Tải bản đầy đủ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QỦA CHO VAY NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG TECHCOMBANK PHÒNG GIAO DỊCH PHÙNG XÁ

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY
NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung
cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và
cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác
nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
Trong các hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thì cho vay là hoạt động chủ yếu
và mang lại nguồn thu nhập chính cho ngân hàng. Cho vay trong hoạt động của NHTM
được hiểu là giao dịch về tiền tệ giữa bên cho vay là ngân hàng và bên đi vay là các cá
nhân, tổ chức trong đó, bên cho vay chuyển giao tiền cho bên đi vay sử dụng trong một
khoảng thời gian nhất định, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả gốc và
lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Theo quyết định số 1627/2001/QĐ – NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc
NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng,
cho vay được hiểu như sau: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức
tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời
gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
1.1.2. Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Dựa theo mục đích sử dụng tiền vay

Dựa theo mục đích sử dụng tiền vay, hoạt động cho vay của ngân hàng thương
mại có 2 hình thức cho vay là cho vay tiêu dùng và cho vay kinh doanh:
Cho vay tiêu dùng:
Mục đích của loại cho vay này là người đi vay phải sử dụng tiền vay vào việc tiêu
dùng, mua sắm nhằm mục đích phục vụ lợi ích cá nhân. Khi thực hiện hình thức cho
vay này, cán bộ tín dụng đã phải tính đến nguồn tiền được dùng trả nợ Ngân hàng chính
là thu nhập cá nhân của người vay tiền. Hình thức cho vay này chỉ mới xuất hiện vào
đầu thế kỷ XX, khi nền kinh tế hàng hoá phát triển và những cuộc khủng hoảng kinh tế
xảy ra, khiến giới tư bản sản xuất đã phải bỏ đi bao nhiêu hàng hoá khi mà nhu cầu tiêu
dùng có nhưng không có cầu thực sự. Hình thức phổ biến nhất của loại hình này là cho
vay trả góp, một loại hình đã được áp dụng rất thành công ở các nước phát triển. Ngân
hàng có thể cho các công chức vay để họ mua sắm ô tô, xe máy, trả góp nhà.
1


Cho vay để kinh doanh:
Mục đích của loại cho vay này là ngân hàng cho các doanh nghiệp hoặc cá nhân
vay để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình, nhằm mở rộng sản xuất hay đáp ứng
một nhu cầu nào đó về tiền của doanh nghiệp hay cá nhân. Dựa vào đặc điểm của từng
ngành mà Ngân hàng sẽ thiết lập các điều kiện cho vay, phương thức cho vay, cách thức
trả nợ dựa trên nguồn thu tiền bán hàng của doanh nghiệp. Có thể phân chia loại hình
này theo tiêu thức cho vay doanh nghiệp sản xuất và cho vay thương mại hay có thể cho
vay theo các ngành nghề kinh tế: Cho vay ngành công nghiệp, ngành nông nghiệp, cho
vay ngành dịch vụ.
1.1.2.2 Dựa theo thời hạn cho vay
Dựa theo thời hạn cho vay thì hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại bao
gồm cho vay ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn:
Cho vay ngắn hạn:
Đây là khoản vay có thời hạn nhỏ hơn 1 năm. Hình thức cho vay này nhằm tài trợ
cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của nhà nước, doanh nghiệp,
hộ sản xuất. Cho vay ngắn hạn trong những trường hợp sau: Ngân hàng cho nhà nước
vay để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Hình thức phổ biến hiện nay là Ngân
hàng mua tín phiếu do kho bạc phát hành. Khả năng hoàn trả của nhà nước rất cao, song
cũng không loại trừ có những trường hợp Nhà nước mất khả năng chi trả khi đến hạn.
Ngân hàng cho vay đối với doanh nghiệp nhằm tài trợ nhu cầu vốn tăng thêm cho
sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp là khách hàng chiếm số lượng đông nhất của các
Ngân hàng thương mại. Phần lớn các khoản cho vay này có thế chấp hoặc cầm cố tài
sản. Các doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực phẩm, sản xuất hàng theo thời vụ là khách
hàng chủ yếu của Ngân hàng.
Ngân hàng cho vay đối với cá nhân để phục vụ mục đích tiêu dùng hoặc thực hiện

kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn hạn.
Cho vay trung và dài hạn:
Đây là những khoản vay có thời hạn từ năm trở lên. Doanh nghiệp có nhu cầu vay
trung và dài hạn để mua trang thiết bị, xây dựng, cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ với
sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, để tồn tại và phát triển, nhu cầu vốn
trung và dài hạn ngày càng cao.
Ngân hàng cho nhà nước vay trung và dài hạn để phục vụ mục đích đầu tư, phát
triển.
2

Thang Long University Library


Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định, nhằm thực hiện
dự án nhất định, có thể xin vay Ngân hàng. Một trong những yêu cầu cho vay của ngân
hàng là người vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư, cũng như
quá trình thực hiện dự án (sản xuất kinh doanh). Thẩm định dự án là điều kiện để Ngân
hàng quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng hoà trả của doanh nghiệp
1.1.2.3 Dựa theo hình thức đảm bảo của các khoản vay
Dựa theo hình thức đảm bảo của các khoản vay thì hoạt động cho vay của ngân
hàng thương mại có 2 hình thức cho vay là cho vay có tài sản đảm bảo và cho vay không
có tài sản đảm bảo.
Cho vay có tài sản đảm bảo:
Đây là những khoản cho vay mà bên cạnh việc cho khách hàng vay vốn, Ngân
hàng còn nắm giữ tài sản của người vay với mục đích xử lý tài sản đó để thu hồi vốn
vay khi người đi vay vi phạm hợp đồng tín dụng. Có hai hình thức bảo đảm: Cầm cố và
thế chấp. Sự khác biệt giữa hai hình thức bảo đảm này là quyền sử dụng tài sản bảo đảm
của khách hàng. Theo hình thức thế chấp, khách hàng vẫn được sử dụng tài sản đảm
bảo trong thời hạn của khoản vay còn hình thức cầm cố thì không.
Các khoản cho vay không có tài sản đảm bảo:
Là khoản cho vay mà Ngân hàng không nắm giữ tài sản của người đi vay để xử lý
nhằm thu hồi nợ mà thay vào đó là điều kiện ràng buộc khác khi ký hợp đồng tín dụng.
Những điều kiện này có thể là: người đi vay không được giao dịch với Ngân hàng nào
khác, hoạt động kinh doanh của người đi vay phải được Ngân hàng quản lý. Có như vậy
Ngân hàng mới quản lý được tình hình tài chính của người đi vay..
1.1.2.4 Theo tiêu thức đối tượng khách hàng
Theo tiêu thức đối tượng khách hàng thì hoạt động cho vay của ngân hàng thương
mại được phân chia thành:
Cho vay chính phủ:
Đây là hoạt động cho vay đối với Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi thường
xuyên và phục vụ cho các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia. NHTM cho chính
phủ vay thông qua việc mua: Trái phiếu chính phủ, Tín phiếu kho bạc..
Cho vay doanh nghiệp: Đây là hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp nhằm
đáp ứng nhu cầu về vốn kinh doanh. Cho vay đối với doanh nghiệp được thực hiện với
nhiều phương thức khác nhau nhằm đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu vốn của các doanh
nghiệp.
3


