Tải bản đầy đủ

BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHẬP KHẨU THƯƠNG MẠI TRỌNG TÍN

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN
NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan về doanh nghiệp và tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp
“Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh
doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu”.[1]
Ở Việt Nam, theo luật doanh nghiệp ban hành ngày 29/11/ 2005: “Doanh nghiệp
là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
ký theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Trong đó tại điều 4 của luật doanh nghiệp có giải thích: “Kinh doanh là việc thực hiện
liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến
tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”.
Vậy ta có thể hiểu: “Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh được thành lập để
thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời trên cơ sở tôn trọng luật
pháp của Nhà Nước và quyền lợi của người tiêu dùng”.
Các doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ
phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh, Công ty liên doanh, doanh
nghiệp tư nhân.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm:
 Kinh doanh cá thể: là loại hình được thành lập đơn giản nhất, không cần phải
có điều lệ hình thức và ít chịu sự quản lý của nhà nước. Tất cả lợi nhuận được

tính và thuế thu nhập cá nhân và chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn
đối với các nghĩa vụ và khoản nợ.
 Kinh doanh góp vốn: Việc thành lập doanh nghiệp này dễ dàng và chi phí
thành lập thấp. Các thành viên chính thức có trách nhiệm vô hạn với các khoản
nợ (tương ứng với phần vốn góp). Lợi nhuận kinh doanh của các thành viên
tính vào thuế TNCN.
 Công ty: là loại hình kinh doanh mà ở đó có sự kết hợp ba loại lợi ích: các cổ
đông, hội đồng quản trị và của các nhà quản lý. Theo truyền thống, cổ đông
kiểm soát toàn bộ phương hướng, chính sách và hoạt động của công ty. Cổ
đông bầu nên hội đồng quản trị và hội đồng quản trị lựa chọn ban quản lý. Các
nhà quản lý, quản lý hoạt động của công ty theo cách thức mang lại lợi ích tốt
nhất cho các cổ đông. Bên cạnh đó, quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho

1

Thang Long University Library


cổ đông mới, trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông
góp vào công ty.
Các loại hình doanh nghiệp trên, mỗi loại hình đều có ưu, nhược điểm riêng
tương ứng với từng quy mô và trình độ phát triển của nền kinh tế nhất định. Công ty là
loại hình phát triển nhất của doanh nghiệp và hầu hết các doanh nghiệp đều hoạt động
dưới loại hình này.
1.1.2. Khái niệm về tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam: “Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm
soát được và dự tính thu đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp”.[2]
Theo chuẩn mực quốc tế (VAS 01): “Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm
soát, là kết quả của những hoạt động trong quá khứ, mà từ đó một số lợi ích kinh tế
trong tương lai có thể dự kiến trước một cách hợp lý”.[2]
Đặc điểm của tài sản:
 Thuộc sở hữu của ai đó.
 Mỗi tài sản đều có đặc tính nhất định
 Có thể mang giá trị tinh thần hoặc vật chất.
 Là những thứ đã tồn tại, đang tồn tại và có thể có trong tương lai.
 Có thể chuyển nhượng, trao đổi.
Khi phân loại tài sản theo đặc điểm luân chuyển vốn, ta có tài sản cố định và tài
sản lưu động. Khi phân loại theo hình thái biểu hiện, ta có tài sản hữu hình và tài sản
vô hình. Khi phân loại theo chất sở hữu, ta có tài sản công cộng và tài sản cá nhân. Khi
phân loại theo khả năng trao đổi, ta có hàng hoá và phi hàng hoá. Phân loại theo khả

năng di dời, ta có động sản và bất động sản. Thông thường các doanh nghiệp thường
phân loại tài sản theo thời gian sử dụng tài sản là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.
Khái niệm về tài sản ngắn hạn:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bộ phận chủ yếu của đối
tượng lao động là tài sản ngắn hạn trực tiếp cấu thành nên sản phẩm và một bộ phận
khác hao phí mất đi trong quá trình kinh doanh. Ta có:
“Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình
kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể
hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, các khoản phải thu và
dự trữ tồn kho”.[1]
“Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là đối tượng lao động thuộc quyền sở hữu
của doanh nghiệp”.[3]
2


“Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản
lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi trong một kỳ kinh
doanh hoặc trong một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình
thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hoá), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải
thu”.[4]
Vậy ta có thể hiểu, tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc
quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng luân chuyển, thu hồi
trong một kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Và có thể tồn tại dưới hình thức tiền,
hiện vật, đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu.
Tài sản ngắn hạn thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh, kết thúc
chu kỳ sản xuất kinh doanh là thu hồi về toàn bộ vốn đầu tư cho tài sản ngắn hạn. Tài
sản ngắn hạn của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thường chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Do vậy quản lý, sử dụng hợp lý tài sản ngắn hạn
là rất quan trọng đối với việc hoạt động và phát triển kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.3. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn
Khác với các đối tượng lao động chỉ tham gia vào một phần của chu kỳ kinh
doanh, tài sản ngắn hạn tham gia vào toàn bộ thời gian hoạt động của chu kỳ kinh
doanh. Tài sản ngắn hạn luôn hoạt động không ngừng và luôn thay đổi hình thái qua
các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh. Các giá trị của nó được được chuyển dịch toàn
bộ vào giá trị của sản phẩm khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Tài sản ngắn hạn có các đặc điểm:
 Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nên đáp ứng được khả năng thanh
toán của doanh nghiệp.
 TSNH chỉ tham gia vào một chu kỳ kinh doanh do vậy doanh nghiệp phải duy
trì một lượng vốn ngắn hạn nhất định để đầu tư, mua sắm cho TSNH, đảm bảo
cho hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục.
 Do tài sản ngắn hạn luôn vận động và luân chuyển không ngừng nên tại một
thời điểm TSNH có thể tồn tại ở trạng thái hiện vật và giá trị.
 Tài sản ngắn hạn có thể dễ dàng chuyển hoá từ dạng vật chất sang tiền tệ nên
vận động rất phức tạp và khó quản lý.
1.1.4. Vai trò của tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn giúp cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp luôn được duy trì và vận hành liên tục, tránh lãng phí và tổn thất vốn do ngừng
sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời
của tài sản.
3

