Tải bản đầy đủ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY TNHH ĐỨC DƯƠNG

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ XÂY
DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát về văn hóa
1.1.1. Khái niệm về văn hóa
Văn hóa là một lĩnh vực tồn tại và phát triển gắn liền với đời sống của nhân loại,
là đặc trưng của con người, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Các khái niệm đó không giống nhau tùy theo cách hiểu rộng hẹp khác nhau, trong khi
văn hóa là một lĩnh vực vô cùng rộng lớn, phong phú và phức tạp. Mặt khác, cũng như
các lĩnh vực khoa học xã hội khác, ngành khoa học về văn hóa có tính chất lịch sử và
phát triển xuyên suốt lịch sử loài người, từ văn hóa dân gian có văn tự và không có văn
tự đến văn hóa chỉnh thể của các chế độ đương thời. Trong quá trình lịch sử đó nội
dung và khái niệm của văn hóa cũng thay đổi theo. Đó là hiện thực khách quan. Tuy
nhiên chúng ta có thể xem xét một vài khái niệm sau:
Trong bản thảo “Nhật ký trong tù” năm 1943, Bác Hồ đã khẳng định: “Văn hóa
là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người
đã sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
(Hồ Chí Minh, toàn tập, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 3). Bác chỉ rõ nội
hàm của văn hóa, đồng thời, Bác phân tích và luôn nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng
giữa văn hóa và cơ sở hạ tầng, văn hóa và kinh tế, chính trị, xã hội. Văn hóa là kiến
trúc thượng tầng, nhưng khi cơ sở hạ tầng của xã hội kiến thiết rồi, lúc đó văn hóa mới
đủ điều kiện phát triển được. Văn hóa là động lực phát triển kinh tế, phát triển xã hội.

Văn hóa phải soi đường cho mọi người tiến tới.
Theo nguyên tổng giám đốc UNESCO, Federico Mayer Zaragoza, đưa ra nhân
dịp phát động “Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa” năm 1988 – 1997: “Văn hóa phản
ánh và thể hiện một cách thống nhất, sống động mọi mặt của cuộc sống đã diễn ra
trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế kỷ nó đã
cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó
mỗi dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình”. Như vậy văn hóa có nghĩa là truyền
thống lâu đời.
Tóm lại, có rất nhiều khái niệm hay quan điểm khác nhau về văn hóa, tựu chung
lại có thể hiểu văn hóa là hệ thống các giá trị được sản sinh ra trong xã hội nhất định,
được đặc trưng bởi hình thái kinh tế xã hội nhất định, bao gồm cả giá trị vật chất và
tinh thần.
Văn hóa không phải là một yếu tố phi kinh tế, trái lại, văn hóa và kinh doanh lại
có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau: văn hóa và kinh doanh đều có mục tiêu
1


chung là phục vụ con người, văn hóa là nguồn lực lớn cho kinh doanh, tuy nhiên mục
tiêu ngắn hạn của văn hóa và kinh doanh lại có thể trái ngược nhau, nếu kinh doanh
chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt thì sẽ gây tác hại cho văn hóa, xói mòn bản sắc văn
hóa dân tộc, khi nền văn hóa mang những yếu tố không phù hợp sẽ kìm hãm, cản trở
sự phát triển của kinh doanh.
1.1.2. Các đặc trưng của văn hóa
Đặc trƣng đầu tiên là văn hóa có tính hệ thống
Đặc trưng này cần để phân biệt hệ thống và tâp hợp; nó giúp phát hiện những
mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát hiện
các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó.
Đặc trƣng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính giá trị
Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa là “trở thành đẹp, thành có giá trị”. Tính giá trị cần
để phân biệt giá trị với phi giá trị. Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con
người.
Các giá trị văn hóa, theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ nhu
cầu vật chất) và các giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần); theo ý nghĩa có
thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mĩ; theo thời gian có thể
phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời. Sự phân biệt các giá trị theo thời gian
cho phép ta có cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của
sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc
tán dương hết lời.
Đặc trƣng thứ ba của văn hóa là tính nhân sinh.
Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội (do con

người sáng tạo, nhân tạo) với các giá trị tự nhiên (thiên tạo). Văn hóa là cái tự nhiên
được biến đổi bởi con người. Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính
vật chất hoặc tinh thần.
Đặc trƣng cuối của văn hóa là tính lịch sử
Nó cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình và được tích lũy
qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của
từng giai đoạn. Tính lịch sử tạo nên văn hóa một bề dày, một chiều sâu; nó buộc văn
hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị. Tính
lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa. Truyền thống văn hóa là những giá trị
tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) được tích lũy và tái tạo trong cộng
đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội
và cố định dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận…
2

Thang Long University Library


1.1.3. Vai trò của văn hóa trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội
1.1.3.1. Vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế
Thứ nhất: Văn hóa và kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau
Kinh tế là kết quả của văn hóa và văn hóa cũng là kết quả của kinh tế. Thực tiễn
ngày càng cho thấy văn hóa không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính
trị. Văn hóa không chỉ là mục tiêu, động lực mà nằm ngay trong quá trình phát triển
kinh tế. Mỗi nấc thang của tăng trưởng kinh tế, tạo ra bước phát triển mới về văn hóa;
văn hóa phát triển lại thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai: Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, là động lực, mục tiêu phát
triển kinh tế
Văn hóa là mục tiêu của kinh tế, vì phát triển kinh tế để phát triển con người.
Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, con người được hạnh phúc và phát triển
toàn diện. Vì vậy, văn hóa đóng vai trò là mục tiêu trước mắt và lâu dài của sự phát
triển kinh tế.
Văn hóa ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế trước hết vì nó là nền tảng tinh thần,
động lực và thông qua mục tiêu cứu cánh mà nó đặt ra cho tất cả chiến lược, kế hoạch
phát triển kinh tế: Mọi kế hoạch phát triển kinh tế đều phải hướng đến mục tiêu cao
nhất là đảm bảo yêu cầu cơ bản nhất là bảo vệ con người, phục vụ con người, nâng cao
chất lượng cuộc sống con người. Bất cứ chính sách, biện pháp kinh tế nào về sản xuất,
luu thông hay phân phối, về giá, lương, sản phẩm hàng hóa đều phải thực hiện mục
tiêu cao nhất đó yêu cầu cơ bản đó, tức là vì chính lợi ích của con người.
Để kinh tế bền vững phải có một mô hình tăng trưởng xuất phát từ văn hóa và
bằng tố chất văn hóa, đó là nguồn nhân lực chất lượng cao. Bằng nguồn tài nguyên
quý nhất, vốn quý nhất là con người, chúng ta có thể làm chủ được khoa học và công
nghệ, tạo ra sức mạnh tác động vào hoạt động kinh tế theo chiều sức mạnh thúc đẩy.
Thứ ba: Văn hóa thúc đẩy kinh tế tăng trƣởng ổn định
Văn hóa phát triển tương xứng là cơ sở cho phát triển kinh tế một cách toàn diện.
Văn hóa và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ đa chiều. Mỗi chiều cạnh của quan hệ
này có thể phát huy khả năng của mình, nhưng các chiều cạnh đó lại có mối quan hệ
mật thiết với nhau, cùng lúc phát huy nhiều năng lực khác nhau. Với luận điểm này,
văn hóa thể hiện trước hết thông qua chức năng xây dựng con người, bồi dưỡng nguồn
lực con người về trí tuệ và tâm hồn, năng lực, sự thành thạo, tài năng, đạo đức, nhân
cách, lối sống của cá nhân và cộng đồng. Chính vì thế mà văn hóa sẽ là điều kiện

