Tải bản đầy đủ

GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH PHÚ XUYÊN

CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY
TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Nghiệp vụ cho vay tiêu dùng của ngân hàng thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng
Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động chính của ngân hàng thương
mại, một hoạt động rất phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro. Trong hoạt động cho vay,
nếu hành động chủ quan duy ý chí sẽ dẫn đến những tổn thất nặng nề cho ngân hàng.
Vì vậy, để có một quyết định cho vay đúng đắn, tiết kiệm thời gian, chi phí cho ngân
hàng và khách hàng, đảm bảo an toàn vốn trong kinh doanh ngân hàng thì hoạt động
cho vay đòi hỏi ngân hàng phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cho vay vốn.
Tại khoản 16, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do Quốc hội
ban hành đưa ra định nghĩa về cho vay: Cho vay tại NHTM là sự chuyển nhượng tạm
thời một lượng giá trị từ người sở hữu (NHTM) sang người sử dụng (khách hàng), sau
một thời gian nhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu [6].
Như vậy, về cơ bản quan hệ cho vay bao gồm hai mối quan hệ là cho vay và
hoàn trả. Mối quan hệ cho vay chỉ được hoàn tất khi người đi vay đã hoàn trả cả gốc
và lãi cho người cho vay khi kết thúc quá trình cho vay. Lượng giá trị dôi ra này được
gọi là lợi tức cho vay.
Do đó dựa trên các tiêu thức khác nhau thì người ta có thể phân chia cho vay làm
nhiều loại. Nếu dựa vào mục đích sử dụng vốn vay, có thể chia cho vay thành cho vay
kinh doanh và cho vay tiêu dùng. Thực tế có nhiều cách định nghĩa về CVTD khác

nhau. Theo PGS.TS Phan Thị Thu Hà định nghĩa về cho vay tiêu dùng: Cho vay tiêu
dùng (CVTD) là việc ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền theo
thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định để
sử dụng cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và các nhu cầu phục vụ đời sống khác [2].
Bên cạnh đó, theo PGS.TS Lê Văn Tề cho vay tiêu dùng được hiểu như sau: Cho
vay tiêu dùng là khoản cho vay để phục vụ nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao
gồm các cá nhân và hộ gia đình. Để được chi tiêu, sử dụng những loại hàng hóa và
dịch vụ mong muốn như nhà ở, phương tiện đi lại, du lịch, y tế,… trước khi có khả
năng chi trả thì người tiêu dùng phải tuân thủ những thỏa thuận đã kí kết với ngân
hàng (về số tiền cấp, thời gian cấp, lãi suất phải trả,…). Ngân hàng cung cấp dịch vụ
cho vay tiêu dùng giúp người tiêu dùng có cuộc sống đầy đủ và sung túc hơn [5].
Chính vì vậy, cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp cho khách
hàng (người tiêu dùng) có thể trang trải được những nhu cầu trong cuộc sống như nhu
cầu về nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, dịch vụ y tế…
1

Thang Long University Library


CVTD là một hoạt động rất tiềm năng, vì vậy ngân hàng nên đẩy mạnh, phát triển hiệu
quả hoạt động cho vay này. Việc nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của hoạt động
CVTD kết hợp với điều kiện thực tế của nước ta sẽ thúc đẩy hoạt động CVTD và đem
lại hiệu quả thiết thực cho ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Mặt khác cho vay tiêu dùng thúc đẩy gia tăng bán hàng ở những người bán lẻ, tạo
ra yếu tố kích thích sản suất phát triển. Đồng thời ngân hàng đã đáp ứng được một thị
trường rộng lớn, khi mà hầu hết người tiêu dùng mua sắm trước, sau đó mới dàn xếp
nguồn tài trợ, qua đó ngân hàng có thể đạt được những nguồn lợi tức đáng kể nhất là
trong xu thế của sự gia tăng về lợi tức và chi phí tiêu dùng hiện nay.
1.1.2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
Hoạt động CVTD tài trợ cho mục đích chi tiêu của khách hàng trong đời sống
như mua nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt, phương tiện đi lại; nâng cấp sửa chữa nhà cửa;
trang trải cho việc học tập trong và ngoài nước của học sinh, sinh viên; trang trải các
khoản viện phí; chi phí cho chuyến du lịch… Hiện nay, cho vay tiêu dùng có xu hướng
tăng lên mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng. Tuy nhiên không phải ngân hàng nào
tích cực mở rộng hình thức cho vay này, điều này được lý giải thông qua các đặc điểm
của cho vay tiêu dùng.
Khách hàng của hoạt động CVTD là các cá nhân và hộ gia đình, đối tượng của
hoạt động này là các nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Khác với hoạt động cho vay
doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế thì khách hàng của CVTD có số lượng lớn và nhu
cầu vay có liên hệ trực tiếp với thu nhập và trình độ văn hóa của họ. Nếu thu nhập của