Thang Long University Library


Tài sản ngắn hạn rất quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp bởi đó là những tài sản được sử dụng trong hoạt động hàng ngày và
chi trả cho các chi phí phát sinh.
TSNH còn có khả năng quyết định đến qui mô hoạt động của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử dụng tài sản
ngắn hạn nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy động một lượng
TSNH nhất định để đầu tư ít nhất là để dự trữ vật tư hàng hoá.
Việc doanh nghiệp quản lý và sử dụng tốt TSNH cũng giúp doanh nghiệp tạo
được lòng tin đối với khách hàng và được hưởng các ưu đãi và chiết khấu ,..
Cơ cấu TSNH còn thể hiện phần nào tình hính tài chính của doanh nghiệp, như
phản ánh qua: khả năng thanh toán nhanh, tính an toàn của các khoản phải thu, khả
năng sinh lời của các khoản đầu tư ngắn hạn,...
1.1.5. Phân loại tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Để phục vụ mục đích quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả, có
thể phân loại tài sản ngắn hạn theo các phương thức sau:
1.1.5.1. Phân loại theo quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn
Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn TSNH được phân loại :
Tài sản ngắn hạn trong quá trình dự trữ: Là toàn bộ TSNH tồn tại trong khâu
dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng. Bao gồm:
tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường,
nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước
cho người bán.
Tài sản ngắn hạn trong quá trình sản xuất: Là toàn bộ TSNH của doanh
nghiệp tồn tại trong khâu sản xuất, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí sản
xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí
khác phục vụ cho quá trình sản xuất,..
Tài sản ngắn hạn trong quá trình lƣu thông: Là toàn bộ tài sản ngắn hạn trong
khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, các
khoản nợ phải thu khách hàng.
Phương thức phân chia này giúp doanh nghiệp xác định được rõ ràng các nhân tố
ảnh hưởng đến quá trình vận động và chu chuyển của tài sản cố định từ đó đưa ra được
các biện pháp giải quyết các vấn đề đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng của TSNH.

4


1.1.5.2. Phân loại theo hình thái biểu hiện
Căn cứ vào các khoản mục trong bảng cân đối kế toán, TSNH bao gồm: Tiền, các
khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn khác.
Tiền mặt được biểu hiện là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh
nghiệp ở ngân hàng. Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản
dài hạn, trả tiền thuế, trả nợ. Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do vậy
trong quá trình quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt phải giữ là mục
tiêu quan trọng nhất.
Các khoản đầu tƣ ngắn hạn: Bao gồm các khoản đầu tư tài chính, chứng khoán
có thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (như: tín phiếu
kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng,..) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái
phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm.
Các khoản phải thu: Đây là các khoản mà doanh nghiệp bị tổ chức cá nhân,
doanh nghiệp khác chiếm dụng. Phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn
hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm.
Hàng tồn kho: Trong quá trình luân chuyển vốn lưu động phục vụ cho sản xuất,
kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hoá dự trữ, tồn kho là những bước đệm cần thiết
cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp.
Hàng tồn kho có 3 loại chính: Hàng mua về để bán, thành phẩm tồn kho và thành
phẩm gửi đi bán. Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng
đến đó mà phải cần có nguyên vật liệu dự trữ. Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp
tạ ra lợi nhuận nhưng nó có vai trò rất lớn để cho quy trình sản xuất kinh doanh được
tiến hành bình thường.
Tồn kho trong quá trình sản xuất là các loại nguyên liệu nằm ở từng công đoạn
của dây truyền sản xuất. Thông thường quá trình sản xuất của các doanh nghiệp được
chia thành nhiều công đoạn, giữa những công đoạn này bao giờ cũng tồn tại những sản
phẩm dở dang. Đây là bước đệm nhỏ để quá trình sản xuất được liên tục. Nếu dây
chuyền sản xuất càng dài và càng có nhiều công đoạn thì tồn kho trong quá trình sản
xuất sẽ càng lớn.
Khi tiến hành sản xuất xong hầu hết các doanh nghiệp chưa thể tiêu thụ hết sản
phẩm. Phần thì do có “độ trễ” nhất định giữa sản xuất và tiêu dùng, phần phải có đủ lô
hàng mới xuất được,... Vậy nên để sản xuất được ổn định, doanh nghiệp phải duy trì
một lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn và thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà mức
dự trữ an toàn là khác nhau.

5

Thang Long University Library


Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm: tạm ứng, chi phí trả trước ngắn hạn, thế chấp,
ký cược ngắn hạn, thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản phải thu Nhà nước và
các tài sản ngắn hạn khác...
1.1.6. Các nguồn hình thành tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp được hình thành chủ yếu từ ngồn vốn vay
và vốn chủ sở hữu. Tuỳ vào từng chính sách, chiến lược của từng doanh nghiệp mà sử
dụng nguồn vốn vay dài hạn hay nguốn vốn vay ngắn hạn. Theo đó, nguồn tài trợ cho
tài sản cố định thường được chia là: nguồn tài trợ ngắn hạn và nguồn tài trợ dài hạn.
Nguồn tài trợ dài hạn: là các khoản vay dài hạn và vốn chủ sở hữu của doanh
nghiệp. Nguồn tài trợ dài hạn có thời gian sử dụng vốn dài nhưng chi phí bỏ ra tương
đối cao, phải trả lãi và cổ tức cho tất cả các nguồn vốn dài hạn mà doanh nghiệp đã sử
dụng
Nguồn tài trợ ngắn hạn: Là các khoản vay ngắn hạn, các khoản chiếm dụng hay
nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp không phải trả lãi (như là các khoản phải trả, các khoản
ứng trước của người mua, phải trả người lao động,...). Nguồn tài trợ ngắn hạn có thời
gian sử dụng vốn ngắn, chi phí thấp.
Có 3 chiến lược quản lý nguồn tài trợ và tài sản ngắn hạn là: Chiến lược cấp tiến,
chiến lược thận trọng và chiến lược trung dung. Mỗi một chiến lược đều có những ưu
và nhược điểm nhất định. Do vậy tuỳ vào tình hình và khả năng của từng doanh nghiệp
mà áp dụng chiến lược riêng để đem lại hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp.
1.1.7. Quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.1.7.1. Quản lý dự trữ, tồn kho.
Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh
thì việc tồn tại vật tư hàng hoá dự trữ, hàng tồn kho là bước đệm cần thiết để cho quá
trình hoạt động của doanh nghiệp diễn ra bình thường. Hầu hết các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh thì lượng hàng dự trữ, tồn kho luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu
tài sản ngắn hạn. Do vậy, việc quản lý hành tồn kho sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá
trình, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Hàng hoá tồn kho có ba loại: nguyên
vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, sản phẩm dở dang và thành phẩm.
Một trong những phương pháp quản lý đánh giá hàng tồn kho hiệu quả: Mô hình
đặt hàng hiệu quả EOQ.

