Tải bản đầy đủ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI THANH HOÀN

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một khâu cơ bản trong tài chính doanh
nghiệp, có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động khác của doanh nghiệp. Phân tích tình
hình tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra về nội dung kết cấu, thực
trạng các chỉ tiêu tài chính trên các báo cáo tài chính nhằm xác định, đánh giá tình
hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp giúp cho người sử dụng thông
tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp, hiệu quả.
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phá
sản tác động tới doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánh giá
khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh
nghiệp. Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những
dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức danh lợi nói riêng của doanh nghiệp
trong tương lai. Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính, một
trong các hướng dự đoán của doanh nghiệp. Phân tích tài chính có thể được ứng dụng
theo nhiều hướng khác nhau: với mục đích tác nghiệp, với mục đích nghiên cứu, thông
tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích.
1.1.2. Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp nhằm cung cấp những thông tin cho việc ra

quyết định kinh doanh và kinh tế. Vì vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp cần đạt
được các mục tiêu chủ yếu sau:
 Phân tích tài chính doanh nghiệp cung cấp đầy đủ thông tin hữu ích cho nhà
quản lý, nhà đầu tư và đối tượng sử dụng thông tin tài chính khác trong việc
đánh giá khả năng và tính chắc chắn của các dòng tiền mặt vào ra, tình hình sử
dụng vốn kinh doanh, khả năng thanh toán của doanh nghiệp để giúp họ có
được những quyết định đúng đắn.
 Phân tích tài chính doanh nghiệp phải cung cấp các thông tin về nguồn vốn
chủ sở hữu, các khoản nợ.
 Phân tích tài chính doanh nghiệp phải cung cấp các thông tin để người sử dụng
có khả năng dự đoán được khả năng phát triển trong tương lai của doanh
nghiệp.

1

Thang Long University Library


Ngoài ra phân tích tài chính doanh nghiệp cũng cần phải cung cấp thông tin về
việc thực hiện chức năng và cương vị quản lý của người quản lý như thế nào đối với
doanh nghiệp trong việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp.
1.1.3. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
Hoạt động tài chính có mối liên hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh,
do đó các hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng đến tài chính doanh nghiệp và
ngược lại tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hay kìm hãm quá trình sản
xuất kinh doanh. Phân tích tài chính doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng trong
công tác quản lý tài chính đối với bản thân doanh nghiệp và các đối tượng khác có liên
quan đến tài chính doanh nghiệp.
Đối với nhà quản lý doanh nghiệp
Nhà quản lý doanh nghiệp là người trực tiếp quản lý và điều hành doanh nghiệp,
nắm rõ các thông tin bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp. Phân tích tài chính
doanh nghiệp sẽ giúp nhà quản lý có cái nhìn rõ nét hơn về các vấn đề của doanh
nghiệp. Vì vậy phân tích tài chính doanh nghiệp đối với nhà quản lý nhằm đáp ứng
những mục tiêu:
Giúp cho các nhà quản lý thấy được tình hình sử dụng vốn, so sánh sự cân bằng
giữa vốn tự có và nguồn vốn huy động của doanh nghiệp, xác định vốn được huy động
từ nguồn nào để từ đó có kế hoạch khai thác, sử dụng vốn có hiệu quả.
Giúp cho doanh nghiệp biết được chỉ tiêu về vốn tự có cũng như nguồn vốn của
donh nghiệp, chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và
các rủi ro tài chính trong các hoạt động của doanh nghiệp.

Đánh giá được điểm mạnh, hạn chế của doanh nghiệp từ đó làm cơ sở để định
hướng các quyết định của Ban giám đốc, đảm bảo cho các quyết định của Ban giám
đốc phù hợp với tình hình thực tiễn của doanh nghiệp.
Đối với các nhà đầu tƣ vào doanh nghiệp
Nhà đầu tư là những người thực hiện đầu tư vốn vào doanh nghiệp, giao vốn của
mình cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng. Nhà đầu tư luôn mong muốn tìm kiếm cơ
hội đầu tư vào những doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao, cũng như quan tâm tới
các yếu tố như thời gian hoàn vốn, mức độ rủi ro… Vì vậy các báo cáo tài chính có
những chỉ tiêu tài chính tốt, hứa hẹn mang lại nhiều lợi nhuận sẽ thu hút vốn của các
nhà đầu tư và ngược lại. Đối với các nhà đầu tư hiện tại đang đầu tư vào doanh nghiệp,
họ dựa vào phân tích tài chính để đưa ra quyết định xem có nên tiếp tục đầu tư vào
công ty nữa hay không.

2


Chính vì vậy việc nắm bắt tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp là vô
cùng quan trọng.
Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp
Nếu phân tích tài chính được các nhà đầu tư và chủ doanh nghiệp thực hiện nhằm
mục đích đánh giá, phân tích khả năng sinh lời và tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp
thì phân tích tài chính lại được các tổ chức tín dụng, ngân hàng sử dụng nhằm mục
đích xem xét khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Nhờ việc phân tích tài chính thì các tổ
chức tín dụng, ngân hàng cho vay sẽ có những quyết định cho vay hợp lý đối với từng
doanh nghiệp để từ đó không chỉ thu lợi được từ khoản cho vay mà còn giảm được rủi
ro trong việc thu hồi nợ.
Đối với các nhà cung ứng vật tư, nguyên vật liệu thì phân tích tài chính sẽ giúp
họ trong việc quyết định có hay không cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa.
Đối với các cơ quan nhà nƣớc
Các cơ quan nhà nước như cục thuế, bộ tài chính… thì báo cáo tài chính và phân
tích tài chính là việc khá quan trọng nhằm đánh giá, kiểm tra, kiểm soát hoạt động của
các doanh nghiệp. Từ đó đưa ra những điều chỉnh thích hợp đối với nền kinh tế để
thích ứng, theo kịp với nền kinh tế thế giới và đưa ra những chính sách phù hợp để hỗ
trợ doanh nghiệp trong những thời điểm khó khăn. Ngoài ra thuế từ các doanh nghiệp
là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, việc nắm rõ tình hình tài chính
doanh nghiệp thông qua các bản phân tích sẽ giúp nhà nước có những điều chỉnh hợp
lý với việc thu thuế cho từng giai đoạn.
Đối với ngƣời lao động trong doanh nghiệp
Bên cạnh các nhà quản lý, nhà đầu tư và các chủ nợ của doanh nghiệp thì nguời
lao động được hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm đến các thông tin
tài chính doanh nghiệp. Do kết quả hoạt động của doanh nghiệp có tác động tới tiền
lương là khoản thu nhập chính của người lao động. Bên cạnh đó một số lao động còn
có thu nhập từ một phần vốn góp nhất định vào doanh nghiệp, khoản thu nhập này
cũng phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy việc phân
tích tài chính doanh nghiệp giúp họ định hướng việc làm ổn định, tập trung vào hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được dùng để xác
định giá trị kinh tế đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp. Giúp cho từng
nhóm đối tượng có thể lựa chọn và đưa ra các quyết định phù hợp với mục đích của
mình.