khách hàng cao, họ sẽ có xu hướng tăng tiêu dùng và ngược lại. Nhu cầu vay tiêu dùng
của khách hàng còn phụ thuộc vào môi trường kinh tế, văn hóa xã hội.
Tùy thuộc vào hình thức vay vốn và mục đích vay mà các khoản vay của CVTD
có thời hạn: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Tuy nhiên, khách hàng hiện nay thường vay
để mua nhà, mua xe ôtô, đi du học vì vậy các khoản vay có hình thức trung và dài hạn
chiếm tỷ trọng lớn. Vì vậy, các khoản vay tiêu dùng thường được thẩm định rất kỹ
càng và giám sát chặt chẽ. Nhiều ngân hàng lập riêng phòng chuyên trách để theo dõi
các khoản vay này để giảm thiểu rủi roc ho ngân hàng.
Khách hàng của hoạt động CVTD có số lượng lớn nhưng quy mô của từng hợp
đồng lại nhỏ hơn quy mô của các hoạt động cho vay khác do nguồn tài trợ chủ yếu
phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của khách hàng. Điều này dẫn tới chi phí mà
ngân hàng bỏ ra cho một hợp đồng vay là cao (bao gồm chi phí giao dịch, thẩm định,
xét duyệt, quản lý khoản vay,…). Ngoài ra vì khách hàng của CVTD là cá nhân và hộ
gia đình nên việc tìm kiếm các thông tin về tài chính của khách hàng cũng khó khăn và
tốn nhiều chi phí hơn các hoạt động cho vay khác.
2


Do việc tìm kiếm và thẩm định thông tin của khách hàng cá nhân, hộ gia đình
khó khăn hơn so với nhóm khách hàng khác nên việc quản lý, kiểm soát vốn vay của
khách hàng trong CVTD cũng gặp nhiều rủi ro hơn. Hơn nữa, tình hình của khách
hàng CVTD có thể thay đổi tùy theo tình trạng sức khỏe và công việc của họ nên
nguồn trả nợ cho ngân hàng thường không ổn định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
như chu kì nền kinh tế, cơ cấu kinh tế, trình độ khách hàng. Nếu một trong những yếu
tố kể trên có những biến động ngược lại với dự đoán của ngân hàng sẽ gây ra rủi ro
cho hoạt động CVTD.
Lãi suất CVTD thường cao hơn các khoản vay khác của NHTM. Nguyên nhân là
do các chi phí của CVTD lớn và các khoản vay của CVTD có mức độ rủi ro cao.
Thông thường đa phần các khoản CVTD được định giá dựa trên lãi suất cơ bản cộng
với mức lợi nhuận cận biên và phần bù rủi ro. Nhu cầu tiêu dùng của khách hàng
thường ít co dãn với lãi suất. Mặc dù vậy, khi mà hoạt động CVTD được các NHTM
chú trọng nhiều, cạnh tranh gay gắt hơn thì lãi suất vẫn là yếu tố giúp cho các ngân
hàng có thể thu hút được khách hàng và tăng khả năng cạnh tranh.
Tài sản đảm bảo là điều kiện quan trọng để ngân hàng ra quyết định cho khách
hàng vay vốn cũng như quy mô của khoản vay. Do hoạt động CVTD có rủi ro cao nên
các khoản vay có TSĐB hoặc được người thứ ba bảo lãnh sẽ làm tăng mức độ tin cậy
hơn, đồng thời giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro hơn các khoản vay không có TSĐB.
Tuy nhiên hiện nay để thu hút khách hàng thì ngân hàng cũng cho khách hàng vay mà
không cần có TSĐB.
1.1.3. Vai trò của cho vay tiêu dùng
Hình thức cho vay tiêu dùng ngày càng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là đối với
những ngân hàng mới thành lập, có quy mô nhỏ, uy tín chưa cao trên thị trường. Các
ngân hàng này khó có thể cạnh tranh với những ngân hàng lâu năm, có quy mô vốn
lớn, có uy tín cao trên thị trường. Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng có tác
động ảnh hưởng rất lớn đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với người tiêu dùng
và nền kinh tế.
Đối với ngƣời tiêu dùng
CVTD có ý nghĩa rất lớn đối với khách hàng là người tiêu dùng, đặc biệt là
những người có thu nhập trung bình thấp, thông qua nghiệp vụ cho vay tiêu dùng giúp
cho họ có khả năng mua sắm những hàng hóa cần thiết có giá trị cao, thỏa mãn nhu
cầu tiêu dùng và cải thiện được đời sống.
Thực tế cho thấy có rất nhiều nhu cầu mang tính tự nhiên, thiết yếu, có ý nghĩa
quan trọng trong cuộc sống đối với các cá nhân và hộ gia đình. Những nhu cầu này
sớm muộn gì người tiêu dùng cũng cần phải được thỏa mãn. Ví dụ như nhu cầu về
3

