Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ QUẢNG NINH

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP
SẢN XUẤT
1.1. Khái quát về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.1.1. Chi phí sản xuất
1.1.1.1. Khái niệm
Quá trình hoạt động của doanh nghiệp thực chất là sự vận động, kết hợp, tiêu
dùng, chuyển đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh đã bỏ ra để tạo thành các sản phẩm,
công việc, lao vụ nhất định. Trong mọi hoạt động của doanh nghiệp đều phát sinh các
hao phí về nguyên vật liệu, sức lao động, hao mòn tài sản,… Những hao phí này hình
thành, gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được gọi là chi
phí sản xuất.
Như vậy, chi phí sản xuất được hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao
động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định
(tháng, quý, năm). Thực chất, chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp là quá trình chuyển
dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, là vốn của doanh nghiệp
bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Chi phí sản xuất phát sinh một cách khách quan, thay đổi theo từng hoạt động
sản xuất và gắn liền với sự đa dạng, phức tạp của từng loại hình sản xuất kinh doanh.
1.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất

Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là làm sao kiểm soát tốt được chi phí bởi
lợi nhuận thu được nhiều hay ít, chịu ảnh hưởng rất lớn bởi những chi phí mà doanh
nghiệp bỏ ra. Chính vì vậy, việc nhận diện, phân loại các chi phí phát sinh là điểm mấu
chốt để ghi nhận, đo lường chính xác, từ đó quản lý tốt chi phí.
Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra cũng như phục vụ cho
việc đưa ra các quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất cần phải được phân loại theo
những tiêu thức phù hợp.
Phân loại theo nội dung kinh tế của chi phí (Theo yếu tố chi phí)
Theo cách phân loại này, các chi phí sản xuất phát sinh có cùng nội dung kinh tế
sẽ được xếp vào một yếu tố, không phân biệt chi phí phát sinh ở đâu, cho hoạt động
nào. Theo cách phân loại này thì chi phí sản xuất được chia thành các yếu tố sau:

1

Thang Long University Library


 Yếu tố chi phí nguyên vật liệu: gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu (bao gồm
cả nguyên vật liệu chính và phụ), nhiên liệu, công cụ, dụng cụ,... sử dụng cho
hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
 Yếu tố chi phí nhân công: bao gồm tiền lương chính, tiền lương phụ, phụ cấp
và các khoản trích theo lương (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công
đoàn, bảo hiểm thất nghiệp).
 Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định: là phần giá trị hao mòn của tài sản cố
định chuyển dịch vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
 Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài
như điện, nước, điện thoại, internet,… dùng cho hoạt động sản xuất kinh
doanh.
 Yếu tố chi phí khác bằng tiền: bao gồm những chi phí sản xuất kinh doanh
khác chưa được phản ánh trong các chi phí trên những đã chi bằng tiền dùng
cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Cách phân loại này cho biết những chi phí nào đã phát sinh và tỷ trọng của từng
loại chi phí trong tổng chi phí, là cơ sở để phân tích tình hình thực hiện chi phí sản
xuất, từ đó làm căn cứ lập kế hoạch cung ứng vật tư, sử dụng lao động cũng như kiểm
soát tốt chi phí theo yếu tố.
Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Cách phân loại này dựa theo mục đích sử dụng của chi phí, những chi phí có
công dụng giống nhau được xếp vào cùng một khoản mục chi phí. Theo cách phân loại
này, toàn bộ chi phí được chia thành 2 loại là chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản
xuất.

 Chi phí sản xuất: là toàn bộ chi phí liên quan đến quá trình tạo ra thành phẩm
hoặc thực hiện dịch vụ trong một kỳ kế toán nhất định. Đối với doanh nghiệp
sản xuất, chi phí sản xuất được chia thành 3 khoản mục:
 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: phản ánh giá trị của toàn bộ nguyên vật
liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu,… tham gia vào quá trình sản
xuất sản phẩm.
 Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương, phụ cấp và các khoản trích
theo lương theo tỷ lệ quy định.
 Chi phí sản xuất chung: phản ánh toàn bộ những chi phí phát sinh trong
phạm vi phân xưởng sản xuất (trừ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi
phí nhân công trực tiếp). Chi phí sản xuất chung gồm chi phí nguyên vật
2


liệu, công cụ dụng cụ, khấu hao TSCĐ, chi phí nhân viên phân xưởng, chi
phí dịch vụ mua ngoài,… dùng cho phân xưởng.
 Chi phí ngoài sản xuất: là những chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản
phẩm và quản lý chung cho toàn doanh nghiệp, bao gồm hai khoản mục là:
 Chi phí bán hàng: là toàn bộ những chi phí phát sinh cần thiết để tiêu thụ
sản phẩm, hàng hóa, bao gồm các khoản như chi phí vận chuyển, bốc dỡ,
bao bì, lương nhiên viên bán hàng, hoa hồng đại lý,...
 Chi phí quản lý doanh nghiệp: là toàn bộ những chi phí chi ra cho việc tổ
chức và quản lý doanh nghiệp.
Việc phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm được minh họa
bằng sơ đồ sau đây:
Sơ đồ 1.1. Phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Tổng chi phí

Chi phí sản xuất

Chi phí
nguyên vật

Chi phí
nhân công

liệu trực tiếp

trực tiếp

Chi phí ngoài sản xuất

Chi phí sản

Chi phí

Chi phí

xuất chung

bán hàng

quản lý
doanh nghiệp

Chi phí

Chi phí

ban đầu

chế biến

Việc phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo khoản mục chi phí trong giá
thành sản phẩm giúp cho việc cung cấp số liệu cần thiết cho công việc tính giá thành
sản phẩm, quản lý định mức chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành cho kỳ kế toán
tiếp theo.