3


không thể thiếu để thúc đẩy kinh tế phát triển ổn định. Thiếu một nền tảng tinh thần
tiến bộ, lành mạnh sẽ không có sự phát triển kinh tế bền vững.
1.1.3.2. Vai trò của văn hóa đối với phát triển xã hội
Thứ nhất: Hệ giá trị văn hóa điều tiết, cải biến sự phát triển của xã hội
Điều tiết xã hội: Với hệ giá trị tốt đẹp chân thiện mỹ của mình, văn hóa luôn làm
tròn trách nhiệm của mình đối với việc điều tiết sự vận hành của xã hội.
Cải biến xã hội: Ứng với nó là văn hóa chính trị, văn hóa pháp quyền, văn hóa
quản lý xã hội, văn hóa dân chủ, văn hóa công dân, văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử,
văn hóa đối thoại, văn hóa lối sống và nếp sống, văn hóa giáo dục, văn hóa môi
trường…
Văn hóa góp phần giữ ổn định xã hội trong giai đoạn phát triển bền vững hiện
nay. Điều quan trọng nhất khi nói văn hóa là nền tảng tinh thần bởi văn hóa có chức
năng định hình các giá trị, chuẩn mực trong đời sống xã hội, chi phối các hành vi của
mỗi người và toàn xã hội. Với tính lịch sử, các giá trị, chuẩn mực đó được truyền bá,
lưu giữ, chắt lọc và phát triển trong tiến trình lịch sử của dân tộc, trở thành hệ thống
các giá trị đặc trưng cho một dân tộc, bao gồm chính trị, đạo đức, luật pháp, khoa học,
văn học, nghệ thuật, các thể chế, thiết chế văn hóa, tập quán, lối sống, tạo nên cái cốt,
cái hồn, bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc.
Thứ hai: Văn hóa là nguồn lực mạnh mẽ cho sự phát triển xã hội
Chìa khóa của sự phát triển, cũng như phát triển bền vững bao gồm những nhân
tố như: Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, nguồn khoa học công nghệ,
nguồn lực con người, trong đó nguồn lực con người đóng vai trò chủ chốt. Định hướng
Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam đã nêu lên 8 nguyên tắc chính cần thực
hiện trong quá trình phát triển, thì nguyên tắc đầu tiên được nêu ra là con người, nguồn
lực con người có vai trò quyết định, đây là chìa khoá của mọi chìa khoá. Con người là
trung tâm của phát triển bền vững. Đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và
tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ và văn minh là nguyên tắc quán triệt nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển.
Vì vậy có thể nhận thấy việc xây dựng con người mới, có đủ phẩm chất, năng
lực đạo đức, vừa hồng vừa chuyên là rất cần thiết trong quá trình phát triển bền vững.
Thứ ba: Hệ Giá trị văn hóa tốt đẹp của văn hóa tác động mạnh đến quá
trình phát triển xã hội trong giai đoạn phát triển bền vững.
Sức mạnh đại đoàn kết dân tộc để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội
dân chủ, công bằng, văn minh. Tinh thần nhân văn nhân đạo xây dựng một xã hội toàn
diện hơn.
4

Thang Long University Library


1.2. Khái quát về văn hóa doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp
Trong những năm gần đây, khái niệm văn hóa doanh nghiệp ngày càng được sử
dụng phổ biến, vấn đề văn hóa doanh nghiệp không chỉ được giới nghiên cứu quan tâm
mà vấn đề này cũng thu hút quan tâm đặc biệt của các nhà quản trị doanh nghiệp. Một
doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp có quy mô lớn, là một tập hợp những
con người khác nhau về trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa, mức độ nhận thức,
quan hệ xã hội, vùng miền địa lý, tư tưởng văn hóa…chính sự khác nhau này tạo ra
một môi trường làm việc đa dạng và phức tạp. Bên cạnh đó, với sự cạnh tranh gay gắt
của nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa, buộc doanh nghiệp để tồn tại và
phát triển phải liên tục tìm tòi những cái mới. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây
dựng và duy trì một nề nếp văn hóa đặc thù để phát huy năng lực và thúc đẩy sự đóng
góp của tất cả mọi người và đạt được mục tiêu chung của tổ chức – đó là Văn hóa
doanh nghiệp.
Cho đến nay, có nhiều quan điểm khác nhau về văn hóa doanh nghiệp. Tựu
chung lại có những quan điểm sau:
Theo Kotter, J.P & Heskett, J.L, “Văn hóa thể hiện tổng hợp các giá trị và cách
hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu
truyền, thường trong thời gian dài”.
Theo William, A. Dobson, P. & Walter, M. “Văn hóa doanh nghiệp là những
niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp”.
Theo chuyên gia người Mỹ Edgar H. Schein: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng thể
những thủ pháp và quy tắc mà các thành viên của doanh nghiệp thu nhận trong quá
trình giải quyết vấn đề thích ứng bên ngoài và thống nhất bên trong doanh nghiệp”.
Những quy tắc và thủ pháp này là yếu tố khởi nguồn trong việc các nhân viên lựa chọn
phương thức hành động, phân tích và ra quyết định thích hợp. Các thành viên của
doanh nghiệp không đắn đo suy nghĩ về ý nghĩa của những quy tắc và thủ pháp ấy, mà
coi chúng là đúng đắn ngay từ đầu.
Theo ông Georges de Saite Marie – chuyên gia người pháp về văn hóa doanh
nghiệp vừa và nhỏ, đưa ra một định nghĩa như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp
các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kị, các quan điểm triết
học và đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”. Có thể thấy định nghĩa
này chỉ mới tóm gọn những nhân tố cấu thành Văn hóa doanh nghiệp chứ chưa đề cập
đến mối quan hệ qua lại bên trong doanh nghiệp.

5


Theo PGS.TS. Dương Thị Liễu trong Giáo trình Văn hóa kinh doanh: “ Văn hóa
doanh nghiệp là toàn bộ những nhân tố văn hóa được doanh nghiệp chọn lọc, sử dụng
và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp
đó”.
Tóm lại, có thể hiểu văn hóa doanh nghiệp là:
Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hóa được gây dựng nên trong
suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các
quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động doanh nghiệp ấy và chi phối
tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của các thành viên của doanh nghiệp trong việc theo
đuổi và thực hiện các mục đích chung.
1.2.2. Tác động của văn hóa doanh nghiệp tới sự phát triển của doanh nghiệp
1.2.2.1. Tác động tích cực của văn hóa doanh nghiệp
Việc xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp có vị trí và vai trò rất quan
trọng trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, bởi bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu
thiếu đi yếu tố văn hóa, ngôn ngữ, tư liệu, thông tin nói chung được gọi là tri thức thì
doanh nghiệp đó khó có thể đứng vững và tồn tại được. Nó được thể hiểu cụ thể ở các
khía cạnh sau:
Xây dựng văn hóa doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp nâng cao năng lực
cạnh tranh
Bởi vì khi văn hóa doanh nghiệp mạnh mẽ sẽ tạo nên sự thống nhất, giảm thiểu
sự rủi ro, tăng cường sự phối hợp giám sát, thúc đẩy động cơ làm việc của mọi thành
viên, tăng hiệu suất và hiệu quả của doanh nghiệp, từ đó tăng được sức mạnh cạnh
tranh và khả năng thành công của doanh nghiệp trên thị trường. Tính hiệu quả của
doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào văn hóa doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến
việc hình thành mục tiêu, chiến lược và chính sách, nó tạo ra định hướng có tính chất
chiến lược cho bản thân doanh nghiệp, đồng thời cũng tạo thuận lợi cho việc thực hiện
thành công chiến lược đã lựa chọn của doanh nghiệp. Môi trường văn hóa doanh
nghiệp còn có ý nghĩa tác động quyết định đến tinh thần, thái độ, động cơ lao động của
các thành viên và việc sử dụng đội ngũ lao động và các yếu tố khác.
Tạo bản sắc riêng cho doanh nghiệp
Việc xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp sẽ giúp cho doanh nghiệp
khẳng định được tên tuổi của mình và để nhận biết được sự khác nhau giữa doanh
nghiệp này với doanh nghiệp khác. Sự khác biệt đó được thể hiện ở những giá trị tài
sản vô hình của mỗi doanh nghiệp như: sự trung thành của mỗi nhân viên, bầu không
khí làm việc của mỗi doanh nghiệp, đẩy nhanh tiến độ trong quá trình thảo luận và ra
6

Thang Long University Library


quyết định quản lý, sự tin tưởng của nhân viên vào các quyết định, chính sách của
doanh nghiệp…
Xây dựng văn hóa phù hợp giúp doanh nghiệp tạo khả năng thích ứng cao
với môi trƣờng
Mọi yếu tố xã hội, khoa học công nghệ, khả năng của con người đang thay đổi
theo từng giờ, từng phút và một doanh nghiệp tốt hôm nay nhưng chưa chắc tốt trong
tương lai nếu không có sự định hướng cho những sự thích ứng đó ngay từ bây giờ.
Quan trọng hơn, hoạt động của các doanh nghiệp sẽ bị tụt hậu nhiều hơn nữa nếu
không tiến hành một cuộc cách mạng cho việc xây dựng và đổi mới văn hóa trong
phạm vi doanh nghiệp ngay trong hiện tại.
Văn hóa doanh nghiệp tạo nên giá trị tinh thần cho toàn thể nhân viên
Sống trong một môi trường văn hóa lành mạnh với sự quan tâm thỏa đáng của
các cấp lãnh đạo sẽ làm cho mọi người cảm thấy lạc quan và cống hiến hết mình cho
mục tiêu của doanh nghiệp. Người ta không chỉ suốt đời lao động vì lý do chỉ để tồn
tại mà họ còn có thể thấy được ý nghĩa của bản thân qua những đóng góp cho cộng
đồng xã hội. Trong một tập thể tốt sẽ là một cơ hội cho mọi người có thể học tập lẫn
nhau và mang lại nhiều giá trị về tinh thần. Giá trị đó sẽ khích lệ khả năng làm việc hết
mình của các thành viên đối với mục tiêu của doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp tạo sức hút cho doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp chính là hình ảnh về một doanh nghiệp và tạo nên sự khác
biệt với doanh nghiệp khác. Qua văn hóa doanh nghiệp ta sẽ cảm nhận rằng hoạt động
của doanh nghiệp đó là mạnh hay yếu. Doanh nghiệp muốn có được nhiều tiềm năng
khách hàng, thu hút các hợp đồng kinh tế và nhiều cơ hội liên doanh liên kết với các
đối tác hay không thì cần phải có một môi trường văn hóa doanh nghiệp tốt mới có thể
tạo được lòng tin với khách hàng và các đối tác trong kinh doanh.
Văn hóa doanh nghiệp tạo sự gắn kết, giảm xung đột giữa các thành viên
trong doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp gắn kết, tạo sự đồng thuận của các nhân viên thông qua
hệ thống các giá trị chuẩn mực chung từ đó tạo ra nguồn lực giúp doanh nghiệp phát
triển và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp giúp điều phối và kiểm soát
Văn hóa doanh nghiệp điều phối và kiểm soát hành vi các nhân bằng các câu
chuyện, truyền thuyết; các chuẩn mực, thủ tục, quy trình, quy tắc…Khi phải ra một
quyết định phức tạp, văn hóa doanh nghiệp giúp ta thu hẹp phạm vi các lựa chọn phải
xem xét.
7