6


Đồ thị 1.1.Mức dự trữ hàng tồn kho [1]
Số lượng
hàng lưu kho
Mức kho TB Q/2

Điểm đặt hàng

Thời điểm
đặt hàng

Thời gian dự
trữ tối ưu (T*)

Thời điểm
nhận hàng

Thời gian

Mô hình này được dựa trên giả định là những lần cung cấp hàng hoá là bằng
nhau. Khi doanh nghiệp tiến hành dự trữ hàng hoá sẽ kéo theo hàng loạt các chi phí
bốc xếp hàng hoá, chi phí bảo quản, chi phí đặt hàng, chi phí bảo hiểm,.. nhưng tựu
chung lại có hai loại chi phí chính: là chi phí lưu kho và chi phí đặt hàng.
Chi phí lƣu kho: Là những chi phí liên quan đến việc tồn trữ hàng hoá bao gồm:
chi phí hoạt dộng, bốc xếp, vận chuyển hàng hoá, chi phí tài chính,....
Nếu gọi số lượng mỗi lần cung ứng hàng hoá là Q thì mức lưu kho TB sẽ là Q/2.
Gọi C là chi phí lưu kho đơn vị hàng lưu
Q
C
2
Tổng chi phí lưu kho sẽ tăng nếu số lượng hàng mỗi lần cung ứng tăng.
Chi phí dự trữ h ng lƣu kho

Chi phí đặt hàng: bao gồm chi phí quản lý giao dịch và vận chuyển hàng hoá.
Chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thường ổn định không phụ thuộc vào số lượng
hàng hoá được mua.
Nếu gọi S là toàn bộ lượng hàng hoá cần sử dụng trong một đơn vị thời gian thì số
lượng lần cung ứng hàng hoá sẽ là S/Q.
Gọi O là chi phí mỗi lần đặt hàng
Tổng chi phí đặt h ng

S
O
Q

Tổng chi phí đặt hàng tăng nếu số lượng mỗi lần cung ứng giảm.
Tổng chi phí: Gọi TC là tổng chi phí tồn trữ hàng hoá, ta có:
TC

Q
S
C
O
2
Q
7

Thang Long University Library


Đồ thị 1.2. Mức dự trữ kho tối ưu [1]
Chi phí

Chi phí đặt hàng

Số lượng đặt hàng

Q*
Tìm Q* (Mức dự trữ tối ưu) bằng cách lấy vi phân TC theo Q ta có:
Q √

2 S O
C

1.1.7.2. Quản lý tiền và các khoản tương đương tiền
Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh
nghiệp ở ngân hàng. Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản
cố định, tiền trả thuế, trả nợ,... tuy nhiên, tiền mặt cũng đóng vai trò là nguồn đảm bảo
giao dịch kinh doanh hằng ngày, bù đắp cho ngân hàng về việc cung cấp các dịch vụ
cho doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu dự phòng, hưởng lợi thế trong thương lượng mua
hàng. Theo đó, tiền mặt có thể nói là luôn hiện hữu xuyên suốt trong quá trình sản xuất
kinh doanh. Tuy nhiên tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi nên trong
quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt là mục tiêu quan trong nhất. Vì
vậy việc phải có những biện pháp quản lý tiền mặt hợp lý sao cho hoạt động kinh
doanh được hiểu quả nhất mà chi phí lưu giữ tiền mặt cũng là thấp nhất.
Tiền mặt đề cập đến việc quản lý tiền giấy và tiền gửi ngân hàng. Sự quản lý này
liên quan chặt chẽ đến việc quản lý các loại tài sản với tiền mặt như các loại chứng
khoán có khả năng thanh khoản cao.
Một số mô hình dự trữ tiền mặt cho doanh nghiệp có thể áp dụng là mô hình
Baulmol hoặc mô hình Miller Orr, cụ thể:
Mô hình Baulmol: Các giả định cần thiết của mô hình Baulmol
 Nhu cầu về tiền của doanh nghiệp là ổn định
 Không có dự trữ tiền mặt cho mục đích an toàn
 Doanh nghiệp chỉ có hai phương thức dự trữ tiền: tiền mặt và chứng khoán
khả thị
8


 Không có rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Chi phí giao dịch (TrC):

T

TrC =

xF

C

Trong đó: T là tổng nhu cầu về tiền trong năm
C là Qui mô một lần bán chứng khoán
T/C là Số lần DN bán chứng khoán khả thị để bù đắp tiền mặt đã chi
F là chi phí cố định của một lần bán chứng khoán
Chi phí cơ hội (OC):

OC =

C
2

xK

Trong đó: OC là chi phí cơ hội của việc giữ tiền trong một năm
C/2 là Mức dự trữ tiền mặt trung bình
K là lãi suất đầu tư chứng khoán/năm
Vậy ta có tổng chi phí là

TC = TrC + OC =

T
C

xF

+

C
2

xK

Đồ thị 1.3. Mức dự trữ tiền mặt tối ưu [1]
Chi phí giữ
TM

TC
OC

TrC
C*

Tiền mặt (C)

Mức dự trữ tiền mặt tối ưu (C*) tìm bằng cách lấy vi phân TC theo C, ta có:

2 T
C* = √

9

Thang Long University Library


Mô hình Miller Orr:
Mô hình này áp dụng cho những DN có nhu cầu tiền không ổn định hay doanh
nghiệp không dự đoán được chính xác các khoản mục thực thu và thực chi ngân sách.
Đồ thị 1.4. Mức dự trữ tiền mặt theo mô hình Miller Orr [1]
Mức cân đối
tiền mặt

Giới hạn trên (H)

Mức tiền mặt (C*)

Giới hạn dưới (L)
Thời gian
Ta có, mức dự trữ tiền mặt tối ưu (C*):

C* =

3

V 1/3
4

+L

Trong đó:
F là chi phí giao dịch mỗi lần bán chứng khoán
K là Lãi suất/ngày
V là Phương sai của luồng tiền hàng ngày
L là giới hạn dưới
H là giới hạn trên H* = 3C* - 2L
C trung bình = (4C* - L)/3
Mức tiền ặt th o thiết ế

C trung
3

nh

Đồ thị trên cho ta thấy tài sản ngắn hạn tiền mặt luôn vận động không theo một
quy luật nào cho đến khi đạt được một giới hạn. Khi tiền vận động đạt được giới hạn
trên thì doanh nghiệp sẽ dùng tiền mua chứng khoán nhằm giảm số dư tài sản bằng
tiền mục tiêu. Còn khi đạt giới hạn dưới thì doanh nghiệp sẽ bán lượng chứng khoán
đủ để đưa tiền lên mức mục tiêu. Cứ như vậy tiền dao động một cách tự do cho đến khi
đạt giới hạn trên hoặc giới hạn dưới. Khi đó, doanh nghiệp mua hoặc bán chứng khoán
để lập mức số dư tài sản bằng tiền mong muốn.
10


