Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ VÀ THƯƠNG MẠI D.E.L.T.A

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN
NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Nguồn nhân lực
Khái niệm “Nguồn lực con người” hay “Nguồn nhân lực”được hình thành trong
quá trình nghiên cứu và xem xét con người dưới góc độ là nguồn lực của một doanh
nghiệp. Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực ở trong nước và ngoài nước tập
trung nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau:
Xét trên tầm vĩ mô của nền kinh tế: “Nguồn nhân lực là nguồn lực của con
người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện
ra số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”1.Theo khái niệm này
khả năng của nguồn nhân lực được đánh giá cao là yếu tố quyết định tạo ra lợi nhuận
cho công ty.
Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động toàn cầu hóa đối
với nguồn nhân lực đã định nghĩa:“Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và
năng lực thực có, thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của
con người”2. Quan điểm này có phần thiên về chất lượng nguồn nhân lực, đánh giá cao
các tiêu chí tiềm năng, khả năng đáp ứng được yêu cầu của công việc trong hiện tại và
tương lai.
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người
hay nguồn nhân lực. Do đó, có thể nói nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả

những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nguồn nhân lực được hiểu là
nguồn lực của mỗi con người
Như vậy, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực, trí lực,
tâm lực của con người được sử dụng trong quá trình sản xuất, hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp – một nguồn lực quý giá và quan trọng trong quá trình hoạt động
của doanh nghiệp
Có nhiều định nghĩa khác nhau dựa trên góc độ tiếp cận khác nhau song có thể
nhận thấy điểm chung từ các khái niệm này: Nguồn nhân lực là tổng thể của yếu tố số
lượng và chất lượng tổng hòa từ các tiêu chí thể lực, trí lực và tâm lực mà con người
và xã hội đang tích lũy trong quá trình lao động, sáng tạo và phát triển. Số lượng
nguồn nhân lực liên quan chặt chẽ tới chỉ tiêu tốc độ gia tăng dân số, quy mô, sự phân
1

Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2013), Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Đại học kinh tế quốc dân,

2

Tạ Ngọc Hải, Một số về nội dung về nguồn nhân lực và phương pháp đánh giá nguồn nhân lực,

http://caicachhanhchinh.gov.vn/uploads/News/2138/attachs/vi.BAI%2021%20TRANG%2065.pdf

1

Thang Long University Library


bố, vị trí, chức năng của doanh nghiệp. Còn chất lượng nguồn nhân lực là thể hiện ở
thể lực, trí lực, tâm lực: Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc,
tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ
làm việc và nghỉ ngơi. Thể lực con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công
tác, giới tính...Trí lực thể hiện sự hiểu biết, khả năng tiếp thu kiến thức, tài năng, năng
khiếu... của mỗi con người. Trong sản xuất kinh doanh truyền thống, thể lực con người
được tận dụng và khai thức triệt để. Trong khi đó khai thác tiềm năng về trí lực của
con người còn mới mẻ và chưa bao giờ là cạn kiệt mà các nhà quản trị cần phải khai
thác kho tàng bí ẩn. Tâm lực là phản ánh các chuẩn mực đạo đức xã hội, đây là những
yếu tố xã hội tác động trực tiếp đến sự hình thành tính cách, phẩm chất của riêng
người lao động. Do vậy, yếu tố đạo đức này có vai trò quan trọng tạo nên con người
vừa có trình độ tay nghề, học vấn cao vừa có tâm hồn trong sáng, lành mạnh.
Với tư cách là tiềm năng lao động của mỗi vùng, miền hay quốc gia thì nguồn
nhân lực là tài nguyên cơ bản nhất.

1.1.2. Phân loại nguồn nhân lực
Tùy theo giác độ nghiên cứu mà người ta chia nguồn nhân lực theo các cách
khác nhau:
Căn cứ vào nguồn gốc hình thành nguồn nhân lực được chia thành 3 loại3:
Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư hay được gọi là dân cư hoạt động bao gồm
những người nằm trong độ tuổi lao động, không kể đến trạng thái có làm việc hay
không. Độ tuổi lao động là giới hạn về những điều kiện cụ thể về tâm sinh lý xã hội
mà con người tham gia vào quá trình lao động. Giới hạn độ tuổi lao động được quy
định tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của từng nước ở các thời kì khác nhau
Nguồn lực tham gia vào hoạt động kinh tế hay là dân số hoạt động kinh tế là số
người có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế văn hóa của xã
hội.
Nguồn lực dự trữ : Bao gồm những người trong độ tuổi lao động nhưng vì các lý
do khác nhau họ chưa có công ăn việc làm trong xã hội.
Căn cứ vào vai trò, vị trí của người lao động, nguồn nhân lực được chia thành 3
loại :
-

Nguồn lực chính: Đây là bộ phận nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động và là bộ

phận quan trọng nhất.
Nguồn nhân lực phụ: Đây là bộ phận dân cư nằm ngoài tuổi lao động có thể và
cần tham gia vào nền sản xuất xã hội.
3

Nguyễn Tiệp (2014), Giáo trình Nguồn nhân lực, NXB Lao dộng và Xã hội, Hà Nội, tr. 10-16

2


-

Nguồn nhân bổ sung: Là bộ phận nguồn nhân lực được bổ sung từ các nguồn

nhân lực khác (số người trong độ tuổi lao động mới tốt nghiệp, số người lao động ở
nước ngoài về ...)
Dưới góc độ phạm vi của tổ chức người ta chia nguồn nhân lực thành 2 loại:
Nguồn nhân lực của một quốc gia: Là toàn bộ những có khả năng lao động trong
độ tuổi lao động.
-

Nguồn nhân lực của một doanh nghiệp: Là tổng số người lao động hoạt động

trong doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu và được doanh nghiệp trả lương.
1.1.3. Chất lượng nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là một trong những yếu tố lao động sản
xuất, mà còn là nguồn lực có khả năng quyết định việc tổ chức, quản lý và sử dụng
nguồn nhân lực khác, là chủ thể của tất cả các hoạt động quản lý, sản xuất. Trong khi
các nhân lực tự nhiên chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, nếu không được con người khai
thác sẽ trở nên vô dụng thì lao động là nguồn lực duy nhất có khả năng phát hiện, khơi
dậy, và cải tiến nguồn lực tự nhiên. Do đó, chất lượng nguồn nhân lực được rất nhiều
các tác giả bàn tới:
Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển
kinh tế về mặt đời sống, xã hội, bởi lẽ“Chất lượng nguồn nhân lực là giá trị con
người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề
nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất
đạo đức, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh
tế - xã hội”.4
Chất lượng nguồn nhân lực được hiểu như sau: “Chất lượng nguồn nhân lực là
trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu
thành bên trong của nguồn nhân lực”5. Trong mỗi doanh nghiệp, chất lượng nguồn
nhân lực không chỉ phản ánh trình độ phát triển về mặt kinh tế mà nó còn là chỉ tiêu
phản ánh trình độ phát triển đời sống của mỗi thành viên trong doanh nghiệp đó, bởi lẽ
chất lượng nguồn nhân lực tạo ra động lực, nó không chỉ là nguồn lực quan trọng trong
sự phát triển của doanh nghiệp mà còn thể hiện mức độ văn minh, lành mạnh trong
môi trường làm việc, văn hóa doanh nghiệp của doanh nghiệp.

4

Vũ Bá Thế, Phát huy nguồn nhân lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Kinh nghiệm quốc tế và thực
tiễn Việt Nam, Tr 24, NXB Lao động Xã Hội, Hà Nội, năm 2005
5

Theo Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu, Giáo trình Kinh tế lao động, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB

Lao Động – xã hội, Hà Nội, năm 2003

3

Thang Long University Library


Chỉ số phát triển con người (HDI) là thước đo tổng hợp phản ánh sự phát triển
của con người trên các phương diện thu nhập (thể hiện qua tổng sản phẩm trong nước
bình quân đầu người), tri thức (thể hiện qua chỉ số học vấn) và sức khoẻ (thể hiện qua
tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh).6
Công thức 1.1 Chỉ số phát triển con ngƣời (HDI)
HDI = 1/3(HDI1 + HDI2 + HDI3)
(Nguồn: Cục thống kê Kiên Giang, Phương pháp tính chỉ số phát triển con người HDI)
Trong đó:
HDI1: Chỉ số tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người tính theo sức mua
tương đương;
HDI2: Chỉ số học vấn được tính bằng cách bình quân hóa giữa chỉ số tỷ lệ người
lớn biết chữ (dân cư từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết) với quyền số là 2/3 và tỷ lệ đi
học các cấp giáo dục (Phổ thông, trung học, cao đẳng, đại học...) với quyền số là 1/3;
HDI3: Chỉ số tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh (kỳ vọng sống tính từ lúc sinh).
HDI nhận giá trị từ 0 đến 1. HDI càng gần 1 có nghĩa là trình độ phát triển con
người càng cao, trái lại càng gần 0 nghĩa là trình độ phát triển con người càng thấp.
Chất lượng nguồn nhân lực được các tác giả nhìn nhận ở các khía cạnh khác
nhau nên có quan điểm khác nhau. Chất lượng nguồn nhân lực của đề tài này được
hiểu là tổng hòa của các yếu tố về trí tuệ, trình độ chuyên môn, năng lực, kỹ năng, sức
khỏe, đạo đức, cách ứng xử...các yếu tố này liên kết chặt chẽ với nhau tạo ra chất
lượng của nhân lực, và được đánh giá trên các tiêu chí: trí lực, thể lực, tâm lực. Trong
đó trí lực tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá phân loại chất lượng nguồn nhân lực.
1.1.4. Vai trò của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Thứ nhất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu nguồn nhân
lực chất lượng cao hiện nay
Hiện nay, sự phát triển của khoa học công nghệ, kỹ thuật và những ứng dụng
khoa học công nghệ vào sản xuất ngày càng nhiều. Tuy nhiên nguồn nhân lực vẫn
đóng vai trò quyết định trong quá trình làm việc là nguồn lực không thể thiếu trong
doanh nghiệp. Ngày nay thế giới đang có xu hướng chuyển sang cạnh tranh bằng
nguồn lực, đó là sử dụng nguồn lực có tri thức vào cạnh tranh và tạo lợi thế cạnh tranh
cho công ty. Do đó con người là nhân tố then chốt trong sự thành công của công ty.
Vậy nên việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố cần thiết để nguồn nhân
lực đáp ứng được yêu cầu chất lượng ngày càng cao.
6

Cục thống kê Kiên Giang, Phương pháp tính chỉ số phát triển con người (HDI),
http://cucthongkekg.gov.vn/news.php?id=93, 03/06/2013

4


Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để thực hiện mục tiêu phát triển
của doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực được coi là yếu tố quan trọng để thực hiện thắng lợi chủ trương
phát triển, chiến lược ngắn hạn và dài hạn, thúc đẩy sự phát triển của ngành nghề và
nâng cao đời sống nhân dân.
Để đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh, doanh nghiệp cần có những con
người hội tụ được sức khỏe, tài năng, tâm huyết có trách nhiệm với nghề, làm việc có
kỷ cương với kỹ năng cao, chất lượng và hiệu quả công việc luôn đặt lên hàng đầu
Thứ ba, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm nâng cao năng lực canh tranh
của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội nhập sâu rộng
Có thể nói rằng, nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất có tính quyết định để
nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Đó là đội ngũ
đủ về số lượng, cơ cấu hợp lý, được đào tạo bài bản về chuyên môn, nghiệp vụ, có
phẩm chất đạo đức tốt, yêu nghề và óc sáng tạo. Muốn vậy, doanh nghiệp phải tăng
cường sự quản lý về công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực từng bước chuẩn hóa đội
ngũ lao động trong doanh nghiệp theo yêu cầu của thực tế.
Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng tạo điều kiện cho các công ty dần
từng bước đi ra thị trường Thế giới. Vì vậy, xu hướng này đòi hỏi nguồn nhân lực phải
liên tục nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ để đáp ứng được yêu
cầu công việc, tăng lợi thế cạnh tranh với các quốc gia khác trên thế giới, và trong khu
vực.
1.1.5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Thuật ngữ “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” hàm ý chỉ thực hiện một số
hoạt động để thay đổi chất lượng nguồn nhân lực tăng lên so với hiện tại. Đó là những
biểu hiện nâng cao trí lực, thể lực, tâm lực của nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực một mặt giúp nguồn nhân lực có năng lực để đáp ứng được nhu cầu sử
dụng nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kì phát triển của khoa học xã hội trên
đà hội nhập quốc tế, một mặt giúp nguồn nhân lực tự tin trong quá trình làm việc tạo ra
của cải vật chất cho bản thân, doanh nghiệp và xã hội một cách bền vững và phát triển.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dựa trên các phương pháp, hình thức, chính
sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng của từng người lao động.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là sự thay đổi cả về số lượng và chất lượng, thể
hiện qua: trí lực, tâm lực, thể lực.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc tăng giá trị con người cả về vật chất
và tinh thần, cả về trí tuệ và tâm hồn, làm cho nguồn nhân lực có năng lực cao hơn
5

Thang Long University Library


phẩm chất tốt. Từ đây tác giả đưa ra quan điểm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là
tổng hợp các hoạt động nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn kỹ thuật, thái độ,
trách nhiệm trong công việc thông qua các chính sách phát triển nguồn nhân lực.
1.2. Những phƣơng pháp chủ yếu nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực
1.2.1. Nâng cao về thể lực.
1.2.1.1Sức khỏe thể chất
Thể chất là chỉ chất lượng cơ thể con người, đó là những đặc trưng tương đối ổn
định về hình thái, chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh
hoặc do điều kiện sống tập luyện.
Thể chất của nguồn nhân lực không chỉ đánh giá qua cân nặng, chiều cao, dung
tích phổi mà còn dựa vào những tiêu chí phức tạp hơn như tình trạng nghỉ ốm, nghỉ
thai sản, nghỉ làm do tai nạn lao động hay tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp của người lao
động trong kỳ.
Các doanh nghiệp cần nắm rõ sức khỏe thể chất của nguồn nhân lực để phân
công công việc sao cho phù hợp với sức khỏe của người lao động. Đặc biệt với những
ngành nghề lao động chân tay nặng đòi hỏi cao về sức khỏe để thích nghi được với
ngành nghề .
Đối với từng ngành khác nhau sẽ có yêu cầu thể chất khác nhau. Thể chất người
lao động thể hiện qua quy mô và chất lượng thể chất. Quy mô thể hiển số lượng người
lao động được sử dụng, thời gian người lao động làm việc tại doanh nghiệp. Chất
lượng thể lực thể hiện thông qua độ tuổi và giới tính. Cơ cấu nguồn nhân lực theo giới
tính là thông số giúp doanh nghiệp đánh giá được việc sử dụng và bố trí nguồn nhân
lực sao cho phù hợp với đặc điểm giới tính, nhất là nữ thường có hạn chế ảnh hưởng
đến công việc do độ tuổi sinh đẻ, chăm sóc con nhỏ, công việc nội trợ... Độ tuổi thể
hiện kinh nghiệm, chín chắn là độ tuổi trên 40 tuổi nhưng lại có thể chất kém hơn so
với lao động có độ tuổi dưới 40.
Trong phạm vi một tổ chức, doanh nghiệp, thể lực của người lao động được hình
thành duy trì và phát triển chế độ dinh dưỡng, chế độ chăm sóc sức khỏe, tinh thần…
Vì vậy, việc đầu tư chăm sóc sức khỏe cho người lao động là cần thiết làm tăng cường
chất lượng nguồn lao động cả ở hiện tại lẫn tương lai. Doanh nghiệp nên chú trọng đến
việc xây dựng chính sách đãi ngộ, nâng cao thu nhập, nhằm cải thiện đời sống vật chất
cho nguồn nhân lực, đồng thời đẩy mạnh phong trào rèn luyện thể thao, chăm sóc sức
khỏe cho nguồn nhân lực.
Nắm được tầm quan trọng của sức khỏe thể chất đối với công việc, các doanh
nghiệp hiện nay có tổ chức rất nhiều hoạt động để nâng cao năng lực thể chất như: tập
6