Văn hóa doanh nghiệp tạo động lực làm việc cho các thành viên
Văn hóa doanh nghiệp giúp nhân viên thấy rõ mục tiêu, định hướng và bản chất
công việc, hiểu được đống góp của họ có ý nghĩa thế nào tới thành công của doanh
nghiệp. Điều này càng có ý nghĩa khi tình trạng “chảy máu chất xám” đang phổ biến.
Lương và thu nhập chỉ là một phần của động lực làm việc, khi thu nhập đạt đến một
mức nào đó, người ta sẵn sàng đánh đổi chọn mức thu nhập thấp hơn để được làm việc
ở một môi trường hòa đồng, thoải mái, được đồng nghiệp tôn trọng.
Văn hóa doanh nghiệp giúp thu hút và giữ chân nhân tài
Thù lao vật chất gồm tiền lương, tiền thưởng và phúc lợi đã từng là yếu tố quan
trọng nhất, ảnh hưởng quyết định đến việc thu hút và giữ chân người giỏi cho doanh
nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay người lao động bắt đầu có nhận thức khác, sau khi thỏa
mãn các nhu cầu vật chất họ bắt đầu có xu hướng thỏa mãn nhiều hơn ở các bậc cao
hơn như giao tiếp, nhu cầu được tôn trọng và tự hoàn thiện mình. Văn hóa doanh
nghiệp giúp họ thỏa mãn những nhu cầu này, vì vậy khi văn hóa doanh nghiệp mạnh,
nhân viên sẽ cảm nhận được bầu không khí làm việc than thiện, cởi mở và chuyên
nghiệp, hiểu được mục tiêu của doanh nghiệp, từ đó tự định hướng mục tiêu cá nhân
nên họ trung thành và gắn bó lâu dài hơn với doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp giúp tăng cƣờng sự sáng tạo và đổi mới cho nhân viên
Quan tâm tới xây dựng văn hóa doanh nghiệp thì sẽ giúp nhân viên có thêm động
lực để góp ý tưởng mới cho công ty. Nhân viên được tự chủ trong công việc và họ có
hướng đi và mục tiêu của riêng mình, mục tiêu ấy gắn liền với mục tiêu của doanh
nghiệp, mặt khác người lao động có xu hướng gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. Vì vậy
người lao động được khuyến khích để tích cực làm việc, đưa ra nhiều sáng kiến cải
tiến và đổi mới cho doanh nghiệp.
1.2.2.2. Tác động tiêu cực của văn hóa doanh nghiệp
Bên cạnh những tác động tích cực, văn hóa doanh nghiệp cũng tạo ra một số tác
động tiêu cực cho doanh nghiệp. Cụ thể có một số tác động tiêu cực là:
Văn hóa doanh nghiệp ngăn cản sự thay đổi
Văn hóa doanh nghiệp có thể sẽ tạo ra một lực cản đối với những mong muốn
thay đổi để thúc đẩy hiệu quả của doanh nghiệp. Điều này sẽ xuất hiện trong một môi
trường năng động, thay đổi nhanh chóng và văn hóa doanh nghiệp lúc đó trở thành lực
cản đối với sự thay đổi.
Văn hóa doanh nghiệp ngăn cản tính đa dạng của doanh nghiệp
Việc tuyển dụng những thành viên mới có nguồn gốc đa dạng về kinh nghiệm,
xuất xứ, dân tộc hay trình độ văn hóa dường như làm giảm bớt những giá trị văn hóa
8

Thang Long University Library


mà mọi thành viên của doanh nghiệp đang cố gắng để phù hợp và đáp ứng. Văn hóa
doanh nghiệp vì vậy có thể tạo ra rào cản sức mạnh đa dạng mà những người với
những kinh nghiệm khác nhau muốn đóng góp cho doanh nghiệp.
1.2.3. Đặc trưng của văn hóa doanh nghiệp
Đặc trƣng đầu tiên là văn hóa có tính tập quán
Hệ thống các giá trị của văn hóa doanh nghiệp sẽ quy định những hành vi được
chấp nhận hay không được chấp nhận trong một hoạt động hay môi trường kinh doanh
cụ thể. Có những tập quán kinh doanh đẹp tồn tại như một sự khẳng định những nét
độc đáo đó là tập quán chăm lo đến đời sống riêng tư của người lao động. Tuy nhiên,
cũng có những tập quán không dễ gì cảm thông ngay như tập quán đàm phán hay ký
kết hợp đồng ở một số nước, đặc biệt ở Việt Nam.
Đặc trƣng thứ hai của văn hóa doanh nghiệp là tính cộng đồng
Kinh doanh bao gồm một hệ thống các hoạt động có tính chất đặc trưng với mục
tiêu là lợi nhuận của chủ và các nhu cầu được đáp ứng của khách, kinh doanh không
thể tồn tại do chính bản thân nó mà phải dựa vào sự tạo dựng, tác động qua lại và củng
cố của mọi thành viên tham gia trong quá trình hoạt động. Do đó văn hóa doanh
nghiệp sẽ là quy ước chung cho các thành viên trong cộng đồng kinh doanh. Văn hóa
doanh nghiệp bao gồm những giá trị, những lề thói, những tập tục…mà các thành viên
trong cộng đồng cùng tuân theo một cách tự nhiên, không cần phải ép buộc.
Đặc trƣng thứ ba của văn hóa doanh nghiệp là tính dân tộc
Tính dân tộc là đặc trưng tất yếu của văn hóa doanh nghiệp, vì bản thân văn hóa
doanh nghiệp là một tiểu văn hóa nằm trong văn hóa dân tộc và mỗi chủ thể kinh
doanh đều thuộc về một dân tộc cụ thể với một phần nhân cách tuân theo các giá trị
của văn hóa dân tộc. Khi các giá trị của văn hóa dân tộc được thẩm thấu vào tất cả các
hoạt động kinh doanh sẽ tạo nên nếp suy nghĩ và cảm nhận chung của những người
làm kinh doanh trong cùng một dân tộc.
Đặc trƣng thứ tƣ của văn hóa doanh nghiệp là tính chủ quan
Văn hóa doanh nghiệp là sự thể hiện quan điểm, phương hướng, chiến lược và
cách thức tiến hành kinh doanh của một chủ thể kinh doanh cụ thể. Tính chủ quan của
văn hóa doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc các chủ thể khác nhau sẽ có những
suy nghĩ, đánh giá khác nhau về cùng một sự việc và hiện tượng kinh doanh.
Đặc trƣng thứ năm của văn hóa doanh nghiệp là tính khách quan
Mặc dù văn hóa doanh nghiệp là sự thể hiện quan điểm chủ quan của từng chủ
thể kinh doanh, nhưng do được hình thành trong cả một quá trình với sự tác động của
nhất nhiều nhân tố bên ngoài như xã hội, lịch sử, hội nhập… nên văn hóa doanh
9