3

Thang Long University Library


Phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí với số lƣợng sản phẩm sản xuất ra
(mức độ hoạt động)
Cách phân loại này căn cứ vào sự thay đổi của chi phí khi có sự thay đổi của mức
độ hoạt động kinh doanh, cụ thể là sự thay đổi của khối lượng công việc và số lượng
sản phảm hoàn thành. Theo đó, chi phí được chia thành ba loại sau:
 Chi phí khả biến (biến phí) là những chi phí thay đổi khi khối lượng công việc,
sản phẩm hoàn thành thay đổi.
 Chi phí bất biến (định phí) là những chi phí không thay đổi hoặc thay đổi rất ít
khi mức độ hoạt động (khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành) thay đổi
trong một phạm vi nhất định.
 Chi phí hỗn hợp là chi phí mà thành phần của nó bao gồm cả yếu tố bất biến
và yếu tố khả biến. Ở mức độ hoạt động cơ bản, chi phí hỗn hợp thường thể
hiện các đặc điểm của định phí, ở mức độ hoạt động vượt quá mức cơ bản, nó
thể hiện đặc điểm của biến phí.
Cách phân loại này giúp kế toán cũng như các nhà quản trị doanh nghiệp xác
định điểm hòa vốn, phân tích tình hình chi phí, từ đó đề ra những phương án kiểm soát
với mục tiêu hạ thấp chi phí của doanh nghiệp và duy trì chi phí ở mức thấp nhất có
thể.
Phân loại theo mối quan hệ với đối tƣợng chịu chi phí
 Chi phí trực tiếp là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu
chi phí và được hạch toán vào đối tượng có liên quan.
 Chi phí gián tiếp là những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí,
do đó nó được phân bổ vào các đối tượng có liên quan theo tiêu thức nhất
định.
1.1.2. Giá thành sản phẩm
1.1.2.1. Khái niệm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những hao phí về lao động
sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.
Về bản chất, giá thành chính là chi phí, là những phí tổn về nguồn lực kinh tế tạo
ra trong quá trình sản xuất sản phẩm. Tất cả các khoản chi phí đã phát sinh (trong kỳ
và từ kỳ trước chuyển sang) và các khoản chi phí trích trước có liên quan đến khối
lượng sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên giá thành sản phẩm. Nói
cách khác, giá thành là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp bỏ
ra ở bất kể ở kỳ kế toán nào nhưng có liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ đã
hoàn thành trong kỳ kế toán này.
4


Về mặt kinh tế, giá thành là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh chất lượng toàn bộ
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài
sản, vật tư, lao động, tiền vốn cũng như các giải pháp kinh tế mà doanh nghiệp đã áp
dụng với mục tiêu sản xuất được khối lượng sản phẩm nhiều nhất với chi phí sản xuất
thấp nhất. Chính vì vậy, giá thành là căn cứ đánh giá chất lượng và hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm
Cũng như chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm có vai trò rất quan trọng đối với
một doanh nghiệp. Chính vì vậy, để đáp ứng được yêu cầu quản lý cũng như xây dựng
chiến lược giá cả hàng hóa, giá thành sản phẩm cũng được phân ra thành nhiều nhóm
theo những tiêu thức khác nhau.
Phân loại giá thành sản phẩm theo thời điểm tính giá thành và nguồn số liệu
 Giá thành kế hoạch: là giá thành sản phẩm được tính toán trên cơ sở chi phí kế
hoạch và số lượng sản phẩm kế hoạch. Giá thành kế hoạch được tính toán khi
bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất
định. Giá thành kế hoạch là căn cứ để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện
kế hoạch giá thành, thực hiện nhiệm vụ hạ giá thành. Đây được coi là mục tiêu
mà doanh nghiệp cần phấn đấu đạt được để thực hiện được những mục tiêu
chung của toàn doanh nghiệp.
 Giá thành định mức: là giá thành được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản
phẩm, được xác định trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại từng thời
điểm nhất định trong kỳ kế hoạch. Đây là căn cứ để kiểm soát tình hình sử
dụng lao động, vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất sản
phẩm.
 Giá thành thực tế: là giá thành được xác định sau khi đã hoàn thành việc chế
tạo sản phẩm trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh và sản lượng thực tế sản
xuất trong kỳ. Đây là căn cứ để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Phân loại giá thành sản phẩm theo phạm vi phát sinh chi phí
 Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng) là toàn bộ chi phí sản xuất có liên
quan đến khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành. Đối với doanh nghiệp
sản xuất, giá thành sản xuất bao gồm: chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Giá thành sản xuất là căn cứ để xác định giá
trị thành phẩm nhập kho đồng thời dùng để tính giá vốn khi xuất bán hoặc trị
giá thành phẩm gửi bán, từ đó xác định lãi gộp của hoạt động bán hàng.
5

Thang Long University Library


 Giá thành toàn bộ (giá thành tiêu thụ) là toàn bộ chi phí phát sinh liên quan
đến một khối lượng sản phẩm hoàn thành từ khi sản xuất đến khi kết thúc quá
trình tiêu thụ thành phẩm. Giá thành toàn bộ còn được gọi là giá thành đầy đủ
và được tính như sau:
Giá thành

=

toàn bộ

Giá thành
sản xuất

Chi phí

+

bán hàng

+

Chi phí quản lý
doanh nghiệp

1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là một quá trình thống nhất
bao gồm hai mặt là hao phí và kết quả. Chi phí sản xuất phản ánh hao phí sản xuất, còn
giá thành sản xuất phản ánh kết quả sản xuất. Như vậy, chi phí và giá thành là hai mặt
khác nhau của quá trình sản xuất và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Điều này thể
hiện ở chỗ: chi phí sản xuất là cơ sở tạo nên giá thành sản phẩm còn giá thành sản
phẩm là thước đo chi phí đã bỏ ra để có được sản phẩm đó.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có bản chất tương tự, đều cùng là biểu
hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp
đã bỏ ra. Tuy nhiên, giữa chúng có những điểm khác nhau trên một số phương diện
sau:
 Nói đến chi phí sản xuất là xét đến các hao phí trong một thời kỳ nhất định,
không phân biệt cho loại sản phẩm nào, đã hoàn thành hay chưa. Trong khi đó,
giá thành sản phẩm phản ánh một lượng chi phí sản xuất nhất định, tính cho
sản phẩm đã hoàn thành. Có thể nói, chi phí sản xuất cấu thành nên giá thành
sản phẩm nhưng không phải tất cả các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều
được tính vào giá thành sản phẩm trong kỳ.
 Chi phí sản xuất trong kỳ liên quan đến những sản phẩm đã hoàn thành và cả
giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng. Trong khi đó, giá thành
sản phẩm không liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối kỳ
này nhưng lại liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang từ kỳ trước
chuyển sang.
Công thức sau đây sẽ thể hiện rõ hơn mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm:
Tổng giá thành
sản phẩm hoàn
thành