Cho vay cá nhân: Đây là hoạt động cho vay đối với khách hàng là các cá nhân
nhằm phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng, kinh doanh.
Cho vay các tổ chức tài chính khác như: Ngân hàng, công ty tài chính, quỹ tín
dụng…nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
1.2. Hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm về hoạt động cho vay ngắn hạn
Cho vay ngắn hạn là một hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại được phân
theo thời gian của khoản vay. Đó là những khoản vay có thời hạn ngắn, dưới 1 năm,
thường được dùng để đáp ứng nhu cầu thiếu vốn tạm thời như phục vụ cho thanh toán
hàng hoá, tài trợ, bổ sung vốn lưu động hay thanh toán ngoại thương và phục vụ nhu
cầu sinh hoạt.
1.2.2. Đặc điểm của cho vay ngắn hạn
Do nguồn vốn ngắn hạn dùng để cung cấp vốn cho chi tiêu, mua nguyên vật liệu,
trả lương, bổ sung vốn lưu động nên số vốn vay thường nhỏ, nguồn vốn được quay vòng
nhiều. Trong khi đó đối tượng sử dụng vốn từ nguồn trung và dài hạn thường là những
tài sản cố định có thời gian sử dung lâu dài vì vậy thời gian sử dụng vốn lâu, nguồn vốn
không được quay vòng nhiều.
Thời hạn thu hồi vốn nhanh:
Do nguồn vốn ngắn hạn thường được sử dụng để bù đắp những thiếu hụt trong
ngắn hạn, để đảm bảo cân bằng ngân quỹ, giúp doanh nghiệp đối phó với những chênh
lệch thu chi trong ngắn hạn... Thông thường những thiếu hụt này chỉ mang tính tạm thời
hay mang tính mùa vụ, sau đó khoản thiếu hụt này sẽ được bù đắp hoặc sẽ sớm thu lại
dưới hình thái tiền tệ vì vậy thời gian thu hồi vốn sẽ nhanh.
Rủi ro do tín dụng ngắn hạn mang lại thông thường không cao:
Do khoản vay chỉ cung cấp trong thời gian ngắn vì vậy ít chịu ảnh hưởng của sự
biến động không thể lường trước của nền kinh tế như các khoản tín dụng trung và dài
hạn. Ngoài ra, các khoản vay được cung cấp cho các đơn vị sản xuất kinh doanh theo
hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá, dựa trên tài sản bảo đảm, bảo lãnh... đồng thời
khoản vay thường đựơc tiến hành khi có nhu cầu cấp thiết về vốn ngắn hạn và chắc chắn
sẽ có khoản thu bù đắp trong tương lai vì vậy rủi ro mang đến thường thấp.
Lãi suất thấp:
Chính vì rủi ro mang lại của khoản vay thường không cao do đó lãi suất người đi
vay phải trả thông thường nhỏ hơn lãi suất khoản vay tín dụng trung và dài hạn tương
ứng.
4

Thang Long University Library


Hình thức cho vay phong phú:
Ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng các phương thức cho vay ngắn hạn, như:
cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay thấu chi, cho vay luân chuyển… Điều
này vừa để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng phân
tán rủi ro, tránh rủi ro phi hệ thống.
Đây là loại hình kinh doanh chủ yếu tại các ngân hàng thương mại:
Xuất phát từ đặc trưng của ngân hàng thương mại là ngân hàng kinh doanh tiền
gửi, mà trong đó chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn, nên để đảm bảo khả năng thanh khoản
của mình, các ngân hàng thương mại đã cho vay chủ yếu là ngắn hạn.
1.2.3. Vai trò của cho vay ngắn hạn
Cho vay ngắn hạn đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều rộng, thúc đẩy mở rộng
hoạt động sản xuất kinh doanh:
Đây là một trong những vai trò quan trọng nhất của cho vay ngắn hạn. Thông qua
việc cung cấp vốn để mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, mở rộng sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp, cho vay ngắn hạn góp phần giúp doanh nghiệp mở rộng
sản xuất. Ở nước ta các doanh nghiệp vừa và nhỏ là chủ yếu, chiếm trên 90% tổng số
các doanh nghiệp. Đặc điểm chủ yếu của loại hình doanh nghiệp này lại là sản xuất nhỏ,
nguồn vốn chủ sở hữu nhỏ, hoạt động kinh doanh lại gắn với địa phương và theo mùa
vụ. Chính vì vậy, nhu cầu vay vốn ngắn hạn của các doanh nghiệp này là khá lớn và
thường xuyên. Đảm bảo cung cấp vốn ngắn hạn cho các doanh nghiệp chính là giúp các
doanh nghiệp này mở rộng sản xuất từ đó có thêm nguồn vốn đầu tư vào kinh doanh dần
dần trở thành các doanh nghiệp với quy mô lớn, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế
cho đất nước.
Kích thích tính năng động, linh hoạt, tăng khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp:
Cho vay ngắn hạn là nguồn cung cấp vốn kịp thời cho các nhà kinh doanh trong
trường hợp họ gặp khó khăn về vốn tạm thời như: muốn mở rộng sản xuất vào mùa vụ,
cần trả tiền cho khách để giữ uy tín, trả lương cho công nhân... từ đó giúp doanh nghiệp
có thể đối phó với những khó khăn về vốn, giữ cân bằng thu chi, điều hoà vốn. Ngoài
ra vốn ngắn hạn chỉ cung cấp trong một thời gian ngắn do đó đòi hỏi doanh nghiệp
cần đẩy nhanh tiến độ sản xuất kinh doanh – kích thích tính năng động của các doanh
nghiệp.
Giúp tăng nhanh vòng quay của vốn:

5


Do cho vay ngắn hạn là khoản cho vay cung cấp trong thời gian ngắn vì vậy doanh
nghiệp cần thực hiện các biện pháp nhanh chóng thu hồi vốn để trả nợ ngân hàng qua
đó thúc đẩy gia tăng vòng quay vốn.
1.2.4. Các hình thức cho vay ngắn hạn
1.2.4.1 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
Cho vay kinh doanh
Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: Đây là hoạt động cho vay mà vốn vay được
sử dụng cho mục đích sản xuất, kinh doanh trong ngắn hạn với thời gian vay dưới 1
năm. Đối tượng khách hàng vay kinh doanh có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp.
Cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng: Đây là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng cho mục
đích tiêu dùng trong ngắn hạn với thời hạn vay dưới 1 năm. Đối tượng chủ yếu vay tiêu
dùng là các cá nhân.
1.2.4.2 Căn cứ vào phương pháp cho vay
Cho vay thấu chi
Là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép khách hàng được sử dụng vượt
quá số tiền mà họ đã ký thác ở ngân hàng trên tài khoản vãng lai với một số lượng và
thời hạn nhất định. Xuất phát từ việc nếu doanh nghiệp có số dư trên tài khoản tiền gửi
mới được quyền chi tiêu, nhưng do một lý do nào đó mà số dư trên tài khoản tiền gửi
không đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu. Trường hợp đó ngân hàng có thể xem xét chấp nhận
để khách hàng được quyền chi tiêu một số tiền vượt quá số hiện có trên tài khoản. Mục
đích của ngân hàng chỉ để giúp khách hàng giải quyết khó khăn tạm thời về tài chính.
Điều kiện đi vay của khách hàng:
+ Đơn vị có tình hình tài chính tốt
+ Nhu cầu chi tiêu đó thực sự là bức bách và không quá lớn như nhu cầu trả lương
cho cán bộ công nhân viên
+ Khách hàng cần chứng minh được là sẽ có nguồn thu để trả
Đặc điểm của cho vay thấu chi:
+ Giữa ngân hàng và khách hàng thoả thuận một hạn mức tín dụng để khách hàng
được sử dụng số dư nợ trên tài khoản vãng lai trong một thời hạn nhất định.
+ Khách hàng sử dụng vốn bằng cách phát hành séc mang số hiệu tài khoản vãng
lai hoặc bằng các công cụ thanh toán khác.
6

Thang Long University Library


+ Doanh số cho vay có thể lớn hơn hạn mức nếu trong quá trình sử dụng tiền trên
tài khoản khách hàng có tiền nộp vào bên có.
+ Hạn mức tín dụng mà ngân hàng và khách hàng đã thoả thuận với nhau chưa
phải là tiền ngân hàng cho vay mà chỉ khi nào khách hàng sử dụng (có xuất hiện dư nợ
của tài khoản vãng lai) mới được coi là ngân hàng cho vay và được tính tiền lãi trên số
dư nợ đó.
+ Vượt chi tài khoản là kỹ thuật cho vay mà số dư nợ thường xuyên biến động vì
thế khó thực hiện được đảm bảo tín dụng bằng hình thức bảo đảm đối vật.
Ưu nhược điểm của cho vay thấu chi:
Đối với khách hàng loại cho vay vượt chi là khoản tạo cho khách hàng những
thuận lợi đáng kể nhờ vào sự chủ động, linh hoạt khi sử dụng. Việc cho phép vượt chi
trên tài khoản vãng lai giúp cho việc cân đối ngân quỹ mà tránh phải đi xin vay nhiều
lần với thủ tục phức tạp trong một kỳ, khi mà ngay sau đó lại có những khoản thu được
chuyển vào tài khoản để giảm bớt việc phải trả lãi cho ngân hàng.
Với hình thức cho vay này, ngân hàng luôn luôn phải dự trữ vốn để sẵn sàng đáp
ứng nhu cầu của khách hàng khi họ còn hạn mức tín dụng, nhưng trên thực tế họ có thể
không sử dụng hoặc không sử dụng hết hạn mức tín dụng đó. Trong khi ấy, ngân hàng
không được tính lãi trên toàn bộ số tiền và thời hạn cho vay đã thoả thuận (để giải quyết
mâu thuẫn này các ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải trả một khoản phí cam
kết theo một tỷ lệ nhất định tính trên hạn mức tín dụng, không kể đến việc hạn mức tín
dụng đó được sử dụng như thế nào).
Mặt khác, tiền ngân hàng cho vay không nhằm mục đích cụ thể nào theo chỉ định
của ngân hàng mà thường do khách hàng tuỳ ý sử dụng. Các đảm bảo nếu có chỉ là yếu
tố phụ, ngân hàng khó có thể kiểm soát được việc sử dụng tiền vay. Vì vậy, sự rủi ro
của ngân hàng có thể nhiều hơn các nghiệp vụ tín dụng khác.
Cho vay theo hạn mức tín dụng
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn
mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì. Đó là số dư tính tại
thời điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn
và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Ngân hàng ước lượng các hạn mức tín dụng đối
với các doanh nghiệp căn cứ vào phương án sản xuất kinh doanh và nhu cầu vay vốn
của khách hàng, tỉ lệ cho vay tối đa trên tổng giá trị tài sản đảm bảo, khả năng nguồn
vốn của ngân hàng.
7