nghiệp tồn tại khách quan ngay cả với chính chủ thể kinh doanh. Có những giá trị của
văn hóa doanh nghiệp buộc chủ thể kinh doanh phải chấp nhận nó chứ không thể biến
đổi chúng theo ý muốn chủ quan của mình.
Đặc trƣng thứ sáu của văn hóa doanh nghiệp là tính học hỏi
Có những giá trị của văn hóa doanh nghiệp không thuộc về văn hóa dân tộc hay
văn hóa xã hội và cũng không phải do các nhà lãnh đạo sáng lập ra. Những giá trị đó
có thể được hình thành từ kinh nghiệm khi xử lý các vấn đề, từ kết quả của quá trình
nghiên cứu thị trường, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, hoặc được tiếp nhận trong quá
trình giao lưu với nền văn hóa khác… Tất cả các giá trị nêu đó được tạo nên là bởi tính
học hỏi của văn hóa doanh nghiệp. Như vậy, ngoài những giá trị được kế thừa từ văn
hóa dân tộc và xã hội, tính học hỏi sẽ giúp văn hóa doanh nghiệp có được những giá trị
tốt đẹp từ những chủ thể và những nền văn hóa khác.
Đặc trƣng thứ bảy của văn hóa doanh nghiệp là tính tiến hóa
Kinh doanh rất sôi động và luôn luôn thay đổi, do đó, văn hóa doanh nghiệp với
tư cách là bản sắc của chủ thể kinh doanh cũng luôn tự điều chỉnh cho phù hợp với
trình độ kinh doanh và tình hình mới. Đặc biệt, trong thời đại hội nhập, việc giao thoa
với các sắc thái kinh doanh của các chủ thể khác nhằm trao đổi và tiếp thu các giá trị
tiến bộ là điều tất yếu.
Đặc trƣng thứ tám của văn hóa doanh nghiệp là tính kế thừa
Cũng giống như văn hóa, văn hóa doanh nghiệp là sự tích tụ cả tất cả các hoàn
cảnh. Trong quá trình kinh doanh, mỗi thế hệ sẽ cộng thêm các đặc trưng riêng biệt
của mình vào hệ thống văn hóa doanh nghiệp trước khi truyền lại cho thế hệ sau. Thời
gian qua đi, những cái cũ có thể bị loại trừ nhưng sự sàng lọc và tích tụ qua thời gian
sẽ làm cho các giá trị của văn hóa doanh nghiệp trở nên giàu có, phong phú và tình
khiết hơn.
Đặc trƣng thứ chín của văn hóa doanh nghiệp là tính nhân sinh
Tập hợp một nhóm người cùng làm việc với nhau trong tổ chức sẽ hình thành
nên những thói quen, đặc trưng của đơn vị đó. Do đó, văn hóa doanh nghiệp có thể
hình thành một cách “tự giác” hay “ tự phát”. Theo thời gian những thói quen này sẽ
dần càng rõ ràng hơn và hình thành ra “cá tính” của đơn vị. Nên một doanh nghiệp, dù
muốn hay không, đều sẽ dần hình thành văn hóa tổ chức. Văn hóa doanh nghiệp khi
hình thành một cách tự phát có thể phù hợp với mong muốn và mục tiêu phát triển của
tổ chức hoặc không. Chủ động đào tạo ra những giá trị văn hóa mong muốn là điều cần
thiết nếu doanh nghiệp muốn văn hóa thực sự phục vụ cho định hướng phát triển
chung, góp phần tạo nên sức mạnh cạnh tranh.
10

Thang Long University Library


Đặc trƣng thứ mƣời của văn hóa doanh nghiệp là tính giá trị
Không có văn hóa doanh nghiệp “tốt” và “xấu”, chỉ có văn hóa phù hợp hay
không phù hợp. Giá trị là kết quả thẩm định của chủ thể đối với đối tượng theo một
hoặc một số thang độ nhất định và những nhận định này được thể hiện ra thành “đúngsai”, “tốt-xấu”…nhưng hàm ý của “sai” và “xấu” về bản chất chỉ là “không phù hợp”.
Giá trị cũng là khái niệm có tính tương đối, phụ thuộc vào chủ thể, không gian và thời
gian.
Đặc trƣng thứ mƣời một của văn hóa doanh nghiệp là tính ổn định
Cũng như cá tính của một con người, văn hóa doanh nghiệp khi đã được định
hình thì “khó thay đổi”. Qua thời gian các hoạt động khác nhau của các thành viên
trong doanh nghiệp sẽ giúp các niềm tin, giá trị được tích lũy và tạo thành văn hóa. Sự
tích lũy các giá trị tạo nên tính ổn định của văn hóa.
1.2.4. Các cấp độ văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp là một phạm trù trừu tượng và khó có thể nắm bắt, vì vậy
để các doanh nghiệp có thể nhận thức được các giá trị của văn hóa doanh nghiệp thì
theo tác giả Edgar H. Schein, có thể chia văn hóa doanh nghiệp thành 2 cấp độ. Các
cấp độ của văn hóa doanh nghiệp có thể hiểu là:
Sơ đồ 1.1. Các cấp độ của văn hóa doanh nghiệp
Những quá trình và cấu
trúc hữu hình

Cấp độ thứ nhất

(Artifacts)

(Hữu hình)

Những giá trị được
chấp nhận
(Espoused Values)
Cấp độ thứ hai
Những quan niệm chung

(Vô hình)

(Basic Underlying
Assumptions)

(Nguồn: Giáo trình văn hóa kinh doanh, PGS.TS. Dương Thị Liễu)
11


1.2.4.1. Cấp độ 1: Những quá trình và cấu trúc hữu hình
Những giá trị văn hóa hữu hình là những cái được thể hiện ra bên ngoài rõ ràng,
dễ nhận biết nhất của văn hóa doanh nghiệp bao gồm tất cả những hiện tượng và sự vật
mà một con người có thể nhìn và cảm thấy khi tiếp xúc, nó sẽ thay đổi, chịu ảnh hưởng
nhiều bởi tính chất công việc, quan điểm của lãnh đạo, như:
Kiến trúc trúc của doanh nghiệp
Đây được coi là bộ mặt của doanh nghiệp. Kiến trúc và diện mạo luôn được các
doanh nghiệp quan tâm xây dựng. Kiến trúc của doanh nghiệp bao gồm kiến trúc ngoại
thất và kiến trúc nội thất công sở như sự thiết kế các phòng làm việc, bố trí nội thất
trong phòng, màu sắc chủ đạo…Tất cả sự thể hiện đó đều làm nên nét đặc trưng cho
doanh nghiệp và để tạo ấn tượng cho khách hàng. Thực tế cho thấy cấu trúc và diện
mạo có ảnh hưởng đến tâm lý làm việc của người lao động. Hơn nữa, công trình kiến
trúc có thể được coi là biểu tượng biểu thị một ý nghĩa, giá trị nào đó của một tổ chức,
chẳng hạn: giá trị lịch sử gắn liền với sự ra đời và trưởng thành của tổ chức, các thế hệ
nhân viên, xã hội, còn các kiểu dáng kết cấu có thể được coi là phương châm chiến
lược của tổ chức. Trong xã hội ngày nay, các doanh nghiệp càng chú ý tới kiến trúc,
diện mạo càng khẳng định được năng lực tài chính của doanh nghiệp cũng như ưu thế
trước đối thủ.
Sản phẩm
Sản phẩm, dịch vụ phát triển đến một mức nào đó sẽ trở thành thương hiệu, là
biểu tượng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Cơ cấu tổ chức, các phòng ban của doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức phòng ban là khác nhau ở mỗi công ty. Nó phụ thuộc vào ngành
nghề kinh doanh của doanh nghiệp, đặc tính của sản phẩm mà doanh nghiệp đó cung
cấp, phụ thuộc vào tính chất của khách hàng và rất nhiều yếu tố khác. Việc tổ chức
phòng ban một cách hợp lý sẽ có ảnh hưởng tích cực tới tinh thần làm việc và trách
nhiệm của tập thể cán bộ công nhân viên đối với công ty.
Các văn bản quy định nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp
Tập hợp các văn bản này có thể là các giấy tờ xác nhận quyền hoạt động kinh
doanh, xác định rõ lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cũng có thể là
văn bản quy định và điều chỉnh hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp, quy định chế độ
lao động, khen thưởng hoặc kỷ luật đối với mọi thành viên trong công ty.
Lễ nghi và lễ hội hàng năm
Đây là các hoạt động được dự kiến từ trước và được chuẩn bị kỹ lưỡng dưới hệ
thống các sự kiện văn hóa – xã hội chính thức, được thực hiện định kỳ hay bất thường
12