Thang Long University Library


mua sắm sửa chữa nhà ở, các đồ dùng tiện nghi sinh hoạt, các phương tiện đi lại như
xe máy, ô tô, chuẩn bị tiệc lễ, ma chay, học hành, du học… Nhu cầu thiết yếu của
người tiêu dùng nhiều, cải thiện thường được tích lũy theo thời gian, do vậy khả năng
tài chính của người dân bị giới hạn, nảy sinh nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa,
tiện nghi sinh hoạt,… khi lớn tuổi. Khi đó lợi ích cảm nhận được sự hưởng thụ thường
có xu hướng giảm xuống. Do đó, người tiêu dùng sẽ tìm cách để phối hợp khéo léo
giữa việc thỏa mãn các nhu cầu với yếu tố thời gian và khả năng thanh toán của hiện
tại và tương lai. Điều này có nghĩa là người tiêu dùng sẽ tìm cách để hưởng thụ trước
số tiền sẽ có trong tương lai. Việc mượn tiền trước của ngân hàng để tiêu dùng người
dân phải trả lãi thực chất cũng chỉ là cách quy đổi dòng tiền mà ta sẽ có tại một thời
điểm nào đó trong tương lai về thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, nếu lạm dụng CVTD có
thể làm cho người đi vay chi tiêu vượt quá mức cho phép, làm giảm khả năng tiết kiệm
và chi tiêu trong tương lai.
Hiện nay, khi các ngân hàng ngày càng chú trọng đến hoạt động CVTD ngoài
việc thỏa mãn được nhu cầu tiêu dùng của mình, khách hàng được hưởng rất nhiều ưu
đãi cũng như tiện ích. Khách hàng có thể vay vốn với nhiều kì hạn khác nhau và thỏa
thuận mức lãi suất vay phù hợp với mục đích vay của mình, có thể sử dụng các dịch vụ
khác như chuyển tiền, mở thẻ ATM, Master Card, Mobile Banking… Đối với khoản
vay tiêu dùng tại ngân hàng, khách hàng sẽ có trách nhiệm và ý thức trả nợ, đó là động
lực để phấn đấu, để nâng cao thu nhập trong tương lai. Hoạt động CVTD giúp cải
thiện đời sống dân cư, giúp họ có cuộc sống tiện nghi đầy đủ, tinh thần thoải mái hơn,
nâng cao chất lượng cuộc sống.
Đối với ngân hàng thƣơng mại
Với hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi có trách nhiệm hoàn trả và sử dụng tiền
đó để cho vay kiếm lời, các NHTM cần nỗ lực huy động vốn, bên cạnh đó cần phải
khai thác thị trường tín dụng một cách triệt để, nghĩa là tìm cách để đảm bảo khả năng
đáp ứng và trên cơ sở đó thỏa mãn tốt nhất, nhiều nhất các nhu cầu về cho vay của nền
kinh tế. Vì vậy, ngân hàng bỏ qua thị trường cho vay tiêu dùng là thiếu sót, tại đó quy
mô của một số nhu cầu nhỏ nhưng số lượng nhu cầu về cho vay xét theo lượng khách
hàng tiềm năng và theo sự đa dạng của nhu cầu tiêu dùng lại vô cùng lớn. Do đó, ngày
nay các NHTM luôn quan tâm và chú trọng phát triển loại hình này.
Bên cạnh đó, CVTD là công cụ marketing rất hiệu quả, nhiều người sẽ biết tới
ngân hàng hơn thông qua việc CVTD, ngân hàng thu hút khách hàng sử dụng thêm các
hình thức dịch vụ khác như chuyển tiền hoặc trả lương qua tài khoản tại ngân hàng để
thuận lợi cho hoạt động thanh toán lãi theo kì hạn, sử dụng các dịch vụ thẻ, quảng bá
thương hiệu ngân hàng thông qua khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động tiền
gửi từ dân cư cho ngân hàng.
4