1.1.7.3. Quản lý các khoản phải thu
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, hầu hết các doanh nghiệp đều có các
khoản nợ phải thu để nâng cao lợi thế trong cạnh tranh trên thị trường. Mỗi doanh
nghiệp có giá trị các khoản phải thu là khác nhau. Các khoản phải thu có tác động rất
lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: tác động đến doanh thu bán
hàng, làm giảm được chi phí tồn kho của hàng hoá, tác động đến chi phí hoạt động của
doanh nghiệp, ... Các khoản phải thu này có thể giúp doanh nghiệp thu hút được khách
hàng và đứng vững trên thị trường hơn nhưng cũng có thể đem đến rất nhiều rủi ro cho
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, các nhà quản lý cần phải có những
biện pháp quản lý hiệu quả để đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp. Sau đây là
một số lưu ý trong việc quản lý chính sách tín dụng :
Phân tích tín dụng
Rủi ro tín dụng là việc khách hàng không thanh toán các khoản phải trả khi đến
hạn. Vậy để tránh rủi ro trong tín dụng, doanh nghiệp cần phân tích uy tín của khách
hàng trước khi đưa ra quyết định có nên bán chịu cho khách hàng hay không. Bằng
cách phân tích các báo cáo tài chính, báo cáo tín dụng ngân hàng và tổ chức thương
mại và bằng kinh nghiệm của mình, doanh nghiệp có thể thẩm định được khả năng
thoanh toán của khách hàng và đưa ra quyết định.
Xác định chính sách bán chịu hợp lý với từng khách hàng: Xác định rõ tiêu chuẩn
tối thiểu về uy tín khách hàng, xác định thời hạn bán chịu và tỷ lệ chiết khấu giảm giá
hàng bán nếu khách hàng thanh toán sớm hơn thời hạn cho phép. Tuỳ theo tình hình
tài chính và tinh tình kiểm soát các khoản phải thu của doanh nghiệp mà áp dụng chính
sách nới lỏng hay thắt chặt tín dụng.
Áp dụng các biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả thu hồi nợ: Tuỳ theo điều
kiện cụ thể để xác định áp dụng các phương pháp. Doanh nghiệp có thể sử dụng kế
toán thu hồi nợ chuyên nghiệp, thực hiện các biện pháp dự phòng rủi ro và đặc biệt là
phải luôn kiểm soát nợ từng thời kỳ để đưa ra biện pháp thu nợ thích hợp.
1.2. Tổng quan về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu quả là một khái niệm luôn được đề cập trong nền kinh tế thị trường các
doanh nghiệp luôn hướng tới hiệu quả kinh tế, chính phủ nỗ lực đạt hiệu quả kinh tế xã hội. Theo nghĩa chung nhất, hiệu quả là một khái niệm phản ánh trình độ sử dụng
các yếu tố cần thiết để tham gia vào hoạt động nào đó với những mục đích xác định do
con người đặt ra.

11

Thang Long University Library


Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù kinh tế đánh giá trình độ sử
dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp đó đạt kết quả cao nhất với mức tài sản hợp
lý.
Mỗi một doanh nghiệp có một hình thức kinh doanh riêng nhưng mục đích chung
nhất vẫn là hoạt động hiệu quả. Ta có thể đánh giá hiệu quả qua công thức sau:
C

hoặc

Trong đó: H là hiệu quả sử dụng
K là kết quả đạt được
C là chi phí nguồn lực cần thiết để đạt được kết quả đó

[3]

1.2.2. Vai trò của hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Đối với mỗi doanh nghiệp để hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thì cần phải
có nguồn vốn và nguồn tài trợ tương ứng. Song việc sử dụng các nguồn này có hiệu
quả mới là yếu tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp. Do vậy,
việc quản lý và sử dụng tổng tài sản cũng như tài sản ngắn hạn nói riêng là rất quan
trọng đối với doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có ý nghĩa sau:
 Hiệu quả sử dụng TSNH đóng vai trò quan trọng trong việc giảm chi phí phát
sinh và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
 Đảm bảo các hoạt động thanh toán của doanh nghiệp được diễn ra bình
thường. Vì vai trò quan trọng của tài sản ngắn hạn là khả năng thanh toán
nhanh các khoản nợ của doanh nghiệp. Khi TSNH được sử dụng hiệu quả thì
vòng quay thu hồi vốn nhanh do đó luôn đảm bảo được khả năng thanh toán.
 Hạn chế ứ đọng vốn trong doanh nghiệp: TSNH luôn được luân chuyển và
tham gia vào tất cả các chu trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó việc sử
dụng hiệu quả TSNH sẽ giúp cho thời gian thu hồi vốn được rút ngắn lại và
doanh nghiệp lại có vốn để đầu tư chu kỳ kinh doanh mới.
 Tăng khả năng sinh lời cho doanh nghiệp do sự luân chuyển tài sản nhanh,
hàng hoá được bán ra nhiều hơn làm cho doanh thu và lợi nhuận tăng.
Bên cạnh đó, việc sử dụng hiệu quả TSNH cũng giúp doanh nghiệp nâng cao
được trình độ sản xuất kinh doanh phát triển, trang thiết bị, kỹ thuật được cải tiến giúp
nâng cao chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường. Khi sử dụng quản lý
TSNH mục tiêu cao nhất vẫn là sử dụng tiết kiệm hiệu quả TSNH sao cho hiệu quả là
cao nhất mà giảm thiểu được nhu cầu vay vốn và tiết kiệm được chi phí lãi vay.

12


1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.2.3.1. Nhóm các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là nhóm các chỉ tiêu được sử dụng để
đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Nó thể hiện mối
quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán với các khoản phải thanh
toán trong kỳ. Với đặc thù của TSNH là có tính lỏng cao và vai trò quan trọng là đáp
ứng khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Do vậy chỉ tiêu và khả năng thanh toán
của TSNH luôn là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp. Khi phân tích về khả
năng thanh toán của doanh nghiệp thường sử dụng các chỉ tiêu:
Khả năng thanh toán ngắn hạn
hả n ng th nh toán ngắn hạn

ổng
ổng ợ ngắn hạn
Đơn vị tính: Lần

Khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp cho biết cứ mỗi một đồng nợ
ngắn hạn thì doanh nghiệp có thể đảm bảo chi trả bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn
hạn. Chỉ tiêu này nếu lớn hơn hoặc bằng 1 là doanh nghiệp đảm bảo chi trả được
nguồn nợ ngắn hạn của mình khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp đang ở
mức an toàn. Chỉ tiêu này thấp hơn 1 là doanh nghiệp đang gặp rủi ro trong thanh toán
ngắn hạn.
Hệ số thanh toán ngắn hạn thấp báo hiệu doanh nghiệp đang gặp phải rủi ro trong
thanh toán và có khả năng mất thanh toán trong tương lai. Tuy nhiên hệ số này cao
quá, tức là lượng TSNH tồn trữ quá lớn và bộ phận tài sản này không vận động, không
sinh lời sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do đầu tư quá
nhiều vào TSNH. Do vậy doanh nghiệp nên cố gắng duy trì khả năng thanh toán ngắn
hạn ở mức 1.
Khả năng thanh toán nhanh
hả n ng th nh toán nh nh

ng tồn ho
ợ ngắn hạn
Đơn vị tính: Lần

Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp được tính trên cơ sở những tài sản
ngắn hạn có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền. Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng
nợ ngắn hạn thì được doanh nghiệp đảm bảo chi trả bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn
hạn sau khi đã trừ đi hàng tồn kho của doanh nghiệp.