Trong kì, khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không được
vượt quá hạn mức tín dụng. Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn mức cuối kì.
Dư nợ trong kì có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên đến cuối kì, khách hàng phải trả nợ
để giảm bớt dư nợ cuối kì không được vượt quá hạn mức.
Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các
chứng từ chứng minh đã mua hàng hoá hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau khi kiểm
tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ giải ngân cho khách hàng.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường
xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trong nghiệp
vụ này ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ. Khi khách hàng có thu nhập, ngân
hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lí ngân quỹ cho khách hàng. Tuy nhiên do các
lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát được
hiệu quả của từng lần vay. Ngân hàng chỉ có thể phát hiện ra vấn đề khi khách hàng nộp
báo cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
Cho vay từng lần
Phương thức cho vay từng lần là phương thức cho vay mà ngân hàng căn cứ vào
từng kế hoạch, phương án kinh doanh, từng khâu hoặc từng loại vật tư cụ thể để cho
vay.
Phương thức cho vay từng lần được áp dụng khi cho vay để bổ sung nhu cầu vốn
lưu động thiếu hụt trong sản xuất, đối với những khách hàng sản xuất kinh doanh không
ổn định, nhu cầu vay trả không thường xuyên, có nhu cầu đề nghị vay vốn từng lần hoặc
những khách hàng không có tín nhiệm cao đối với ngân hàng trong quan hệ tín dụng
mà ngân hàng nhận thấy cần phải áp dụng cho vay từng lần để giám sát, kiểm tra, quản
lý việc sử dụng vốn vay chặt chẽ, an toàn.
Phương thức cho vay từng lần được áp dụng phổ biến trong cho vay ngắn hạn
cũng như cho vay trung dài hạn. Việc cho vay đối với từng khoản vay riêng biệt không
có sự liên hệ, phụ thuộc giữa các món vay của một khách hàng. Đặc trưng của hình thức
cho vay này là mỗi lần vay khách hàng phải ký kết một hợp đồng tín dụng riêng trong
đó có các nội dung như số tiền vay, lãi suất, thời hạn...Đặc điểm của phương thức cho
vay này là việc cho vay và thu nợ được phân định ranh giới một cách rõ ràng, dễ nhận
biết được lúc nào cho vay, lúc nào thu nợ. Việc cho vay và thu nợ được phân định ranh
giới một cách rõ ràng, dễ nhận biết được lúc nào cho vay, lúc nào thu nợ.
Ưu điểm của phương thức cho vay này là giúp cho ngân hàng mở rộng kinh doanh,
tìm kiếm thu nhập, phục vụ mọi đối tượng khách hàng, đồng thời đảm bảo an toàn vốn
8

Thang Long University Library


vay và tạo thế chủ động cho cả ngân hàng và khách hàng. Với mức phát tiền vay cụ thể,
hạn trả nợ cụ thể nên ngân hàng có thể tính toán được hiệu quả kinh tế của khoản cho
vay, từ đó có thể lên kế hoạch cho vay các khoản tiếp theo một cách hợp lí tránh ứ đọng
vốn và tăng hiệu quả sử dụng vốn. Mặt khác, việc tính toán thu nợ, thu lãi của khoản
cho vay được thực hiện đơn giản căn cứ vào số tiền cho vay, lãi suất cho vay và thời
hạn vay trên hợp đồng tín dụng.
Tuy nhiên, phương thức cho vay này còn có nhiều nhược điểm đối với cả ngân
hàng và khách hàng. Với khách hàng, đây là một hình thức vay phức tạp bởi thủ tục vay
rườm rà, mỗi lần muốn vay khách hàng phải lập hồ sơ vay vốn, tốn kém thời gian, công
sức gây khó khăn trong việc vay vốn làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của khách
hàng, thậm chí mất cơ hội trong kinh doanh nếu không có vốn kịp thời. Còn đối với
ngân hàng thì phải tiến hành theo dõi từng món vay tại các thời điểm khác nhau để thu
nợ gốc và lãi nên chi phí trong kinh doanh cao mà lợi nhuận tìm kiếm trên một lần vốn
đầu tư thấp. Hơn nữa, việc định kỳ hạn nợ đối với các món vay đôi khi còn mang tính
chủ quan của con người, đặc biệt là khi đối tượng cho vay là các thiết bị vật tư, hàng
hoá của các doanh nghiệp thương mại, cho nên nếu không phù hợp sẽ dẫn tới vòng quay
vốn lưu động của khách hàng lớn hơn vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng, dẫn tới
tình trạng ngân hàng bị khách hàng chiếm dụng vốn hoặc nếu khách hàng không trả nợ
đúng hạn sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong kế hoạch về nguồn vốn, do đó ngân
hàng phải kiểm soát chặt chẽ những khách hàng của mình trong việc sử dụng vốn vay
của ngân hàng.
Chiết khấu giấy tờ có giá
Chiết khấu giấy tờ có giá là nghiệp vụ mua lại giấy tờ có giá từ người thụ hưởng
trước khi đến hạn thanh toán. Chiết khấu là loại hình tín dụng gián tiếp, trong đó ngân
hàng sẽ trả trước cho các giấy tờ có giá khi chưa đến hạn với điều kiện người xin chiết
khấu phải chuyển nhượng quyền sở hữu giấy tờ có giá đó cho ngân hàng. Chiết khấu
giấy tờ có giá trong ngắn hạn là hình thức ngân hàng chiết khấu những loại giấy tờ có
giá có thời hạn dưới 12 tháng, bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu
và các giấy tờ ngắn hạn khác. Nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá giúp người xin chiết
khấu có thể chuyển đổi giấy tờ có giá thành tiền một cách nhanh nhất. Đối với Ngân
hàng, chiết khấu mang lại thu nhập cho ngân hàng, tăng dự trữ thứ cấp của ngân hàng.
1.2.4.3 Căn cứ vào loại đồng tiền cho vay
Cho vay nội tệ

9


Cho vay nội tệ là việc ngân hàng cho các cá nhân, tổ chức vay vốn bằng đồng tiện
nội tệ Việt Nam đồng. Đây là hình thức cho vay chủ yếu của ngân hàng, phục vụ đa
dạng các đối tượng cũng như mục đích vay vốn.
Cho vay ngoại tệ
Cho vay ngoại tệ là việc ngân hàng cho vay bằng các đồng tiền ngoại tệ, không
phải Việt Nam đồng. Đây là hình thức cho vay để phục vụ một số mục đích như:
Cho vay để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ khi khách
hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu sản xuất, kinh doanh để trả nợ vay.
Cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu để thanh
toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu xăng dầu khi khách hàng vay không có hoặc không
có đủ nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động sản xuất, kinh doanh để trả nợ vay.
Cho vay ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầu vốn ở trong nước nhằm thực hiện
phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam
mà khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để trả nợ vay.
Cho vay để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với các dự án, công trình quan trọng
quốc gia được Quốc hội, Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương
đầu tư và đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài.
1.2.4.4 Căn cứ vào bảo đảm tiền vay
Cho vay có Tài sản đảm bảo: Căn cứ vào giá trị Tài sản đảm bảo mà khách hàng
đưa ra và mức giá do ngân hàng xác định, ngân hàng đưa ra hạn mức cho vay đối với
khách hàng. Có hai hình thức bảo đảm: Cầm cố và thế chấp. Sự khác biệt giữa hai hình
thức bảo đảm này là quyền sử dụng tài sản bảo đảm của khách hàng. Theo hình thức
thế chấp, khách hàng vẫn được sử dụng tài sản đảm bảo trong thời hạn của khoản vay
còn hình thức cầm cố thì không.
Cho vay không có tài sản đảm bảo: Ngân hàng có thể cho khách hàng vay theo
hình thức Tín chấp, hoặc dựa vào uy tín của khách hàng, người bảo lãnh.
1.2.4.5 Căn cứ vào đối tượng cho vay
Cho vay các tổ chức tài chính khác như: Ngân hàng, công ty tài chính, qũy tín
dụng…nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong ngắn hạn.
Cho vay doanh nghiệp: Đây là hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp nhằm
đáp ứng nhu cầu về vốn kinh doanh. Cho vay đối với doanh nghiệp được thực hiện với
nhiều phương thức khác nhau nhằm đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu vốn của các doanh
nghiệp trong ngắn hạn.
10