3

Thang Long University Library


1.2. Nguồn thông tin để phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Thông tin từ bên ngoài doanh nghiệp
Việc phân tích tài chính không chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu những báo
cáo tài chính mà còn phải tập hợp đầy đủ các thông tin về tình hình kinh tế chung có
liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đó là các thông tin về pháp lý,
chính sách tiền tệ, thuế khóa quốc gia, sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế,
biến động về giá cả thị trường, các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu và thị trường
tiêu thụ sản phẩm đầu ra.
Ngoài ra còn phải thu thập thông tin liên quan đến vị trí của ngành trong nền
kinh tế, cơ cấu của ngành, và các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ, thị phần
của ngành… cũng là những yếu tố vô cùng quan trọng tác động tới tình hình tài chính
doanh nghiệp.
1.2.2. Thông tin bên trong doanh nghiệp
Báo cáo tài chính là một trong những tài liệu quan trọng giúp cho người phân
tích hiểu được tình hình tài chính công ty, thông qua việc xử lý các báo cáo tài chính
chủ yếu là báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán và báo cáo lưu chuyển
tiền tệ.
1.2.2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh
tổng quát tình hình và hiệu quả hoạt động kinh doanh trong một kỳ kế toán của doanh
nghiệp. Báo cáo phản ánh tình hình thu nhập, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp
trong một kỳ kế toán. Thời kỳ báo cáo thường được chọn theo năm, quý hay tháng.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của vốn trong
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó cho phép dự tính khả năng hoạt
động của doanh nghiệp trong tương lai. Báo cáo cũng đồng thời giúp cho nhà phân
tích so sánh doanh thu và số tiền thực nhập quỹ sau khi bán hàng với tổng chi phí phát
sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp. Trên cơ sở đó có thể xác định
được kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là lãi hay lỗ trong kỳ báo cáo. Nó
cung cấp thông tin về tình hình và kết quả sử dụng các nguồn tài nguyên về vốn, lao
động, công nghệ, kỹ thuật, trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài ra còn cho biết phần nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp và các khoản phải
nộp nhà nước đối với lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.2.2.2. Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tình hình giá trị tài
sản và nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Thông thường bảng
4


cân đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán,
một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp và luôn
đảm bảo nguyên tắc cân bằng: tài sản bằng nguồn vốn. Trong đó:
Phần tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có thuộc quyền quản lý và sử
dụng của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo. Phần tài sản bao gồm tài sản ngắn
hạn và tài sản dài hạn. Dựa vào các số liệu trên có thể đánh giá tổng quát về cơ cấu tài
sản và kết cấu các loại vốn doanh nghiệp, quan hệ giữa năng lực sản xuất và trình độ
sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Phần nguồn vốn phản ánh những nguồn để hình thành nên các loại tài sản của
doanh nghiệp quản lý và đang sử dụng đến thời điểm lập báo cáo. Nguồn vốn bao gồm
nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu. Thông qua đó có thể biết được mức độ tự chủ tài
chính của doanh nghiệp trong trong kinh doanh cũng như cơ cấu nguồn hình thành nên
tài sản của doanh nghiệp.
Như vậy nhìn vào bảng cân đối kế toán, có thể nhận biết được loại hình doanh
nghiệp, quy mô, khả năng độc lập tài chính của doanh nghiệp. Bảng cân đối kế toán có
ý nghĩa quan trọng đối với nhà quản lý kinh tế tài chính trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
1.2.2.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính được lập để cung cấp cho
người sử dụng thông tin của doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập để trả
lời các vấn đề liên quan đến luồng tiền vào ra trong doanh nghiệp, tình hình thu chi
ngắn hạn, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo
của doanh nghiệp.
Trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 khoản mục chính: lưu chuyển tiền thuần
từ hoạt động kinh doanh, lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư và lưu chuyển tiền thuần
từ hoạt động tài chính. Có 2 phương pháp là phương pháp trực tiếp và gián tiếp.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin để
đánh giá khả năng kinh doanh tạo tiền của doanh nghiệp. Chỉ ra mối quan hệ giữa lợi
nhuận ròng và dòng tiền ròng, phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp và dự
toán kế hoạch thu chi của doanh nghiệp cho kỳ tiếp theo.
1.3. Quy trình thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp và các phƣơng pháp
phân tích tài chính doanh nghiệp

5

Thang Long University Library


1.3.1. Quy trình thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1.1. Thu thập thông tin
Số liệu, tài liệu dùng để phân tích tài chính bao gồm những thông tin trong nội
bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài doanh nghiệp, những thông tin kế toán
đến những thông tin quản lý khác… Trong đó các thông tin kế toán là những nguồn
thông tin có vai trò then chốt trong quá trình phân tích tài chính. Vì vậy để phân tích
chi tiết và đánh giá đúng được thực trạng của doanh nghiệp thì cần phải thu thập được
những thông tin đầy đủ, chính xác và độ tin cậy cao.
1.3.1.2. Xử lý thông tin
Sau khi thu thập được đầy đủ thông tin sẽ thực hiện quy trình xử lý thông tin đã
thu thập được. Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu
nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá của các kết quả đã đạt được
phục vụ cho quá trình dự toán và ra quyết định.
1.3.1.3. Dự đoán và đưa ra quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết
để người sử dụng thông tin phân tích có thể dự toán nhu cầu và đưa ra những quyết
định tài chính. Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích tài chính nhằm đưa ra những quyết
định liên quan đến mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trưởng, phát triển và
tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Đối với người cho vay và đầu tư, đó là các
quyết định về tài trợ đầu tư. Đối với cấp trên của doanh nghiệp là các quyết định quản
lý doanh nghiệp.
1.3.2. Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính là cách thức, kỹ thuật để đánh giá tình hình tài
chính của công ty ở quá khứ, hiện tại và dự đoán cho tương lai. Dưới đây là một số
phương pháp thường được các nhà phân tích sử dụng.
1.3.2.1. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến nhất trong phân tích tài
chính nhằm nghiên cứu sự biến động và xác định rõ mức độ biến động của chỉ tiêu tài
chính. Khi sử dụng phương pháp so sánh luôn phải tồn tại ít nhất hai đại lượng và kết
quả so sánh chỉ có ý nghĩa khi các chỉ tiêu phải được đảm bảo tính đồng nhất, phản
ánh cùng một nội dung kinh tế, đơn vị tính, phương pháp tính toán, thời gian và đơn vị
đo lường. Kỹ thuật so sánh được sử dụng trong phân tích là so sánh bằng số tuyệt đối,
sánh bằng số tương đối và so sánh với số bình quân. Nội dung so sánh bao gồm:
 So sánh giữa số kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi
về tài chính của doanh nghiệp.
6


 So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của
doanh nghiệp.
 So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy tình
hình tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu so với doanh
nghiệp khác cùng ngành
 So sánh theo chiều dọc là việc xem xét, xác định tỷ trọng của từng chỉ tiêu
tổng thể quy mô chung, qua đó có thể thấy được mức độ quan trọng của từng
chỉ tiêu tổng thể.
 So sánh theo chiều ngang là so sánh cả về số tuyệt đối và số tương đối trên
cùng một chỉ tiêu trên các báo cáo tài chính, qua đó có thể thấy được sự biến
động của từng chỉ tiêu.
1.3.2.2. Phương pháp đồ thị
Đồ thị là phương pháp nhằm phản ánh trực quan các số liệu phân tích bằng biểu
đồ hoặc đồ thị. Qua đó để mô tả xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu cần phân
tích hoặc thể hiện mối liên hệ kết cấu của các bộ phận trong một tổng thể nhất định.
Đồ thị hoặc biểu đồ thể hiện dưới các góc độ sau:
 Biểu thị độ lớn, quy mô các chỉ tiêu phân tích qua thời gian như tổng tài sản,
tổng doanh thu, chi phí, hiệu quả sử dụng vốn.
 Biểu hiện mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các chỉ tiêu nhân tố như tỷ
suất sinh lời của tổng tài sản chịu ảnh hưởng của tỷ suất sinh lời tổng doanh
thu thuần và tốc độ chu chuyển của tổng tài sản.
1.3.2.3. Phương pháp phân tích Dupont
Phương pháp phân tích Dupont là một phương pháp đơn giản nhưng vô cùng
hiệu quả trong phân tích tài chính. Phương pháp phân tích Dupont là kỹ thuật được sử
dụng để phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu
quả. Bản chất của phương pháp phân tích Dupont là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh
mức độ sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản ROA, thu nhập sau thuế
trên vốn chủ sở hữu ROE thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ với nhau từ
đó xem xét ảnh hưởng của các yếu tố khác đến một chỉ tiêu tổng hợp như thế nào.
Việc sử dụng phương pháp Dupont để phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa rất lớn
với việc quản trị doanh nghiệp, giúp thấy được tình trạng chung của tài chính doanh
nghiệp cũng như thấy được sự tác động giữa các chỉ tiêu tài chính. Từ đó có thể đưa ra
những biện pháp nhằm tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí, khắc phục các vấn đề còn tồn
tại giúp các nhà quản lý doanh nghiệp nâng cao hiệu quả tài chính doanh nghiệp.
7