Hơn nữa, xu hướng hoạt động của các NHTM là phát triển đa năng tổng hợp,
luôn tìm cách mở rộng các nghiệp vụ cũng như tung ra các sản phẩm mới. Việc thực
hiện và phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng vừa mở rộng được khách hàng cho vay,
tận dụng được nguồn vốn huy động một cách hiệu quả, vừa đa dạng hóa các sản phẩm,
dịch vụ ngân hàng. Từ đó ngân hàng tăng được sức mạnh trong cạnh tranh; đồng thời
tạo được những nét đặc trưng hấp dẫn riêng.
Đối với nền Kinh tế
CVTD có vai trò quan trọng trong việc kích cầu, tức là làm cho chi tiêu của dân
cư tăng lên, nhu cầu về hàng hóa dịch vụ phục vụ cho sinh hoạt cũng tăng lên. Khi cầu
về tiêu dùng tăng sẽ kích thích sản xuất phát triển, quy mô sản xuất tăng nhanh, mức
độ đổi mới phong phú về chất lượng ngày một lớn. Bên cạnh đó CVTD làm tăng tính
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau. Ngoài ra, CVTD giúp đẩy mạnh tốc độ lưu
thông hàng hóa, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, do đó góp phần thúc
đẩy nền kinh tế phát triển.
Bên cạnh đó, CVTD góp phần nâng cao đời sống dân cư, người tiêu dùng được
thỏa mãn tốt hơn các nhu cầu vật chất, tinh thần, từ đó góp phần làm cho xã hội phát
triển lành mạnh hơn. Một xã hội mà người dân có cuộc sống đầy đủ tiện nghi sẽ phần
nào hạn chế được những hiện tượng tiêu cực như biểu tình, phản động, mất trật tự an
ninh, những hiện tượng vốn được coi là đặc trưng của xã hội bất ổn và lạc hậu.
Ngoài ra, CVTD phát triển làm tăng cơ hội làm ăn của các doanh nghiệp. Do
được hỗ trợ và khuyến khích, nhu cầu của khách hàng sẽ ngày càng đa dạng và phong
phú hơn, vậy nên các nhà sản xuất có cơ sở để đưa ra những quyết định sản xuất kinh
doanh đúng đắn, phù hợp với nhu cầu của khách hàng, giúp cho hoạt động sản xuất
kinh doanh ngày càng phát triển bền vững.
CVTD góp phần cải thiện môi trường thanh toán, giảm lượng tiền mặt lưu thông
trên thị trường. Xét trên góc độ kinh tế vĩ mô, dịch vụ ngân hàng bán lẻ đẩy nhanh quá
trình lưu chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng lớn trong dân cư để phát triển kinh tế, cải
thiện đời sống người dân, hạn chế dùng tiền mặt và tiết kiệm chi phí thời gian, tiền bạc
cho xã hội.
1.1.4. Các hình thức cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng rất đa dạng và phong phú. Tùy theo tiêu thức khác nhau mà
cho vay tiêu dùng có thể chia thành:
1.1.4.1. Căn cứ vào mục đích cho vay
Theo mục đích vay, hoạt động CVTD được phân thành CVTD bất động sản và
CVTD thông thường.
5