=

Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất
+

dở dang đầu kỳ
phát sinh trong kỳ
dở dang cuối kỳ

6


Một cách trực quan, công thức trên được mô tả bằng sơ đồ sau:
Chí phí sản xuất dở dang đầu kỳ

Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ

Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành

Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

1.2. Kế toán chi phí sản xuất
1.2.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp có thể phát sinh ở nhiều địa điểm khác nhau,
liên quan đến việc sản xuất chế tạo các loại sản phẩm khác nhau. Các nhà quản trị
doanh nghiệp cần biết được các chi phí đó ở đâu, dùng vào việc sản xuất sản phẩm
nào… Chính vì vậy, chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ phải được kế toán tập hợp theo
một phạm vi, giới hạn nhất định.
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi và giới hạn để tập hợp chi phí sản
xuất. Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là bước đầu tiên của quá trình
tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất một cách khoa học, hợp lý là cơ sở
để tổ chức kế toán chi phí sản xuất, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu (trên chứng từ
kế toán) đến tổ chức hệ thống các tài khoản tổng hợp, tài khoản chi tiết, sổ tổng hợp,
sổ chi tiết… để tập hợp số liệu chi phí sản xuất theo các phạm vi và giới hạn đã được
xác định.
Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là xác định nơi
gây ra chi phí hoặc đối tượng chịu chi phí. Tùy thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể
mà đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp có thể là: từng sản phẩm,
chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, từng phân xưởng, giai đoạn công
nghệ sản xuất…
1.2.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Trên cơ sở xác định được đối tượng tập hợp CPSX, kế toán lựa chọn phương
pháp tập hợp CPSX phù hợp. Phương pháp tập hợp CPSX là một hay một hệ thống các
phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại CPSX trong một phạm vi và giới
hạn nhất định. Có hai phương pháp tập hợp CPSX là phương pháp trực tiếp và phương
pháp phân bổ gián tiếp.
Phƣơng pháp trực tiếp
Phương pháp này được sử dụng trong trường hợp các loại chi phí có liên quan
trực tiếp đến các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định. Phương pháp này yêu cầu kế
toán phải tổ chức công tác hạch toán một cách cụ thể, tỉ mỉ từ khâu lập chứng từ ban
7

Thang Long University Library


đầu, tổ chức hệ thống tài khoản, hệ thống sổ kế toán…theo đúng các đối tượng tập hợp
chi phí đã xác định. Thực hiện được những yêu cầu trên, kế toán mới đảm bảo các chi
phí phát sinh tập hợp đúng theo các đối tượng một cách chính xác, kịp thời và đầy đủ.
Căn cứ để tập hợp chi phí theo phương pháp trực tiếp là các chứng từ ban đầu
như phiếu xuất kho, bảng phân bổ vật liệu, công cụ, dụng cụ, bảng thanh toán tiền
lương.
Phƣơng pháp phân bổ gián tiếp
Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các loại chi phí gián tiếp, đó là các
chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí đã xác định mà kế toán
không thể tập hợp trực tiếp các chi phí này cho từng đối tượng đó.
Theo phương pháp này, trước hết căn cứ vào các chi phí phát sinh, kế toán tiến
hành tập hợp chung các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng. Để xác định chi phí
cho từng đối tượng cụ thể phải lựa chọn các tiêu chuẩn hợp lý và tiến hành phân bổ
các chi phí đó cho từng đối tượng có liên quan. Việc phân bổ chi phí cho từng đối
tượng thường được tiến hành theo hai bước sau:
Bước 1: Xác định hệ số phân bổ theo công thức:
ổng tiêu thức phân bổ c a từng đối tượng (C)

Hệ số phân bổ (H) =

ổng tiêu thức phân bổ c a tất cả các đối tượng ( )

Bước 2: Xác định chi phí cần phân bổ cho từng đối tượng tập hợp cụ thể
Chi phí sản xuất phân
bổ cho từng đối tượng

=

Hệ số phân bổ c a
từng đối tượng

×

Tổng chi phí sản xuất
cần phân bổ

1.2.3. Kế toán chi phí sản xuất tại đơn vị hạch toán hàng tồn kho theo phương
pháp kê khai thường xuyên
1.2.3.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí NVL trực tiếp bao gồm toàn bộ chi phí nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên
liệu được dùng trực tiếp cho việc sản xuất, gia công, chế biến sản phẩm. Chi phí NVL
trực tiếp thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
của doanh nghiệp sản xuất. Chi phí NVL trực tiếp thường được xây dựng định mức chi
phí và tổ chức quản lý chúng theo định mức chi phí mà doanh nghiệp xây dựng.
Đối với chi phí NVL trực tiếp có liên quan trực tiếp tới từng đối tượng tập hợp
chi phí thì tập hợp chi phí theo phương pháp trực tiếp. Trong trường hợp chi phí NVL
trực tiếp liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí thì kế toán tập hợp và phân bổ theo
phương pháp gián tiếp. Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng là định mức tiêu hao,
hệ số, trọng lượng và khối lượng sản phẩm.
8


Để tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán căn cứ vào các chứng từ,
gồm: phiếu xuất kho, hóa đơn giá trị gia tăng (với trường hợp mua NVL xuất dùng
ngay, không thông qua kho), bảng phân bổ nguyên liệu, vật liệu.
Để theo dõi các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng tài
khoản 621 – chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Tài khoản này không có số dư cuối kỳ
và được mở chi tiết cho từng đối tượng chi phí sản xuất, dùng để tập hợp toàn bộ chi
phí NVL trực tiếp dùng cho sản xuất, chế tạo sản phẩm phát sinh trong kỳ, cuối kỳ kết
chuyển sang tài khoản tập hợp CPSX và giá thành sản phẩm.
Kết cấu tài khoản:
TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất  Kết chuyển chi phí NVL trực tiếp sang
dùng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản TK 154
phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ  Trị giá NLV trực tiếp sử dụng không
hạch toán
hết được nhập lại kho
 Kết chuyển chi phí NVL trực tiếp vượt
trên mức bình thường vào TK 632

9

Thang Long University Library


Sơ đồ 1.2. Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (KKTX)
TK 621

TK 152, 153

TK 152
NVL hoặc phế liệu

Giá thực tế NVL xuất

thu hồi nhập kho
dùng cho sản xuất
1.2.3.2.
TK
111, 112, 141, 331
TK 154
NVL mua đưa ngay vào sản xuất