Thang Long University Library


1.3.2.4. Phương pháp cân đối
Các báo cáo tài chính đều có đặc trưng chung là thể hiện tính cân đối: cân đối
giữa tài sản và nguồn vốn, cân đối giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận, cân đối giữa
dòng tiền vào và dòng tiền ra trong doanh nghiệp. Cụ thể là các cân đối cơ bản:
Tổng tài sản = TSNH + TSDH
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Dòng tiền thuần = Dòng tiền vào – Dòng tiền ra
Dựa vào những cân đối cơ bản trên, trong phân tích tài chính thường vận dụng
phương pháp cân đối để xem xét ảnh hưởng của từng nhân tố đến biến động của chỉ
tiêu phân tích.
1.3.2.5. Phương pháp phân tích tỷ lệ
Phương pháp phân tích tỷ lệ là phương pháp có tính hiện thực cao. Phương
pháp phân tích tỷ lệ sử dụng số tương đối để nghiên cứu mối quan hệ của các chỉ tiêu
kinh tế. Phương pháp này yêu cầu phải xác định được các định mức để nhận xét, đánh
giá tình hình tài chính doanh nghiệp trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với
các giá trị tỷ lệ tham chiếu.
Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và
phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo
từng giai đoạn nhất định vì nó có tính cập nhật và hoàn thiện.
1.4. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.4.1. Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp chỉ ra sự cân
bằng giữa doanh thu và chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp trong từng kỳ kế toán.
Bảng báo cáo này phản ánh tổng hợp tình hình và kết quả của hoạt động sản xuất kinh
doanh theo từng giai đoạn trong kỳ kế toán và tình hình nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà
nước từ đó giúp nhà quản trị đánh giá khái quát được tình hình tài chính của doanh
nghiệp, biết được trong kỳ doanh nghiệp kinh doanh làm ăn có lãi hay bị thua lỗ. Từ
đó tính được tốc độ tăng trưởng của kỳ này so với kỳ trước và dự đoán tốc độ tăng
trưởng trong tương lai. Ngoài ra, qua việc phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ đối
với nhà nước ta biết được doanh nghiệp có nộp thuế đủ và đúng hạn hay không. Nếu
số thuế còn phải nộp lớn chứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là
không khả quan. Như vậy, phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ
giúp ta nhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp.

8


1.4.2. Phân tích bảng cân đối kế toán
Trong qua trình hoạt động kinh doanh, tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp
luôn biến động tăng hoặc giảm được thể hiện trên bảng cân đối kế toán. Khi phân tích
cơ cấu và những biến động của tài sản và nguồn vốn, ta có thể đánh giá được một cách
tổng quát về tình hình đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.4.2.1. Phân tích biến động và kết cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp
Tình hình biến động tài sản.
Phân tích tình hình biến động tài sản là so sánh tình hình biến động của các bộ
phận tài sản cấu thành nên tổng tài sản của doanh nghiệp, của kỳ phân tích so với kỳ
trước trước nhằm đánh giá được sự tăng giảm của các yếu tố trong tổng tài sản. Từ đó
xem xét xem sự biến động có ảnh hưởng tốt hay xấu, trên cơ sở đó có thể đề ra những
biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp.
Từ thông tin trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp mà tiến hành so sánh
giữa tổng tài sản ở đầu năm và cuối năm để đánh giá sự biến động về quy mô của
doanh nghiệp. So sánh giá trị và tỷ trọng các bộ phận cấu thành nên tài sản giữa đầu
năm và cuối năm để thấy được nguyên nhân ban đầu ảnh hưởng đến sự tăng giảm trên.
Ngoài ra cần quan tâm tới tác động của từng loại tài sản tới quá trình kinh doanh.
Tình hình biến động nguồn vốn.
Đối với mỗi doanh nghiệp, cơ cấu nguồn vốn thể hiện tỷ trọng của các nguồn
vốn trong tổng giá trị nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động sử dụng vào hoạt động
sản xuất kinh doanh. Căn cứ theo nguồn hình thành, nguồn vốn bao gồm vốn vay nợ
và vốn chủ sở hữu. Vốn vay nợ là phần mà doanh nghiệp đi chiếm dụng của đơn vị,
doanh nghiệp khác và có trách nhiệm phải thanh toán cho chủ nợ gốc và các khoản chi
phí sử dụng vốn theo thời hạn quy định. Ngược lại, doanh nghiệp không phải cam kết
thanh toán đối với người góp vốn với tư cách là chủ sở hữu. Như vậy nguồn vay nợ là
phần phụ thuộc của doanh nghiệp vào bên ngoài, còn nguồn vốn chủ sở hữu là phần tài
trợ của người chủ sở hữu đối với toàn bộ tài sản.
1.4.2.2. Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Trong thực tiễn có 3 chiến lược quản lý vốn cơ bản mà doanh nghiệp có thể áp
dụng trong quản lý vốn kinh doanh. Đó là chiến lược thận trọng, chiến lược mạo hiểm
và chiến lược dung hòa.
Chiến lược quản lý vốn thận trọng: là việc dùng một phần nguồn vốn dài hạn
để tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Với chiến lược quản lý vốn thận trọng doanh nghiệp
luôn bảo đảm được khả năng thanh toán, khoản tiền thừa có thể dùng để dùng để đầu

9

Thang Long University Library


tư ngắn hạn tạm thời. Tuy nhiên hiệu quả sử dụng vốn không cao do mức sinh lời
trong ngắn hạn thấp hơn lãi tiền vay dài hạn.
Chiến lược quản lý vốn mạo hiểm: là dùng một phần nguồn vốn ngắn hạn để
tài trợ cho tài sản dài hạn. Doanh nghiệp sử dụng chính sách quản lý vốn này sẽ giảm
thiểu được chi phí sử dụng, nâng cao khả năng sinh lời cho chủ sở hữu. Tuy nhiên mức
độ rủi ro tài chính sẽ cao, người quản lý luôn phải chịu những áp lực cao về việc thanh
toán nợ cho các chủ nợ.
Chiến lược quản lý vốn dung hòa: là việc dùng nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho
tài sản ngắn hạn và dùng nguồn vốn dài hạn tài trợ cho tài sản dài hạn. Đây là chính
sách dung hòa giữa hai chính sách thận trọng và mạo hiểm vì nó khắc phục được
những nhược điểm của hai chính sách trên.
1.4.3. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Mục đích của báo cáo lưu chuyển tiền tệ là cung cấp các thông tin về các dòng
tiền vào và dòng tiền ra trong các hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ kế toán. Khác
với báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo tiền tệ không thực hiện những phép tính xác
định các chỉ tiêu báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
1.4.4. Phân tích các chỉ tiêu tài chính
1.4.4.1. Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán:
 Khả năng thanh toán tức thời
Hệ số thanh toán tức thời = Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền/
Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán tức thời thể hiện mối quan hệ giữa tiền và các khoản tương
đương tiền với các khoản nợ ngắn hạn. Tiền và các khoản tương đương tiền ở đây bao
gồm: tiền mặt, tiền gửi, các khoản đầu tư ngắn hạn về chứng khoán, các khoản đầu tư
khác có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền… Nếu hệ số thanh toán tức thời thấp, chứng
tỏ doanh nghiệp đang áp dụng chính sách đầu tư khá tốt không để dư các khoản tiền
nhàn rỗi. Nhưng nếu quá chú trọng vào đầu tư thì có thể doanh nghiệp sẽ không đáp
ứng được khả năng thanh toán các khoản nợ bằng tiền và các khoản tương đương tiền
dẫn đến khả năng rơi vào tình trạng rủi ro cao do không đảm bảo khả năng thanh toán.
 Khả năng thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh = (Tổng TSNH – Hàng tồn kho)/ Tổng nợ ngắn
hạn
Hệ số thanh toán nhanh phản ánh khả năng sẵn sàng thanh toán trong ngắn hạn
các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Hệ số này cho biết doanh nghiệp có thể sử
dụng bao nhiêu đồng TSNH để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần sử
10