Thang Long University Library


Cho vay cá nhân: Đây là hoạt động cho vay đối với khách hàng là các cá nhân
nhằm phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng, kinh doanh trong ngắn hạn.
1.2.5. Các nguyên tắc cho vay ngắn hạn
Khi cho vay vốn ngắn hạn, ngân hàng phải tuân thủ ba nguyên tắc:
Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích: Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn
vay đúng mục đích đã thoả thuận với ngân hàng, không được trái với các quy định của
pháp luật và của các ngân hàng cấp trên. Mục đích tài trợ được ghi trong hợp đồng tín
dụng bảo đảm cho ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái pháp luật và việc tài
trợ đó phải phù hợp với cương lĩnh của ngân hàng. Khi đi vay vốn kinh doanh ngắn hạn,
doanh nghiệp có thể dùng vốn đó để đầu tư dài hạn vào mục đích khác mang nhiều rủi
ro. Do đó ngân hàng cần phải có những quy định ràng buộc doanh nghiệp phải dùng
vốn vay đúng mục đích.
Vốn vay phải được đảm bảo bằng giá trị của hàng hoá có giá trị tối thiểu là tương
đương với khoản vay: Đối với các khoản vay bằng tài sản thế chấp thì khoản vay phải
được đảm bảo bằng các tài sản, hàng hóa có giá trị tối thiểu phải bằng giá trị của khoản
vay để đảm bảo tính an toàn cho khoản vay.
Vốn vay phải được hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng kỳ hạn cam kết: Các khoản tín
dụng của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ của khách hàng và các khoản ngân hàng
vay mượn. Do vậy ngân hàng luôn yêu cầu doanh nghiệp cũng như khách hàng cá nhân
đi vay phải thực hiện đúng cam kết này.
Ba nguyên tắc tín dụng trên hình thành một quy luật nội tại của tín dụng do đó
chúng ta phải tuân thủ nghiêm ngặt mà không được coi nhẹ hay nhấn mạnh nguyên tắc
nào.
1.3. Hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại
1.3.1. Khái niệm hiệu quả của hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương
mại
Trong quan hệ cho vay, những chủ thể tham gia phải gồm hai bên: Một bên là bản
thân ngân hàng phía cấp vốn, bên còn lại là khách hàng phía có nhu cầu vay vốn. Ngoài
ra có thể có một số chủ thể khác tham gia như: Bên bảo lãnh vay vốn ngân hàng, các cơ
quan quản lý Nhà nước. Hiệu quả cho vay ngắn hạn cũng tương tự như hiệu quả tín
dụng nói chung của ngân hàng được đánh giá theo cả hai giác độ:
Về phía ngân hàng, hiệu quả cho vay ngắn hạn gắn liền với sự an toàn của vốn
cho vay. Tức là phải đảm bảo an toàn và sinh lời. Thủ tục đơn giản và thuận tiện sẽ tạo
11


điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tiến hàng sản xuất kinh doanh và nắm
bắt thời cơ.
Ngoài ra hiệu quả của cho vay ngắn hạn còn liên quan đến lợi nhuận mà nó mang
lại. Ở đây cần tính đến sự cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau. Do đó các ngân hàng
cần phải có chính sách lãi suất hợp lý và phải tìm kiếm những dự án mang lại thu nhập
cao.
Về phía khách hàng, hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng đã cung cấp cho
doanh nghiệp nguồn vốn ngắn hạn của doanh nghiệp, đảm bảo cho hoạt động sản xuất
kinh doanh được liên tục. Để có được nguồn vốn ngắn hạn này khách hàng phải bỏ ra
một khoản chi phí tương đối lớn do vậy các doanh nghiệp cần phải sử dụng vốn đạt hiệu
quả cao nhất.
Hiệu quả cho vay ngắn hạn của ngân hàng được đánh giá theo cả hai giác độ là từ
phía ngân hàng và từ phía khách hàng. Tuy nhiên trong khuôn khổ của khóa luận không
cho phép do vậy khóa luận chỉ đề cập tới hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn xét từ
giác độ về phía ngân hàng.
1.3.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân
hàng thương mại
Cho vay ngắn hạn là một trong các hoạt động quan trọng nhất của NHTM, là hoạt
động đem lại nguồn thu chính cho ngân hàng, nó cũng đồng thời có các tác động không
nhỏ đến các mặt hoạt động khác của ngân hàng.
Bên cạnh đó, hoạt động cho vay ngắn hạn của NHTM không chỉ có ảnh hưởng
đến bản thân ngân hàng, mà còn có ảnh hưởng đến nhiều chủ thể khác của nền kinh tế.
Giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh, tiêu dùng của các cá nhân, doanh nghiệp được
diễn ra liền mạch, không bị đứt quãng. Như vậy hoạt động cho vay ngắn hạn của NHTM
có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Việc nâng cao hiệu quả cho vay ngắn hạn
không chỉ giúp ngân hàng kinh doanh có lãi, đảm bảo an toàn mà còn đáp ứng tốt nhu
cầu vốn cho nền kinh tế, giúp cho nền kinh tế phát triển thuận lợi.
Ngoài ra thông qua việc nâng cao hiệu quả cho vay ngắn hạn của ngân hàng, sẽ
giúp ngân hàng tồn tại một cách bền vững, củng cố mối quan hệ với các đối tác và tăng
năng lực cạnh tranh. Đối với nền kinh tế, việc nâng cao hiệu quả cho vay ngắn hạn của
ngân hàng sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế, khuyến khích tiết
kiệm và đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế.
Như vậy việc nâng cao hiệu quả cho vay ngắn hạn là cần thiết khách quan, trước
hết vì sự tồn tại và phát triển của NHTM, đồng thời vì sự phát triển của nền kinh tế.
12

Thang Long University Library


1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn
1.3.3.1. Các chỉ tiêu định tính
Đây là nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay trên cơ sở pháp lý, việc tuân thủ
các quy chế, quy trình nghiệp vụ của NHTM, việc thực hiện theo đúng cam kết trong
hợp đồng cho vay (hợp đồng tín dụng).
Trên cơ sở pháp lý: Hoạt động cho vay có hiệu quả nếu chấp hành đúng pháp luật
của Nhà nước, các quy chế cho vay, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và ngân hàng
Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.
Trên cơ sở quy chế cho vay của từng NHTM: Hoạt động cho vay có hiệu quả
luôn phải tuân thủ các quy chế, quy trình nghiệp vụ cho vay. Từ những đặc điểm riêng
có của mình, hầu hết các ngân hàng đều nghiên cứu và đưa ra các quy chế cho vay phù
hợp nhất. Cụ thể là các ngân hàng lập ra Sổ tay tín dụng, trong đó đưa ra các khái niệm,
quy định, quy trình và các hướng dẫn cụ thể dành cho các cán bộ ngân hàng. Các quy
định trong quy trình cho vay được áp dụng cụ thể cho từng trường hợp xin vay ở mỗi
NHTM là nhằm thực hiện việc cho vay có hiệu quả. Do vậy việc tuân thủ những quy
trình là một điều kiện quan trọng, tiền đề của một khoản cho vay có hiệu quả.
Trên cơ sở hợp đồng cho vay: Khi tiến hành hoạt động cho vay, ngân hàng và
khách hàng sẽ lập nên một hợp đồng tín dụng. Trong hợp đồng tín dụng sẽ quy định chi
tiết về các yếu tố quan trọng như thời hạn vay, mục đích sử dụng vốn vay, số tiền vay,
phương thức hoàn trả gốc, trả lãi... và được thể hiện ở dạng những cam kết. Một khoản
vay được coi là có hiệu quả khi nó được thực hiện đúng những cam kết đã kí trong hợp
đồng tín dụng.
Bảo đảm các nguyên tắc cho vay:
Các nguyên tắc này được quy định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh
lời đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng. Các nguyên tắc này được cụ thể hoá trong
các quy định của Ngân hàng nhà nước và các NHTM.
Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian xác định: Các
khoản tín dụng của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ của khách hàng và các khoản
ngân hàng vay mượn. Do vậy ngân hàng luôn yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải thực
hiện đúng cam kết này
Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận với ngân
hàng, không được trái với các quy định của pháp luật và của các ngân hàng cấp trên.
Mục đích tài trợ được ghi trong hợp đồng tín dụng bảo đảm cho ngân hàng không tài
trợ cho các hoạt động trái pháp luật và việc tài trợ đó phải phù hợp với cương lĩnh của
13