13

Thang Long University Library


Thông thường khả năng thanh toán nhanh của công ty được đánh giá an toàn khi
hệ số này lớn hơn 1 vì công ty có thể trang trải các khoản nợ ngăn hạn mà không cần
bán bớt hàng tồn kho. Và ngược lại khi hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp không
đảm bảo được khả năng thanh toán nhanh.
Khả năng thanh toán tức thời
iền v các hoản tương đương tiền

hả n ng th nh toán tức thời

Đơn vị tính: Lần
Khả năng thanh toán tức thời thể hiện khả năng bù đắp nợ ngắn hạn bằng số tiền
đang có của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tiền và các khoản tương đương tiền. Khi trị
số chỉ tiêu lớn hơn hoặc bằng 0,5 thì doanh nghiệp đảm bảo và thừa khả năng thanh
toán tức thời và ngược lại khi trí số của chỉ tiêu nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp không
đảm bảo khả năng thanh toán tức thời.
1.2.3.2. Nhóm các chỉ tiêu hoạt động
Là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp. Để nâng cao hệ số
hoạt động, các nhà quản trị phải biết những tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng
hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp. Vì thế doanh nghiệp cần phải biết cách
sử dụng chúng sao cho có hiệu quả hoặc loại bỏ chúng đi. Do đó, khi phân tích chỉ tiêu
hoạt động người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ
ng qu

t i sản ngắn hạn trong

o nh thu thuần
i sản ngắn hạn

nh qu n
Đơn vị tính: lần

Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ phản ánh số lần quay tài sản ngắn hạn trong
một thời kỳ nhất định và thường là 1 năm. Chỉ tiêu này cho biết trong một năm tài sản
ngắn hạn của doanh nghiệp luân chuyển được bao nhiêu vòng hay một đống TSNH tạo
ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Số vòng quay càng cao thì càng tốt đối với doanh
nghiệp chứng tỏ sử dụng tài sản ngắn hạn có hiệu quả, tạo ra nhiều doanh thu.
Từ đây, ta có thể xác định được số tiền tiết kiệm hay lãng phí do số vòng quay
của TSNH nhanh hay chậm.
Số tiền tiết kiệm, lãng
phí do tốc độ luân
chuyển TSNH thay đổi

=

TSNH bình
quân kỳ gốc

14

Số vòng quay
TSNH kỳ phân
tích



Số vòng quay
TSNH kỳ gốc


Thời gian luân chuyển TSNH
hời gi n lu n chu ển

ng qu

trong
Đơn vị tính: Ngày

Độ dài này cho biết độ dài bình quân của một lần luân chuyển TSNH hay số ngày
bình quân cần thiết để TSNH thưc hiện một vòng quay trong kỳ. Chỉ tiêu này càng
thấp chứng tỏ TSNH được sử dụng có hiệu quả.
Suất hao phí của TSNH so với doanh thu thuần
uất h o ph củ

so với o nh thu thuần

i sản ngắn hạn

nh qu n

o nh thu thuần
Đơn vị tính: Lần

Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng doanh thu thuần trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng
giá trị TSNH. Đó là căn cứ để đầu tư các tài sản ngắn hạn sao cho phù hợp. Chỉ tiêu
này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng cao, doanh nghiệp sử dụng
TSNH có hiệu quả, không cần đầu tư quá nhiều TSNH nhưng lại tạo ra nhiều doanh
thu.
Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận sau thuế
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của các tài sản ngắn hạn
mà doanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh, được xác định như sau:
uất h o ph củ

so với o nh thu thuần

i sản ngắn hạn

nh qu n

ợi nhuận s u thuế

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp thu được 1 đồng lợi nhuận sau
thuế thì cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử
dụng TSNH càng cao. Chỉ tiêu này còn là căn cứ để các doanh nghiệp xây dựng dự
toán về nhu cầu tài sản ngắn hạn khi muốn có mức lợi nhuận như mong muốn.
Vòng quay các khoản phải thu
ng qu

các hoản phải thu

o nh thu thuần
Các hoản phải thu
Đơn vị tính: Lần

Vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét cẩn thận việc khách hàng
thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp. Khi khách hàng thanh toán nợ đã đến hạn
thì lúc đó các khoản phải thu đã quay được một vòng. Chỉ tiêu này chi biết, trung bình
cứ “x” đồng doanh thu thuần thì sẽ có 1 đồng cho khách hàng nợ.

15

Thang Long University Library


Chỉ số này càng cao thì doanh nghiệp thu nợ từ khách hàng càng nhanh. Hệ số
này tăng cao thì hiệu quả sử dụng TSNH càng cao và ngược lại. Nhưng nếu so với các
doanh nghiệp khác trong ngành mà chỉ số này quá cao thì có thể doanh nghiệp sẽ mất
đi khách hàng.
Thời gian thu nợ
hời gi n thu nợ

ng qu

các hoản phải thu
Đơn vị tính: Ngày

Chỉ tiêu này cho biết thời gian doanh nghiệp cho khách hàng nợ trung bình là bao
nhiêu ngày. Chỉ tiêu này càng nhỏ thì tình hình kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt
và ngược lại.
Vòng quay hàng tồn kho

Đơn vị tính: Lần
Vòng quay hàng tồn kho là chỉ tiêu đánh giá doanh nghiệp sử dụng hàng tồn kho
có hiệu quả như thế nào. Chỉ tiêu này cho biết khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh thì
hàng tồn kho quay vòng bao nhiêu lần. Chỉ số này càng cao thì doanh nghiệp bán hàng
nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp. Hệ số lưu kho cao
hay thấp còn phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Chỉ tiêu này quyết
định thời điểm đặt hàng cũng như mức dự trữ an toàn cho doanh nghiệp.
Chu kỳ lƣu kho trung bình
Chu

lưu ho

ng qu

h ng tồn ho
Đơn vị tính : Ngày

Chỉ tiêu này cho biết một vòng lưu kho trung bình là bao nhiêu ngày. Biến động
vòng quay hàng tồn kho có thể do nhiều yếu tố tác động. Hệ số này càng thấp thì
chứng tỏ doanh nghiệp đang kinh doanh tốt, bán được nhiều hàng hoá.
Thời gian quay vòng tiền: Thời gian quay vòng của tiền phản ánh khoảng thời gian
ròng kể từ khi chi thực tế đến khi thu được tiền. Thời gian quay vòng của tiền được đo
bằng khoảng chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp và trừ đi khoảng thời gian mà doanh
nghiệp trả nợ.
Thời gian trả nợ được xác định bằng tỷ số giữa thời gian của 1 chu kỳ kinh doanh
trên vòng quay các khoản phải trả:
16


ng qu

các hoản phải trả

hải trả người án
Đơn vị tính : Lần

Vòng quay các khoản phải trả phản ánh mức độ chiếm dụng vốn của doanh
nghiệp với người bán và các chủ thể khác, hay có thể hiểu cứ bao nhiêu đồng chi phí
của doanh nghiệp được trang trải bằng 1 đồng vốn đi chiếm dụng. Chỉ tiêu này càng
nhỏ sẽ càng có lợi cho doanh nghiệp vì phần lớn chi phí của doanh nghiệp đang được
chi trả bằng tiền chiếm dụng được. Vậy ta có thể tính được thời gian trả nợ của doanh
nghiệp:
hời gi n trả nợ trung

nh

ng qu

các hoản phải trả
Đơn vị tính: Ngày

Thời gian trả nợ cho biết trung bình mỗi lần doanh nghiệp sẽ nợ tiền hàng của
người bán và các chủ thể khác, chỉ tiêu này càng cao sẽ càng tốt cho doanh nghiệp vì
thời gian chiếm dụng được vốn là dài và doanh nghiệp chậm phải chi tiền để trả nợ.
Vậy thời gian quay vòng tiền của doanh nghiệp sẽ được xác định theo công thức:
Thời gian quay vòng tiền (CCC) = Chu k kinh doanh – Thời gian trả nợ (APP)
Đơn vị tính: Ngày
Với chu kỳ kinh doanh được xác định bằng:
Chu kỳ kinh doanh = Thời gian thu nợ + Thời gian luân chuyển kho TB
Thời gian quay vòng tiền nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp quản lý các khoản nợ tốt,
thời gian thu tiền ngắn, thời gian chiếm dụng vốn kéo dài và thời gian luân chuyển kho
nhanh và ngược lại nếu thời gian quay vòng tiền dài tức là doanh nghiệp quản lý các
khoản mục trên không hiệu quả và có thể dẫn tới tình trạng thiếu vốn để đáp ứng cho
các hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.2.3.3. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh sinh lời
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS):
suất sinh lời trên o nh thu