Thang Long University Library


nhằm thắt chặt mối quan hệ và thường được tổ chức vì lợi ích của những người tham
dự. Theo đó lễ nghi là những nghi thức trở thành thói quen, được mặc định và sẽ được
thực hiện khi tiến hành một hoạt động nào đó, nó thể hiện trong đời sống hàng ngày
chứ không chỉ trong những dịp đặc biệt. Lễ nghi tạo nên nét đặc trưng về doanh
nghiệp, với mỗi văn hóa thì các lễ nghi có những hình thức khác nhau. Các nghi lễ
thường được xem như sự tôn vinh văn hóa doanh nghiệp, giúp gợi nhớ và củng cố các
giá trị văn hóa.
Biểu tƣợng logo, khẩu hiệu
Biểu tượng là từ ngữ, vật thể, trạng thái, hành động hay các đặc điểm tạo nên sự
khác biệt có ý nghĩa đối với cá nhân và nhóm. Bên cạnh biểu tượng, logo và khẩu hiệu
cũng là hai thứ dễ thấy và cho ta cái nhìn cơ bản về văn hóa doanh nghiệp.
Logo là một tác phẩm sáng tạo được thiết kế để thể hiện hình tượng về một tổ
chức, một doanh nghiệp bằng ngôn ngữ nghệ thuật phổ thông. Hình ảnh này thường có
sức mạnh rất lớn vì chúng hướng sự chú ý của người quan sát vào một chi tiết hay
điểm nhấn cụ thể, có thể diễn đạt được giá trị chủ đạo mà tổ chức, doanh nghiệp muốn
tạo ấn tượng, lưu lại hay truyền đạt cho người thấy nó. Đây là biểu trưng có ý nghĩa rất
lớn nên được các tổ chức, doanh nghiệp coi trọng.
Nhiều tổ chức sử dụng các câu chữ đặc biệt, khẩu hiệu hay là một ngôn ngữ để
truyền tải một ý nghĩa cụ thể của nhân viên mình và những người hữu quan. Nó nhắc
nhở khách hàng về dự tồn tại của doanh nghiệp mà còn chở thành tôn chỉ hoạt động
của công ty.
Đồng phục trong doanh nghiệp
Đồng phục là bộ quần áo được may cùng kiểu dáng, cùng màu sắc và cùng chất
liệu được mặc bởi các thành viên trong một tổ chức, doanh nghiệp khi tham gia các
hoạt động trong tổ chức, doanh nghiệp đó theo nội quy, quy định của doanh nghiệp.
Đồng phục tạo sự chuyên nghiệp, sức mạnh của tập thể mà đồng phục còn khiến
nhân viên có mục tiêu phấn đấu hơn, tinh thần hăng say làm việc hơn.
Những câu chuyện và những huyền thoại về tổ chức
Những câu chuyện huyền thoại về doanh nghiệp được lưu truyền qua các thế hệ
thành viên bằng cách kể lại. Huyền thoại là những câu chuyện từ những sự kiện có thật
của tổ chức, được các thành viên trong tổ chức chia sẻ và nhắc lại với những thành
viên mới, chứa đựng những giá trị và niềm tin trong tổ chức. Những huyền thoại đó
giúp xây dựng niềm tin trong lòng các thành viên vào sức mạnh của doanh nghiệp.

13


Thái độ và cung cách ứng xử của các thành viên trong doanh nghiệp
Trong một công ty luôn có mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các đồng
nghiệp, giữa công ty và các đối tượng hữu quan. Vì vậy, nhân viên phải biết cách ứng
xử như thế nào để môi trường làm việc thân thiện và hòa đồng nhất.
 Cung cách ứng xử cấp trên với cấp dưới: Văn hóa ứng xử cấp trên và cấp dưới
là rất quan trọng. Nó quyết định tính chất mối quan hệ giữa nhân viên và lãnh
đạo. Nếu xây dựng được mối quan hệ cấp trên và cấp dưới bền chặt thì sự hợp
tác hai bên vô cùng thuận lợi; ngược lại nếu mối quan hệ đó không bền vững thì
sẽ tạo rào cản trong công việc, ảnh hưởng không tốt đến các hoạt động của
doanh nghiệp.
 Cung cách ứng xử của cấp dưới với cấp trên: Cấp dưới cần phải tôn trọng và cư
xử đúng mực với cấp trên. Làm tốt công việc của mình, nhân viên phải nỗ lực
hết mình để hoàn thành công việc, chức vụ được giao một cách tốt nhất, không
ảnh hưởng đến phần việc của người khác.
 Cung cách ứng xử giữa các đồng nghiệp: Trong một doanh nghiệp không chỉ có
cấp trên và cấp dưới mà còn có mối quan hệ giữa các đồng nghiệp. Trong mối
quan hệ giữa các thành viên cần phải thân thiện, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau.
 Chăm sóc khách hàng: Chăm sóc khách hàng là tất cả những gì doanh nghiệp
cần làm để thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Nếp văn hóa này thể
hiện trong mọi lĩnh vực như thông tin, giao dịch với khách hàng, thái độ phục
vụ,...và được nhất quán trong tất cả đội ngũ nhân viên.
1.2.4.2. Cấp độ 2: Những giá trị được chấp nhận và những quan niệm chung
Những giá trị đƣợc chấp nhận
Yếu tố này đề cập đến mức độ chấp nhận, tán đồng hay chia sẻ các giá trị. Doanh
nghiệp nào cũng có quy định, nguyên tắc, triết lý, chiến lược và mục tiêu riêng, là kim
chỉ nam cho hoạt động của toàn bộ nhân viên và thường được doanh nghiệp công bố
rộng rãi ra công chúng. Đây cũng chính là những giá trị được công bố, một bộ phận
của nền văn hóa doanh nghiệp, có tính hữu hình vì có thể nhận biết và diễn đạt một
cách rõ ràng và chính xác.
 Tầm nhìn: Là trạng thái trong tương lai của doanh nghiệp muốn đạt tới. Tầm
nhìn cho thấy mục đích, phương hướng chung để dẫn tới hành động thống nhất.
Tầm nhìn cho thấy bức tranh toàn cảnh của doanh nghiệp trong tương lai với
giới hạn về thời gian tương đối dài và có tác dụng hướng mọi thành viên trong
doanh nghiệp chung sức nỗ lực đạt được trạng thái đó.

14

Thang Long University Library


 Sứ mệnh và các giá trị cơ bản; giúp doanh nghiệp tìm ra con đường, cách thức
và các giai đoạn để đi tới tầm nhìn mà doanh nghiệp đã xác định.
 Mục tiêu chiến lược: Trong quá trình tồn tại, hình thành và phát triển, doanh
nghiệp luôn chịu tác động cả khả quan và chủ quan. Những tác động này có thể
tạo điều kiện thuận lợi hay thách thức cho doanh nghiệp. Mỗi tổ chức cần xây
dựng kế hoạch chiến lược để xác định lộ trình và chương trình hành động, tận
dụng được cơ hội, vượt qua các thách thức để đi tới tương lai, hoàn thành sứ
mệnh của doanh nghiệp.
Những quan niệm chung
Các giá trị ngầm định là niềm tin, nhận thức, suy nghĩ, tình cảm đã ăn sâu vào
trong tiềm thức của mỗi doanh nghiệp. Các ngầm định là các cơ sở cho các hành động,
định hướng sự hình thành cho các giá trị trong nhận thức của cá nhân. Hệ thống giá trị
ngầm định thể hiện qua các mối quan hệ sau:
 Quan hệ giữa con người với con người: Mỗi người và mỗi tổ chức có nhận thức
khác nhau. Một số cho rằng họ có thể làm chủ được tình huống, tác động của
môi trường không thể làm thay đổi vận mệnh của họ. Một số khác lại cho rằng
phải hòa nhập với môi trường, hay tìm cách sao cho có một vị trí an toàn để
không phải chịu những tác động bất lợi của môi trường. Những tổ chức, cá
nhân có suy nghĩ tiêu cực thì cho rằng không thể thay đổi những gì mà số phận
đã an bài, nên đành phải chấp nhận số phận đó. Đây là những tổ chức cá nhân
có xu hướng an phận không muốn cố gắng.
 Ngầm định về bản chất con người: Các tổ chức khác nhau có quan niệm khác
nhau về con người. Một số cho rằng bản chất con người là lười biếng, tinh thần
tự chủ thấp, khả năng sáng tạo kém. Một số tổ chức khác lại cho rằng bản chất
con người là có tinh thần tự chủ cao, có trách nhiệm và có khả năng sáng tạo
tiềm ẩn. Trong khi một số tổ chức khác lại đánh giá cao khả năng của người lao
động, đề cao người lao động và coi đó là chìa khóa của sự thành công. Các
quan điểm khác nhau dẫn đến những phương pháp quản lý khác nhau và có tác
động đến nhân viên theo những cách khác nhau.
 Bản chất hành vi con người: Cơ sở của hành vi cá nhân trong tổ chức căn cứ
vào thái độ, tính cách, nhận thức và sự học hỏi của mỗi người. Bốn yếu tố này
là những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hành vi cá nhân trong tổ chức. Quan
điểm về bản chất hành vi cá nhân có sự khác nhau giữa phương tây và phương
đông.