dụng đến hàng tồn kho. Hệ số không tính đến hàng tồn kho vì nó được coi là loại tài
sản có tính thanh khoản thấp trong tổng tài sản ngắn hạn. Do đó việc loại bỏ khoản
mục hàng tồn kho sẽ phản ánh chính xác hơn khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn
đến hạn của doanh nghiệp.
 Khả năng thanh toán ngắn hạn
Hệ số thanh toán ngắn hạn = Tổng tài sản ngắn hạn / Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số này đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn bằng
các TSNH. Hệ số này cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi bao nhiêu
đồng TSNH.
Hệ số thanh toán ngắn hạn được so sánh với 1 để thể hiện khả năng thanh toán
nợ của doanh nghiệp. Hệ số này nếu có giá trị thấp, thể hiện khả năng trả nợ của doanh
nghiệp yếu và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính mà doanh
nghiệp có thể gặp phải trong quá trình trả nợ. Nhưng nếu hệ số có giá trị ở mức cao thì
điều này cũng không tốt cho doanh nghiệp bởi nó làm mất đi cơ hội đầu tư để phát
triển của doanh nghiệp hay chính là việc phát sinh thêm chi phí cơ hội trong hoạt động
kinh doanh của mình.
1.4.4.2. Chỉ tiêu đánh giá mức độ độc lập tài chính
 Hệ số tự tài trợ
Hệ số tự tài trợ = VCSH/ Tổng nguồn vốn
Hệ số tự tài trợ là chỉ tiêu tài chính đo lường sự góp vốn của chủ sở hữu trong
tổng số vốn hiện có của doanh nghiệp. Từ tỷ số này ta thấy được mức độ độc lập hay
phụ thuộc của doanh nghiệp đối với các chủ nợ, mức độ tài trợ của doanh nghiệp đối
với vốn kinh doanh của mình.
Tỷ số này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, tính độc lập cao
so với các chủ nợ, do đó không bị ràng buộc hay chịu sức ép của các khoản nợ vay.
Nếu hệ số tự tài trợ càng thấp, chứng tỏ mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp
càng thấp, hầu hết tài sản của doanh nghiệp đều được tài trợ bằng số vốn đi chiếm
dụng.
 Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn
Hệ số tự tài trợ TSDH = VCSH/ TSDH
Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn là chỉ tiêu phản ánh khả năng trang trải tài sản
dài hạn bằng vốn chủ sở hữu. Nếu trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1, số vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp càng có thừa khả năng để trang trải tài sản dài hạn và do vậy
doanh nghiệp sẽ ít gặp khó khăn trong thanh toán các khoản nợ dài hạn đến hạn.

11

Thang Long University Library


Do đặc điểm của tài sản dài hạn là thời gian luân chuyển dài nên nếu vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp không đủ tài trợ tài sản dài hạn của mình mà phải sử dụng các
nguồn vốn khác thì khi các khoản nợ đáo hạn, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong
thanh toán. Ngược lại, nếu vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có đủ và đảm bảo khả
năng tài trợ tài sản dài hạn của doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ ít gặp khó khăn khi
thanh toán nợ đáo hạn. Điều này tuy giúp doanh nghiệp tự đảm bảo về mặt tài chính
nhưng hiệu quả kinh doanh sẽ không cao do vốn đầu tư chủ yếu vào tài sản dài hạn, ít
sử dụng vào kinh doanh quay vòng để sinh lợi.
1.4.4.3. Chỉ tiêu đánh giá khả năng hoạt động
 Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay HTK là số lần HTK bình quân luân chuyển trong kỳ. Số vòng quay
HTK được xác định theo công thức:
Số vòng quay HTK = Giá vốn hàng bán/ HTK
Hệ số này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho
không bị ứ đọng nhiều. Tuy nhiên nếu hệ số HTK quá cao nghĩa là lượng hàng dự trữ
trong kho không nhiều, gây ra việc khi nhu cầu thị trường tăng cao đột ngột thì doanh
nghiệp không thể đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng dẫn đến khả năng sẽ bị mất
khách hay mất thị phần. Ngược lại, nếu số vòng quay HTK thấp thì điều này chứng tỏ
HTK luân chuyển chậm, vốn bị ứ đọng và làm giảm khả năng sinh lời của doanh
nghiệp.
Thời gian quay vòng HTK = 360 ngày/ Số vòng quay HTK
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày trung bình một vòng quay HTK, là nghịch đảo
của chỉ tiêu số vòng quay HTK do đó chỉ tiêu có giá trị nhỏ là tốt vì số vật tư hàng hóa
luân chuyển nhanh, không bị ứ đọng vốn và ngược lại.
 Vòng quay các khoản phải thu
Số vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần/ Phải thu khách hàng
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu
thành tiền mặt. Hệ số thu nợ này cao chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền hàng nhanh
và ít bị chiếm dụng vốn. Tuy nhiên nếu quá cao thì sẽ ảnh hưởng tới khối lượng hàng
tiêu thụ do phương thức thanh toán quá chặt chẽ.
Thời gian thu tiền trung bình = 360 ngày/ Số vòng quay khoản phải thu
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp phải mất bao lâu để có thể thi hồi được các
khoản nợ. Thời gian thu tiền trung bình của các doanh nghiệp càng ngắn thể hiện khả
năng thu hồi nợ trung bình của doanh nghiệp càng tốt.

12


 Vòng quay các khoản phải trả
Số vòng quay các khoản phải trả = (GVHB + Chi phí bán hàng, quản lý
chung)/ (Phải trả ngƣời bán + Lƣơng, thƣởng + Thuế phải nộp)
Hệ số nợ phải trả phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với
các nhà cung cấp. Chỉ số vòng quay các khoản phải trả năm nay nhỏ hơn năm trước
chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn năm trước và ngược
lại. Nếu chỉ số quá thấp sẽ tiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh toán và có thể ảnh hưởng
không tốt đến xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp.
Thời gian trả nợ trung bình cho biết số ngày trung bình mà doanh nghiệp trả nợ
cho nhà cung cấp.
Thời gian trả nợ trung bình = 360 ngày/ Hệ số trả nợ
Thời gian trả nợ trung bình càng cao thì thời gian doanh nghiệp chiếm dụng vốn
càng dài để đầu tư vào các lĩnh vực khác và ngược lại nếu con số này nhỏ thì doanh
nghiệp được coi là có khả năng quản lý vốn lưu động tốt.
 Thời gian quay vòng tiền
Thời gian quay vòng tiền = Thời gian lƣu kho + Thời gian thu nợ trung
bình – Thời gian trả nợ trung bình
Chỉ tiêu này cho biết khoảng thời gian kể từ khi chi thực tế đến khi thu được
tiền về. Chu kỳ tiền mặt được tính từ khi chi trả cho các nguyên liệu thô sơ tới khi
nhận được tiền mặt từ bán hàng. Thời gian luân chuyên tiền càng cao thì lượng tiền
mặt của doanh nghiệp càng khan hiếm cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt
động đầu tư khác. Ngược lại nếu con số này nhỏ thì doanh nghiệp được coi là có khả
năng quản lý vốn lưu động tốt.
 Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần/ Tổng tài sản
Tỷ số trên cho biết được rằng cứ một đồng tài sản thì tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu, hệ số này cao chứng tỏ rằng hiệu quả sử dụng tài sản cao và ngược lại. Từ
đó giúp doanh nghiệp đánh giá được hiệu quả đầu tư và hiệu quả sử dụng tài sản cho
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc đánh giá chỉ tiêu này phụ thuộc vào đặc
điểm kinh doanh của doanh nghiệp và của ngành nghề kinh doanh. Việc tăng khả năng
tạo ra doanh thu thuần từ tài sản là yếu tố quan trọng làm tăng lợi nhuận, khả năng
cạnh tranh và uy tín của doanh nghiệp.
 Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn phản ánh số lần luân chuyển TSNH thực
hiện được trong một khoảng thời gian nhất định.
Hiệu suất sử dụng TSNH = Doanh thu thuần/ TSNH
13