thể dục buổi sáng cho công nhân, tổ chức đi du lịch cho nhân viên, tạo lập môi trường
làm việc thoải mái năng động kích thích sáng tạo cho nhân viên...
1.2.1.2 Sức khỏe tinh thần
Sức khỏe của nguồn nhân lực không chỉ là sức khỏe thể chất mà còn là sức khỏe
của tinh thần. Sức khỏe tinh thần là tinh thần làm việc, nỗ lực có trách nhiệm hay uể
oải. Sức khỏe tinh thần là yếu tố khiến nguồn nhân lực tạo ra nhiều ý tưởng sáng tạo
trong công việc. Nếu nhân viên có một sực khỏe cường tráng nhưng tinh thần mệt mỏi
chán nản công việc thì không thể nào làm việc tốt và ngược lại.
Các nhà tâm lý học cho rằng, sức khoẻ con người chịu ảnh hưởng rất nhiều của
trạng thái tinh thần. Từ các bệnh huyết áp cao, tiểu đường, dạ dày hay đến các bệnh
hiểm nghèo như ung thư một phần nguyên nhân đến từ tình cảm và tâm lý không tốt:
như căng thẳng, buồn bã, lo nghĩ nhiều... Vào năm 1946, Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra
định nghĩa về sức khỏe: “Sức khỏe không chỉ là không bệnh tật mà là trạng thái hoàn
toàn sảng khoái về thể chất, tinh thần và xã hội”7.
Chìa khóa thành công của một công ty doanh nghiệp phụ thuộc vào sự năng
động, cần cù và sáng tạo của nhân viên. Tuy nhiên dưới áp lực công việc và cuộc sống
hiện nay rất dễ khiến con người ta rơi vào trạng thái căng thẳng, khủng hoảng, dẫn đến
tình trạng năng suất làm việc giảm sút. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho nhân viên là
giải pháp tối ưu nhất nhằm động viên tinh thần, gia tăng động lực làm việc và tạo sự
ổn định cho nguồn nhân sự, đặc biệt là nhân sự chủ chốt.
1.2.2. Nâng cao trí lực
Trí lực của nguồn nhân lực là tiêu chí quan trọng nhất trong các tiêu chí đánh giá
chất lượng nguồn nhân lực. Trí lực biểu hiện thông qua: Trình độ học vấn, trình độ
chuyên môn khoa học kỹ thuật và kỹ năng.
1.2.2.1 Nâng cao trình độ học vấn.
Trình độ học vấn có được chủ yếu thông qua đào tạo ở bậc trung học, phổ thông.
Trình độ học vấn thể hiện thông qua các quan hệ tỷ lệ: Số lượng người biết chữ và
chưa biết chữ, số người có trình độ tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại
học và trên đại học. Trình độ học vấn là nền tảng quan trọng để nâng cao kiến thức sự
hiểu biết của người lao động, tạo ra những điều kiện, khả năng tiếp thu và vận dụng
một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học vào thực tiễn sản xuất kinh doanh. Đây
còn là chỉ tiêu thể hiện văn hóa, thái độ ứng xử của nguồn nhân lực xây dựng được văn
hóa doanh nghiệp từ đó tạo ra môi trường làm việc thoải mái, năng động.

7

Báo Người Lao Động online, Sống khỏe là tâm thân an lạc, http://nld.com.vn/suc-khoe/song-khoe-la-than-taman-lac-2014091621285163.htm, 16/09/2014

7

Thang Long University Library


Để phát triển bền vững và thành công, doanh nghiệp cần phải nắm vững tầm
quan trọng của trình độ học vấn trong chất lượng nguồn nhân lực. Nâng cao trình độ
học vấn cho nhân viên công ty có thể thực hiện các biện pháp như: yêu cầu trình độ
học vấn đầu vào của nguồn nhân lực đạt tiêu chuẩn, phù hợp với yêu cầu công việc, cử
nhân viên đi học tại các trường lớp chính quy, khuyến khích nhân viên đi học tại
chức…
1.2.2.2 Nâng cao trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật
Trình độ chuyên môn thể hiện sự hiểu biết của nguồn lao động về những kiến
thức phục vụ công việc, khả năng thực hành một chuyên môn nào đó, sáng tạo ra
những sản phẩm mới góp phần thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và
kinh tế xã hội nói chung. Trình độ chuyên môn có được nhờ đào tạo ở các trường trung
cấp nghề, cao đẳng, đại học và sau đại học.
Lao động kỹ thuật bao gồm hai bộ phận: Công nhân, nhân viên kỹ thuật và nhà
quản trị, chuyên gia, các cán bộ chuyên môn khác. Trình độ kỹ thuật nghề của một
người lao động thể hiện ở sự hiểu biết lý thuyết kỹ thuật sản xuất, kỹ năng thực hành
để hoàn thành những công việc có mức độ phức tạp nhất định thuộc một nghề, một
chuyên môn nào đó. So với lao động giản đơn, nhân viên kỹ thuật đòi hỏi có chất
lượng lao động cao hơn, thực hiện các công việc có mức độ chính xác, tinh vi, khéo
léo hơn và do đó, tạo ra một giá trị lớn hơn trong cùng một đơn vị thời gian làm việc.
Các chỉ tiêu phản ánh trình độ chuyên môn kỹ thuật như:
-

Số lượng lao động được đào tạo và chưa qua đào tạo

-

Cơ cấu lao động được đào tạo:



Cấp đào tạo



Công nhân kỹ thuật và cán bộ chuyên môn



Trình độ đào tạo

Bất kì vị trí nào trong một doanh nghiệp đều yêu cầu trình độ chuyên môn khoa
học kỹ thuật, đặc biệt khoa học kỹ thuật đang từng giờ cải tiến thay đổi. Do đó việc
được trang bị kiến thức chuyên môn là điều rất cần thiết dù nguồn nhân lực có học vấn
ở mức độ nào và là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Doanh nghiệp
dù có máy móc công nghệ hiện đại nhưng không có nguồn nguồn nhân lực giỏi chuyên
môn khoa học lỹ thuật để điều khiển thì cũng không thể sử dụng, khai thác được lợi
ích của máy móc, công nghệ. Thực tế cho thấy, ở phần các doanh nghiệp cho trình độ
chuyên môn cao thì doanh nghiệp đó phát triển nhanh. Tuy nhiên, cũng có những
doanh nghiệp mặc dù cho nguồn lao động trình độ cao nhưng chưa tận dụng hết được
tiềm năng này, nên tốc độ phát triển cũng như năng suất lao động chưa cao, đó là do
8


cơ chế quản lý, khai thác và sử dụng nguồn nhân lực chưa tốt. Nắm bắt được tầm quan
trọng, các doanh nghiệp hiện nay đầu tư nhiều để nâng cao trình độ chuyên môn như:
cho nhân viên đi học bên nước ngoài, tham gia các khóa đào tạo tại các trung tâm hay
trường lớp chính quy, thuê các chuyên gia về giảng dạy...
1.2.2.3 Kỹ năng làm việc
Kỹ năng là sự thông thạo của nhân viên về một hay một số công việc thông qua
quá trình rèn luyện, đào tạo và tích lũy kinh nghiệm. Kỹ năng là việc vận dụng tri thức
khoa học kỹ thuật vào công việc thực tiễn. Kỹ năng khác với phản xạ và thói quen. Bởi
kỹ năng là phản ứng có ý thức và hoàn toàn mang tính chủ động do quá trình luyện tập
còn phản xạ là phản ứng vô thức của cơ thể với môi trường, thói quen thì khó kiểm
soát. Xét theo tổng quan thì kỹ năng được phân thành hai loại: kỹ năng cứng và kỹ
năng mền.
Thực tế giỏi chuyên ngành và có khả năng thực hành tốt chưa hẳn đã đủ đối với
nguồn nhân lực, nguồn nhân lực cần phải chuẩn bị cho mình thêm kỹ năng mềm, thì
nguồn nhân lực mới phát triển toàn diện được.Theo Viên Nghiên cứu Giáo dục, năm
2010 “Có khoảng 83% sinh viên ra trường bị đánh giá là thiếu Kỹ năng mềm. Cũng
theo khảo sát từ 5000 sinh viên Đại học ở TP HCM, 89% cho rằng cần thiết, 43% sinh
viên không biết học Kỹ năng mềm ở đâu và học bằng cách nào? Không hiếm sinh viên
đạt kết quả học tập tốt nhưng khi phỏng vấn sinh việc lại gặp nhiều khó khăn. Thực tế
cho thấy, kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống, đặt vấn đề, teamwork, giao tiếp tiếng
Anh… vẫn là điểm yếu của lao động Việt Nam”. Vì vậy doanh nghiệp cần phát triển
nâng cao cả kỹ năng mền và kỹ năng cứng.
Kỹ năng cứng là dạng kỹ năng cụ thể, có thể truyền đạt, đáp ứng yêu cầu trong
một bối cảnh, công việc cụ thể. Kỹ năng chuyên môn được đào tạo thông qua trường
lớp và các kĩ năng tích lũy kinh nghiệm trong quá trình làm việc, khả năng xử lí và
giải quyết công việc. Có thể nguồn nhân lực đều được đào tạo như nhau nhưng có đối
tượng này xử lí công việc ưu việt hơn, nhanh nhẹn hơn là do đối tượng này ngoài kiến
thức được đào tạo mà còn có kinh nghiệm trong công việc. Để nâng cao kỹ năng cứng
cho nhân viên công ty cần bố trí, sử dụng nguồn nhân lực hợp lí để phát huy tối đa
năng lực của nhân viên, khuyến khích nhân viên không ngừng học hỏi, cử nhân viên đi
đào tạo và phát triển...
Kỹ năng mềm là tổng hợp các kỹ năng giúp con người tư duy và tương tác với
con người, phục vụ cho công việc nhưng không phải là kỹ năng chuyên môn kỹ thuật.
Là những kỹ năng giúp con người tự quản lý, lãnh đạo chính bản thân mình và tương
tác với những người xung quanh để cuộc sống và công việc thật hiệu quả. Kỹ năng
mềm không mang tính chuyên môn, không thể sờ nắm, đo lường, không phải là kỹ
9