15


 Bản chất sự thật và lẽ phải: Đối với một tổ chức, sự thật và lẽ phải là kết quả
của một quá trình phân tích, đánh giá theo những quy luật, chân lý đã có. Một
số tổ chức lại xem sự thật và lẽ phải là quan điểm, ý kiến của người lãnh đạo do
niềm tin, sự tín nhiệm tuyệt đối với người đứng đầu tổ chức.
Ngoài ra, chúng được hình thành và tồn tại trong một thời gian dài, ăn sâu vào
tâm lý của hầu hết các thành viên trong nền văn hóa đó và trở thành điều mặc nhiên
được công nhận. Để hình thành được các quan niệm chung, một cộng đồng văn hóa
phải trải qua quá trình hoạt động lâu dài, va chạm và xử lý nhiều tình huống thực tiễn.
Chính vì vậy, một khi đã hình thành, các quan niệm chung sẽ rất khó bị thay đổi.
Quan niệm chung bao gồm niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm có tính vô
thức, mặc nhiên được công nhận trong doanh nghiệp. Một khi tổ chức đã hình thành
được quan niệm chung, tức là các thành viên cùng nhau chia sẻ và hành động theo
quan niệm chung đó, họ sẽ khó chấp nhận những hành vi đi ngược lại.
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình xây dựng văn hóa doanh nghiệp
1.2.5.1. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
Văn hóa dân tộc
Văn hóa doanh nghiệp là một nền tiểu văn hóa nằm trong văn hóa dân tộc vì vậy
sự phản chiếu văn hóa dân tộc vào văn hóa doanh nghiệp là điều tất yếu. Mỗi cá nhân
trong một doanh nghiệp mang trong mình những nét văn hóa doanh nghiệp đó cũng
chính là nét văn hóa dân tộc. Tổng hợp những nét nhân cách đó làm nên một phần
nhân cách của doanh nghiệp, đó là các giá trị văn hóa dân tộc không thể phủ nhận
được. Có các vấn đề chính tồn tại trong tất cả các nền văn hóa dân tộc cũng như các
nền văn hóa doanh nghiệp khác nhau là:
 Sự đối lập giữa chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể: Trong nền văn hóa mà
chủ nghĩa cá nhân được coi trọng, quan niệm cá nhân hành động vì lợi ích của
bản thân hoặc những người thân trong gia đình rất phổ biến. Nền văn hóa mà
chủ nghĩa tập thể được coi trọng là quan niệm con người theo quan hệ huyết
thống hay nghề nghiệp thuộc về một tổ chức có liên kết chặt chẽ với nhau,
trong đó tổ chức chăm lo lợi ích của cá nhân, còn cá nhân phải hành động và
ứng xử theo lợi ích của tổ chức.
 Sự phân cấp quyền lực: Đây là một thực tế tất yếu bởi trong xã hội không thể có
các cá nhân giống nhau hoàn toàn về thể chất, trí tuệ và năng lực. Biểu hiện rõ
nhất của sự phân cấp quyền lực trong một quốc gia là sự chênh lệch về thu nhập
giữa các cá nhân, mức độ phụ thuộc giữa các mối quan hệ cơ bản trong xã hội.
Còn trong một công ty, ngoài các biểu hiện như trên thì còn có thể nhận biết sự
16

Thang Long University Library


phân cấp quyền lực thông qua các biểu tượng địa vị, việc gặp gỡ lãnh đạo cấp
cao dễ hay khó…Đi đôi với sự phân cấp quyền lực là sự phân chia trách nhiệm
giữa các cá nhân. Sự phân cấp quyền lực càng cao thì phạm vi quyền lợi và
trách nhiệm của từng chức vụ được quy định càng được rõ rang, cụ thể là:
 Tính đối lập giữa nam quyền và nữ quyền: khi nam quyền được đề cao
trong xã hội, vai trò của giới tính rất được coi trọng. Nền văn hóa chịu sự
chi phối của các giá trị nam tính truyền thống như sự thành đạt, quyền lực,
tính quyết đoán, tham vọng…Trong nền văn hóa bị chi phối bởi các giá trị
nữ quyền thì những điều trên lại có xu hướng bị đảo ngược.
 Tính cẩn trọng: phản ánh mức độ mà nhân viên của những nền văn hóa
khác nhau chấp nhận các tình thế rối ren hoặc sự bất ổn. Một trong những
biểu hiện rõ nét của tính cẩn trọng là các suy xét để đưa ra quyết định.
Trong các công ty, tính cẩn trọng thể hiện rõ ở phong cách làm việc. Những
nước có tính cẩn trọng cao thì họ có rất nhiều quy tắc thành văn chú trọng
xây dựng cơ cấu hoạt động hơn, rất chú trọng tính cụ thể hóa, có tính chuẩn
hóa rất cao và rất ít biến đổi, không muốn chấp nhận rủi ro và có cách cư xử
quan liêu hơn.
Môi trƣờng kinh doanh
Doanh nghiệp hay bất kỳ một thực thể kinh tế nào đều tồn tại và phát triển trong
một môi trường ổn định, do đó văn hóa doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng tổng thể
của các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh. Cụ thể, văn hóa doanh nghiệp chịu ảnh
hưởng sâu sắc từ các yếu tố bên ngoài như: xu hướng toàn cầu hóa, lợi ích người tiêu
dùng, xu thế tiêu dùng, áp lực cạnh tranh trên thị trường, chính sách của Chính Phủ,
ngành nghề kinh doanh….
1.2.5.2. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp
Bô phận lãnh đạo
Trong quá trình xây dựng và quản lý doanh nghiệp, nhà lãnh đạo sẽ có vai trò
quyết định trong việc hình thành và phát triển bản sắc riêng của doanh nghiệp. Nhà
lãnh đạo doanh nghiệp được coi là người tạo ra nét đặc thù của văn hóa doanh nghiệp.
Trong các nhà lãnh đạo thì người sáng lập doanh nghiệp là người có ảnh hưởng
quyết định nhất đến việc tạo dựng giá trị văn hóa doanh nghiệp. Những người sáng lập
doanh nghiệp là người hình thành triết lý kinh doanh, xây dựng phong cách lãnh đạo,
tạo dựng các giá trị cốt lõi của doanh nghiệp và truyền đạt các triết lý, giá trị cốt lõi đó
cho các thành viên khác, đảm bảo duy trì các giá trị đó qua nhiều thế hệ khác nhau.

17


Giá trị văn hóa của một doanh nghiệp có thể thay đổi khi có sự thay đổi về đội
ngũ lãnh đạo. Cùng với sự thay đổi về cơ cấu tổ chức, đội ngũ nhân sự, chiến lược
kinh doanh…có thể sẽ dẫn đến sự thay đổi cơ bản về văn hóa doanh nghiệp. Bởi văn
hóa doanh nghiệp là sự phản chiếu tư tưởng, triết lý kinh doanh của nhà lãnh đạo
doanh nghiệp nên sự thay đổi văn hóa doanh nghiệp giữa các thế hệ lãnh đạo là một tất
yếu khách quan.
Tuy nhiên, sự thay đổi cơ bản giá trị văn hóa doanh nghiệp có thể dẫn đến nhiều
sự thất bại hơn là sự thành công. Thực tế đã chứng minh nhiều doanh nghiệp trên thế
giới có thể trường tồn là do họ xây dựng và giữ gìn được các giá trị và mục tiêu cốt lõi.
Nói cách khác, văn hóa doanh nghiệp tại các doanh nghiệp này đã được các thế hệ lãnh
đạo kế cận giữ gìn qua nhiều thế hệ.
Quy mô của doanh nghiệp
Quy mô của doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến mô hình văn hóa doanh nghiệp
muốn theo đuổi. Chẳng hạn, với bốn mô hình văn hóa của Trompenaars, thì các doanh
nghiệp có quy mô nhỏ thường ưu tiên sử dụng mô hình văn hóa gia đình và mô hình lò
ấp trứng còn các doanh nghiệp lớn có cơ cấu chặt chẽ thường thích hợp với mô hình
Effiel hay tên lửa dẫn đường.
Lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp
Lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp là cả một quá trình lâu dài và
sự nỗ lực xây dựng và vun đắp cho doanh nghiệp. Đó là niềm tự hào cho các thành
viên trong doanh nghiệp và trở thành những giai thoại còn sống mãi cùng sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp.
Ngành nghề kinh doanh
Ngành nghề kinh doanh có tác động rất lớn tới sự xây dựng và phát triển văn hóa
của mỗi doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp tham gia vào ngành nghề kinh doanh khác
nhau, họ sẽ có cách ứng xử khác nhau, từ đó có chuẩn mực và giá trị khác nhau. Và
những đặc trưng đó có thể trở thành biểu tượng của doanh nghiệp, thành đặc điểm
khiến mọi người dễ nhận và dễ nhớ nhất.
Những giá trị văn hóa học hỏi đƣợc
Trong quá trình hình thành và phát triển, có rất nhiều yếu tố khác tác động đến sự
hình thành, phát triển hay thay đổi văn hóa doanh nghiệp, những yếu tố này được các
nhà lãnh đạo doanh nghiệp, từng thành viên hay tập thể học hỏi dựa vào kinh nghiệm
của mình. Chúng được hình thành một cách vô thức và ảnh hưởng đến văn hóa doanh
nghiệp theo hai chiều hướng cả tích cực và tiêu cực. Những giá trị học hỏi được bao
gồm:
18