Kết chuyển chi phí
NVL trực tiếp

TK 133
Thuế GTGT
TK 632
Kết chuyển NVL
trực tiếp trên mức
bình thường

1.2.3.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhân trực tiếp
sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ gồm: Tiền lương chính,
tiền lương phụ, các khoản phụ cấp có tính chất lương (phụ cấp khu vực, phụ cấp làm
thêm giờ,…) các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ theo số tiền lương của
công nhân trực tiếp chế tạo sản phẩm.
Chi phí nhân công trực tiếp thường được hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng
chịu chi phí có liên quan. Trường hợp chi phí nhân công trực tiếp có liên quan đến
nhiều đối tượng mà không hạch toán trực tiếp được tiền lương phụ, các khoản phụ cấp
hoặc tiền lương chính trả theo thời gian mà người lao động thực hiện nhiều công việc
khác nhau trong ngày… thì có thể tập hợp chung, sau đó chọn tiêu thức phù hợp để
tính toán và phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí có liên quan. Tiêu thức phân bổ
chi phí nhân công trực tiếp thường là: định mức tiền lương, giờ công định mức hoặc
giờ công thực tế, khối lượng sản xuất… Các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN,
KPCĐ căn cứ theo tỷ lệ trích quy định để tính theo số tiền công đã tập hợp được hoặc
phân bổ cho từng đối tượng.
10


Để tập hợp chi phí nhân công trực tiếp, kế toán căn cứ vào các chứng từ sau:
Bảng chấm công, bảng chấm công làm thêm giờ, bảng thanh toán tiền lương, bảng
thanh toán tiền thưởng, phiếu xác nhận sản phẩm hoàn thành, bảng phân bổ tiền lương
và các khoản trích theo lương.
Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 622 – chi phí
nhân công trực tiếp. Tài khoản này không có số dư cuối kỳ và được mở chi tiết theo
từng đối tượng tập hợp chi phí như tài khoản 621.
Kết cấu tài khoản:
TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp
 Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp sản  Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp
xuất sản phẩm, thực hiện lao vụ, dịch vụ.

sang TK 154
 Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp
vượt trên mức bình thường vào TK 632

Sơ đồ 1.3. Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp
TK622

TK 334

TK 154

Tiền lương phải trả cho

Kết chuyển chi phí

công nhân trực tiếp SX

nhân công trực tiếp

TK 338
Trích BHXH,BHYT,BHTN
KPCĐ của công nhân
trực tiếp sản xuất

TK 632

Kết chuyển chi phí NCTT
vượt trên mức bình thường

TK 335
Trích trước tiền lương nghỉ
phép của công nhân trực
tiếp sản xuất
11

Thang Long University Library


1.2.3.3. Chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những khoản chi phí cần thiết khác phục vụ cho quá
trình sản xuất sản phẩm phát sinh ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất. Chi phí sản
xuất chung, bao gồm: Chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, dụng cụ dùng ở
phân xưởng, đội sản xuất, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí
bằng tiền khác…
Chi phí sản xuất chung được tập hợp theo từng địa điểm phát sinh chi phí, chi tiết
theo từng phân xưởng, từng đội. Cuối tháng, chi phí sản xuất chung đã tập hợp được
kết chuyển để tính giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất chung liên quan tới đối tượng
nào thì kết chuyển cho đối tượng đó. Nếu chi phí sản xuất chung liên quan tới nhiều
đối tượng thì phải phân bổ cho các đối tượng theo các tiêu thức sau: Chi phí tiền công
trực tiếp, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, định mức chi phí sản xuất chung…
Các chứng từ được sử dụng là: Phiếu xuất kho, bảng phân bổ nguyên liệu – vật
liệu, dụng cụ, bảng phân bổ tiền lương, bảng phân bổ khấu hao, hóa đơn dịch vụ,…
Để tập hợp chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng tài khoản 627 - chi phí sản
xuất chung. Tài khoản này mở chi tiết theo từng phân xưởng, bộ phận sản xuất, cuối
kỳ không có số dư và được chi tiết thành các tiểu khoản:
 TK 6271: Chi phí nhân viên phân xưởng.
 TK 6272: Chi phí nguyên vật liệu.
 TK 6273: Chi phí dụng cụ sản xuất.
 TK 6274: Chi phí khấu hao tài sản cố định.
 TK 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài.
 TK 6278: Chi phí bằng tiền khác.
Kết cấu của tài khoản:
TK 627 – Chi phí sản xuất chung
 Tập hợp chi phí sản xuất chung thực tế  Các khoản ghi giảm CPSXC
phát sinh trong kỳ.

 Kết chuyển CPSXC vào TK 154
 CPSXC cố định không phân bổ được
ghi nhận vào giá vốn hàng bán trong kỳ
do mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp
hơn công suất bình thường.

12


Sơ đồ 1.4. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung (KKTX)
TK 627

TK 334, 338

TK 111, 112, 152
Các khoản ghi giảm chi

Chi phí nhân viên PX

phí sản xuất chung
TK 152, 153
TK 154
Chi phí NVL, CCDC

Kết chuyển hoặc phân bổ
CPSXC trong kỳ cho các đối
TK 142, 242, 335

tượng chịu chi phí

Chi phí theo dự toán hoặc

TK 632

phân bổ chi phí trả trước

Kết chuyển chi phí SXC

TK 214

vượt trên mức bình thường

Chi phí khấu hao TSCĐ

TK 111, 112, 331
Chi phí dịch vụ mua ngoài
và chi phí bằng tiền khác
TK 133
Thuế GTGT

1.2.3.4. Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất
Vào cuối kỳ kế toán, các khoản CPSX sau khi được tập hợp vào từng khoản mục
đều được kết chuyển sang bên Nợ của TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.
Đây là tài khoản dùng để tổng hợp chi phí sản xuất, phục vụ cho việc tính giá thành ở
những doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên.
Tài khoản này có kết cấu như sau:
13

Thang Long University Library


TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
 Tập hợp các chi phí sản xuất trong kỳ  Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất
(Chi phí NLV trực tiếp, Chi phí nhân  Tổng giá thành sản xuất thực tế hay chi
công trực tiếp, Chi phí sản xuất chung)
phí thực tế của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ
đã hoàn thành, nhập kho hoặc đưa đi bán
Dư nợ: Chi phí thực tế của sản phẩm, lao
vụ, dịch vụ dở dang, chưa hoàn thành.