ợi nhuận s u thuế
o nh thu thuần
Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng doanh thu thuần thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng
cao.

17

Thang Long University Library


Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA):
ợi nhuận s u thuế

suất sinh lời trên tổng t i sản

ổng t i sản
Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của tài sản mà doanh nghiệp
đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Chỉ tiêu cho biết, trong một kỳ phân tích,
doanh nghiệp đầu tư 100 đồng tài sản thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp tốt.
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE):
ợi nhuận s u thuế

suất sinh lời trên tổng t i sản

ổng vốn chủ s h u
Đợn vị tính: %

Chỉ tiêu này cho biết bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ một đồng
vốn chủ sở hữu. Thông thường để đánh giá thì người ta so sánh với chỉ số này của năm
trước đó và nó phụ thuộc vào từng ngành cụ thể.
Tỷ suất sinh lời trên tài sản ngắn hạn (ROSA):
ợi nhuận s u thuế
nh qu n trong

suất sinh lời

Đơn vị: %
Đây là hệ số tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một
đồng vốn đầu tư. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của tài sản ngắn hạn và đánh
giá hiệu suất sử dụng TSNH của doanh nghiệp. ROSA cho biết 100 đồng TSNH bỏ ra
thì thu về cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này cao chứng tỏ hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Hệ số càng cao doanh
nghiệp càng tăng hiệu quả cạnh tranh trên thị trường
Mô hình dupont là kỹ thuật được sử dụng trong phân tích khả năng sinh lời của
doanh nghiệp cũng như hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bằng các
công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Mô hình dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo
cáo thu nhập với bản cân đối kế toán. Mục đích của phân tích tài chính dupont là phân
tích khả năng sinh lời của một đồng TSNH mà doanh nghiệp sử dụng dưới sự ảnh
hưởng của những bộ phận tài chính, chi phí, doanh thu nào. Thông qua phân tích
dupont, các nhà quản trị có thể đưa ra các quyết định nhằm đạt được khả năng lợi
nhuận mong muốn. Mô hình phân tích dupont như sau:

18


o nh thu thuần

o nh thu thuần
nh qu n
Đơn vị tính: %

Qua mô hình phân tích dupont chúng ta có thể thấy được sự thay đổi của ROSA
là do tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) và hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn gây
ra. Nếu ROSA tăng do ROS tăng chứng tỏ công tác quản lý chi phí của doanh nghiệp
là tốt, 1 đồng doanh thu tạo được nhiều đồng lợi nhuận hơn, và ngược lại ROSA giảm
do ROS giảm tức là công tác quản lý chi phí đang kém đi. Hoặc nếu ROSA tăng do
hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn tăng chứng tỏ việc quản lý và sử dụng tài sản ngắn
hạn đang tốt dần lên và ngược lại.
Cụ thể hơn để xác định nhân tố nào tác động chủ yếu đến sự thay đổi của ROSA
ta có thể sử dụng phương pháp loại trừ. Để xây dựng công thức tính toán sự thay đổi ta
có thể đặt như sau:
Xk là tỷ suất sinh lời trên TSNH của năm kế hoạch
X1 là tỷ suất sinh lời trên TSNH của năm thực hiện
ak là tỷ suất sinh lời trên doanh thu của năm kế hoạch
bk hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của năm kế hoạch
a1 là tỷ suất sinh lời trên doanh thu của năm thực hiện
b1 hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của năm thực hiện
Ta có:

X là số chênh lệch tuyệt đối của chỉ tiêu phân tích giữa kỳ thực hiện so với kỳ kế
hoạch. Bằng phương pháp loại trừ có thể xác định sự ảnh hưởng lần lượt từng nhân tố
a, b đến chỉ tiêu phân tích X như sau:
 Ảnh hưởng của nhân tố a:
 Ảnh hưởng của nhân tố b:
Vậy ta có
Và từ đây ta có thể xác định được sự ảnh hưởng và mức độ của từng nhân tố đến
X và đưa ra nhưng quyết định điều chỉnh kịp thời.
19

Thang Long University Library


1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng TSNH
Để đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp, ngoài phân tích các chỉ
tiêu tài chính, chúng ta cũng cần đánh giá, phân tích các nhân tố ảnh hưởng tác động
đến hiệu quả sử dụng TSNH. Trong quá trình hoạt động và phát triển có rất nhiều nhân
tố tác động đến hiệu quả sử dụng TSNH nhưng về cơ bản có 2 nhóm nhân tố chính là
nhóm nhân tố chủ quan và nhóm nhân tố khách quan.
1.3.1. Nhân tố chủ quan
1.3.1.1. Đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp
Trên thị trường, mỗi ngành nghề kinh doanh có những đặc điểm khác nhau như
tính mùa vụ, chu kỳ sản xuất kinh doanh,.. từ đó có tác động không nhỏ tới hiệu quả sử
dụng TSNH của doanh nghiệp. Doanh nghiệp kinh doanh có tính chất mùa vụ thường
có biến động trong sử dụng TSNH tương ứng với mùa vụ đó. Ngoài ra các doanh
nghiệp có chu kỳ kinh doanh ngắn sẽ có thời gian quay vòng vốn nhanh và tác động
đến hiệu quả sản xuất trong doanh nghiệp. Sự cân đối giữa tỷ trọng TSNH và TSDH sẽ
thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu quả
sử dụng TSNH trong đó.
Mỗi doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm khác nhau thì đối tượng khách hàng
cũng là khác nhau. Do đó chính sách tín dụng thương mại khác nhau, từ đó tỷ trọng
các khoản phải thu trong TSNH cũng khác nhau. Nếu doanh nghiệp có khách hàng là
công ty bán buôn, công ty phân phối thì sẽ bị chiếm dụng nhiều vốn, ngược lại nếu
khách hàng là người tiêu dùng thì người tiêu dùng cuối cùng sẽ bị chiếm dụng vốn ít
hơn. Nếu hàng hoá có giá trị lớn, thời gian sản xuất kéo dài thì giá trị hàng tốn kho sẽ
ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng TSNH.
Bên cạnh đó, uy tín của doanh nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong các mối
quan hệ với tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, các bạn
hàng, khách hàng của doanh nghiệp về sản phảm, hàng hoá, dịch vụ của mình,.. Một
doanh nghiệp có uy tín, điều kiện vật chất được khai thác triệt để tạo ra một sự phát
triển vững chắc cho doanh nghiệp. Khi đó doanh nghiệp vẫn có thể tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh bình thường mà không cần dự trữ một lượng vốn quá lớn.
Điều này sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp.
1.3.1.2. Cơ sở vật chất của doanh nghiệp
Đây là nhân tố quan trong, bởi ngoài việc nguyên vật liệu tốt để có được những
sản phẩm tốt thì điều quan trọng là doanh nghiệp phải có những thiết bị máy móc tốt.
Một doanh nghiệp có được những trang thiết bị tốt sẽ làm cho các khâu sản xuất trở
nên dễ dàng hơn. Cùng chất lượng nguyên vật liệu nhưng nếu doanh nghiệp nào có
20