ngân hàng. Khi đi vay vốn kinh doanh ngắn hạn, doanh nghiệp có thể dùng vốn đó để
đầu tư dài hạn vào mục đích khác mang nhiều rủi ro. Do đó ngân hàng cần phải có
những quy định ràng buộc doanh nghiệp phải dùng vốn vay đúng mục đích.
Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án sử dụng vốn vay có hiệu quả. Thực hiện
nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện các nguyên tắc thứ nhất. Phương án hoạt động
có hiệu quả của người vay minh chứng cho khả năng thu hồi vốn đầu tư và có lãi để trả
nợ ngân hàng. Các khoản tài trợ của ngân hàng phải gắn liền với việc hình thành tài sản
của người vay.
Thủ tục giao dịch: Một khoản cho vay tốt phải đảm bảo có thủ tục giao dịch đơn
giản, thuận tiện cho khách hàng nhưng vẫn đảm bảo những nguyên tắc an toàn cần thiết.
Ngoài ra quá trình giải ngân phải được thực hiện nhanh chóng để đáp ứng kịp thời nhu
cầu vốn của doanh nghiệp. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng cao giữa các ngân
hàng với nhau, thì việc làm đơn giản thủ tục giao dịch là một yếu tố các ngân hàng cần
quan tâm để thu hút khách hàng.
Các nhóm chỉ tiêu định tính trên đây đã có thể phản ánh một phần của hiệu quả
cho vay. Đây là những chỉ tiêu gần như bắt buộc phải có để một khoản cho vay được
coi là có hiệu quả. Tuy vậy, muốn xem xét cụ thể, cẩn thẩn và toàn diện thì chúng ta
cần phải xét đến các chỉ tiêu định lượng.
1.3.3.2. Các chỉ tiêu định lượng
Nhóm chỉ tiêu định lượng phản ánh mặt lượng của khoản vay, thông qua việc phân
tích các chỉ tiêu, tính toán và so sánh. Nhóm các chỉ tiêu định lượng bao gồm:
a. Các chỉ tiêu đánh giá về quy mô cho vay ngắn hạn
Dư nợ cho vay ngắn hạn
Dư nợ cho vay ngắn hạn là tổng số tiền ngắn hạn mà ngân hàng cho vay đối với
nền kinh tế tại một thời điểm nhất định. Mức dư nợ ngắn hạn thường phụ thuộc vào
mức độ huy động vốn của NH, nếu nguồn huy động tăng thì sẽ làm cho mức dư nợ sẽ
tăng và ngược lại. Bất cứ NH nào muốn hoạt động tốt thì phải nâng cao mức dư nợ.
Mức tăng trưởng tuyệt đối
dư nợ cho vay ngắn hạn năm n

Mức tăng trưởng
tương đối dư nợ cho
=
vay ngắn hạn năm n

Dư nợ cho vay

=

ngắn hạn năm n

Dư nợ cho vay
ngắn hạn năm n

_

-

Dư nợ cho vay
ngắn hạn năm n-1

Dư nợ cho vay
ngắn hạn năm n-1

*100%

14

Thang Long University Library


Dư nợ cho vay ngắn hạn năm n-1

Tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn

Dư nợ cho vay ngắn hạn năm n

=

trên tổng dư nợ cho vay

Tổng dư nợ cho vay năm n

*100%

Chỉ tiêu về tăng trưởng dư nợ cho vay tuyệt đối và tương đối phản ánh mức tăng
trưởng trong hoạt động cho vay của ngân hàng, thể hiện hiệu quả hoạt động cho vay xét
về quy mô. Mức tăng trưởng dư nợ cho vay ngắn hạn cao và ổn định qua các năm thể
hiện chất lượng cho vay tốt và ngược lại.
Chỉ tiêu về tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn trên tổng dư nợ cho vay dùng để xác
định cơ cấu tín dụng cho vay ngắn hạn. Để từ đó, xem xét cơ cấu cho vay như vậy
có hợp lý hay chưa và có giải pháp điều chỉnh kịp thời.
Doanh số cho vay ngắn hạn
Doanh số cho vay ngắn hạn là tổng số tiền ngắn hạn mà ngân hàng cho vay đối
với nền kinh tế trong một thời gian nhất định.
Mức tăng trưởng tuyệt đối
doanh số cho vay ngắn hạn năm n

Mức tăng trưởng tương
đối doanh số cho vay
ngắn hạn năm n

Doanh số cho vay

=

ngắn hạn năm n

-

Doanh số cho vay
ngắn hạn năm n-1

Doanh số cho vay _ Doanh số cho vay
=

ngắn hạn năm n

ngắn hạn năm n-1

Doanh số cho vay ngắn hạn năm n-1

*100%

Chỉ tiêu về tăng trưởng doanh số tuyệt đối và tương đối phản ánh mức tăng trưởng
trong hoạt động cho vay của NH thể hiện chất lượng hoạt động cho vay xét về quy mô.
Mức tăng trưởng doanh số cho vay ngắn hạn cao và ổn định qua các năm thể hiện chất
lượng cho vay tốt và ngược lại.
Tỷ trọng doanh số cho vay
ngắn hạn trên tổng doanh số cho vay

Doanh số cho vay ngắn hạn năm n

=

Tổng doanh số cho vay năm n

*100%

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn trên tổng dư nợ cho vay
của NH. Qua chỉ tiêu này ta có thể so sánh quy mô dư nợ cho vay ngắn hạn so với cho
15


vay trung và dài hạn. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ NH đáp ứng nhu cầu vay ngắn hạn
của nền kinh tế cao hơn. Tùy theo chính sách của mỗi NH và tùy từng thời kỳ mà NH
sẽ điều chỉnh tỷ lệ này cao hay thấp để phù hợp với diễn biến của nền kinh tế.
b. Chỉ tiêu về cơ cấu cho vay ngắn hạn
Cơ cấu theo tài sản đảm bảo
Tỷ trọng cho vay ngắn hạn

=

có tài sản đảm bảo

Tỷ trọng cho vay ngắn hạn

Tổng dư nợ ngắn hạn

Dư nợ ngắn hạn không có tài sản đảm bảo

=

không có tài sản đảm bảo

Dư nợ ngắn hạn có tài sản đảm bảo

Tổng dư nợ ngắn hạn

*100%

*100%

Hiệu quả cho vay bao gồm cả yếu tố an toàn và TSĐB góp phần tạo nên tính an
toàn cho khoản vay đó. Khi khách hàng không có khả năng trả đuợc nợ NH sẽ phát mại
các TSĐB để bù đắp tổn thất cho khoản vay đó. Vì vậy để tăng hiệu quả, tăng độ an
toàn của khoản cho vay ngân hàng thường yêu cầu các khoản vay phải có TSĐB
Cơ cấu theo đối tượng vay vốn
Tỷ trọng cho vay ngắn hạn
theo đối tượng loại i

=

Dư nợ ngắn hạn theo đối tượng loại
i
*100%
Tổng dư nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu dư nợ ngắn hạn theo đối tượng vay vốn sẽ giúp NH có sự nhìn nhận tổng
quan đâu là nhóm KH có tỷ trọng vay vốn cao tại NH, đâu là nhóm KH có tỷ trọng vay
vốn còn thấp tại NH từ đó tìm ra nguyên nhân và giải pháp để tiếp tục tập trung phục
vụ 1 cách tốt hơn nữa vào nhóm KH mà NH có thế mạnh, tìm cách đẩy mạnh cho vay
vốn với nhóm KH có tỷ trọng vay vốn còn thấp tại NH.
Cơ cấu theo ngành kinh tế
Tỷ trọng cho vay ngắn hạn
theo ngành i