Thang Long University Library


CVTD bất động sản: Các ngân hàng thường CVTD bất động sản để tài trợ cho
việc mua những tài sản thực như nhà cửa, khu căn hộ, trung tâm mua bán, khu văn
phòng, nhà kho, đất đai và các cơ sở vật chất khác. Trong hoạt động của ngân hàng,
cho vay bất động sản có thể là món cho vay xây dựng ngắn hạn, được thanh toán đủ
trong vài tháng hoặc vài tuần, cũng có thể là món cho vay dài hạn, kéo dài 20 – 30
năm. Quy mô trung bình của một món cho vay bất động sản thường lớn hơn nhiều so
với quy mô trung bình của các món vay thông thường, đặc biệt là cho vay kinh doanh
nhỏ. Đối tượng mà các ngân hàng hướng tới là các gia đình có thu nhập ổn định (6-10
triệu đồng/tháng). Ngân hàng cho vay tối đa 70-90% giá trị căn nhà trong thời gian 1030 năm, với tài sản thế chấp là những ngôi nhà mua trả góp, hoặc tài sản bảo lãnh của
người thân như cha, mẹ, anh, chị, em ruột… Dịch vụ mua nhà trả góp hay vay để xây,
sửa nhà khá thuận lợi, giải quyết được nhu cầu của nhiều gia đình.
CVTD thông thƣờng là những khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời
sống như mua sắm phương tiện đi lại, đồ dùng sinh hoạt, du lịch, học hành, y tế hoặc
giải trí… Những khoản vay thường có quy mô nhỏ, thời gian tài trợ ngắn, do đó mức
độ rủi ro đối với ngân hàng thấp hơn những khoản CVTD bất động sản. Các sản phẩm
CVTD thông thường bao gồm:
Cho vay mua xe ô tô thế chấp bằng chính xe mua: Là sản phẩm tín dụng hỗ trợ
nguồn vốn giúp khách hàng mua xe ô tô phục vụ nhu cầu đi lại, giao dịch và kinh
doanh, với tài sản thế chấp bằng chính xe mua.
Cho vay du học: Giúp khách hàng chuẩn bị nguồn tài chính kịp thời đáp ứng nhu
cầu học tập cho con em mình. Nhiều ngân hàng đang đẩy mạnh dịch vụ này nhằm thu
hút những gia đình có con em đi du học đến với mình thông qua việc kéo dài thời hạn
vay hay ưu đãi lãi suất.
Cho vay trả góp sinh hoạt tiêu dùng: Là sản phẩm tín dụng hỗ trợ nguồn vốn
giúp khách hàng mua sắm vật dụng gia đình, sửa chữa nhà ở, sửa chữa cơ giới, làm
kinh tế hộ gia đình, thanh toán học phí, đi du lịch, chữa bệnh, ma chay, cưới hỏi,… và
các nhu cầu thiết yếu khác trong cuộc sống.
Cho vay cầm cố, thế chấp sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá: Là sản phẩm tín dụng dành
cho khách hàng cá nhân sở hữu sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá và có nhu cầu cầm cố sổ
tiết kiệm, giấy tờ có giá để vay vốn hoạt động sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng.
1.1.4.2. Căn cứ vào cách thức hoàn trả
Căn cứ vào cách thức hoàn trả, cho vay tiêu dùng được phân thành CVTD trả
góp, CVTD phi trả góp và CVTD tuần hoàn.
Cho vay tiêu dùng trả góp: Là loại cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay
phải trả cho ngân hàng (bao gồm cả tiền gốc và lãi) làm nhiều lần, theo từng kì hạn
nhất định trong thời hạn cho vay. Loại cho vay này thường áp dụng đối với những
khoản vay lớn và thời hạn vay dài. Ví dụ vay để mua nhà, mua ô tô…
6