trang thiết bị tốt, máy móc đưa vào dây chuyền sản xuất những thiết bị công nghệ cao
sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng, đồng thời làm cho các công đoạn của quá
trình sản xuất diễn ra nhanh chóng hơn, ngược lại với máy móc không tốt sẽ không tận
dụng được hết giá trị của nguyên vật liệu thậm chí còn sản xuất ra những sản phẩm
kém chất lượng, như vậy hiệu quả sử dụng TSNH không cao.
1.3.1.3. Nhân tố con người
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi các doanh nghiệp phải cạnh tranh một
cách gay gắt thì con người lại càng khẳng định mình là nhân tố quan trọng tác động
đên hiệu quả kinh doanh. Đặc biệt là người đứng đầu doanh nghiệp hay là nhà quản lý
có tầm ảnh hưởng lớn hiệu quả kinh doanh hay là hiệu quả sử dụng TSNH. Thực trạng
sử dụng TSNH cũng như kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh rõ những chính sách,
quyết định của nhà quản lý. Việc sử dụng TSNH hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn
từ quyết định của nhà quản lý. Ví dụ, khi nhà quản lý quyết định thay đổi chính sách
tín dụng đối với các khoản phải thu, cho thời gian khách hàng nợ tăng lên, để thu hút
khách hàng, từ đó bán được nhiều hàng hơn, doanh thu tăng. Nhưng nếu chính sách
quản lý các khoản phải thu lỏng lẻo, không kiểm soát được thì sẽ dẫn đến thất thoát
vốn và nhiều tổn thất rất lớn cho doanh nghiêp. Đối với các nhà lãnh đạo thì trình độ
quản lý, khả năng chuyên môn sẽ giúp doanh nghiệp đạt được lợi nhuận tối ưu. Bên
cạnh đó, ý thức trách nhiệm trong lao động cũng như khả năng thích ứng yêu cầu thị
trường của cán bộ công nhân viên sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, nâng cao
hiệu quả sử dụng TSNH cho doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung như ngày nay thì trình độ của các nhà
quản lý và các cán bộ nhân viên là rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh
nghiệp. Để kinh doanh có hiệu quả hay việc sử dụng hiệu quả TSNH thì đòi hỏi các
doanh nghiệp phải có những cán bộ quản lý giỏi, công nhân viên có trình độ tay nghề
cao. Lực lượng lao động đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình sản xuất để tận dụng hết nguyện vật liệu một cách hiệu quả, tiết kiệm
chi phí thì người công nhân phải có chuyên môn giỏi, đặc biệt là việc sử dụng thành
thạo, vận dụng tốt những loại thiết bị máy móc. Với sự phát triển của công nghệ và
máy móc ngày nay thì đòi hỏi lực lượng lao động ngày phải càng có chuyên môn cao,
lành nghề.
1.3.1.4. Nhu cầu về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Nhu cầu về TSNH của doanh nghiệp có vai trò quyết định đến cơ cấu TSNH, đảm
bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục, không bị gián đoạn.
Việc xác định sai về nhu cầu TSNH đều gây ra những hậu quả khó lường. Nếu xác
định thiếu thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc chi trả, thanh toán hoặc thiếu
21

Thang Long University Library


hàng để cung cấp cho đối tác. Trường hợp doanh nghiệp rơi vào tình huống cấp bách
thì có thể doanh nghiệp phải đi vay mượn, làm tăng chi phí sử dụng TSNH. Ngược lại,
nếu xác định dư thừa thì kéo theo các chi phí phát sinh như chi phí cơ hội do dự trữ
tiền mặt, chi phí quản lý kho,... Do đó, xác định đúng nhu cầu TSNH trong doanh
nghiệp là điều hết sức quan trọng.
1.3.2. Nhân tố khách quan
1.3.2.1. Sự quản lý của nhà nước
Trong nền kinh tế tồn tại nhiều loại hình kinh doanh khác nhau, mỗi loại hình
doanh nghiệp mang đặc thù riêng. Nhà nước có trách nhiệm quản lý các doanh nghiệp
đó để nó đi vào hoạt động trong khuôn khổ mà Nhà nước quy định. Nhà nước điều tiết
hoạt động thị trường thông qua các chính sách thuế, chính sách đầu tư, chính sách bảo
trợ. Một mặt, các chính sách tích cực của nhà nước như ưu đãi tín dụng, ký kết các
hiệp định thương mại, tham gia các tổ chức thương mại trong khu vực và thế giới đã
tạo môi trường và hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp có cơ hội phát triển
kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế. Mặt khác, với hành lang pháp lý chặt chẽ, minh
bạch Nhà nước giúp đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp khỏi những rủi ro, đảm bảo
sự công bằng, an toàn trong kinh doanh. Tuy nhiên, chính sách quản lý kinh tế của nhà
nước còn nhiều điểm hạn chế và chưa hoàn thiện khiến cho doanh nghiệp gặp không ít
khó khắn trong khi làm thủ tục hành chính, thương mại.
1.3.2.2. Môi trường kinh tế
Có nhiều nhân tố trong môi trường kinh tế ảnh hưởng đến doanh nghiệp như:
Nhu cầu của khách hàng: Nhu cầu của khách hàng ngày càng đòi hỏi cao hơn,
không những chất lượng tốt, giá cả mang tính cạnh tranh cao. Đồng thời nhu cầu
khách hàng đóng vai trò to lớn ảnh hưởng đến các quyết định của doanh nghiệp như
sản xuất cái gì? mẫu mã, bao bì ra sao? nếu có những khác biệt, đổi mới nào trong sản
phẩm?
Doanh nghiệp có những chiến lược kinh doanh rõ ràng, khác biệt, đánh trúng thị
hiếu của khách hàng cùng với đội ngũ nhân viên chuyên môn cao sẽ có nhiều lợi thế
trong quá trình thâm nhập thị trường để tiến hành quảng bá và kinh doanh sản phẩm.
Nhiều sản phẩm được bán ra sẽ làm doanh thu tăng.
Mức độ cạnh tranh trên thị trường: Để tồn tại được thì các doanh nghiệp luôn có
sự cạnh tranh lẫn nhau. Cùng là các doanh nghiệp sản xuất ra một loại sản phẩm
nhưng doanh nghiệp nào có sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp thì sẽ thu hút được
nhiều khách hàng hơn. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần có những kế hoạch kinh doanh
cạnh tranh hơn đối thủ cạnh tranh như chấp nhận bán chịu, cung ứng đầu vào ổn định,
22