Sơ đồ 1.5. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất (KKTX)
TK154

TK 621

TK 152
Phế liệu thu hồi hoặc NVL

Kết chuyển chi phí

dùng không hết nhập lại kho

NVL trực tiếp

TK 1381

TK 622
Kết chuyển chi phí

Sản phẩm hỏng ngoài định

nhân công trực tiếp

mức trong dây chuyền SX
TK 155, 157, 632

TK 627

Giá thành sản xuất của thành
Kết chuyển chi phí

phẩm nhập kho, gửi bán, bán
không qua kho

sản xuất chung

1.2.4. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất tại đơn vị hạch toán hàng tồn kho theo
phương pháp kiểm kê định kỳ
Tại đơn vị hạch toán hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ,
các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến hàng tồn kho không được ghi sổ liên tục. Cuối
kỳ, doanh nghiệp tổ chức kiểm kê, xác định số lượng và giá trị của từng nguyên liệu,
nhiên liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm, hàng hóa còn tồn kho cuối kỳ, từ đó xác định
giá trị vật tư, hàng hóa đã xuất sử dụng hoặc bán trong kỳ.

14


Trị giá hàng xuất kho được tính theo công thức:
Trị giá hàng
xuất kho

=

Trị giá hàng tồn
đầu kỳ

+

Trị giá hàng nhập
trong kỳ



Trị giá hàng tồn
cuối kỳ

Theo phương pháp kiểm kê định kỳ, việc tổ chức kế toán các khoản mục chi phí
vẫn giống như phương pháp kê khai thường xuyên, được thực hiện trên các tài khoản:
TK 621, TK 622, TK 627.
Giá trị nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng hóa mua vào nhập kho hoặc đưa
vào sử dụng trong kỳ, được kế toán phản ánh trên TK 611.
TK 611 – Mua hàng
 Kết chuyển giá gốc hàng hóa, NVL,  Kết chuyển giá gốc hàng hóa, NVL,
CCDC tồn kho đầu kỳ

CCDC tồn kho cuối kỳ

 Giá gốc hàng hóa, NLV, CCDC mua  Giá gốc hàng hóa, NVL, CCDC xuất
vào trong kỳ, hàng hóa đã bán bị trả lại.

dùng trong kỳ
 Giá gốc NVL, CCDC, hàng hóa mua
vào trả lại người bán, được giảm giá, chiết
khấu thương mại được hưởng…

.
1.2.4.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Để phản ánh các chi phí NVL trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 621 – Chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp. Các chi phí được phản ánh trên tài khoản này không được
cập hàng ngày theo các chứng từ xuất dùng mà được ghi một lần vào cuối kỳ kế toán,
sau khi doanh nghiệp tiến hành kiểm kê và xác định được giá trị NVL còn tồn kho.
Nội dung phản ánh của TK 621 theo phương pháp kiểm kê định kỳ giống phương pháp
kê khai thường xuyên.

15

Thang Long University Library


Sơ đồ 1.6. Kế toán chi phí NVL trực tiếp (KKĐK)
Kết chuyển giá trị NVL tồn kho cuối kỳ
TK 151, 152

TK 611

TK 631

TK 621

Kết chuyển giá trị
NVL tồn kho đầu kỳ

TK 111, 112, 331
Giá trị NVL

Giá trị NVL dùng

Kết chuyển chi phí

chế tạo sản phẩm

NVL trực tiếp

tăng trong kỳ
TK 133

1.2.4.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Tài khoản sử dụng và cách tập hợp chi phí giống như phương pháp kê khai
thường xuyên. Cuối kỳ, kế toán kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp sang TK 631
chi tiết theo từng đối tượng để tiến hành tính giá thành sản phẩm hoàn thành.
1.2.4.3. Kế toán chi phí sản xuất chung
Toàn bộ chi phí sản xuất chung được tập hợp trên TK 627 tương tự như phương
pháp kê khai thường xuyên, cuối kỳ kết chuyển sang TK 631 theo từng đối tượng để
tính giá thành.
1.2.4.4. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Toàn bộ quá trình tổng hợp chi phí sản xuất cuối kỳ được thực hiện trên tài
khoản 631- giá thành sản xuất. Tài khoản 154 chỉ sử dụng để phản ánh và theo dõi chi
phí sản xuất kinh doanh dở dang đầu kỳ và cuối kỳ.

16


TK 631 – Giá thành sản xuất
 Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang  Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang
đầu kỳ.

cuối kỳ.

 Các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ  Tổng giá thành sản xuất của sản phẩm,
liên quan tới chế tạo sản phẩm hay thực lao vụ, dịch vụ hoàn thành.
hiện dịch vụ.

.
Sơ đồ 1.7. Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất (KKĐK)
Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ
TK631

TK 621

TK 154
Kết chuyển giá trị SPDD

Kết chuyển chi phí NVL trực tiếp

cuối kỳ
xxx

TK 622

TK 632

Kết chuyển chi phí NCTT

Tổng giá thành của
sản phẩm hoàn thành

TK 627
Kết chuyển chi phí SXC

1.2.5. Đánh giá giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
1.2.5.1. Khái niệm
Sản phẩm dở dang cuối kỳ là những sản phẩm chưa hoàn thành về mặt kỹ thuật,
còn nằm trong quy trình sản xuất sản phẩm hoặc chưa hoàn tất thủ tục kiểm tra chất
lương, quản lý thành phẩm tại thời điểm tính giá thành (thường là cuối kỳ kế toán).
1.2.5.2. Các phương pháp đánh giá giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ có thể tiến hành trước khi tính giá thành sản
phẩm hoặc song song với việc tính giá thành. Tùy thuộc vào đặc điểm, mức độ chi phí
17

Thang Long University Library


sản xuất trong sản phẩm dở dang và yêu cầu quản lý về chi phí sản xuất, đánh giá sản
phẩm dở dang có thể thực hiện theo một trong các phương pháp sau:
Đánh giá giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí NVL chính
Theo cách đánh giá này, giá trị sản phẩm dở dang chỉ bao gồm giá trị nguyên vật
liệu chính, các chi phí sản xuất còn lại như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất
chung được tính toàn bộ vào giá trị thành phẩm hoàn thành.
Phương pháp này áp dụng với những doanh nghiệp có quy trình công nghệ chế
biến liên tục, chi phí nguyên vật liệu chính chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí (lớn
hơn 75%) và khối lượng sản phẩm dở dang ít, không có nhiều biến động qua các kỳ.
Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ được tính theo công thức sau:
Giá trị sản
phẩm dở
dang cuối kỳ

