng, điều động, bổ
nhiệm, miễn nhiệm, cho thôi việc đối với cán bộ công nhân. Phối hợp với Ban chấp
hành công đoàn, soạn thảo thỏa ước lao động tập thể hàng năm. Tham mưu cho Giám
đốc trong việc giải quyết chính sách, chế độ đối với người lao động theo quy định của
Bộ luật Lao động. Theo dõi, giải quyết các chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, tai nạn lao động, hưu trí, chế độ nghỉ việc do suy
giảm khả năng lao động, các chế độ chính sách khác có liên quan đến quyền lợi, nghĩa
vụ cho cán bộ, công nhân. Nghiên cứu, đề xuất các phương án cải tiến tổ chức quản lý,
sắp xếp cán bộ, công nhân cho phù hợp với tình hình phát triển sản xuất-kinh doanh.
Xây dựng phương án về quy hoạch đội ngũ cán bộ, lực lượng công nhân kỹ thuật của
doanh nghiệp, đề xuất việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Và cuối
cùng là lập kế hoạch, chương trình đào tạo hàng năm và phối hợp với các phòng ban
nghiệp vụ thực hiện.
Phòng Tài chính – Kế toán
Phòng tài chính kế toán chịu trách nhiệm trước ban tổng giám đốc và nhà nước
theo những quy định, điều lệ của kế toán Nhà nước. Trực tiếp làm công tác kế toán tài
chính theo đúng chế độ mà nhà nước quy định, hoạch định quá trình sản xuất kinh
doanh của Công ty, ghi chép tính toán và phản ánh chính xác, trung thực, kịp thời, đầy
đủ tình hình tài sản, lao động, tiền vốn và kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị.
Quản lý tài chính Công ty, tính toán trích nộp đầy đủ, đúng, kịp thời các khoản phải
nộp ngân sách nhà nước và trích lập các quỹ Công ty. Bảo quản an toàn hồ sơ tài liệu,
chứng từ, tiền mặt, séc,.. Giữ gìn bí mật tài liệu, sổ kế toán theo quy định của Công ty và
pháp luật Nhà nước.
Phòng kinh doanh - Marketing
Xây dựng chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh của Công ty trong từng giai
đoạn. Tham mưu xây dựng kế hoạch đầu tư và thực hiện lập các dự án đầu tư. Chủ trì
lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty trong từng tháng, quý, năm và kế hoạch
24


ngắn hạn, trung hạn, dài hạn theo yêu cầu của lãnh đạo Công ty. Thống kê, tổng hợp
tình hình thực hiện các công việc sản xuất kinh doanh của Công ty và các công tác
khác được phân công theo quy định. Và cuối cùng là phân tích đánh giá kết quả việc
thực hiện kế hoạch tháng, quý, năm.
Phòng Kỹ thuật
Tham mưu cho Giám đốc quản lý các lĩnh vực sau: công tác quản lý và giám sát
kỹ thuật, chất lượng; công tác quản lý vật tư, thiết bị; công tác quản lý cở sở vật chất
và bảo đảm an toàn cho khách hàng và nhân viên trong siêu thụ cũng như trong tổ hợp
khách sạn, trung tâm hội nghị và nhà kho của công ty; Phối hợp với các phòng, ban
chức năng để tham gia quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty; tham mưu
cho Lãnh đạo Công ty trong công tác kỹ thuật, công tác phòng chống lụt bão, bảo hộ
lao động, thi nâng bậc, giữ bậc, thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc giao.
Công tác vật tư và các công tác khác: lập kế hoạch vật tư, thiết bị, công cụ lao
động theo kế hoạch hàng năm, để chủ động đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho hoạt động
sản xuất của công ty; thực hiện việc quản lý vật tư của Công ty theo đúng quy chế, có
trách nhiệm kiểm tra tình hình sử dụng vật tư ở tất cả các bộ phận trong Công ty, đảm
bảo tiết kiệm và hiệu quả; thực hiện chế độ báo cáo, quyết toán vật tư, nguyên nhiên
liệu theo quy định của của công ty; ban hành các biểu mẫu, sổ sách phục vụ việc quản
lý vật tư; làm thường trực Hội đồng thẩm định giá của công ty; trực tiếp thực hiện
công tác đền bù giải phóng mặt bằng; thực hiện các nhiệm vụ khác về lĩnh vực kế
hoạch kỹ thuật theo sự phân cấp, giao quyền của Giám đốc.
2.2. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty CP Công ty CP đại
siêu thị Mê Linh plaza

2.2.1. Tình hình biến động tài sản-nguồn vốn của công ty giai đoạn 2012-2014
2.2.1.1. Tình hình biến động tài sản giai đoạn 2012-2014

25

Thang Long University Library


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×