Thang Long University Library


năng cá tính đặc biệt mà phụ thuộc vào tính cách của mỗi người. Vai trò cơ bản của
các kỹ năng mềm là liên kết các khối kiến thức của kỹ năng cứng và vận dụng chúng
một cách linh động trong các tình huống cuộc sống. Ngoài ra các kỹ năng mềm giúp
các cá nhân thích nghi vào các môi trường sống thay đổi một cách dễ dàng và thuận lợi
hơn. Nếu như các kiến thức chuyên môn là nền tảng chính để tạo ra các nhà chuyên
môn thì khối kiến thức kỹ năng mềm là phần giá trị gia tăng cần có ở các nhà quản lý
và lãnh đạo. Cấp quản lý và lãnh đạo càng cao thì yêu cầu đối với các kỹ năng mềm
càng nhiều. Nắm vững và phát huy hiệu quả kỹ năng mềm sẽ giúp chúng ta chiếm lợi
thế trong cạnh tranh, tạo dựng được những mối quan hệ tốt đẹp và đem lại lợi ích thiết
thực cho chính sự nghiệp của chúng ta. Điều đầu tiên để nâng cao kỹ năng mền công
ty nên xây dựng văn hóa doanh nghiệp vững mạnh, tạo dựng môi trường làm việc văn
minh, công bằng, tổ chức các hoạt động tăng tinh thần đoàn kết, khiến cho nhân viên
cảm thấy tự hào khi là thành viên của công ty, có trách nhiệm với công việc và trung
thành gắn bó với công ty.
1.2.3. Nâng cao tâm lực
Chất lượng nguồn nhân lực còn được thể hiện qua những yếu tố vô hình không
thể định lượng được bằng con số cụ thể như: phẩm chất đạo đức, thái độ làm việc,
hành vi.
1.2.3.1 Phẩm chất đạo đức
Đạo đức là một hiện tượng xã hội phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn
từ bản thân cuộc sống của con người. “Đạo đức là tập hợp những quan điểm của
một xã hội, của một tầng lớp xã hội, của một tập hợp người nhất định về thế giới,
về cách sống”8. Nhờ đó con người điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với
lợi ích của cộng đồng xã hội.
Những biểu hiện chính của phẩm chất đạo đức của con người trong công việc là:

Tôn trọng luật pháp, kỷ luật của Nhà nước và của doanh nghiệp. Luôn hướng
thiện, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh;


Lao động chăm chỉ, nhiệt tình, cẩn trọng;



Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung;



Có trách nhiệm với bản thân, với công việc và với doanh nghiệp;



Có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường, . . .


Có tinh thần học tập, nghiên cứu, tiếp thu cái mới, phấn dấu, rèn luyện để nâng
cao trình độ; nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; có
phong cách, phương pháp làm việc khoa học, đổi mới; sâu sát công việc; coi trọng
8

Thư viện Học Liệu Mở Việt Nam, Đạo Đức, http://voer.edu.vn/m/dao-duc/86c4f420

10


nguyên tắc, kỷ cương; phân tích xử lý vấn đề chính xác, khách quan, công tâm, có lý,
có tình, có tính thuyết phục cao.

Kiên quyết chống những biểu hiện, những việc làm có hại cho doanh nghiệp;
không ngại khó khăn, gian khổ; tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội,
cục bộ, bè phái, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác; thực
hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô tư; không lợi dụng chức quyền để vụ lợi.

Chấp hành tốt nguyên tắc tập trung dân chủ; thường xuyên tự phê bình và phê
bình. Thực hiện nghiêm chỉnh quy chế làm việc của doanh nghiệp và bộ phận làm việc


Có lối sống lành mạnh, trung thực, gương mẫu; hành động có văn hóa; nói đi đôi

với làm; có tinh thần xây dựng và đoàn kết, thống nhất trong nội bộ; tương thân tương
ái, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân; yêu thương, giúp đỡ đồng chí, đồng
nghiệp, tác phong giản dị, khiêm tốn.
Tuy nhiên không phải ai cũng thực hiện được hết và đầy đủ các phẩm chất đạo
đức, đặc biệt khi văn hóa doanh nghiệp không được các cấp quản lí quan tâm. Vì vậy,
ngày nay mỗi doanh nghiệp đều đặt ra một nội quy chung cho toàn thể cán bộ công
nhân viên, việc tuân thủ các nội quy này có thể xem như là tiêu chí đánh giá cho nguồn
nhân lực. Vào cuối kì làm việc thì các doanh nghiệp đều dựa trên việc tuân thủ những
tiêu chí trên đế đánh giá, xem xét chất lượng nguồn nhân lực. Đây cũng được xem như
là chỉ số bổ sung về đánh giá chất lượng nguồn nhân lực và nó có một tác động mạnh
mẽ và to lớn tới năng suất lao động và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy
các công ty nên có các chế độ khen thưởng cho nhân viên có đạo đức tốt, và xử phạt
ngiêm minh với các nhân viên vi phạm đạo đức, quy định của công ty, cần có nhà
quản trị làm gương cho nhân viên, khen thưởng xử phạt công bằng, đào tạo công tác
giáo dục tư tưởng lối sống cho nhân viên, khuyến khích nhân viên tham gia các hoạt
động vì môi trường, xã hội...
1.2.3.2 Thái độ làm việc
Thái độ là cách để lộ ý nghĩ, tình cảm trước một sự việc, trong một hoàn cảnh
bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động.
Thái độ làm việc biểu hiện thông qua ý thức làm của nguồn nhân lực trong quá
trình làm việc. Điều này phần lớn phụ thuộc vào tính cách của con người, trình độ học
vấn của nhân viên, và vị trí làm việc của nhân viên. Nhân viên sẽ cảm thấy không
hứng thú với công việc không phù hợp với chuyên môn, trình độ của mình, chế độ đãi
ngộ thấp... Khi làm việc trong một công ty, nguồn nhân lực của Công ty phải tuân theo
quy định, quy tắc của công ty, song không phải ai cũng tuân thủ cái quy định đó một
cách tự nguyên và đầy đủ.
Thái độ của của người lao động thường được thể hiện qua:
11

Thang Long University Library



Thái độ tích cực, yêu thích công việc: Nhân viên sẽ có thái độ nhiệt huyết, có
trách nhiệm với công việc mà họ yêu thích, nỗ lực hết mình để hoàn thành công việc
được giao một cách nhanh nhất và tốt nhất.

Thái độ làm việc nhóm: Một số công việc, kết quả làm việc nhóm sẽ cao hơn
làm việc cá nhân. Nhân viên cần có thái độ đoàn kết biết chia sẻ với các đồng đội, tích
cực đóng góp, không bị ảnh hưởng theo đám đông, mạnh dạn đưa ra ý kiến giúp nhóm
hoạt động tốt hơn


Thái độ thăng chức: Khi nhân viên đặt ra mục tiêu thăng chức hay tăng lương

thưởng họ sẽ nỗ lực làm việc để đạt được thành tích cao


Thái độ tích cực học hỏi: Không dừng lại ở những gì đã có, người lao động cần

phải học hỏi kinh nghiệm từ những người đi trước hay đọc sách tài liệu để bồi dưỡng
thêm kiến thức cho bản thân.
Để nhân viên có thái độ tốt trong công việc công ty nên thực hiện các biện pháp:
đưa ra kế hoạch bố trí và sử dụng người lao động hợp lí, có chế độ đãi ngộ phù hợp
với năng lực của từng nhân viên, giải quyết các mâu thuẫn của nhân viên, có chế độ
khen thưởng rõ ràng, nhà quản trị cần phải biết nhân viên của mình muốn gì nếu nhu
cầu đó hợp lí thì sẽ đáp ứng kịp thời, đúng lúc.
1.2.3.3 Hành vi
Hành vi là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại. Hành vi có thể thuộc về ý
thức, tiềm thức, công khai hay bí mật, và tự giác hoặc không tự giác. Hành vi là một
giá trị có thể thay đổi qua thời gian.
Phân loại hành vi:


Hành vi bản năng (bẩm sinh di truyền): Thoả mãn nhu cầu sinh lý của cơ thể, có

thể là tự vệ, mang tính lịch sử, mang tính văn hoá mỗi quốc gia vùng miền

Hành vi kỹ xảo: Hành vi mới tự tạo trên cơ sở luyện tập, có tính mềm dẻo và
biến đổi. Nếu được định hình trên vỏ não và củng cố thì sẽ bên vững không thay đổi.
Ví dụ: Tập viết, làm xiếc…..

Hành vi đáp ứng: Hành vi ứng phó để tồn tại, phát triển và là những hành vi
ngược lại với sự tự nguyện của bản thân và không có sự lựa chọn.