Giá trị sản phẩm
dở dang đầu kỳ
=

+

Số lượng sản phẩm
+
hoàn thành

Chi phí NVL chính
phát sinh trong kỳ
Số lượng sản phẩm
dở dang cuối kỳ

Số lượng sản
× phẩm dở dang
cuối kỳ

Ưu điểm của phương pháp đánh giá này là đơn giản, khối lượng tính toán ít, việc
xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ được kịp thời, phục vụ cho việc tính giá
thành được nhanh chóng. Tuy nhiên, kết quả đánh giá sản phẩm dở dang ở mức độ
chính xác thấp do không tính chi phí chế biến cho sản phẩm dở dang cho nên giá thành
của thành phẩm cũng kém chính xác.
Đánh giá giá trị sản phẩm DDCK theo sản lƣợng ƣớc tính tƣơng đƣơng
Phương pháp này được tiến hành dựa theo mức độ hoàn thành và số lượng SPDD
để quy đổi SPDD thành sản phẩm hoàn thành. Tiêu chuẩn quy đổi thường dựa vào giờ
công hoặc tiền lương định mức.
Phương pháp này áp dụng đối với doanh nghiệp có chi phí vật liệu trực tiếp
chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng chi phí sản xuất, hay nói cách khác, chi phí chế
biến chiếm tỷ trọng lớn, khối lượng sản phẩm dở dang lớn và không ổn định giữa các
kỳ, đánh giá được mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang.
Với phương pháp này, giá trị SPDD cuối kỳ được xác định bằng công thức:
Giá trị sản phẩm
dở dang cuối kỳ

=

Chi phí NVL chính tính
cho SPDD

+

Chi phí chế biến tính
cho SPDD

 Đối với chi phí sản xuất bỏ một lần ngay từ đầu quy trình công nghệ như chi
phí nguyên vật liệu chính thì chi phí nguyên vật liệu tính cho sản phẩm hoàn
thành và sản phẩm dở dang là như nhau.
18


Giá trị

Chi phí NVL
chính tính cho
SPDD

SPDDDK
=

Chi phí NVL chính

+

phát sinh trong kỳ

Số lượng sản
+
phẩm hoàn thành

×

Số lượng sản
phẩm DDCK

Số lượng sản
phẩm DDCK

 Đối với chi phí chế biến là những chi phí bỏ dần trong quá trình sản xuất như
chi phí vật liệu phụ, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung thì giá
trị sản phẩm dở dang cuối kỳ được xác định theo mức độ hoàn thành.
Chi phí chế
biến từng loại

Giá trị
SPDDĐK
=

tính cho SPDD

Tổng chi phí chế

+

Số lượng sản
phẩm hoàn thành

biến từng loại
Số lượng SPDD
quy đổi

+

×

Số lượng SPDD
quy đổi

Số lượng SPDD quy đổi = Số lượng SPDD cuối kỳ × Mức độ hoàn thành
Đánh giá giá trị SPDD theo phương pháp sản lượng ước tính tương đương tuy
khối lượng tính toán lớn, mất nhiều thời gian, kiểm kê đánh giá mức độ hoàn thành
của sản phẩm dở dang rất phức tạp, nhưng kết quả tính toán của phương pháp này cho
độ chính xác cao hơn vì chúng được tính toán đầy đủ các khoản mục chi phí.
Đánh giá giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ theo 50% chi phí chế biến
Trong trường hợp quy trình sản xuất có số lượng sản phẩm DDCK ở các khâu
trên dây chuyền sản xuất tương đối đồng đều, có thể đánh giá sản phẩm DDCK theo
50% chi phí chế biến. Thực tế, đây là một dạng của phương pháp đánh giá giá trị sản
phẩm DDCK theo sản lượng ước tính tương đương, trong đó giả định SPDD đã hoàn
thành ở mức độ 50% so với thành phẩm.
Công thức tính cho phương pháp này như sau:
Giá trị sản
phẩm DDCK

=

Giá trị NVL chính nằm
trong SPDD

+

50% chi phí chế biến tính
cho sản phẩm dở dang

Đánh giá giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí định mức
Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức được
tiến hành trên cơ sở các định mức chi phí sản xuất đã được xây dựng cho từng giai
đoạn. Theo đó, kế toán căn cứ vào khối lượng SPDD, mức độ hoàn thành và định mức
từng khoản mục chi phí trong từng công đoạn để xác định chi phí định mức của khối
lượng SPDD theo định mức.
Phương pháp này chỉ áp dụng khi hệ thống định mức chi phí sản xuất có độ chính
xác cao, nói cách khác, phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp đã xây
19

Thang Long University Library


dựng được định mức chi phí sản xuất cho từng giai đoạn và việc quản lý thực hiện
định mức đã đi vào nề nếp.
Đánh giá giá trị SPDD theo chi phí định mức được khái quát bằng công thức:
Giá trị sản
phẩm DDCK

=

Khối lượng sản phẩm
DDCK

×

Tỷ lệ hoàn
thành

×

Định mức chi phí

Phương pháp này có ưu điểm là tính toán nhanh chóng, có thể lập các bảng tính
sẵn giúp cho việc xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ được nhanh chóng hơn.
Tuy nhiên, nhược điểm là mức độ chính xác không cao vì chi phí thực tế không thể
đúng bằng định mức chi phí đã lập.
1.3. Kế toán tính giá thành sản phẩm
1.3.1. Đối tượng tính giá thành sản phẩm, kỳ tính giá thành
Đối tượng tính giá thành sản phẩm là khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành
nhất định mà doanh nghiệp cần tính tổng giá thành và giá thành đơn vị. Để xác định
đối tượng tính giá thành, kế toán cần dựa vào những căn cứ sau:
 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất: Với quy trình công nghệ sản xuất giản
đơn thì đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành cuối quy trình công
nghệ. Trong trường hợp quy trình sản xuất phức tạp, đối tượng tính giá thành
có thể là sản phẩm cuối cùng hoặc bán thành phẩm ở từng quy trình.
 Loại hình sản xuất: Với loại hình sản xuất hàng loạt với số lượng lớn thì đối
tượng tính giá thành là sản phẩm cuối cùng hoặc bán thành phẩm. Trong
trường hợp loại hình sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt với số lượng
nhỏ thì đối tượng tính giá theo từng đơn đặt hàng.
Lựa chọn đối tượng tính giá thành thích hợp sẽ là cơ sở để phân tích, tổng hợp
chi phí sản xuất phù hợp, tính giá thành chính xác.
Kỳ tính giá thành sản phẩm là khoảng thời gian cần thiết phải tiến hành tập hợp,
tổng hợp chi phí sản xuất và tính tổng giá thành, giá thành đơn vị. Tùy thuộc vào đặc
điểm kinh tế, kỹ thuật sản xuất và nhu cầu thông tin giá thành, kỳ tính giá thành được
xác định khác nhau. Hiện nay, trong các doanh nghiệp sản xuất, kỳ tính giá thành
thường được chọn trùng với kỳ kế toán.
1.3.2. Phương pháp tính giá thành sản phẩm
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp sử dụng số liệu chi phí sản
xuất đã tập hợp được trong kỳ và các tài liệu liên quan để tính toán tổng giá thành sản
xuất và giá thành đơn vị sản xuất thực tế của sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành theo từng
20