Thang Long University Library


Chỉ tiêu này cho biết bình quân cứ một đồng TSNH tạo ra được bao nhiêu đồng
doanh thu thuần trong kỳ. Số vòng quay TSNH càng lớn thì tốc độ luân chuyển TSNH
càng nhanh, hiệu suất sử dụng TSNH càng cao, từ đó góp phần tạo ra doanh thu thuần
càng cao và là cơ sở để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
 Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn
Hiệu suất sử dụng TSDH = Doanh thu thuần/ TSDH
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn bỏ ra đầu tư cho TSDH trong một kỳ thì
đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của TSDH
trong kỳ, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ TSDH vận động càng nhanh, hiệu suất sử
dụng tài sản dài hạn cao. Từ đó góp phần tạo ra doanh thu thuần càng cao và là cơ sở
để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.4.4.4. Chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý nợ
 Hệ số nợ trên VCSH
Hệ số nợ trên VCSH = (Tổng nợ/ Tổng VCSH)*100%
Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu là hệ số phản ánh quy mô tài chính của doanh
nghiệp, cho biết được mối quan hệ giữa nguồn vốn huy động đi vay so với VCSH. Nếu
hệ số này lớn hơn 1 có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp chủ yếu được tài trợ bằng các
khoản nợ, ngược lại nếu hệ số nhỏ hơn 1 thì tài sản được tài trợ chủ yếu bằng vốn tự
có của doanh nghiệp. Tuy nhiên việc sử dụng nợ vay bên ngoài cũng có ưu điểm là
giúp doanh nghiệp tiết kiệm được một phần chi phí thuế phải nộp cho nhà nước từ
khoản lãi vay.
 Hệ số nợ trên tổng tài sản
Hệ số nợ trên tổng tài sản = (Tổng nợ/ Tổng tài sản)*100%
Hệ số nợ trên tổng tài sản cho biết một đồng tài sản được tài trợ bởi bao nhiêu
đồng nợ. Đối với hệ số này, chủ doanh nghiệp thường mong muốn càng cao nhằm gia
tăng lợi nhuận còn các chủ nợ lại muốn hệ số này thấp để đảm bảo các khoản nợ được
thanh toán. Tuy nhiên nếu hệ số này quá cao, doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng
mất khả năng thanh toán khi hoạt động sản xuất kinh doanh gặp khó khăn. Ngoài ra
chỉ tiêu này cao cũng thể hiện chi phí lãi vay phải trả cho chủ nợ cao, sự phụ thuộc vào
vay nợ của doanh nghiệp nhiều, tính tự chủ trong tài chính thấp.
 Hệ số thanh toán lãi vay
Hệ số thanh toán lãi vay = (Lợi nhuận trƣớc thuế và lãi vay (EBIT)/ Chi
phí lãi vay)*100%
Tỷ số này cho biết khả năng đảm bảo trả lãi vay hàng năm của doanh nghiệp.
Hệ số này càng cao thể hiện khả năng của doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận để chi trả
chi phí lãi vay hàng năm càng lớn và lợi nhuận của nhà đầu tư càng cao. Nếu tỷ số này
14


nhỏ hơn 1 thể hiện doanh nghiệp kinh doanh đang bị thua lỗ. Vì vậy đây là một trong
các chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm để đánh giá mức độ ổn định, mức độ rủi ro
của doanh nghiệp mà họ có ý định đầu tư.
1.4.4.5. Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời:
 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
ROS = Lợi nhuận ròng/ Doanh thu thuần
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu phản ánh khả năng sinh lời trên cơ sở được tạo
ra trong kỳ. Nó cho biết cứ 100 đồng doanh thu thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi
nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Tỷ số mang giá trị dương nghĩa là doanh nghiệp
đang làm ăn có lãi, ngược lại nếu chỉ số này âm nghĩa là doanh nghiệp đang làm ăn
thua lỗ.
 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
ROA = Lợi nhuận ròng/ Tổng tài sản
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là tỷ số đo lường khả năng sinh lời trên mỗi
đồng tài sản của doanh nghiệp. Hệ số này cho biết cứ 100 đồng tài sản đầu tư cho quá
trình sản xuất kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Nếu chỉ tiêu
này cao chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng tài sản tốt, có hiệu quả góp phần nâng
cao khả năng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại.
 Tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE)
ROE = Lợi nhuận ròng/ VCSH
Tỷ suất sinh lời trên VCSH cho biết cứ 100 đồng VCSH đưa vào kinh doanh thì
tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đang sử
dụng có hiệu quả nguồn VCSH góp phần nâng cao khả năng đầu tư, khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp.
1.4.5. Phân tích điểm hòa vốn
Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ bù đắp cho các khoản chi phí
hoạt động sản xuất kinh doanh đã bỏ ra. Nói cách khác điểm hòa vốn chính là điểm mà
tại đó doanh nghiệp làm ăn không có lãi và cũng không có lỗ.
Phân tích điểm hòa vốn sẽ giúp doanh nghiệp có những chiến lược trong sản
xuất và cạnh tranh để đưa sản lượng, doanh thu của mình vượt lên trên điểm hòa vốn
trong dài hạn. Phân tích điểm hòa vốn chỉ ra mức độ hoạt động tối thiểu cần thiết để
doanh nghiệp có lãi, giúp doanh nghiệp lựa chọn quy mô đầu tư phù hợp với quy mô
thị trường, đồng thời lựa chọn hình thức đầu tư nhằm giảm thiểu nhưng rủi ro do sự
biến động sản lượng tiêu thụ sản phẩm.

15

Thang Long University Library


Có 2 cách để xác định điểm hòa vốn, đó là dựa theo chỉ tiêu sản lượng hòa vốn
và doanh thu hòa vốn.
 Điểm hòa vốn theo sản lượng:
Gọi P là đơn giá bán sản phẩm

VC là tổng biến phí

V là biến phí đơn vị

FC là tổng định phí

QBE là sản lượng hòa vốn

S là tổng doanh thu

Ta có:
QBE = FC/ P – V
Nếu Q > QBE thì sản lượng mà doanh nghiệp đạt được lớn hơn sản lượng
hòa vốn, điều này chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn có lãi
 Điểm hòa vốn theo doanh thu.
Trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản phẩm, giá
bán đơn vị của các loại sản phẩm khác nhau thì ta không thể phân tích điểm hòa vốn
theo sản lượng mà phải phân tích điểm hòa vốn theo doanh thu. Doanh thu hòa vốn là
mức tiêu thụ tại sản lượng hòa vốn.
SBE = FC/ (1 – VC/ S)
Ưu điểm của phương pháp này là dễ tính toán, tìm được điểm hòa vốn cho
trường hợp sản xuất tiêu thụ nhiều sản phẩm với giá bán khác nhau và chỉ cần đến 3
chỉ số là tổng doanh thu, tổng định phí và tổng biến phí. Tuy nhiên nhược điểm của
phương pháp này là độ chính xác không cao.
1.4.6. Phân tích đòn bẩy
Đòn bẩy là sự gia tăng nhỏ của sản lượng hoặc doanh thu có thể đạt được một
sự gia tăng lớn về lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Công cụ đòn bẩy hay được các
doanh nghiệp sử dụng trong quản lý tài chính, bao gồm đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy
tài chính.
 Đòn bẩy hoạt động
Đòn bẩy hoạt động là việc sử dụng các tài sản có chi phí cố định thấp kinh
doanh nhằm hy vọng gia tăng thu nhập trước thuế và lãi vay EBIT. Doanh nghiệp có
tỷ trọng chi phí cố định ở mức cao thể hiện doanh nghiệp có đòn bẩy hoạt động lớn và
ngược lại. Doanh nghiệp có đòn bẩy hoạt động cao thì chỉ cần có một sự thay đổi nhỏ
về doanh thu sẽ tạo ra sự thay đổi lớn về lợi nhuận trước thuế và lãi vay.
Độ bẩy của đòn bẩy hoạt động (DOL)
Để đo lường mức độ tác động của đòn bẩy hoạt động, người ta sử dụng chỉ tiêu
độ bẩy hoạt động. Độ bẩy hoạt động (DOL) là tỷ lệ phần trăm thay đổi của thu nhập
trước thuế và lãi vay (EBIT) do sự thay đổi 1 phần trăm sản lượng hoặc doanh thu.
16