Thang Long University Library


Những giá trị văn hóa được tiếp nhận trong quá trình giao lưu với các nền văn
hóa khác. Cùng với quá trình toàn cầu hóa kinh tế, các giá trị văn hóa trên thế giới
được giao thoa với nhau, các thành viên của các dân tộc khác nhau có thể học hỏi lẫn
nhau những giá trị văn hóa của dân tộc khác để làm phong phú thêm văn hóa của dân
tộc mình. Xét trong phạm vi một doanh nghiệp, chẳng hạn sự đa dạng về nguồn gốc
lao động cũng có thể làm thay đổi văn hóa của một doanh nghiệp. Ngày nay, một công
ty Mỹ mang văn hóa Nhật Bản hay một công ty Nhật Bản mang văn hóa Mỹ không có
gì là quá xa lạ.
Rất nhiều doanh nghiệp lúc hình thành thì nó chưa định hình rõ ràng các giá trị
văn hóa, nhưng qua thời gian các giá trị văn hóa được hình thành một cách tự phát
thông qua những kinh nghiệm tập thể khi xử lý các vấn đề chung, sau đó được phổ
biến trong toàn doanh nghiệp và được truyền lại cho các thế hệ sau và trở thành các giá
trị truyền thống. Đây cũng là một dạng của những giá trị văn hóa học hỏi được.
Ngoài ra, còn rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành văn hóa doanh
nghiệp như khách hàng, đối tác và đối thủ cạnh tranh, chế độ đãi ngộ, hệ thống quản lý
và chia sẻ thông tin, các nguồn nhân lực, công nghệ, sản phẩm của doanh nghiệp.
1.2.6. Quy trình xây dựng văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp thường được hình thành theo sự hình thành của doanh
nghiệp và doanh nghiệp nào cũng có văn hóa của riêng mình. Tuy nhiên, văn hóa được
hình thành một cách tự phát trong doanh nghiệp có thể không phải là văn hóa mạnh,
thích nghi hay giống với văn hóa mà công ty muốn đặt dược. Vì vậy doanh nghiệp có
thể tiến hành các bước cơ bản sau để xây dựng văn hóa mang bản sắc riêng cho doanh
nghiệp là:
Bƣớc 1: Phổ biến kiến thức chung
Phổ biến kiến thức chung là bước chuẩn bị quan trọng cho quá trình xây dựng
văn hóa doanh nghiệp. Nếu chỉ có ban lãnh đạo hiểu về văn hóa doanh nghiệp là chưa
đủ mà phải tất cả nhân viên đều hiểu và thấy được lợi ích của văn hóa doanh nghiệp thì
việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp mới hiệu quả.
Ở giai đoạn này, doanh nghiệp tập trung phổ biến kiến thức chung về văn hóa
doanh nghiệp như khái niệm, các cấp độ, tác động của văn hóa doanh nghiệp…cho tất
cả các nhân viên của doanh nghiệp, từ lãnh đạo cấp cao đến toàn thể nhân viên của các
phòng ban biết. Doanh nghiệp có thể tổ chức các hoạt động để phổ biến các kiến thức
này như thuê tổ chức, chuyên gia hoặc doanh nghiệp tự giảng dạy các khóa học, buổi
nói chuyện, hội thảo về văn hóa, phát động các cuộc thi tìm hiểu và nêu ý tưởng về
văn hóa doanh nghiệp…
19


Bƣớc 2: Định hình văn hóa doanh nghiệp
Đây là một bước quan trọng trong quá trình xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Ở
giai đoạn này, doanh nghiệp xác định nội dung cụ thể của các yếu tố cấu thành nên văn
hóa doanh nghiệp, đó chính là thứ tạo ra bản sắc văn hóa riêng để doanh nghiệp đạt
được mục tiêu của mình và quảng bá ra công chúng. Cụ thể, doanh nghiệp phải xác
định được triết lý kinh doanh và các giá trị cốt lõi, chuẩn mực, các giai thoại, lễ nghi,
biểu tượng, các yếu tố hữu hình…Trong đó, giá trị văn hóa là nội dung quan trọng
nhất, có ảnh hưởng quyết định tới toàn bộ các nội dung xây dựng văn hóa khác.
Trong giai đoạn này, người lãnh đạo công ty có vai trò rất lớn, tạo ra sự thành
công hay thất bại trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Nếu người lãnh đạo
doanh nghiệp xác định các giá trị, chuẩn mực văn hóa phù hợp với mục tiêu của doanh
nghiệp và môi trường kinh doanh thì sẽ tạo bước đà thúc đẩy cho sự phát triển bền
vững của doanh nghiệp. Để định hình thành công, doanh nghiệp phải tự mình hoặc kết
hợp với các chuyên gia tư vấn thực hiện nhưng không nên thuê hoàn toàn các đối tác
thực hiện.
Bƣớc 3: Triển khai xây dựng
Doanh nghiệp cần tiến hành từng bước nhưng đồng bộ và kiên trì các hoạt động
tuyên truyền các nội dung của văn hóa doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể tạo điều
kiện cho các thành viên thực hiện một cách tự nguyện hoặc tiến hành một số biện pháp
bắt buộc để tạo thói quen thực hiện theo đúng văn hóa mong muốn. Bên cạnh đó,
doanh nghiệp có thể thực hiện việc thay đổi các yếu tố hữu hình như kiến trúc văn
phòng, nơi làm việc, biểu tượng, đồng phục, thẻ nhân viên…sao cho phù hợp với văn
hóa của mình. Giai đoạn này giúp hình thành những đặc trưng văn hóa doanh nghiệp,
làm cho các nhân viên nhận biết các giá trị văn hóa của doanh nghiệp mình.
Bƣớc 4: Ổn định và phát triển văn hóa
Sau khi định hình và tuyên truyền văn hóa xong, tạo ra được bản sắc văn hóa
riêng là doanh nghiệp đã xây dựng thành công văn hóa doanh nghiệp. Tuy nhiên, để có
thể tạo lợi thế cạnh tranh bền vững, tạo ra sự trường tồn cho doanh nghiệp, doanh
nghiệp phải thực hiện các biện pháp duy trì văn hóa và liên tục đánh giá, thay đổi văn
hóa cho phù hợp với môi trường. Doanh nghiệp cần thường xuyên tổ chức các hoạt
động tuyên truyền nội bộ, quảng bá ra bên ngoài, tôn vinh những cá nhân , tập thể,
những hành vi phù hợp với văn hóa doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải
thường xuyên cập nhật thông tin, đánh giá môi trường kinh doanh và môi trường nội
bộ để tiếp tục duy trì, thay đổi văn hóa cho phù hợp, xóa bỏ, thay thế những yếu tố văn
hóa không còn phù hợp với môi trường mới.
20

Thang Long University Library


KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hóa được gây dựng nên trong
suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các
quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động doanh nghiệp ấy và chi phối
tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của các thành viên của doanh nghiệp trong việc theo
đuổi và thực hiện các mục đích chung.
Văn hóa doanh nghiệp được biểu hiện ở 2 cấp độ: Những quá trình và cấu trúc
hữu hình, những giá trị được chấp nhận và những quan niệm chung. Để hiểu được văn
hóa doanh nghiệp cần phải đi sâu tìm hiểu cả 2 cấp độ của văn hóa doanh nghiệp trong
đó quan trọng nhất là những quan niệm chung chi phối suy nghĩ, nhận thức và hành
động của doanh nghiệp và nhân viên, là nguồn gốc của bản chất văn hóa doanh nghiệp.
Có mối liên hệ mật thiết giữa 2 cấp độ của văn hóa và đồng thời với các phương tiện
thể hiện ra văn hóa: phong cách ứng xử, giao tiếp, ra quyết định và phong cách làm
việc.
Xây dựng văn hóa doanh nghiệp trải qua 4 bước, đầu tiên là phổ biến kiến thức
chung, sau đó công ty phải định hình văn hóa doanh nghiệp, triển khai xây dựng và
cuối cùng là ổn định và phát triển văn hóa.
Văn hóa dân tộc có ảnh hưởng to lớn đến việc hình thành bản sắc văn hóa riêng,
đặc thù cho văn hóa doanh nghiệp trong thời đại hội nhập ngày nay. Trong các tập
đoàn quốc gia, văn hóa doanh nghiệp bao gồm văn hóa cốt lõi mang tính chất thống trị
và văn hóa thành phần. Văn hóa thống trị có tính chất quyết định văn hóa của tập đoàn,
văn hóa thành phần phát triển phù hợp với tính cách dân tộc, vị trí địa lý của quốc gia
mà tập đoàn đa quốc gia đang hoạt động.
Văn hóa doanh nghiệp là tài sản vô hình của doanh nghiệp, có vai trò to lớn trong
sự nghiệp phát triển của doanh nghiệp, là nền tảng, là mục tiêu, là động lực và là hệ
điều tiết của sự phát triển; là bản sắc, thương hiệu của doanh nghiệp. Xuất phát điểm
của doanh nghiệp rất cao nếu doanh nghiệp được xây dựng trên nền tảng văn hóa.
Vai trò, phẩm chất, năng lực của người lãnh đạo là yếu tố quan trọng trong việc
xây dựng, duy trì và phát huy văn hóa doanh nghiệp. Bên cạnh đó là vai trò, sức mạnh
của chuẩn mực, các giá trị, sự nỗ lực, đồng thuận của toàn thể nhân viên trong quá
trình này. Và việc xác định một cách rõ ràng quy trình xây dựng văn hóa doanh nghiệp
cũng rất quan trọng, nó quyết định thành bại trong việc xây dựng văn hóa doanh
nghiệp của công ty.