Dư nợ ngắn hạn theo ngành
i

=

*100%

Tổng dư nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu dư nợ ngắn hạn theo ngành kinh tế sẽ giúp NH nhận biết được KH vay
vốn tại NH để phục vụ những ngành kinh tế chủ yếu nào từ đó có những giải pháp để
tiếp tục tập trung phục vụ 1 cách tốt hơn nữa vào những ngành kinh tế có nhu cầu về
vốn lớn, tìm cách đẩy mạnh cho vay vốn với nhóm ngành kinh tế có tỷ trọng vay vốn
còn thấp và có tiềm năng tại NH.
16

Thang Long University Library


c. Nhóm chỉ tiêu về thu nợ
Doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ ngắn hạn là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản thu nợ ngắn hạn
đã thu hồi được của các khoản cho vay mà NH cho khách hàng vay trong một thời gian
nhất định.
Mức tăng trưởng tuyệt đối
doanh số thu nợ ngắn hạn năm n

Mức tăng trưởng tương
đối doanh số thu nợ

=

Doanh số thu nợ
ngắn hạn năm n

=

-

Doanh số thu nợ
ngắn hạn năm n-1

Doanh số thu nợ _

Doanh số thu nợ

ngắn hạn năm n

ngắn hạn năm n-1

ngắn hạn năm n

Doanh số thu nợ năm n-1

*100%

Chỉ tiêu về tăng trưởng doanh số thu nợ tuyệt đối và tương đối phản ánh hoạt động
thu nợ của NH thể hiện chất lượng hoạt động thu hồi nợ. Mức tăng trưởng doanh số thu
nợ ngắn hạn cao và ổn định qua các năm thể hiện chất lượng cho vay tốt và ngược lại.
Tỷ trọng doanh số thu nợ ngắn hạn
trên tổng doanh số thu nợ

Doanh số thu nợ ngắn hạn
Tổng doanh số thu nợ

=

*100%

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng doanh sô thu nợ cho vay ngắn hạn trên tổng doanh
số thu nợ của NH. Qua chỉ tiêu này ta có thể so sánh hiệu quả thu nợ ngắn hạn so với
cho vay trung và dài hạn.
Chỉ tiêu vòng quay vốn ngắn hạn
Vòng quay vốn tín dụng
ngắn hạn( vòng)

=

Doanh số thu nợ cho vay ngắn hạn
Dư nợ cho vay ngắn hạn bình quân

*100%

Chỉ tiêu này cho ta biết ngân hàng thu nợ theo kế hoạch trong hợp đồng tín dụng
được bao nhiêu để có thể lại cho vay dự án mới. Vòng quay của vốn càng lớn thì càng
tốt vì điều đó khẳng định ngân hàng thu được nhiều nợ và chứng tỏ nguồn vốn ngắn hạn
của ngân hàng đã đầu tư hoạt động có hiệu quả. Ngược lại, nếu vòng quay của vốn càng
nhỏ thì việc thu nợ của ngân hàng là kém và nguồn vốn ngắn hạn mà ngân hàng đã đầu
tư hoạt động kém hiệu quả.
d. Nhóm chỉ tiêu phản ánh về độ an toàn
Nợ quá hạn

17


Tỉ lệ nợ quá hạn cho biết tỉ trọng của các khoản cho vay đã bị quá hạn trả nợ gốc
và lãi vay trong tổng dư nợ. Qua đó, phản ánh hiệu quả các khoản cho vay của ngân
hàng.
Tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn

Dư nợ quá hạn ngắn
hạn

=

*100%

Tổng dư nợ ngắn hạn
Trong hoạt động ngân hàng, tỉ lệ nợ quá hạn này càng cao phản ánh hiệu quả các
khoản vay càng thấp và độ an toàn của ngân hàng càng thấp.
Tổng dư nợ quá hạn ngắn hạn
Tỷ trọng dư nợ quá hạn ngắn hạn

=

Tổng dư nợ quá hạn của ngân
hàng

*100%

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ dư nợ quá hạn trong tổng dư nợ quá hạn ngắn hạn. Chỉ
tiêu này càng cao chứng tỏ số dư nợ quá hạn ngắn hạn càng lớn trong tương quan với
tổng dư nợ quá hạn, chất lượng cho vay ngắn hạn càng thấp.
Ngoài ra, để đánh giá đầy đủ hơn về chất lượng cho vay, người ta còn xem xét
mức tăng giảm tương đối, tuyệt đối cơ cấu nợ quá hạn qua các năm để thấy mức hiệu
quả của công tác và các biện pháp giảm nợ quá hạn từ đó nâng cao chất lượng cho vay.
Nợ xấu
Khi đến hạn mà khách hàng không trả được nợ, ngân hàng thường phải gia hạn
nợ cho khách hàng, tạo điều kiện để họ có thể trả được nợ cho ngân hàng. Nợ xấu là
khoản nợ quá hạn sau khi ngân hàng thương mại đã gia hạn nợ. Nợ xấu là những khoản
được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng
mất vốn) (Quyết định 493/2005/QĐ-Ngân hàng Nhà nước ngày 22/4/2005).
Tỷ lệ nợ xấu ngắn hạn

=

Tổng dư nợ xấu ngắn hạn
Tổng dư nợ ngắn hạn

*100%

Nhờ có chỉ tiêu này cùng với việc xem xét, phân tích các yếu tố khác như tình hình
sản xuất kinh doanh của khách hàng trong thời gian tới, các yếu tố thuận lợi cũng như
khó khăn mà khách hàng đang gặp phải, lịch sử vay nợ của khách hàng…. mà các
NHTM có thể dự đoán được bao nhiêu phần trăm trong tổng nợ quá hạn có khả năng
thu hồi, bao nhiêu phần trăm không có khả năng thu hồi. Việc kết hợp giữa các chỉ tiêu
này cho phép đánh giá chi tiết hơn về độ an toàn của hoạt động cho vay của NHTM.

18

Thang Long University Library


Tổng dư nợ xấu ngắn hạn

Tỷ trọng nợ xấu cho vay ngắn

=

hạn

Tổng dư nợ xấu của ngân
hàng

*100%

Tỷ trọng nợ xấu cho vay ngắn hạn thể hiện tỷ trọng nợ xấu cho vay ngắn hạn trên
tổng nợ xấu của NH. Xem xét chỉ tiêu này sẽ giúp ngân hàng biết được chất lượng của
cho vay ngắn hạn so với chất lượng cho vay chung của ngân hàng để từ đó có được các
biện pháp xử lí phù hợp.
e. Hiệu suất sử dụng vốn ngắn hạn
Dư nợ cho vay ngắn hạn

Hiệu suất sử dụng vốn ngắn hạn =

Nguồn vốn huy động ngắn hạn

*100%

Hiệu suất sử dụng vốn ngắn hạn cho biết sự hợp lý về kì hạn của huy động vốn và
sử dụng vốn. Chỉ tiêu này rất quan trọng vì nó đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của NH,
liệu NH đã sử dụng hết khả năng của mình trong cho vay ngắn hạn hay chưa. Nếu chỉ
tiêu này quá cao thì chứng tỏ hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng đạt hiệu quả
nhưng lại tiềm ẩn một số rủi ro về nguồn vốn cho ngân hàng. Về lý thuyết thì chỉ tiêu
này không được lớn hơn 1 do ngân hàng còn phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
cũng như tài trợ vốn cho một số hoạt động khác của ngân hàng. Tuy nhiên nếu chỉ tiêu
này quá nhỏ thì chứng tỏ hiệu quả cho vay ngắn hạn của ngân hàng chưa cao. Do vậy
ngân hàng cần duy trì tỷ lệ này một cách hợp lý để vừa mang lại hiệu quả trong công
tác cho vay ngắn hạn đồng thời cũng đảm bảo tính an toàn về nguồn vốn cho ngân hàng.
f. Chỉ tiêu đánh giá mức thu nhập
Mức thu nhập của đồng
vốn cho vay ngắn hạn