Độ bẩy hoạt động ở mức sản lượng Q:
DOLQ = Q/ (Q – QBE)
Công thức tính DOL theo sản lượng Q chỉ sử dụng thích hợp cho các doanh
nghiệp sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có tính đơn chiếc. Đối với những doanh nghiệp
sản xuất nhiều loại sản phẩm có thể sử dụng cách tính DOL theo doanh thu:
DOLs = (S – VC)/ (S – VC – FC) = (FC + EBIT) / EBIT
Độ bẩy hoạt động cho ta thấy được sự thay đổi của doanh thu sẽ tác động như
thế nào đến lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Khi biết được độ bẩy hoạt động, doanh
nghiệp có thể đưa ra các chính sách doanh thu và chi phí của mình. Từ đó các sonh
nghiệp có thể điều chỉnh cố định để điều chỉnh DOL ở mức phù hợp vì DOL ở mức
cao thì tác động của đòn bẩy hoạt động lớn, gia tăng rủi ro hoạt động của doanh
nghiệp.
 Đòn bẩy tài chính.
Đòn bẩy tài chính là chỉ số phản ánh mối tương quan giữa tổng số nợ và tổng số
VCSH trong cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp. Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính
doanh nghiệp được thể hiện ở hệ số nợ, doanh nghiệp có hệ số nợ cao thể hiện doanh
nghiệp có đòn bẩy tài chính ở mức độ cao và ngược lại.
Độ bẩy của đòn bẩy tài chính (DFL)
Độ bẩy tài chính (DFL) là một chỉ số định lượng dùng để đo lường mức độ biến
động của EPS khi EBIT thay đổi, nó thể hiện sức mạnh của đòn bẩy tài chính. Độ bẩy
tài chính ở một mức độ nào đó được xác định như là phần trăm thay đổi của EPS khi
EBIT thay đổi 1 phần trăm.
DFL = (S – VC – FC)/ (S – VC – FC – I) = EBIT/ (EBIT – I)
 Đòn bẩy tổng hợp
Trong thực tế, các doanh nghiệp không chỉ sử dụng đơn thuần đòn bẩy hoạt
động hoặc đòn bẩy tài chính mà thường sử dụng kết hợp cả hai đòn bẩy trong nỗ lực
gia tăng tỷ suất lợi nhuận. Khi doanh nghiệp sử dụng kết hợp đòn bẩy hoạt động và
đòn bẩy tài chính sẽ tạo ra đòn bẩy tổng hợp.
Độ bẩy của đòn bẩy tổng hợp (DTL)
Độ bẩy tổng hợp là một chỉ số định lượng dùng để đo lường mức độ biến động
của EPS khi sản lượng hoặc doanh thu thay đổi. Độ bẩy tổng hợp của doanh nghiệp ở
mức sản lượng hoặc doanh thu nào đó được xác định là phần trăm thay đổi của EPS
tương ứng với 1 phần trăm thay đổi của sản lượng hoặc doanh thu.
DTL = DOL * DFL

17

Thang Long University Library


1.4.7. Mô hình xác định khả năng phá sản của doanh nghiệp theo biệt thức Atman
Z-Score
Các nhà đầu tư thường xem xét hệ số đòn bẩy tài chính để đánh giá tình hình
nợ nần của doanh nghiệp từ đó quyết định mức độ rủi ro hoạt động của doanh nghiệp
đó. Tuy nhiên có một chỉ số có thể giúp các nhà đầu tư đánh giá tốt rủi ro tốt hơn,
thậm chí có thể dự đoán được nguy cơ phá sản của doanh nghiệp trong tương lai gần,
đó chính là hệ số nguy cơ phá sản, hay còn gọi là Z-score do nhà kinh tế học Hoa Kỳ
Edward I. Altman, giảng viên trường đại học New York thiết lập.
Z Score được tính toán dựa trên 4 chỉ số tài chính kết hợp với trọng số và được
sử dụng để tiên đoán về khả năng phá sản của doanh nghiệp trong vòng 2 năm sắp tới.
Các chỉ tiêu sử dụng trong công thức tính toán đều dễ dàng thu thập được trên
báo cáo tài chính của doanh nghiệp và thông tin công bố rộng rãi ra công chúng.
Công thức tính hệ số nguy cơ phá sản đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hóa:
Z-score = 6,56*X1 + 3,26*X2 + 6,72*X3 + 1,05*X4
Trong đó:
X1: Vốn lưu động/ Tổng tài sản.
X2: Lợi nhuận giữ lại/ Tổng tài sản.
X3: Lợi nhuận trước thuế và lãi vay/ Tổng tài sản.
X4: VCSH/ Tổng nợ.
Để đánh giá khả năng phá sản của công ty, chỉ số Z-score được so sánh với các mức
điểm được xác định sau đây:
Z’ > 2,60: doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản.
1,2 < Z’ < 2,6: doanh nghiệp trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản.
Z < 1,2: doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, có nguy cơ phá sản cao.
1.5. Các nhân tố ảnh hƣởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp.
1.5.1. Các nhân tố khách quan
 Tình hình nền kinh tế: khi nền kinh tế trì trệ và bất ổn thì hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn ngay từ khâu mua vào
cho đến khâu tiêu thụ và ngược lại. Điều này ảnh hưởng đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến việc phân tích tình hình
tài chính của doanh nghiệp.
 Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nƣớc: doanh nghiệp là đối tượng
chịu sự quản lý của nhà nước do đó phải tuân thủ chính sách, pháp luật và thực
hiện đủ các nghĩa vụ, như vậy mới tạo được môi trường cạnh tranh bình đẳng.
Những quy định chung của nhà nước như các khoản nộp thuế, các khoản phải
18


nộp nhà nước hay các quy định về hạch toán kế toán, cách thức lập báo cáo tài
chính… Sự thay đổi của hệ thống pháp lý này có thể kéo theo sự thay đổi của
các số liệu sử dụng phân tích.
 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng ngành: mỗi ngành nghề kinh doanh
khác nhau có đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng, ảnh hưởng không nhỏ đến tình
hình tài chính doanh nghiệp. Những đặc điểm đó chi phối đến tỷ trọng đầu tư
cho các loại tài sản trong doanh nghiệp, nhu cầu vốn lưu động. Ngoài ra mỗi
ngành nghề kinh doanh còn chịu sự tác động của những biến đổi của nền kinh
tế vĩ mô, điều đó làm ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp.
1.5.2. Các nhân tố chủ quan
Bên cạnh các nhân tố khách quan trên các nhân tố chủ quan cũng có tác động
không nhỏ đến phân tích tài chính doanh nghiệp.
 Tài liệu dùng trong phân tích: tài liệu là cơ sở, nền tảng quyết định tới tính
chính xác của kết quả phân tích. Tài liệu quan trọng nhất là hệ thống báo cáo
tài chính do đó các số liệu, thông tin từ công tác kế toán phải trung thực và
hợp lý thì việc phân tích mới có ý nghĩa. Nếu sử dụng các số liệu sai lệch thì
các phân tích đưa ra rất dễ dẫn đến sự định hướng sai trong chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp và quyết định của nhà đầu tư.
 Trình độ của cán bộ phân tích: cán bộ phân tích là người sử dụng các công
cụ, kỹ thuật phân tích để các dữ liệu ban đầu thể hiện được nội dung và ý
nghĩa. Cán bộ phân tích được đào tạo đầy đủ về chuyên môn, nghiệp vụ thì
phương pháp, nội dung phân tích sẽ đầy đủ, khoa học, đáp ứng được yêu cầu
đặt ra. Ngoài kiến thức về chuyên môn thì người phân tích còn cần có những
hiểu biết chung về nền kinh tế, về đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp,
chính sách pháp luật của nhà nước. Có như vậy thì những kết luận đưa ra sẽ
mang tính khách quan và tin cậy cao hơn.
 Công nghệ và phương pháp phân tích: chính là các công cụ để cán bộ phân
tích thực hiện công việc của mình. Nếu ứng dụng các công nghệ và phương
pháp tốt thì quá trình phân tích tài chính sẽ đem lại kết quả chính xác, khoa
học tiết kiệm thời gian, công sức. Tùy vào các đặc trưng riêng của từng doanh
nghiệp mà sử dụng các công nghệ và phương pháp khác nhau hoặc kết hợp
nhiều phương pháp lại với nhau. Thế nên, việc lựa chọn công nghệ và phương
pháp phân tích tưởng chừng rất đơn giản và theo một khuân mẫu chung nhưng
thực tế thì công việc này đòi hỏi sự linh hoạt và kinh nghiệm của người phân
tích.
19