Hành vi trí tuệ: Hành vi đạt được do hoạt động trí tuệ nhằm nhận thức được bản
chất của các mối quan hệ xã hội có quy luật của sự vật hiện tượng để đáp ứng và cải
tạo thế giới
Hành vi có thể thay đổi theo thời gian, công ty nên nắm bắt được điều này để
thay đổi các hành vi xấu của nhân viên và duy trì các hành vi tốt. Để làm được điều
này công ty cần xây dựng văn hóa doanh nghiệp vững chắc, để nhân viên coi như giá
12


trị thiêng liêng và họ sẽ tự nguyện có các hành vi làm theo, ngoài ra công ty cần xử
phạt nghiêm minh với các hành vi xấu chống đối của nhân viên.
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến nguồn nhân lực
1.3.1. Yếu tố bên trong
1.3.1.1 Các nhân tố đầu vào của nguồn nhân lực
Nhân tố đầu vào của nguồn nhân lực ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nguồn
nhân lực. Mọi ngành nghề, tổ chức và các doanh nghiệp đều sẵn sàng bỏ ra một khoản
chi phí lớn để tuyển mộ và tuyển chọn nguồn nhân lực. Khi tổ chức, Công ty chọn
được nguồn nhân lực phù hợp với công việc, thực hiện tốt công tác đào tạo và có chế
độ lao động phù hợp thì nguồn nhân lực không chỉ thực hiện được tốt công việc của
mình mà còn gắn bó với doanh nghiệp tổ chức trong thời gian dài.Trong trường hợp
đó, tổ chức hay Công ty đã thực hiện tốt đầu vào và hưởng lợi từ nguồn nhân lực.
Những lựa chọn không tốt trong việc tuyển chọn, tuyển mộ có thể dẫn tới những
chi phí khổng lồ cho doanh nghiệp, đó là điều mà không một tổ chức hay doanh
nghiệp nào muốn. Nó còn ảnh hưởng tới uy tín, danh dự và đôi khi là số phận của
doanh nghiệp hay tổ chức. Ví dụ như khâu tuyển chọn không tốt Công ty giao nhiệm
vụ quan trọng nhưng nhân viên đó lại không thể thực hiện tốt làm mất đi cơ hội của
công ty, tốn thời gian và chi phí.
Nhân tố đầu vào của nguồn nhân lực được quyết định bởi công tác tuyển mộ và
tuyển chọn:
a.

Tuyển mộ: Tuyển mộ là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ

lực lượng lao động xã hội và lực lượng lao động bên trong tổ chức. Mọi tổ chức phải
có đầy đủ khả năng để thu hút đủ số lượng và chất lượng lao động để nhằm đạt được
các mục tiêu của mình. Tuyển mộ không chỉ ảnh hưởng tới việc tuyển chọn, mà còn
ảnh hưởng tới các chức năng khác của quản trị nguồn nhân lực như: Đánh giá tình
hình thực hiện công việc, thù lao lao động; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; các
mối quan hệ lao động . . .
b.
Tuyển chọn là quá trình đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạch khác nhau
dựa vào yêu cầu công việc để tìm ra người phù hợp với yêu cầu đặt ra trong số những
người đã thu hút trong quá trình tuyển mộ. Quá trình tuyển chọn là khâu quan trọng
giúp cho nhà quản trị nhân lực đưa ra các quyết định tuyển dụng một cách đúng đắn
nhất. Quyết định tuyển chọn có ý nghĩa quan trọng đối với chiến lược kinh doanh và
đối với tổ chức vì khi thực hiện tốt quá trình tuyển chọn sẽ giúp tổ chức có những con
người có kỹ năng phù hợp với sự phát triển của tổ chức tương lai. Tuyển chọn tốt cũng
giúp cho tổ chức giảm được chi phí đào tạo tránh được rủi ro trong quá trình thực hiện
công việc.
13

Thang Long University Library


1.3.1.2 Chính sách bố trí nguồn nhân lực.
Bố trí nguồn lực là sắp đặt nhân viên vào các vị trí để khai thác và phát huy tối
đa khả năng làm việc của nguồn nhân lực nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong công
việc. Doanh nghiệp hiện nay đang rơi vào tình trạng vừa thừa vừa thiếu nguồn nhân
lực. Nguồn lực thì dư thừa nhưng ít người có thể đáp ứng được nhu cầu càng ngày
càng cao. Vì vậy để tối đa được chi phí và phát huy được chất lượng nguồn lực doanh
nghiệp cần có các kế hoạch bố trí nguồn lực hợp lý. Việc bố trí nguồn lực liên quan
chặt chẽ tới các chính sách tuyển dụng, sa thải, đào tạo và phát triển…
Để bố trí nguồn lực được hiệu quả nhất cần đảm bảo 3 mục tiêu như sau:

Bố trí nguồn nhân lực phải đảm bảo đúng số lượng và chất lượng nhân lực, đáp
ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.


Bố trí nguồn lực phải đảm bảo đúng người đúng việc.


Bố trí và sử dụng nhân lực phải đảm bảo đúng thời hạn, tính mền dẻo và khả
năng linh hoạt trong việc sử dụng lao động.
1.3.1.3 Chính sách phát triển nguồn nhân lực
Chính sách phát triển nguồn nhân lực của Công ty bao gồm các chính sách tuyển
dụng, về bố trí sử dụng nhân sự, đánh giá nhân viên, đào tạo phát triển và sử dụng
nguồn nhân lực sau đào tạo (bao gồm cả thăng tiến và phát triển nghề nghiệp), khen
thưởng kỷ luật, môi trường làm việc và văn hóa công ty…
Chính sách phát triển nguồn nhân lực cần phải được lập kế hoạch phát triển
nguồn nhân lực rõ ràng, cho mục tiêu, nội dụng, nhiệm vụ và nghĩa vụ của người lao
động: “Lập kế hoạch nguồn nhân lực là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu nguồn
nhân lực, đưa ra các chính sách và thực hiện các chương trình, hoạt động bảo đảm
cho đơn vị có đủ nguồn nhân lực với các phẩm chất, kỹ năng phù hợp để thực hiện
công việc có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao”9.
1.3.1.4 Chính sách lương, phúc lợi.
Thù lao có ảnh hưởng rất lớn đến lựa tình hình làm việc, động lực làm việc của
nhân viên và chất lượng sản phẩm, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Do đó doanh
nghiệp cần phải có mức thù lao hợp lí phù hợp với trình độ, năng lực, khả năng làm
việc của nguồn lao động. Bởi mục tiêu của thù lao chính là giữ chân và động viên
nguồn nhân lực thực hiện công việc tốt nhất. Thù lao bao gồm tiền lương cơ bản công
thêm các khoản thưởng, phúc lợi:

9

Phạm Minh Hạc, Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. - H.: Chính trị Quốc gia,
1996

14


Thù lao cơ bản: Là phần thù lao cố định mà người lao động được nhận một cách
thường kì dưới dạng tiền lương tính theo giờ, tuần, tháng.
Các khoản khuyến khích là khoản thù lao ngoài tiền công hay tiền lương để trả
cho người lao động khi thực hiên tốt công việc, bao gồm: tiền hoa hồng, tiền thưởng,
phân chia năng suất, phân chia lợi nhuận.
Các khoản phúc lợi: Là khoản thù lao gián tiếp được trả dưới các dạng hộ trợ
cuộc sống của người lao động như bảo hiểm sức khỏe, đảm bảo xã hội, tiền lương hưu,
tiền trả cho ngày nghỉ lễ, tiền nghỉ mát du lịch…
1.3.1.5 Chính sách khen thưởng, kỷ luật.
Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích
bằng lợi ích vật chất với cá nhân, tập thể có thành tích trong việc xây dựng và đem lại
lợi ích cho doanh nghiệp.
Nguyên tắc khen thưởng: Chính xác, công khai, công bằng, kịp thời. Thành tích
tới đâu khen thưởng tới đó không nhất thiết phải theo trình tự khen thưởng ở mức thấp
rồi mới tới cao. Thành tích đạt được tại hoàn cảnh, điều kiện khó khăn, phạm vi ảnh
hưởng rộng thì công ty sẽ xem xét đề nghị khen thưởng cao hơn. Công ty chủ động
khen thưởng các cá nhân, tổ chức hoàn thành tốt công việc trong thời gian nhanh.
Kỷ luật lao động là những qui định về việc tuân theo thời gian và điều hành sản
xuất kinh doanh thể hiện trong nội qui lao động. Đó là qui tắc làm việc trong quan hệ
lao động mà mọi cá nhân đều phải tuân thủ theo để đảm bảo trật tự lao động, sản xuất.
Như vậy, một doanh nghiệp có qui định đầy đủ, rõ ràng, hợp pháp qui trách nhiệm cụ
thể cho từng người thì khuyến khích nhân viên tăng ý thức trách nhiệm và răn đe nhân
viên thực hiện công việc theo đúng qui định.
1.3.1.6 Văn hóa doanh nghiệp.
Thời gian không ngừng trôi, mọi thứ đều cho thể mất đi nhưng “Văn hóa là cái
còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học
tất cả”10 theo E.Herriol. Văn hóa là những giá trị sáng tạo của con người được biểu
hiện và kết tinh trong các của cải vật chất do con người tạo ra. Văn hóa được hiểu theo
cách khác bao gồm các sản phẩm tinh thần mà các cá nhân hay cộng đồng sáng tạo ra
trong lịch sử. Dù được hiểu theo cách nào nhưng ta thấy văn hóa luôn được con người
tôn sùng, và làm theo một cách tự nguyện.