chi phí thấp. Như vậy, doanh nghiệp phải có các biện pháp thích hợp để tăng vòng
quay TSNH, giảm chi phí, tăng lợi nhuận.
Sự điều chỉnh chính sách vĩ ô: Bằng luận pháp kinh tế và các chính sách kinh tế,
nhà nước thực hiện việc quản lý và điều tiết nguồn lực trong kinh tế, tạo môi trường và
hành lang cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh theo định hướng nhất
định. Chỉ một thay đổi nhỏ trong chế độ chính sách hiện hành cũng có ảnh hưởng rất
lớn đến chiến lược kinh doanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung và
hiệu quả sử dụng TSNH nói riêng.
Thông tin: Hiện nay thông tin đã trở thành yếu tố cực kì quan trọng tác động đến
mọi hoạt động của doanh nghiệp. Những thông tin chính xác, đầy đủ mà doanh nghiệp
nhận được sẽ là căn cứ quan trọng cho việc xây dựng chính sách quản lý ngân quỹ, các
khoản thu và dự trữ.
Khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ luôn phát triển nhanh và vượt trội với
nhiều thay đổi, chính những thay đổi này đem lại lợi ích cho doanh nghiệp nếu bắt kịp
xu hướng mới. Những tiến bộ này cũng đòi hỏi doanh nghiệp chịu khó đầu tư, thay
đổi, điều này là không dễ dàng với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
1.3.2.3. Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên là toàn bộ các yếu tố tự nhiên tác động đến doanh nghiệp
như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,... Nhân tố này ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến quyết
định quản lý TSNH của doanh nghiệp, cụ thể là mức dự trữ. Sở dĩ như vậy là do tính
mùa vụ của thị trường cung ứng và thị trường tiêu thụ. Hơn nữa, khi điều kiện tự nhiên
không thuận lợi thì doanh nghiệp sẽ phải tốn chi phí nhiều hơn cho công tác dự trữ
(chi phí vận chuyển, chi phí bảo quản,..) từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng TSNH của
doanh nghiệp.
Trên đây là các nhân tố chính tác động tới hiệu quả sử dụng TSNH nhưng bên
cạnh đó, doanh nghiệp cần quan tâm tới các nhân tố khác như: các vấn đề về tỷ giá,
lạm phát, thiên tai, bệnh dịch... cũng ít nhiều ảnh hưởng dến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.

23

Thang Long University Library


CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN
HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHẬP KHẨU THƢƠNG MẠI
TRỌNG TÍN
2.1. Đặc điểm tình hình chung về Công ty cổ phần Nhập khẩu thƣơng mại
Trọng Tín
2.1.1. Giới thiệu chung về Công ty
Cùng với sự đổi mới, phát triển kinh tế của đất nước, công ty cổ phần đầu tư và
phát triển dịch vụ T&T ra đời theo giấy phép kinh doanh số 0103008963 ngày 06
tháng 11 năm 2008 do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp. Sau đó công ty
đổi tên thành công ty cổ phần nhập khẩu thương mại Trọng Tín ngày 12 Tháng 12 năm
2011.
 Tên Công ty: Công ty cổ phần nhập khẩu thương mại Trọng Tín
 Tên giao dịch tiếng anh: TRONG TIN COMMERCIAL IMPORT JOINT
STOCK COMPANY
 Địa chỉ giao dịch: Số 33 Đường 10 Nghĩa Dũng, Phường Phúc Xá, Quận Ba
Đình, Thành phố Hà Nội
 Mã số thuế: 0103008963
 Người đại diện: Vũ Đức Thọ
 Vốn điều lệ: 2.000.000.000 đồng ( Hai tỷ đồng Việt Nam)
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển hội nhập với nền
kinh tế thế giới đầy biến động, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều thách thức và cơ
hội. Song với sự vận động của mình, công ty đã có những bước phát triển đáng kể.
Qua một thời gian, thành lập, xây dựng, đổi mới về tổ chức cũng như các lĩnh vực kinh
doanh từ năm 2008 đến nay, công ty đã có những thay đổi và phát triển: Công ty hoạt
động kinh doanh thiết bị y tế, thiết bị điện trong giai đoạn 2008-2011 nhưng từ năm
2012 đến nay, Công ty kinh doanh mặt hàng chính là: Cung cấp thiết bị điện.
Tuy là một doanh nghiệp nhỏ nhưng với phương châm lấy chữ Tín làm đầu trong
kinh doanh, Công ty luôn luôn cung cấp những sản phẩm hàng hoá có uy tín, chất
lượng làm hài lòng khách hàng tối đa có thể.
Xác định được năng lực và ưu thế của mình, công ty tuy cung cấp ít sản phẩm
nhưng điều đó giúp cho công ty tập trung làm tốt trong việc cung cấp những hàng hoá
chất lượng.
Sản phẩm chính của công ty bao gồm:
24


 Cung cấp đầu cáp trung thế, cao thế: Tất cả các sản phẩm đều được nhà phân
phối nhập khẩu nguyên hộp từ nhà sản xuất Euromold của Bỉ.
 Hộp nối đầu cáp: Được sản xuất trong nước với chất lượng cao, luôn làm hài
lòng khách hàng về giá cả và chất lượng.
 Sứ xuyên: Hàng được sản xuất trong nước, đảm bảo độ bền với giá cả hợp lý.
 Cung cấp một số loại thiết bị điện dân dụng khác.
Tất cả các mặt hàng đều được đặt hàng theo yêu cầu của khách hàng. Công ty
luôn có chuyên gia kỹ thuật kiểm tra chất lượng trước khi giao hàng cho khách hàng,
vì vậy chưa có sự phàn nàn về chất lượng sản phẩm. Điều đó làm nên chỗ đứng, độ tin
tưởng của khách hàng dành cho công ty. Mang lại nguồn doanh thu ổn định và không
ngừng phát triển hơn nữa.
Ngoài những sản phẩm cung cấp trên, công ty còn đáp ứng nhu cầu thi công lắp
đặt nếu khách hàng có nhu cầu.
Với đội ngũ nhân viên gồm hơn 15 người với trình độ đại học và kĩ sư kỹ thuật
được đào tạo bài bản, năng động, yêu nghề hết lòng vì công việc. Đây là nguồn lực
phát triển, yếu tố then chốt tạo nên thành công cho doanh nghiệp.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần nhập khẩu thương mại Trọng Tín
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần nhập khẩu thương mại Trọng Tín
Hội đồng quản
trị

Giám đốc

Phòng kế toán

Phòng kỹ
thuật

Phòng Kinh
doanh

Phòng hành
chính

(Nguồn: Phòng hành chính)

25

Thang Long University Library


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×