Thang Long University Library


CHƢƠNG 2. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY TNHH
THƢƠNG MẠI THANH HOÀN
2.1. Giới thiệu về Công ty TNHH Thƣơng Mại Thanh Hoàn.
2.1.1. Vài nét về Công ty TNHH Thương Mại Thanh Hoàn:
 Tên công ty: Công ty TNHH Thương Mại Thanh Hoàn.
 Địa chỉ trụ sở: phố Tân Quang, Thị Trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc
Giang.
 Mã số thuế: 2400332765
 Số điện thoại: 02403.879.048
 Email: thanhhoanltd@gmail.com
 Fax: 0321.381.413
 Vốn điều lệ: 4.000.000.000 đồng.
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Thương Mại Thanh
Hoàn:
Công ty TNHH Thương Mại Thanh Hoàn có quá trình xây dựng và phát triển từ
cơ sở Kinh doanh thương mại trực thuộc UBND huyện Tân Yên. Công ty TNHH
Thương Mại Thanh Hoàn được phòng ĐKKD, Sở kế hoạch & đầu tư tỉnh Bắc Giang
cấp giấy chứng nhận ĐKKD số: 2002000312, ngày 29 tháng 09 năm 2004.
Các sáng lập viên của công ty đã được đào tạo cơ bản về nghề nghiệp và trưởng
thành qua thực tế từ những năm 1990 cho đến nay. Từ năm 2000 nắm bắt được nhu
cầu phát triển kinh tế, mở rộng xây dựng các khu đô thị mới, nhà cao tầng, các khu
công nghiệp tại Bắc Giang và các tỉnh lân cận, Công ty TNHH Thương Mại Thanh
Hoàn được thành lập và tham gia lĩnh vực vật liệu xây dựng tại thị trường phía Bắc.
Năm 2003 khởi công xây dựng nhà máy giai đoạn 1 với diện tích 24.000 m2.
Năm 2004 – 2007 công ty mở rộng năng suất sản xuất bằng việc thiết lập thêm
2 nhà máy mới, cung ứng và đa dạng hóa thêm nhiều dòng sản phẩm.
Năm 2009 được xếp hạng là một trong năm nhà sản xuất vật liệu xây dựng lớn
nhất của tỉnh Bắc Giang.
Năm 2010 – 2013 phát triển kinh doanh bền vững, nhà máy được trang bị công
nghệ và máy móc mới để đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường.
Công ty TNHH Thương Mại Thanh Hoàn với đội ngũ cán bộ gọn nhẹ giàu kinh
nghiệm trong sản xuất cũng như trong kinh doanh, các sáng lập viên cùng Ban lãnh
đạo công ty vững vàng trong quản lý, tiến hành, quan hệ mở rộng trên tinh thần đoàn
20


kết nhất trí một lòng, đồng tâm hợp lực xây dựng Công ty ngày một lớn mạnh. Qua
nhiều năm được các cơ quan quản lý chất lượng VLXD và các chủ dự án đánh giá cao
về chất lượng kỹ, mỹ thuật công trình, vệ sinh môi trường, sớm đưa công trình vào
khai thác, sử dụng.
Kết quả từ năm 2005 đến nay chưa có một vụ việc nào xảy ra mất an toàn lao
động. Với khát vọng trở thành nhà thương mại vật liệu xây dựng hàng đầu Việt Nam,
Công ty TNHH Thương Mại Thanh Hoàn luôn tuân chỉ triết lý kinh doanh:
 Tính nhất quán:
Tức là Thanh Hoàn chỉ nói và cam kết những gì có thể làm được. Lời nói cũng là
lời hứa danh dự trước khách hàng và đối tác, luôn làm bằng được những gì đã hứa và
cam kết.
 Sự tôn trọng lẫn nhau:
Thanh Hoàn luôn tôn trọng khách hàng và các đối tác, đối xử công bằng với tất
cả các khách hàng với phươngchâm hợp tác kinh doanh trên tinh thần tôn trọng lẫn
nhau và những lợi ích có được từ 2 bên.
 Đam mê thành công:
Nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển, ngành công nghiệp xây dựng đóng
góp vai trò quan trọng trong phát triển xây dựng và công nghiệp. Từ những khát vọng
trở thành nhà sản xuất và kinh doanh vật liệu hàng đầu Việt Nam công ty luôn nỗ lực
sáng tạo ra giá trị mới cho khách hàng và đối tác, vì vậy công ty tin tưởng chắc chắn
rằng những thành công của ngày mai luôn luôn lớn hơn nhiều so với ngày hôm nay.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của Công ty:
Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đòi hỏi tổ chức bộ máy của Công ty
phải được củng cố và kiện toàn với cơ cấu đơn giản, hiệu quả cao. Mặt khác để mở
rộng sản xuất dựa trên nhu cầu với đặc điểm sản xuất của công ty, buộc công ty phải
có bộ máy quản lý thể hiện sự nhạy bén, năng động trong tìm kiếm thị trường, đối tác
kinh doanh, có định hướng đúng đắn trong sản xuất kinh doanh. Công ty TNHH
Thương Mại Thanh Hoàn đã lựa chọn mô hình tổ chức như sau:

21

Thang Long University Library


Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy quản lý Công ty.
Giám đốc

Phó giám
đốc

Phòng kế
toán

Phòng kinh
doanh

Phòng
nhân sự

Phòng kỹ
thuật

Phòng sản
xuất

( Nguồn: Phòng nhân sự)
2.1.4. Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận:
2.1.4.1. Giám đốc:
Giám đốc là người lãnh đạo cao nhất, có nhiệm vụ trực tiếp quản lý, chịu trách
nhiệm và trực tiếp điều hành mọi hoạt động hàng ngày của công ty. Giám đốc trực tiếp
phụ trách các phòng kế hoạch vật tư, tài chính, tổ chức nhân sự, kí kết các hợp đồng
kinh tế, các văn bản giao dịch với khách hàng, phê chuẩn quyết toán của đơn vị, quyết
định việc phân chia lợi nhuận, phân phối lợi nhuận vào các quỹ của doanh nghiệp.
2.1.4.2. Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật:
Phó giám đốc là người tham mưu, giúp Giám đốc điều hành hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty. Được Giám đốc ủy quyền thực hiện việc ký kết các hợp đồng
kinh tế, các hợp đồng quan trọng khi Giám đốc vắng mặt và có giấy ủy quyền của
Giám đốc hoặc ký các thông báo. Giải quyết các vấn đề chủ yếu trong lĩnh vực chuyên
môn và phụ trách các phòng ban phân xưởng có liên quan.
2.1.4.3. Phòng kế toán:
Đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của
bất kỳ một doanh nghiệp nào, như :
 Chịu trách nhiệm trước Ban Giám đốc về hoạt động tài chính, quản lý việc sử
dụng vốn, tài sản, mua bán hàng hoá, thuế phải nộp cho nhà nước của công ty.
Đồng thời cố vấn cho Ban Giám đốc trong việc kiểm soát tăng giảm tài sản,
ngừng cung cấp, hay nhập thêm hàng hoá.