đối tượng tính giá thành và từng khoản mục chi phí. Căn cứ vào đối tượng tập hợp chi
phí và đối tượng tính giá thành, kế toán lựa chọn phương pháp tính giá thành phù hợp
theo một trong các phương pháp sau:
1.3.2.1. Phương pháp trực tiếp (giản đơn)
Phương pháp tính giá thành trực tiếp áp dụng với những doanh nghiệp có quy
trình công nghệ giản đơn, số lượng mặt hàng ít nhưng sản xuất với khối lượng lớn,
quy mô sản xuất khép kín, chu kỳ ngắn như loại hình doanh nghiệp sản xuất điện,
nước, khai thác,…
Do số lượng mặt hàng ít nên việc hạch toán CPSX tại các doanh nghiệp này được
tiến hành theo sản phẩm, mỗi sản phẩm được hạch toán trên một sổ hoặc thẻ tính giá
nhất định. Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành và giá thành đơn vị của sản phẩm
được tính theo công thức sau:
Tổng giá thành
SP hoàn thành

=

Chi phí sản
xuất DDĐK

Giá thành đơn vị sản phẩm =

Chi phí sản xuất
phát sinh trong kỳ

+



Chi phí sản xuất
DDCK

Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành
Số lượng sản phẩm hoàn thành

1.3.2.2. Phương pháp tổng cộng chi phí
Phương pháp này áp dụng tại các doanh nghiệp mà quy trình sản xuất được thực
hiện ở nhiều bộ phận sản xuất và trải qua nhiều giai đoạn công nghệ. Theo đó, đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất là các bộ phận, chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn công
nghệ. Đối tượng tính giá thành là sản phẩm, dịch vụ hoàn thành.
Với phương pháp này, giá thành sản xuất được xác định bằng cách cộng tổng chi
phí sản xuất của các bộ phận, chi tiết sản phẩm.
Z=
Trong đó: Z là tổng giá thành sản phẩm
C1, C2, …, Cn là chi phí sản xuất của các giai đoạn 1, 2, …, n nằm
trong giá thành sản phẩm.
1.3.2.3. Phương pháp hệ số
Phương pháp này áp dụng phù hợp với những doanh nghiệp mà trong cùng một
quy trình công nghệ sản xuất sử dụng cùng một loại nguyên vật liệu chính, kết thúc tạo
ra nhiều loại sản phẩm khác nhau (đều là sản phẩm chính), như đối với các doanh
nghiệp hóa chất, hóa dầu, các nông trường chăn nuôi. Ở đây, chi phí không được tập
hợp riêng cho từng loại sản phẩm mà được hạch toán cho cả quá trình sản xuất. Như
21

Thang Long University Library


vậy, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình sản xuất còn đối tượng tính
giá là từng loại sản phẩm.
Để tính giá thành sản phẩm, trước hết kế toán cần căn cứ vào hệ số quy đổi để
quy các sản phẩm về sản phẩm gốc. Từ đó, dựa vào tổng chi phí để tính giá thành sản
phẩm gốc và giá thành từng loại sản phẩm.
Bước 1: Xác định tổng sản phẩm gốc quy đổi:
n

o ∑ i× i
i 1

Trong đó: Qi là số lượng sản phẩm i (chưa quy đổi)
Hi là hệ số quy đổi sản phẩm i
Bước 2: Xác định tổng giá thành sản xuất các loại sản phẩm
Tổng giá thành sản xuất
các loại sản phẩm

=

CPSX dở
dang đầu kỳ

Giá thành đơn vị sản phẩm gốc (
Giá thành đơn vị
sản phẩm i (

=

Tổng giá thành
sản phẩm i

0

=

CPSX dở
dang cuối kỳ

Tổng số sản phẩm gốc quy đổi (

phẩm gốc (

=

sinh trong kỳ



Tổng giá thành sản xuất các loại sản phẩm

Giá thành đơn vị sản

i

CPSX phát

+

×

0

Giá thành đơn vị
sản phẩm i (

×

i

0

Hệ số quy đổi sản
phẩm i ( (

i

Số lượng sản phẩm i
chưa quy đổi (

i

1.3.2.4. Phương pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ
Phương pháp này được áp dụng với những doanh nghiệp trong cùng một quy
trình công nghệ sản xuất chế tạo sản phẩm đồng thời với việc thu được sản phẩm chính
còn thu được sản phẩm phụ, như doanh nghiệp sản xuất mía đường, sản xuất bia
rượu,… Để tính được giá thành sản phẩm chính phải loại trừ chi phí sản xuất tính cho
sản phẩm phụ. Chi phí sản xuất tính cho sản phẩm phụ được xác định bằng cách tính
theo giá thành kế hoạch (định mức), giá nguyên vật liệu ban đầu hoặc giá ước tính.
Với phương pháp này, đối tượng tập hợp CPSX là toàn bộ quy trình sản xuất còn
đối tượng tính giá thành là sản phẩm chính đã hoàn thành.
Tổng giá
thành sản
phẩm chính