Thu nhập từ hoạt độngcho vay ngắn
hạn
=

*100%

Dư nợ ngắn hạn bình quân

Trong doanh thu của các ngân hàng trong hệ thống các NHTM ở Việt Nam hiện
nay, nguồn thu lãi luôn chiếm một tỷ trọng rất lớn. Điều này xuất phát từ trình độ phát
triển của thị trường tài chính chưa cao, sản phẩm, dịch vụ mà các NHTM cung cấp chưa
phong phú và đa dạng. Do các khoản cho vay ngắn hạn luôn chiếm một tỷ trọng lớn
trong hoạt động cho vay của NHTM nên có thể nói rằng thu nhập từ việc cho vay ngắn
hạn có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Chỉ tiêu này
đánh giá hoạt động cho vay ở khía cạnh là hoạt động kinh doanh của ngân hàng, phản
ánh mức lợi nhuận thu được trên một đồng vốn cho vay. Mức sinh lợi cao cho thấy
chứng tỏ hoạt động cho vay của ngân hàng là có hiệu quả.
19


Ngoài ra ta còn xét đến chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập của cho vay ngắn hạn
Tỷ lệ thu nhập của
cho vay ngắn hạn

=

Thu nhập từ hoạt động cho vay ngắn hạn
Tổng thu nhập từ hoạt động cho vay

*100%

Từ tỷ lệ này, có thể biết được thu nhập từ cho vay đóng góp bao nhiêu phần trăm
vào thu nhập của ngân hàng. Từ đó có thể xem xét vai trò của hoạt động cho vay và
hiệu quả của hoạt động cho vay đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Tóm lại, các chỉ tiêu đánh giá, xem xét hiệu quả tín dụng phải luôn được xem xét
phân tích thường xuyên cả hai mặt định tính và định lượng, cả về lợi nhuận thuần tuý
và lợi ích xã hội, cả trên quan điểm ngân hàng và khách hàng. Thực hiện được điều này
sẽ giúp cho bản thân các ngân hàng cũng như khách hàng đánh giá được hiệu quả tín
dụng một cách chính xác đầy đủ nhất. Qua đó có thể giải quyết được những hạn chế,
vướng mắc cũng như phát huy được những ưu điểm để nâng cao hiệu quả tín dụng trung
- dài hạn, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương
mại
1.4.1. Nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng, bao gồm:
Công tác thẩm định
Thẩm định tín dụng ngân hàng là việc xem xét, đánh giá bộ hồ sơ của khách hàng
bao gồm hồ sơ pháp lý, hồ sơ kinh tế, tính hiệu quả của phương án xin vay trên cơ sở
đảm bảo nguyên tắc cho vay, nguyên tắc giá trị thời gian của tiền với chi phí vốn đầu tư
để đưa ra kết luận về hiệu quả và nuức độ rủi ro của phương án phục vụ cho quyết
định cho vay của ngân hàng.
Với ý nghĩa về tầm quan trọng của hoạt động cho vay ngắn hạn trong hoạt động
cho vay của NHTM nói chung thì hoạt động thẩm định luôn là cần thiết gắn với mỗi
phương án xin vay nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra đối với
ngân hàng. Bởi vì trên thực tế, đối với mỗi phương án kinh doanh của doanh nghiệp
nếu như tỷ suất lợi nhuận cao thì luôn đi kèm với rủi ro lớn mà ngân hàng không quan
tâm thì sẽ khó mà lường trước được những biến động không ngừng của nó trên thị
trường đầy sôi động. Quy trình thẩm định giúp ngân hàng dự báo được phần nào hiệu
quả tài chính và tính khả thi của từng phương án kinh doanh để có thể chọn lọc được
các cơ hội đầu tư tốt, có hiệu quả, có khả năng thu hồi vốn và do đó hạn chế được các
rủi ro phát sinh. Trái lại, nếu thẩm định kém có thể dẫn đến một quyết định cho vay sai
20

Thang Long University Library


lầm, ảnh hưởng đến ngân hàng và doanh nghiệp. Do vậy, thẩm định là một hoạt động
vô cùng cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng trong cho vay của ngân hàng.
Đặc biệt cho vay ngắn hạn chủ yếu đầu tư vào tài sản lưu động của doanh nghiệp,
đó là những tài sản có vòng quay lớn trong năm và rất nhạy cảm với sự biến động trên
thị trường. Một sự thay đổi về giá cả hay phẩm chất hàng hoá, nhu cầu tiêu thô, ... đều
có ảnh hưởng tới hiệu quả của món vay, do đó cán bộ thẩm định cần phải xem xét đánh
giá một cách chính xác, ngoài ra còn phải am hiểu, nhạy cảm về thị trường.
Thẩm định tốt không những đảm bảo cho mãn vay an toàn có hiệu quả mà còn
giúp cho toàn bộ nền kinh tế trong thị trường tiền tệ (ngắn hạn) hoạt động một cách
hiệu quả, lành mạnh hơn tránh được các chủ thể kinh doanh thua lỗ, các doanh nghiệp
gian lận, lừa đảo giúp cho đồng vốn đầu tư trở nên có hiệu quả. Từ đó thoả mãn được
nhu cầu vay vốn kinh doanh của khách hàng đồng thời đạt được mục tiêu của ngân
hàng.
Tóm lại, thẩm định tín dụng là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng
đối với NHTM không chỉ là vấn đề lợi ích kinh tế mà còn giúp ngân hàng thực hiện
được các mục tiêu thu hút khách hàng và nâng cao uy tín trên thị trường.
Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh, quy tắc tài trợ vốn của một ngân hàng,
trở thành hướng dẫn chung cho mọi cán bộ tín dụng, tạo thống nhất chung trong hoạt
động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời. Như vậy chính sách
tín dụng của ngân hàng có vai trò quan trọng đến hiệu quả tín dụng. Một ngân hàng có
một chính sách hợp lý sẽ giúp ngân hàng có những khoản cho vay tốt đảm bảo thu lãi
đồng thời giúp cho các doanh nghiệp có vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Chính
sách tín dụng cần được xây dựng phù hợp với mục tiêu tổng thể của ngân hàng trong
từng thời kì, thực hiện được vai trò định hướng cho hoạt động tín dụng của ngân hàng,
đáp ứng được nhu cầu vốn cho nền kinh tế.
Chất lượng đội ngũ nhân sự
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín dụng nói
riêng cũng như trong hoạt động của ngân hàng nói chung. Việc tuyển chọn sự có đạo đức
nghề nghiệp tốt, có tinh thần trách nhiệm, tâm huyết với nghề, giỏi chuyên môn, am
hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường đặc biệt trong lĩnh vực tham gia đầu tư
vốn, năm vững những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động tín dụng, có năng
lực phân tích và xử lý dự án xin vay, đánh giá tài sản thế chấp, giám sát số tiền cho vay
ngay từ khi cho vay đến khi thu hồi được nợ hoặc xử lý xong món nợ theo quy định của
21


ngân hàng… sẽ giúp cho ngân hàng có thể ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy
ra khi thực hiện chi kỳ khép kín của một khoản tín dụng. Tuy nhên đối với những cán bộ
không được đào tạo đầy đủ, không am hiểu về ngành kinh doanh mà mình đang tài trợ,
trong khi ngân hàng không có đủ các số liệu thống kê, các chỉ tiêu để phân tích, so sánh,
đánh giá vài trò vị trí của doanh nghiệp trong ngành, khả năng thị trường hiện tại và
tương lai, chu kỳ, vòng đời sản phẩm… dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của dự án
cho vay làm tăng rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Thông tin tín dụng
Những thông tin chính xác về khách hàng sẽ giúp ích rất nhiều cho ngân hàng
trong những công việc có liên quan đến việc cho vay, theo dõi và quản lý tiền vay.
Thông tin càng chính xác, kịp thời, đầy đủ và toàn diện thì công tác tín dụng của ngân
hàng càng được thực hiện tốt và các rủi ro sẽ được hạn chế ở mức thấp nhất có thể, hiệu
quả tín dụng được nâng cao hơn. Tuy nhiên nến thiếu thông tin tín dụng hoặc thông tin
tín dụng không chính xác, kịp thời, chưa có danh sách phân loại doanh nghiệp, chưa có
sự phân tích đánh giá doanh nghiệp một cách khách quan, đúng đắn sẽ dẫn đến rủi ro
tín dụng cao làm giảm hiệu quả tín dụng của ngân hàng.
Công tác tổ chức, quản lí của ngân hàng
Công tác tổ chức không chỉ tác động tới hiệu quả tín dụng mà còn tác động tới
mọi hoạt động của ngân hàng. Nếu công tác tổ chức không khoa học sẽ làm ảnh hưởng
tới thời gian ra quyết định đối với món vay, không đáp ứng kịp thời các yêu cầu của
khách hàng, không theo dõi sát sao được công việc.
Sự phân công công việc nếu không hợp lý, khoa học sẽ dẫn đến sự không rõ ràng,
chồng chéo khiến cho các cán bộ tín dụng ỷ lại, thiếu trách nhiệm đối với công việc của
mình. Công tác tổ chức ở đây cũng đề cập tới vấn đề giao việc đúng người, đúng việc.
Mỗi một cán bộ cần được giao cho công việc phù hợp để có thể phát huy hết khả năng
và giữa các bộ phận cần có sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ để công việc tiến hành
nhanh chóng, chính xác. Nếu được tổ chức tốt, các công việc đối với một món vay sẽ
được thực hiện tuần tự, chặt chẽ, vừa đảm bảo về mặt thời gian vừa không có sự sơ hở
nên sẽ làm cho hiệu quả của món vay được nâng cao.
Công tác marketing
Với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnh vực ngân hàng nói chung và trong
hoạt động cho vay ngắn hạn giữa các ngân hàng nói riêng. Để hoạt động cho vay ngắn
hạn đạt hiệu quả cao thì công tác Marketing là rất quan trọng. Nếu ngân hàng không có
phương án Marketing chuyên nghiệp, hiệu quả để giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ,
22