10

Trần Thị Khuyên (30/03/2012), Văn hóa – Một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội,
http://www.husc.edu.vn/khoallct/articles.php?article_id=914

15

Thang Long University Library


Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm
và hành vi do chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, được thể hiện
trong cách ứng xử của họ với xã hội, tự nhiên ở một cộng đồng hay một khu vực.
Vai trò của văn hóa doanh nghiệp:

Văn hóa doanh nghiệp là phương thức phát triển và kinh doanh bền vững.Văn
hóa doanh nghiệp chính là giá trị cốt lõi của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp vượt thời
kì khó khăn, giữ vững được vị thế của doanh nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh,
tạo sự khác biệt cho doanh nghiệp

Văn hóa doanh nghiệp là một nguồn lực phát triển kinh doanh, tạo ra một mọi
trường làm việc dân chủ thoải mái giúp nhân viên thỏa sức sáng tạo trong công việc,
khuyến khích nhân viên làm việc.


Văn hóa doanh nghiệp là điều kiện đẩy mạnh kinh doanh Quốc tế bởi nó giúp

doanh nghiệp đi xa hơn cạnh tranh được với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài.
1.3.2. Yếu tố bên ngoài
1.3.2.1 Yếu tố chính sách nhà nước và môi trường văn hóa xã hội
Hệ thống chính trị pháp luật và các chính sách xã hội cũng là một trong những
yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực. Chính sách từng thời kỳ của nhà nước sẽ quy
định pháp lý cho sự hoạt động của tổ chức. Để đạt được lợi ích cao nhất các tổ chức sẽ
vận động và điều chỉnh hoạt động của mình trong khuôn khổ pháp lý quy định. Trong
khuôn khổ đó thì việc điều chỉnh của công ty thì chất lượng nguồn nhân lực thay đổi
theo là một hệ quả tất yếu.
Các nhóm nhu cầu khác nhau về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sẽ đòi hỏi doanh
nghiệp phải điều chỉnh mô hình sản xuất kinh doanh thông qua đó điều chỉnh vể các
công tác quản trị nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng nguồn lao động để đáp ứng
được với nhu cầu của thị trường.
Hiện nay, nguồn nhân lực có sự đa văn hóa là do sự khác dân tộc, màu da, tôn
giáo, giới tính…Nên doanh nghiệp cần để ý đến yếu tố này để gắn kết người lao động,
giúp người lao động không cảm thấy mình khác biệt, hòa đồng vào tập thể.
Gia tăng dân số làm cho lực lượng lao đông ngày càng đông mà chất lượng
nguồn lực thì không được cải thiện, sức ép về công việc ngày càng lớn. Điều này tác
động đến chính sách tuyển dụng, làm việc của doanh nghiệp.
1.3.2.2 Sự phát triển của hệ thống giáo dục, đào tạo Quốc dân
Hệ thống giáo dục, đào tạo của Quốc gia quyết định trình độ học vấn của nguồn
nhân lực. Giáo dục phổ thông là nền tảng bước đệm cho việc đào tạo giáo dục chuyên
môn, dạy nghề trực tiếp. Khi nhân viên có trình độ học vấn thì người đó sẽ tiếp thu
16


nhanh hơn kiến thức chuyên ngành, làm việc nghiêm túc có trách nhiệm, việc đào tạo
phát triển sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Hệ thống giáo dục được phát triển giúp nguồn nhân lực có nhiều kiến thức mới,
hiểu biết mới, tiếp cận khoa học công nghệ. Do đó, cần cải tiền chương trình phương
pháp đào tạo để tạo điều kiện cho người lao động nâng cao trình độ.
1.3.2.3 Khoa học và công nghê.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại tạo ra thử thách lớn đối
với doanh nghiệp. Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải đầu tư trang thiết bị
công nghệ hiện đại, người lao động phải trang bị kiến thức và kỹ năng mới để thích
nghi với môi trường khoa học công nghệ thay đổi theo từng ngày
Sự phát triển khoa học công nghệ thông tin gắn liền với sự ra đời nhiều nghề
mới, một số nghề cũ mất đi, đòi hỏi lao động phải làm chủ kỹ thuật công nghệ đồng
thời thay đổi các công tác quản trị nhân sự năng động và hiệu quả hơn.
1.3.2.4 Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế vừa tạo ra cơ hội để các doanh nghiệp tìm
kiếm thị trường mới, học hỏi kiến thức, kinh nghiệm vừa là một thử thách lớn cho chất
lượng nguồn nhân lực – nhân tố quan trọng giúp doanh nghiệp cạnh tranh trong nước
và nước ngoài. Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa thúc đẩy sự tăng nhanh năng
suất lao động, tạo bước đột phá về chất lượng nguồn nhân lực đặc biệt và nguồn nhân
lực chất lượng cao.
Nền kinh tế đi vào xu thế toàn cầu hóa đòi hỏi doanh nghiệp có sự hiểu biết về
mọi mặt nhất là kỹ thuật và thương mại quốc tế. Doanh nghiệp cần nắm rõ những trang
thiết bị tiên tiến, quy trình công nghệ, ngôn ngữ, pháp luật quốc tế.
1.4. Bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực
1.4.1. Doanh nghiệp trong nước.
Kinh nghiệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Công tycổ phần FPT.
Công ty cổ phần FPT thành lập ngày 13/09/1988, với lĩnh vực kinh doanh cốt lõi
là CNTT và Viễn thông, FPT đã cung cấp dịch vụ tới 63/63 tỉnh thành tại Việt Nam và
không ngừng mở rộng hoạt động trên thị trường toàn cầu với sự hiện diện tại 19 quốc
gia. Trong suốt quá trình hoạt động, FPT luôn nỗ lực với mục tiêu cao nhất là mang lại
sự hài lòng cho khách hàng thông qua những dịch vụ, sản phẩm và giải pháp công
nghệ tối ưu nhất. Đồng thời, FPT không ngừng nghiên cứu và tiên phong trong các xu
hướng công nghệ mới góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trên trên bản đồ công
nghệ thế giới. Sau khi đã đặt ra mục tiêu dài hạn Công ty luôn đề cao nhân tố nguồn
nhân lực coi đây là nhân tố quyết định sự thành công của công ty, giúp Công ty đạt
17

Thang Long University Library


được mục tiêu. Vì vậy, Công ty không ngừng đưa ra các chính sách đầu tư để nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực:
Thứ nhất, Công ty cổ phần FPT luôn coi trọng xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp của Công tyđược thể hiện trong sáu chứ : “Tổn đổi đồng – Chí
gương sáng”. Văn hóa doanh nghiệp được coi như món quà tinh thần với nhân viên tại
Công ty cổ phần FPT. Nhân viên coi Công ty như nhà đồng nghiệp như người thân
trong gia đình, họ được yêu thương, chỉ bảo, chia sẻ tôn trọng. Chính vì vậy, nhân viên
luôn coi việc xây dựng gia đình thứ hai của mình phát triển, vững mạnh là trách
nhiệm của bản thân nên họ không ngừng cố gắng cống hiến, hăng say học hỏi và làm
việc.
Thứ hai, Công ty luôn phát triển nhân sự là nhiệm vụ hàng đầu. Công nghệ đòi
hỏi sự thay đổi và sáng tạo không ngừng, để làm được điều đó FPT đã xây đắp nên các
thế hệ nhân viên không ngừng học hỏi và phấn đấu đưa FPT đến hết thành công này
đến thành công khác. Một số chương chính đào tạo của công ty: Đào tạo tân binh, đào
tạo cán bộ công nghệ, đào tạo bồi dưỡng kĩ năng chuyên môn, đào tạo lực lượng cán
bộ kế cận
Thứ ba, FPT rất chú trọng đến chính sách đãi ngộ, quan tâm đến đời sống của
cán bộ nhân viên với phương châm tạo cho cán bộ nhân viên có một cuộc sống “Đầy
đủ về vật chất và phong phú về tinh thần”.
Thứ tư, Chăm sóc sức khỏe: Chính sách chăm sóc sức khoẻ của FPT được thiết
kế đặc biệt để cán bộ nhân viên luôn có được thể trạng tốt nhất từ đó phát huy tính
sáng tạo, nâng cao hiệu quả công việc:
Công tycổ phần FPT đã thực hiện hàng loạt các chính sách, chiến lược ngắn hạn
và dài hạn để nâng cao chất lượng nhân viên toàn diện cả về trí lực, tâm lực, và thể
lực.
1.4.2. Doanh nghiệp nước ngoài.
Kinh nghiệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại tập đoàn Digi-Key.
Digi-Key là một trong những nhà phân phối phát triển nhanh nhất của các thành
phần điện tử trên thế giới. Từ khi thành lập vào năm 1972, Digi-Key đã được cam kết
cung cấp các lựa chọn rộng nhất của các thành phần điện tử, cũng như cung cấp các
dịch vụ tốt nhất có thể cho khách hàng. Digi-Key là nhà phân phối ủy quyền của các
thành phần điện tử cho hơn 650 nhà cung cấp hàng đầu trong ngành. Điều này có
nghĩa là khách hàng Digi-Key có thể yên tâm rằng sản phẩm họ đặt hàng là xác thực
và đi kèm với Digi-Key trực tiếp từ nhà sản xuất. Để đạt được thành công này công ty
Digi-Key đã không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên bằng nhiều chiến
lược, kế hoạch:
18



Công ty Digi-Key yêu cầu đầu vào nguồn nhân lực cao, đặc biệt quan tâm đến
kinh nghiệm và kĩ năng mềm của ứng cử viên. Vì vậy chất lượng nguồn nhân lực của
công ty ngay từ khi bắt đầu làm việc cao.