22


 Xây dựng kế hoạch tài chính, tín dụng; theo dõi kế hoạch sản xuất kinh doanh,
doanh thu, lợi nhuận theo tháng, quý, năm của doanh nghiệp.
 Cung cấp tài chính cho doanh nghiệp hoạt động, làm các thủ tục vay vốn ngân
hàng hoặc thế chấp tài sản của công ty.
2.1.4.4. Phòng kinh doanh:
Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, tổng hợp và cân đối các kế hoạch sản
xuất kinh doanh lập kế hoạch đầu tư xây dựng. Tổ chức hướng dẫn công tác báo cáo
thống kê cho các đội thực hiện các công trình thi công. Tổng hợp báo cáo các tình hình
chỉ tiêu kinh tế, kế hoạch và mục tiêu tiến độ công trình.
2.1.4.5. Phòng nhân sự:
Xây dựng hệ thống các chức danh, vị trí công việc và hệ thống bản mô tả vị trí
công việc của công ty.
Quản lý nhân viên, hướng dẫn, kiểm soát và đánh giá các quá trình tuyển dụng,
đào tạo, bồi dưỡng, phân loại, khen thưởng, kỷ luật trong toàn công ty.
2.1.4.6. Phòng kỹ thuật:
Có nhiệm vụ quản lý, giám sát công tác kỹ thuật và chất lượng sản phẩm trong
các dự án có sử dụng sản phẩm của công ty.
Duy trì hệ thống quản lý chất lượng có hiệu quả. Tổ chức đánh giá nội bộ hệ
thống nhằm duy trì và cải tiến kỹ thuật.
2.1.4.7. Phòng sản xuất:
Là nơi tổ chức, điều hành thực hiện kế hoạch sản xuất theo mục tiêu đã định.
2.1.5. Khái quát về ngành nghề kinh doanh của Công ty TNHH Thương Mại
Thanh Hoàn.
 Chuyên đúc thép, cán, dập thép.
 Gia công cơ khí, xử lý và tráng phủ kim loại.
 Sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng cao cấp và phụ kiện phục vụ cho ngành
xây dựng.
 Xây lắp các công trình dân dụng và công nghiệp hạng A, B, C.
 Đầu tư sản xuất kinh doanh xi măng các loại.
 Tư vấn, thiết kế công trình xây dựng.
 Giám sát các công trình xây dựng
 Đầu tư kinh doanh bất động sản, kho bãi.
23

Thang Long University Library


 Xử lý nền móng và hạ tầng nền đát yếu phục vụ các công trình.
 Xây dựng công trình giao thông, hạ tầng kỹ thuật đô thị.
 Tư vấn chuyển giao công nghệ sản xuất nguyên liệu, vật liệu xây dựng.
 Tổ chức đào tạo công nhân kỹ thuật ngành xây dựng và ngành sản xuất
VLXD.
Trong đó hoạt động chính của công ty và ngành nghề chính đem lại lợi nhuận
cho công ty là sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng cao cấp và phụ kiện phục vụ cho
ngành xây dựng. Sản phẩm sản xuất và tiêu thụ chính của công ty bao gồm: đúc, cán,
dập thép; xi măng bao, xi măng xá công nghiệp; bê tông tươi, ống cống bê tông, cọc
bê tông; gạch lát nền, gạch ống, gạch men, gạch ốp lát; sơn lót, sơn nền, sơn chống
thấm,…
2.2. Phân tích tình hình tài chính tại Công ty TNHH Thƣơng Mại Thanh Hoàn.
2.2.1. Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh cuả Công ty TNHH Thương Mại
Thanh Hoàn
Dựa vào bảng 2.1 báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
TNHH Thương Mại Thanh Hoàn giai đoạn 2012 – 2014 ta có thể đưa ra một số nhận
xét sau về sự tăng, giảm các chỉ tiêu giữu các năm và lý giải một số nguyên nhân dẫn
tới sự tăng, giảm này.
 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ có sự biến động qua các năm.
Năm 2013 giảm so với năm 2012 là 562.670.957 đồng, tương đương với
1,63%. Nguyên nhân giảm do năm 2013 lượng khách hàng, đơn vị sử dụng,
thu mua nguyên vật liệu xây dựng ít hơn so với năm 2012. Ngoài ra cũng do
chi phí vận chuyển hàng hóa, chi phí sản xuất kinh doanh tăng làm cho giá cả
hàng hóa cao hơn trước nên số lượng tiêu thụ đã bị giảm đi. Năm 2014 doanh
thu bán hàng là 35.275.988.324 đồng, tăng 1.248.777.200 đồng tương ứng với
mức tăng 3,67% so với năm 2013. Doanh thu tăng do lượng khách hàng, các
hợp đồng thu mua, kí kết xây dựng nhỏ trong năm có sự gia tăng so với năm
trước. Ngoài ra còn do các công trình xây dựng thi công dở dang từ trước đã
được hoàn thành và nghiệm thu.

24


Bảng 2.1. Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Thƣơng Mại Thanh Hoàn giai đoạn 2012 – 2014
Đơn vị tính: VNĐ
NĂM

CHÊNH LỆCH

CHỈ TIÊU

Năm 2014

Năm 2013

Năm 2012

(A)

(1)

(2)

(3)

1. Doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ
2. Các khoản giảm trừ doanh thu

(4)=(1)-(2)

35.275.988.324 34.027.211.124 34.589.882.081
0

0

Tƣơng
đối (%)

Tuyệt đối

0

(5)=(2)-(3)

(4)/(2)

(5)/(3)

3,67

(1,63)

0

0

0

1.248.777.200 (562.670.957)
0

3. Doanh thu thuần về bán hàng và
cung cấp dịch vụ

35.275.988.324 34.027.211.124 34.589.882.081

1.248.777.200 (562.670.957)

3,67

(1,63)

4. Giá vốn hàng bán

32.249.843.175 31.335.290.718 32.052.608.641

914.552.457 (717.317.923)

2,92

(2,24)

5. Lợi nhuận gộp về bán hàng và

3.026.145.149

2.691.920.406

2.537.273.440

334.224.743

154.646.966

12,42

6,10

2.248.000

1.632.240

1.771.200

615.760

(138.960)

37,72

(7,85)

274.613.161

257.554.164

332.126.553

17.058.997

(74.572.389)

2.554.910.694

2.206.514.164

1.850.306.782

348.396.530

356.207.382

198.869.294

229.484.062

356.611.305

10. Thu nhập khác

132.288.438

80.000.000

0

52.288.438

80.000.000

225,11

11. Chi phí khác

132.288.438

40.690.583

0

91.597.855

40.690.583

225,11

0

39.309.417

0

(39.309.417)

39.309.417

(100)

198.869.294

268.793.479

356.611.305

(69.924.185)

(87.817.826) (26,01) (24,63)

43.751.245

67.198.369

103.123.027

(23.447.124)

(35.924.658) (34,89) (34,84)

155.118.049

201.595.110

253.488.278

(46.477.061)

(51.893.168) (23,05) (20,47)

cung cấp dịch vụ
6. Doanh thu từ hoạt động tài chính
7. Chi phí tài chính
8. Chi phí quản lý kinh doanh
9. Lợi nhuận thuần từ hoạt động
kinh doanh

12. Lợi nhuận khác
13. Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế
14. Chi phí thuế thu nhập doanh
nghiệp
15. Lợi nhuận sau thuế thu nhập
doanh nghiệp

6,62 (22,45)
15,79

19,25

(30.614.768) (127.127.243) (13,34) (35,65)

Thang Long University Library


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×