Thang Long University Library


những thế mạnh của mình cho nhiều khách hàng biết đến thì sẽ rất khó có thể cạnh tranh
với các ngân hàng khác. Mặt khác nếu ngân hàng có một phương án marketing hiệu quả
sẽ giúp quảng bá hình ảnh cũng như các sản phẩm cho vay của mình tới khách hàng, từ
đó sẽ giúp tăng tính hiệu quả trong công tác cho vay ngắn hạn của ngân hàng.
1.4.2. Nhân tố khách quan
Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế dù thay đổi theo chiều hướng nào cũng đều tác động tới hiệu
quả tín dụng của ngân hàng. Nếu sự thay đổi theo chiều hướng tốt thì hiệu quả của các
khoản tín dụng sẽ được nâng cao. Ngược lại, sự thay đổi theo chiều hướng xấu thì sẽ
làm cho hiệu quả các khoản tín dụng xấu đi ngoài ý muốn. Không chỉ môi trường kinh
tế trong nước này thay đổi sẽ tác động tới hiệu quả tín mà sự thay đổi của môi trường
kinh tế thế giới cũng gây ảnh hưởng không nhỏ, đặc biệt là đối với doanh nghiệp hoạt
động xuất nhập khẩu. Sự thay đổi ấy thể hiện trực tiếp qua sự biến động về nhu cầu thị
trường, sự biến động về tỷ giá khiến cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
bị thua lỗ ảnh hưởng tới việc trả nợ ngân hàng của doanh nghiệp.
Môi trường pháp lý
Pháp lý là một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế thị trường có sự điều
tiết của nhà nước. Không có pháp luật hoặc pháp luật không phù hợp với những yêu
cầu phát triển của nền kinh tế thì mọi hoạt động của nền kinh tế không thể trôi chảy
được. Pháp luật có nhiệm vụ tạo lập môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao, là cơ sở để giải quyết khiếu
nại khi có tranh chấp xảy ra. Môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng
nói riêng và cho hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung là một
nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng tới khả năng phát sinh nợ quá hạn. Hệ thống pháp luật
quốc gia với các bộ luật và văn bản dưới luật chưa được đầy đủ, đồng bộ, hợp lý sẽ
không đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hoạt động kinh tế, là nguyên
nhân trực tiếp dẫn đến rủi ro trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, gây nên
các khoản nợ quá hạn cho ngân hàng. Như vậy, pháp luật có vị trí hết sức quan trọng
đối với hoạt động ngân hàng nói chung và hiệu quả tín dụng ngắn hạn nói riêng.
Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên có một ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả tín dụng của ngân
hàng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng bởi vì thiên tai là một yếu tố bất khả
kháng, chúng ta không thể dự đoán một cách chắc chắn là khi nào những thiên tai như
bão lũ lụt, hạn hán, hoả hoạn, dịch bệnh…sẽ xảy ra và mức độ ảnh hưởng, thiệt hại của
23


chúng là như thế nào. Thông thường khi thiên tai xảy ra, nó thường gây thiệt hại rất lớn
cho các ngành sản xuất, dịch vụ, gây ra các biến động xấu ngoài dự kiến trong mối quan
hệ tín dụng giữa ngân hàng và các khách hàng của mình làm cho vốn của ngân hàng
đầu tư vào các doanh nghiệp sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng và dẫn tới rủi ro làm giảm hiệu
quả tín dụng.
Môi trường chính trị xã hội
Một xã hội nếu thường xuyên xảy ra những bất ổn về chính trị như bạo động,
chiến tranh… sẽ không phải là môi trường thuận lợi cho hoạt động của ngân hàng,
doanh nghiệp, hay cá nhân khách hàng vay vốn.
Nguyên nhân về phía khách hàng
Khách hàng là người trực tiếp quyết định hiệu quả cho vay. Nếu khách hàng không
có năng lực tài chính cũng như khả năng sử dụng vốn vay hiệu quả thì sẽ gây ra rủi ro
về vốn cho ngân hàng. Bên cạnh đó nếu khách hàng không sử dụng vốn đúng mục đích
như cam kết trong hợp đồng vay vốn hoặc cố tình lừa đảo cũng là những nguyên nhân
gây ra rủi ro mất vốn cho ngân hàng. Do đó việc phân tích trước khi cho vay và quá
trình kiểm soát trong quá trình cho vay của ngân hàng có vai trò quan trọng đối với việc
nâng cao hiệu quả cho vay ngắn hạn.

Kết luận chương 1
Chương 1 của khóa luận đề cập tới một số lý luận chung về NHTM và hoạt
động cho vay ngắn hạn trong NHTM, các nhân tố ảnh hưởng và các chỉ tiêu đánh giá
chất lượng trong hoạt động cho vay ngắn hạn. Với những cơ sở lý luận trên, chương 1
sẽ là nền tảng để từ đó chúng ta có thể đi sâu vào tìm hiểu thực trạng hiệu quả hoạt
động cho vay ngắn hạn tại ngân hàng Techcombank PGD Phùng Xá trong chương 2.

24

Thang Long University Library


CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN TẠI
NGÂN HÀNG KỸ THƯƠNG TECHCOMBANK PHÒNG GIAO
DỊCH PHÙNG XÁ
2.1. Tổng quan về ngân hàng kĩ thương Techcombank phòng giao dịch Phùng Xá
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam, thường được biết đến với
tên gọi Techcombank hiện là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất
Việt Nam. Kể từ khi thành lập vào ngày 27/9/1993 với số vốn ban đầu chỉ có 20 tỷ
đồng, Techcombank đã không ngừng phát triển mạnh mẽ với thành tích kinh doanh xuất
sắc và được nhiều lần ghi nhận là một tổ chức tài chính uy tín với danh hiệu ngân hàng
tốt nhất Việt Nam. Nhằm mở rộng quy mô hoạt động và thực hiện những dự kiến, kế
hoạch phát triển của ngân hàng Techcombank, ngân hàng Techcombank PGD Phùng
Xá đã được thành lập và đã chính thức đi vào hoạt động vào ngày 15/01/2010, tại địa
chỉ: Đường 419 xã Phùng Xá, Huyện Thạch Thất, Hà Nội. Ngân hàng Techcombank
PGD Phùng Xá từ khi thành lập đến nay đã không ngừng đổi mới, nâng cấp cơ sở vật
chất kỹ thuật, gia tăng số lượng nhân viên về số lượng và chất lượng phục vụ nhằm đáp
ứng tối đa các nhu cầu đa dạng của khách hàng, góp phần vào sự phát triển kinh tế, xã
hội của địa phương.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và quản lý
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức tại Techcombank Phùng Xá
Giám đốc

Phòng

Phòng

giao dịch

tín dụng

Phòng
Hành chính
nhân sự

Phòng
kế toán
và ngân quỹ

(Nguồn: Phòng hành chính nhân sự Techcombank phòng giao dịch Phùng Xá)
Hiện nay, Techcombank PGD Phùng Xá có 15 nhân viên nghiệp vụ, 03 nhân viên
bảo vệ và 01 nhân viên tạp vụ.
Chức năng của các phòng ban
Giám đốc
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×