Khi bắt đầu làm việc tại công ty, nhân viên có nhiều cơ hội nâng cao trình độ
khả năng như được cử đi đào tạo, tập huấn, hay tham gia các diễn đàn của công ty...
Chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao ngay từ khi nhân viên bắt đầu vào việc tại
công ty.


Chế độ đãi ngộ của công ty là yếu tố hấp dẫn nguồn nhân lực với mức lương,

thưởng và các chế độ phúc lợi hấp dẫn, mua hàng tại công ty với giá ưu đãi. Đây là lí
do nguồn nhân tài tập trung nhiều tại công ty

Trở thành nhân viên công ty, mọi nhân viên đều được đối xử bình đẳng, đều có
cơ hội như nhau, nhân viên cảm thấy mình được tôn trọng và nỗ lực hết mình để nâng
cao năng lực của bản thân và nỗ lực vì công ty
1.4.3. Bài học kinh nghiệm cho Công ty cổ phần công nghệ và thương mại D.E.L.T.A


Chính sách đầu tư cho đào tạo và phát triển đóng vai trò quyết định trong việc

nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đào tạo phát triển để nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực là tốt và cần thiết nhưng việc đào tạo, phát triển như thế nào để đem lại hiệu
quả tốt nhất mà tối đa hóa chi phí. Ngoài các hình thức đào tạo phát triển tại các trung
tâm dạy nghề, du học … thì Công ty nên có các hình thức khuyến khích học hỏi ngay
trong Công ty như tổ chức các nhóm để làm việc, luân chuyển công việc thường
xuyên, các bảng mô tả và hướng dẫn công việc rõ ràng, đòi hỏi nhân viên đi từ thành
công này đến thành công khác… Đề ra các chính sách khuyến khích nhân viên tích
cực học hỏi nâng cao trình độ của bản thân

Xây dựng văn hóa doanh nghiệp cho Công ty để từ đó tạo ra môi trường làm
việc thoải mái, văn minh, công bằng, năng động kích thích được khả năng sáng tạo của
nhân viên, tạo nên sự đoàn kết, chia sẽ giữa các nhân viên, khiến nhân viên cảm thấy
tự hào khi là thành viên của công ty.

Chế độ đãi ngộ là yếu tố quan trọng để đảm bảo và duy trì chất lượng nguồn
nhân lực. Công ty cần có chế độ đãi ngộ hợp lý xứng đáng với công sức, trí tuệ mà
nhân viên bỏ ra. Ngoài chế độ đãi ngộ bằng lương, thưởng, phúc lợi… Công ty nên có
các chế độ đãi ngộ bằng tinh thần như quan tâm đến sức khỏe, điều kiện làm việc, tổ
chức vui chơi giải trí… Những phần thưởng tinh thần giúp nhân viên cảm thấy mình
được quan tâm và coi trọng.

Sử dụng nguồn nhân lực đúng đắn, hợp lý sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ trong việc
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Công ty nên thực hiện các chính sách tạo động
19

Thang Long University Library


lực trong sử dụng nhân lực như trả lượng cao đúng với công sức đóng góp của nhân
viên, phù hợp với từng vị trí công việc, nhằm tạo sự cạnh tranh, kích thích sự sáng tạo
hăng say làm việc của nhân viên.


Nâng cao yêu cầu đầu vào của nguồn nhân lực, đánh giá cao các yếu tố về kinh

nghiệm, kĩ năng mền, khả năng vận dụng thực tế... những yếu tố ảnh hưởng lớn đến
chất lượng nguồn nhân lực

Có các chính sách khen thưởng, xử phạt công khai, minh bạch kịp thời đúng lúc
để tạo dựng môi trường làm việc bình đẳng, tạo động lực làm việc cho nhân viên


Ban giám đốc công ty cần nhận thức được rõ vai trò của việc nâng cao chất

lượng nhân lực trong quá trình chuyển đổi mô hình hoạt động. Cần phải quan tâm đặc
biệt tới việc phát triển nhân lực chất lượng cao, thấy rõ vai trò quan trọng của vấn đề
này trong quá trình chuyển đổi mô hình hoạt động.
1.5. Tóm tắt chƣơng 1
Chương 1, Khóa luận đã phân tích làm sáng tỏ những khái niệm về nguồn nhân
lực, chất lượng nguồn nhân lực, vai trò của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,
các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực. Tác giả trình bày các bước để
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bao gồm: Nâng cao trí lực, nâng cao thể lực và
nâng cao tâm lực. Đồng thời đưa ra kinh nghiệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
của doanh nghiệp trong và người nước, rút ra bài học kinh nghiệm. Các doanh nghiệp
trên trong đó có công ty cổ phần công nghệ và thương mại D.E.L.T.A đều đề cao tầm
quan trọng của công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bằng việc nâng cao trí
lực, thể lực và trí lực để có thể đáp ứng được yêu cầu càng ngày càng cao về chất
lượng nguồn nhân lực

20


CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TYCỔ
PHẦN CÔNG NGHỆ VÀ THƢƠNG MẠI D.E.L.T.A
2.1. Một số đặc điểm của Công ty cổ phần công nghệ và thƣơng mại D.E.L.T.A
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần công nghệ và thương
mại D.E.L.T.A


Tên công ty: Công ty cổ phần công nghệ và thương mại D.E.L.T.A


Tên công ty viết bằng tiếng nước ngoài: Delta trading and infomatic technology
joint stock company


Tên công ty viết tắt: Delta TTC.,JSC



Mã số thuế: 0101657338


Trụ sở chính: Tầng 2, Khối A, tòa nhà Licogi 13, đường Khuất Duy Tiến,
Phường Nhân Chính, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội, Việt Nam


Điện thoại: 04.37474200 / 04.37474202



Fax: 04.37578501

Công ty Delta được thành lập 2005 khi thời điểm công nghệ thông tin mới bắt
đầu hình thành ở VN, đón đầu được xu hướng đó DELTA đã thành lập hệ thống phân
phối máy tính xách tay đầu tiên tại showroom 59a1 Lý Nam Đế cùng với hệ thống bảo
hành kiểm tra, sửa chữa máy tính xách tay tại 39 Lý Nam Đế -Hà Nội.
Đến 2008 lượng máy tính xách tay tại VN đã tăng đáng kể, nhận định được nhu
cầu sửa chữa và thay thế đang tăng cao DELTA đã triển khai 3 hệ thống bệnh viện
laptop tại Hà Nội (67 Thái Hà, 39 Lý Nam Đế, 166c Nguyễn Văn Cừ)
Không ngừng tăng trưởng về doanh số cũng như lợi nhuận bằng thương hiệu
“Bệnh viện Laptop” đến 2009 Trung tâm phân phối AMILO được thành lập với mục
tiêu mang đến cho thị trường sản phẩm linh kiện laptop tốt nhất, giá thành cạnh
tranh….
Công ty luôn hướng đến mục tiêu đa dạng hóa kinh doanh và đầu tư ở nhiều lĩnh
vực khác nhau, không chỉ phát triển thị trường trong nước mà còn vươn tới tầm khu
vực và quốc tế. Vì vậy toàn bộ lãnh đạo và đội ngũ CBCNV của Công ty đang không
ngừng cố gắng để đưa Công tylên một tầm cao mới.
Năm 2009, Công ty TNHH AMILO được thành lập, hoạt động trong lĩnh vực
phân phối linh kiện laptop. Công ty AMILO là công ty thành viên của công ty cổ phần
DELTA, do DELTA đầu tư 100% vốn. Sau nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực phân
phối, đến nay AMILO luôn dẫn đầu thị trường với nguồn hàng dồi dào, chất lượng và
sự ủng hộ nhiệt tình từ các đối tác trong và ngoài nước.
21

Thang Long University Library


Công ty TNHH FiveTech là một trong những công ty thành viên của DELTA.
Công ty Five Tech chính thức được thành lập vào 30/7/2012. Hoạt động trong lĩnh vực
phân phối linh kiện laptop nhưng đi theo một định hướng riêng không chịu ảnh hưởng
của công ty cùng hệ thống DELTA. Tháng 5/2015 Five Tech chính thức đặt một điểm
mốc tại thị trường linh kiện máy tính TP HCM khi trực tiếp mở trụ sở tại đây. Nhằm
đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường và khách hàng.
Với nhiều năm phân phối trong thị trường Laptop Công ty cổ phần công nghệ và
thương mại D.E.L.T.A cung cấp đến đối tácbạn hàng các sản phẩm sau: Màn hình, bàn
phím, sạc
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần công nghệ và thương mại D.E.L.T.A
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần công nghệ và thƣơng mại
D.E.L.T.A
Đại hội
đồng cổ
đông
Hội đồng
quản trị

Giám đốc

Phó giám
đốc kinh
doanh
Phòng
marketing

Phó giám
đốc thương
mại

Phòng
hành chính
tổng hợp

Phòng tài
chính kế
toán

Phòng
xuất nhập
khẩu

(Nguồn: Phòng hành chính tổng hợp)
Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận, phòng ban:
a.