21


CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI
CÔNG TY TNHH ĐỨC DƢƠNG
2.1. Khái quát về Công ty TNHH Đức Dƣơng
2.1.1. Giới thiệu chung về Công ty TNHH Đức Dương
Tên công ty

: Công ty TNHH Đức Dương

Tên giao dịch

: DUC DUONG CO.LTD

Địa chỉ

: khu 2, Thị Trấn Minh Tân, Huyện Kinh Môn, Hải Dương

Fax

: 03203520193

Điện thoại

: 03203821374

Công ty được thành lập

: 01/07/2002

Công ty được cấp giấy phép kinh doanh ngày 28/06/2002
Mã số thuế

: 0800263544

Đại diện công ty

: Nguyễn Đức Tâm

Vốn điều lệ

: 150.000.000.000

Vốn pháp định

: 6.000.000.000

2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Đức Dương
Công ty thành lập theo giấy phép kinh doanh ngày 28 tháng 06 năm 2002, có
giấy chứng nhận đăng kí thuế số 0800263544 ngày 28/06/2002.
Khi mới thành lập, công ty hoạt động với quy mô nhỏ và hoạt động đầu tư diễn
ra chậm với một dự án đầu tiên là dự án khu đo thị Minh Tân. Sau khi hoàn thành đầu
tư dự án này, công ty đã đẩy mạnh tìm kiếm thị trường và xây dựng thêm nhiều dự án
do công ty đầu tư hoặc nhận thi công cho đối tác. Vào năm 2013, Công ty đã bỏ vốn
đầu tư 2 dự án khu dân cư, dịch vụ, thương mại, văn hóa, thể thao Minh Tân – Kinh
Môn – Hải Dương (hay còn gọi là khu đô thị Minh Tân) và dự án trung tâm thương
mại, chợ dân sinh và dân cư phía Nam Hải Hà – thị trấn Quảng Hà – Móng Cái –
Quảng Ninh. Đồng thời công ty đã kí kết 2 hợp đồng xây dựng 2 dự án là dự án khu
biệt thự và khách sạn phía Tây cầu Bãi Cháy – Hạ Long – Quảng Ninh và dự án khu
dân cư xã Hồng Phong – Đông Triều – Quảng Ninh. Đến nay công ty cũng đã đạt
được những thành tựu nhất định với những khoản lợi nhuận cao. Bên cạnh đó công ty
còn đạt được những thành tích tốt như: được UBND tỉnh Hải Dương, Hội doanh
nghiệp trẻ tỉnh Hải Dương và một số tổ chức khác chứng nhận và tặng bằng khen. Qua
đó có thể thấy vị trí của công ty trên thị trường kinh doanh bất động sản trong tỉnh Hải
dương và trên thị trường cả nước, khẳng định sự phát triển vững bền và trường tồn
cùng thời gian của công ty.
22

Thang Long University Library


Trong quá trình hoạt động và phát triển, công ty đã đạt được không ít các danh
hiệu thi đua do Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương và nhiều tổ chức khác chứng nhận và
khen tặng. Sau đây là một số danh hiệu mà công ty đã đạt được:
Ban chấp hành Công đoàn ngành công nghiệp Hải Dương chứng nhận Công doàn
Công ty TNHH Đức Dương: Đạt tiêu chuẩn công đoàn cơ sở vững mạnh năm 2005
theo quyết định số 73 ngày 22/12/2005.
Ban tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt “Người là niềm tin tất thắng” – tạp
chí truyền hình Ban văn nghệ đài truyền hình Việt Nam và công ty văn hóa – thông tin
Thăng Long – tặng kỉ niệm chương cảm ơn Công ty TNHH Đức Dương là nhà đồng
tài trợ đồng thời cảm ơn Giám đốc Công ty TNHH Đức Dương là Ông Nguyễn Đức
Tân đã đóng góp vào thành công chương trình “Người là niềm tin tất thắng” kỷ niệm
113 năm ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh 19/05/1890 – 19/05/2005.
Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương tặng bằng khen cho Ông Nguyễn Đức Tâm –
Giám đốc Công ty TNHH Đức Dương đã có thành tích xuất sắc trong hoạt động Hội
và các hoạt động xã hội trên địa bàn 5 năm từ năm 2003 đến năm 2008 theo quyết định
số 3619/QĐ – UBND.
Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương chứng nhận công ty TNHH Đức
Dương là Hội viên chính thức của Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương với
số hội viên là 229 – chứng nhận ngày 14/04/2008.
Ủy ban nhân dân huyện Kinh Môn – tỉnh Hải Dương tặng giấy khen công ty
TNHH Đức Dương – Đơn vị có thành tích đóng góp vảo các loại quỹ là làm tự thiện
xã hội ngày 13/10/2008.
Ủy ban trung ương Hội doanh nhân trẻ Việt Nam tặng bằng khen cho Ông
Nguyễn Đức Tâm – Ủy viên ban Hội doanh nhân trẻ Việt Nam đã có thành tích xuất
sắc trong công tác Hội và phong trào doanh nhân trẻ 2010.
Đến nay, sau 13 năm hoạt động, Công ty TNHH Đức Dương đã gặt hái được rất
nhiều thành công, công ty hoạt động trải khắp các tỉnh đông Bắc Bộ như Hải Dương,
Quảng Ninh, Hải Phòng…Tạo được niềm tin nơi khách hàng, có uy tín trên thị trường
cũng những thành quả được xã hội công nhận. Đồng thời góp nhiều cho sự phát triển
kinh tế tỉnh Hải Dương, được công nhận là cơ sở Đoàn vững mạnh, là công ty đóng
góp vào quỹ và làm từ thiện, đồng thời là hội viên chính thức của Hội doanh nghiệp
nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương. Công ty TNHH Đức Dương đã, đang và sẽ luôn giữ vững
các danh hiệu thi đua của mình trên thị trường BĐS, đồng thời sẽ cố gắng phát triển
hơn nữa để đạt được nhiều thành tích, giành được nhiều danh hiệu thi đua mang tầm
xứng đáng với tiềm năng và sự nỗ lực của toàn công ty.
23


2.1.3. Các lĩnh vực kinh doanh
 Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi; mua bán
và chế biến khoáng sản.
 Mua bán vật liêu xây dựng (đá, đất, gạch, ngói, cát sỏi, sắt thép Clinker, xi
măng)
 Kinh doanh hạ tầng khu đô thị, xây dựng đường dây tải điện và trạm biến thế
đến 35 KV
 Kinh doanh dịch vụ khách sạn, nhà hàng ăn uống, giải khát; dịch vụ vui chơi
giải trí, sân thể thao bể bơi, dịch vụ massage.
2.1.4. Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các phòng ban của Công ty
TNHH Đức Dương
2.1.4.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Đức Dƣơng
GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

Phòng kinh
doanh và quản

Phòng kế
toán tài

Phòng kế
hoạch

Các ban
quản lý

lý nhà đất

chính

đầu tư

dự án

Phòng tổ chức

Phòng

- hành chính

bảo vệ

Đội thiết

Các đội

bị thi công

xây dựng

Các đội
kĩ thuật

(Nguồn: Phòng tổ chức - hành chính)
24

Thang Long University Library


2.1.4.2. Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
 Giám đốc:
 Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển doanh nghiệp cũng như những
kế hoạch dài hạn và ngắn hạn;
 Hàng năm tổ chức thực hiện kế hoạch, các phương án kinh doanh;
 Tổ chức điều hành mọi hoạt động của công ty và chịu trách nhiệm về kết
quả kinh doanh của toàn công ty.
 Phó giám đốc: có chức năng trợ lý giám đốc, giúp giám đốc điều hành hoạt
động của công ty theo sự phân công của giám đốc.
 Phòng kinh doanh và quản lý nhà đất:
 Có chức năng lập các kế hoạch kinh doanh và triển khai thực hiện kế hoạch,
thiết lập, giao dịch trực tiếp với hệ thống khách hàng, hệ thống đối tác, thực
hiện hoạt động bán hàng tới các khách hàng nhằm mang lại doanh thu cho
công ty.
 Phối hợp với các bộ phận liên quan đến như kế toán, quản lý dự án,…nhằm
mang đến các dịch vụ đầy đủ nhất cho khách hàng.
 Dự báo thường xuyên về cung cầu, giá cả hàng hóa trên thị trường BĐS
trong phạm vi toàn quốc nhằm phục vụ cho hoạt động xây dựng, kinh
doanh của công ty.
 Phòng kế hoạch đầu tư:
 Lập hồ sơ dự thầu, lập dự toán, bóc tách dự toán và thẩm định dự toán;
 Lập dự án đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh ngắn hạn, dài hạn, quản lý
các dự án đầu tư đã và đang thực hiện đảm bảo hiệu quả nhất;
 Lập các dự án, phương án kinh doanh, liên kết, hợp tác với các đối tác trong
và ngoài nước thuộc lĩnh vực đầu tư kinh doanh;
 Quan hệ đối ngoại, tìm kiếm, xây dựng kế hoạch các dự án xây dựng công
trình giao thông, xây dựng công nghiệp, xây dựng khu đô thị, khu dân cư,
khách sạn…
 Giao cho các đơn vị đội thi công, triển khai thực hiện hợp đồng thi công;
 Theo dõi kế hoạch thi công, chất lượng công trình, quản lý nguồn nhân lực,
quản lý máy móc thiết bị, phương tiện vận tải và các chi phí khác;
 Trình giám đốc duyệt các dự án đầu tư của công ty.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×