Giá trị sản
= phẩm chính
DDĐK

Tổng CPSX
+ phát sinh
trong kỳ
22



Giá trị sản
phẩm phụ
thu hồi



Giá trị sản
phẩm chính
DDCK


1.3.2.5. Phương pháp tỷ lệ chi phí
Phương pháp này áp dụng thích hợp với những doanh nghiệp sản xuất mà trong
cùng một quy trình công nghệ sản xuất ra nhóm sản phẩm cùng loại với những quy
cách, kích cỡ, phẩm chất khác nhau như sản xuất ống nước, áo dệt kim… Theo đó, đối
tượng tập hợp CPSX là toàn bộ quy trình sản xuất của nhóm sản phẩm cùng loại còn
đối tượng tính giá thành là từng quy cách sản phẩm trong nhóm sản phẩm.
Với phương pháp này, kế toán căn cứ vào giá thành kế hoạch (hoặc giá thành
định mức) để tính tiêu chuẩn phân bổ giá thành theo sản lượng thực tế, sau đó tính tỷ
lệ giá thành của nhóm sản phẩm, trên cơ sở tỷ lệ giá thành và tiêu chuẩn phân bổ của
từng quy cách để tính giá thành thực tế của từng quy cách.
Tỷ lệ chi phí

Tổng giá thành thực tế c a tất cả các loại sản phẩm
=

Tổng giá thành kế hoạch (hoặc định mức) c a tất cả các loại sản phẩm

Giá thành thực tế đơn vị sản
phẩm từng loại

=

Giá thành kế hoạch (hoặc định mức)
đơn vị sản phẩm từng loại

×

Tỷ lệ
chi phí

1.3.2.6. Phương pháp liên hợp
Phương pháp tính giá liên hợp áp dụng trong các doanh nghiệp có tổ chức sản
xuất, tính chất quy trình công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá
thành phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp này kết hợp giữa
phương pháp trực tiếp với tổng chi phí, tổng cộng chi phí với tỷ lệ, hệ số với lại trừ sản
phẩm phụ,…
1.3.2.7. Phương pháp tính giá thành phân bước
Phương pháp này áp dụng ở những doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản
xuất phức tạp theo kiểu liên tục, sản phẩm qua nhiều giai đoạn chế biến liên tục kế tiếp
nhau, bán thành phẩm của giai đoạn trước là đối tượng chế biến của giai đoạn sau. Với
phương pháp này, CPSX phát sinh ở giai đoạn nào sẽ được tập hợp cho giai đoạn đó.
Phƣơng pháp tính giá thành phân bƣớc có tính giá thành bán thành phẩm
Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp bán thành phẩm trong từng giai
đoạn chế biến có giá trị sử dụng độc lập, có thể nhập kho hoặc đem bán.
Đặc điểm của phương pháp này là khi tập hợp CPSX của các giai đoạn, giá trị
bán thành phẩm của các bước chuyển sang bước sau được tính theo giá thành thực tế
và được phản ánh theo từng khoản mục chi phí. Chính vì vậy phương pháp này còn
được gọi là phương án kết chuyển tuần tự.

23

Thang Long University Library


Sơ đồ 1.8. Trình tự tập hợp CPSX và tính giá thành phân bước có tính giá thành
bán thành phẩm
Chi phí
NVL chính

Giá thành
bán thành





phẩm bước 1

Giá thành
bán thành
phẩm bước 2



Chi phí chế
biến bước 1



Chi phí chế

Giá trị SPDD



biến bước 2

Chi phí chế
biến bước
(n-1)

Giá trị SPDD
bước 1

+

bước 2

Chi phí
chế biến
bước n



Giá thành bán
thành phẩm

=>

bước 1

=>

Giá thành bán
thành phẩm
bước 2

Giá trị
SPDD
bước n

Tổng
=>

giá thành
sản phẩm
hoàn thành

Phƣơng pháp tính giá thành phân bƣớc không tính giá thành bán thành
phẩm
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp bán thành phẩm trong từng giai đoạn
chế biến không có giá trị sử dụng độc lập, không nhập kho hoặc đem bán. Theo đó, chi
phí chế biến phát sinh được tính vào giá thành sản phẩm một cách đồng thời. Phương
pháp này còn gọi là phương pháp kết chuyển song song.
Sơ đồ 1.9. Trình tự tập hợp CPSX và tính giá thành phân bước không tính giá
thành bán thành phẩm

Chi phí NVL chính tính cho thành phẩm

Chi phí chế biến bước 1 tính cho thành phẩm
Chi phí chế biến bước 2 tính cho thành phẩm

Tổng
giá
thành
sản
phẩm
hoàn
thành

Chi phí chế biến bước n tính cho thành phẩm
24


1.3.3. Thẻ tính giá thành sản phẩm
Thẻ tính giá thành sản phẩm, dịch vụ là sổ kế toán dùng để theo dõi và tính giá
thành sản xuất từng loại sản phẩm, dịch vụ trong từng kỳ hạch toán.
Biểu mẫu này được ban hành kèm theo Quyết định số 15 2006 QĐ-BTC ban
hành ngày 20 03 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính.
Thẻ tính giá thành sản phẩm, dịch vụ
háng…năm…
Tên sản phẩm, dịch vụ:

Số lượng:
Chia ra theo khoản mục

Chỉ tiêu

Tổng số
tiền

Chi phí NVL

Chi phí nhân

Chi phí sản

trực tiếp

công trực tiếp

xuất chung

1.CPSXKD dở dang đầu kỳ
2.CPSXKD phát sinh trong kỳ
3.Giá thành SP, DV trong kỳ
4.CPSXKD dở dang cuối kỳ

1.4. Tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.4.1. Các hình thức ghi sổ
Để thực hiện chức năng ghi chép, phản ánh một cách có hệ thống các thông tin
kế toán theo thời gian cũng như theo đối tượng, mỗi doanh nghiệp lựa chọn một hình
thức sổ kế toán.
Hiện nay, tùy thuộc vào nhu cầu quản lý, trình độ quản lý, trang bị vật chất… và
căn cứ vào chế độ kế toán theo Quyết định 15 2006 QĐ-BTC, doanh nghiệp có thể lựa
chọn một trong năm hình thức kế toán sau:
 Hình thức Nhật ký chung
 Hình thức Nhật ký – Sổ cái
 Hình thức Chứng từ ghi sổ
 Hình thức Nhật ký - Chứng từ
 Hình thức Kế toán máy
Trong phạm vị khóa luận tốt nghiệp này, em xin được trình bày cụ thể về hình
thức Nhật ký – Chứng từ - hình thức sổ kế toán đang được áp dụng tại đơn vị mà em
đang thực tập.
25

Thang Long University Library


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×