Đại hội đồng cổ đông:

Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất của Công
ty, quyết định những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến sự tồn tại và hoạt động của
Công ty.

22


b.

Hội đồng quản trị

Hội đồng quản trị có trách nhiệm giám sát Giám đốc điều hành và các cán bộ
quản lý khác, quyết định kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh và ngân sách hàng
năm, xác định các mục tiêu hoạt động trên cơ sở các mục tiêu chiến lược được Đại hội
đồng cổ đông thông qua, quyết định cơ cấu tổ chức của Công ty, giải quyết các khiếu
nại của Công ty đối với cán bộ quản lý, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc
điều hành ,đề xuất mức cổ tức hàng năm và xác định mức cổ tức tạm thời.
c.

Giám đốc

Là người điều hành mọi hoạt động kinh doanh, xuất nhập khẩu cũng như các
hoạt động hàng ngày khác của Công ty. Quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt
động kinh doanh, xuất nhập khẩu của Công ty, thực hiện các kế hoạch kinh doanh và
phương án đầu tư trong ngắn hạn và dài hạn.
d.

Phó giám đốc kinh doanh

Là người phụ trách điều hành công việc kinh doanh tại Công ty theo những mục
tiêu, kế hoạch đề ra. Quản lý và điều phối mọi công việc liên quan đến khách hàng và
hoạt động tiêu thụ sản phẩm theo chiến lược kinh doanh của Công ty, bao gồm tiếp thị
marketing, bán hàng và hệ thống phân phối. Thiết lập mục tiêu, kế hoạch và phân bổ
nguồn nhân lực cho phù hợp nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu công việc.
e.

Phó giám đốc thƣơng mại

Là người phụ trách điều hành công việc thương mại của công ty theo những mục
tiêu, kế hoạch đề ra. Quản lý các công việc liên quan đến quá trình xuất nhập khẩu
hàng hóa, phân phối hàng hóa đến các đại lý và nhà phân phối.
f.

Phòng marketing

Đây là bộ phận rất quan trọng của công ty bởi nó tác động trực tiếp đến khối
lượng hàng hóa được bộ phận bán hàng đem đi tiêu thụ. Thực hiện các nghiệp vụ
marketing, phân tích thị trường, tìm hiểu đối thủ cạnh tranh, các nghiệp vụ bán hàng,
tìm hiểu nhu cầu, bảng báo giá, làm mẫu hợp đồng bán hàng. Triển khai và theo dõi
tiến độ thực hiện hợp đồng, theo dõi tiến độ giao hàng, thực hiện nghiệp vụ bán hàng,
giải quyết các khiếu nại của khách hàng.
g.

Phòng hành chính tổng hợp

Phòng hành chính tổng hợp có các chức năng cơ bản như: giúp việc cho Ban
lãnh đạo công ty, quản lý công tác tổchức nhân sự, quản lý công tác Hành chính Văn
phòng. Chấp hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, quy định, chỉ thị của Ban
Giám đốc. Phục vụ các công tác hành chính để Ban Giám đốc thuận tiện trong chỉ đạo,
điều hành, phục vụ hành chính để các bộ phận khác có điều kiện hoạt động tốt. Quản
23

Thang Long University Library


lý việc sử dụng và bảo vệ các loại tài sản của Công ty. Đảm bảo an ninh trật tự, an toàn
lao động, vệ sinh lao động, chống cháy nổ.
h.

Phòng tài chính kế toán

Đảm nhận và chịu trách nhiệm trước công ty về lĩnh vực tài chính – kế toán,
phòng có chức năng xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính hàng năm, tổ
chức công tác hạch toán kế toán, lập báo cáo tài chính theo quy định và các báo cáo
quản trị theo yêu cầu của Công ty, thực hiện thu tiền bán hàng, quản lý kho quỹ, chịu
trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc lập hóa đơn chứng từ ban đầu cho công tác hạch
toán kế toán, hướng dẫn, tổng hợp báo cáo thống kê…
i.

Phòng xuất nhập khẩu

Phòng chịu trách nhiệm và đảm nhận việc xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của
Công ty. Phòng chịu trách nhiệm giải quyết các vấn đềliên quan đến thủ tục hải quan
như: giấy tờ,thủ tục thông quan…để hàng hóa lưu thông. Phòng cũng chịu trách
nhiệm về việc tìm kiếm, liên hệ đối tác theo đúng quy trình nhập khẩu, đảm bảo số
lượng hàng nhập khẩu phù hợp với nhu cầu kinh doanh.
Với một Công ty thuộc loại mô hình kinh doanh là doanh nghiệp vừa và nhỏ như
Công ty cổ phần công nghệ và thương mại D.E.L.T.A thì việc tổ chức phòng ban như
trên là tương đối hợp lý, việc phân chia rõ ràng các phòng ban với từng nhiệm vụ cụ
thể như trên giúp cho Công ty có một bộ máy làm việc hiệu quả, sự phối hợp tốt giữa
các phòng ban với nhau sẽ giúp Công ty hoàn thành mọi công việc với hiệu quả cao
nhất.

24


2.1.3. Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần công
nghệ và thương mại D.E.L.T.A giai đoạn 2012-2014
2.1.3.1 Tình hình kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần công
nghệ và thương mại D.E.L.T.A
Bảng 2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh
Đơn vị tính: VNĐ
Chỉ tiêu
(A)

Năm 2014

Năm 2013

Năm 2012

(1)

(2)

(3)

1. Doanh thu bán hàng và cung
8.952.127.033 16.498.630.159 12.210.933.312
cấp dịch vụ
2. Giá vốn hàng bán

7.283.883.018 13.579.600.743

9.107.359.972

3. Lợi nhuận gộp về bán hàng
1.668.244.015
và cung cấp dịch vụ

2.919.029.416

2.867.073.340

4. Chi phí bán hàng

1.005.073.081

1.207.883.739

0

694.280.099

1.622.955.875

2.587.046.132

6. Lợi nhuận trước thuế thu
(179.857.410)
nhập doanh nghiệp

(506.066.912)

45.474.483

7. Lợi nhuận sau thuế thu nhập
(179.857.410)
doanh nghiệp

(511.432.294)

32.770.362

5. Chi phí quản lí doanh nghiệp

(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ: Năm 2013 là 16.498.630.159 VNĐ
tăng 4.287.696.847 VNĐ so với năm 2012 tương đương tăng 35,11%. Nhưng đến năm
2014 doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ giảm 7,546,503,126 VND so với năm
2013, tương ứng với mức giảm 45,74%. Đây là một mức giảm rất lớn, điều này cho
thấy Công ty đã không thành công trong quá trình kinh doanh tăng cường chiến dịch
kinh doanh, quảng cáo, đa dạng hóa hình thức kinh doanh, xác định giá cả để tăng
khối lượng tiêu thụ… nhằm thu hút và khuyến khích khách hàng mua sử dụng sản
phẩm của Công ty. Bên cạnh đó, do một số yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến quá trình nhập
khẩu nên nhiều đơn hàng bị hủy do không có hàng.
Giá vốn hàng bán: Năm 2013 tăng 4.472.240.771 VNĐ so với năm 2012 tương
đương 49,11%. Điều này cũng dễ hiểu bởi theo như dự đoán cho các chuyên gia kinh
tế thì năm 2013 nền kinh tế sẽ khởi sắc hơn, khoa học công nghệ thì càng ngày càng
phát triển nên công ty quyết định nhập nhiều hàng hơn, để có thể đáp ứng nhu cầu gia
tăng trong tương lai, tránh trường hợp không kịp hàng cho khách sẽ dẫn tới mất đi
lượng khách trung thành. Việc nhập nhiều hàng đem lại nhiều rủi ro cho công ty, gia
tăng thêm các chi phí kho, chi phí bảo quản hàng…
25

Thang Long University Library


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×