Cho vay tiêu dùng phi trả góp: Là một phương thức cho vay tiêu dùng mà
trong đó khách hàng chỉ thanh toán cho ngân hàng một lần khi đến hạn.
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là các khoản CVTD trong đó ngân hàng cho
phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được thấu chi dựa trên
tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng được thỏa thuận
trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được
ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo
một hạn mức tín dụng.
1.1.4.3. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ
Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ thì CVTD gồm hai loại là CVTD trực tiếp
và CVTD gián tiếp.
Cho vay tiêu dùng trực tiếp, bao gồm các phương thức:
Cho vay trả theo định kỳ, là phương thức trong đó khách hàng vay và trả trực tiếp
cho ngân hàng với mức trả và thời hạn trả mỗi lần được quy định khi cho vay. Khi
được cấp tiền vay, toàn bộ số tiền vay được ngân hàng ghi Nợ tài khoản cho vay và ghi
Có tài khoản tiền gửi cá nhân hoặc giao tiền mặt cho khách hàng.
Thấu chi, là nghiệp vụ cho phép một khách hàng rút tiền từ tài khoản vãng lai của
họ vượt quá số dư Có, tới một hạn mức đã được thỏa thuận. Đối với hình thức này,
khách hàng phải trả lãi trên số tiền mà họ sử dụng theo mức lãi suất đã thỏa thuận, tức
trên số dư Nợ thực tế của tài khoản vãng lai, không quy định cho các đối tượng là các
mặt hàng cụ thể nào và không đòi hỏi phải thanh toán nhiều lần bằng các phần bằng
nhau.
Thẻ tín dụng, là nghiệp vụ tín dụng trong đó ngân hàng phát hành thẻ cho những
người có tài khoản ở ngân hàng đủ điều kiện cấp thẻ và ấn định mức giới hạn tín dụng
tối đa mà người có thẻ được phép sử dụng. Phương thức thẻ tín dụng bao gồm sự thỏa
thuận ba bên: người giữ thẻ, ngân hàng và người bán hàng. Thẻ đã bảo đảm cho người
bán hàng một điều là người giữ thẻ đã được ngân hàng bảo lãnh một số tiền nhất định.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Được thực hiện bằng cách các nhà sản xuất hay
nhà cung ứng bán hàng hóa cho khách hàng và ngân hàng sẽ thanh toán thay người
mua hàng. Đây là hình thức phối hợp giữa ngân hàng và các tổ chức bán lẻ hàng hóa.
Sau đó định kỳ ngân hàng sẽ thực hiện thu nợ từng người vay.
1.1.4.4. Căn cứ vào hình thức đảm bảo tiền vay
Theo tính chất đảm bảo, CVTD có hai loại chính: Cho vay có đảm bảo bằng tài
sản và cho vay không có tài sản đảm bảo.

7

Thang Long University Library


Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo
như thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba. Đối với các
khách hàng không có uy tín cao đôi với ngân hàng khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo
đảm. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ
sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
Cho vay có đảm bảo bằng tài sản chủ yếu được thực hiện bởi các hình thức sau:
Cho vay cầm cố: Là hình thức ngân hàng cho khách hàng vay tiền với điều kiện
là khách hàng phải chuyển quyền kiểm soát TSĐB cho ngân hàng trong thời gian cam
kết.
Cho vay thế chấp: Trong hình thức này người vay phải chuyển các giấy tờ chứng
nhận sở hữu các TSĐB sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời hạn cam kết.
Đối với thế chấp bằng tài sản thì những tài sản mang thế chấp thường là bất động
sản như nhà cửa, quyền sử dụng đất hoặc là những động sản mà việc ngân hàng nắm
giữ không thuận tiện như ô tô, xe máy.
Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản: Là việc ngân hàng cho vay vốn
không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc không có bảo lãnh của người thứ ba về tài sản.
Trong trường hợp này, ngân hàng cho tổ chức cá nhân vay chủ yếu dựa vào uy tín
khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, có khả năng tài chính mạnh ngân hàng có
thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu
nợ thứ hai bổ sung. Mức vay tối đa không bảo đảm của mỗi loại hình tổ chức tín dụng
do NHNN quy định trong mỗi thời kỳ.
1.2. Đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thƣơng mại
1.2.1. Sự cần thiết của việc đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng
thương mại
Với tư cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế, hoạt động chủ yếu và
thường xuyên nhất là nhận tiền gửi và cho vay, để đảm bảo sự tồn tại và phát triển thì
hiệu quả của các khoản cho vay luôn là mối quan tâm hàng đầu của các NHTM. Đẩy
mạnh hoạt động CVTD là một xu thế tất yếu của ngân hàng khi nhu cầu tiêu dùng
ngày càng nhiều và song song là yêu cầu về chất lượng dịch vụ của khách hàng đối với
NHTM ngày càng cao. Các NHTM không ngừng đẩy mạnh hoạt động CVTD, đổi mới
về sản phẩm, dịch vụ cũng như cung cách phục vụ nhằm đáp ứng một cách nhanh
chóng, thuận tiện, an toàn những nhu cầu vốn và làm hài lòng khách hàng hơn nữa.
Ngân hàng hoạt động hiệu quả sẽ giúp nâng cao hình ảnh của ngân hàng trong mắt
khách hàng, giúp nâng cao uy tín của ngân hàng, từ đó giúp thu hút thêm nhiều khách
hàng đến với ngân hàng hơn và tăng khả năng cạnh tranh.
8


Hơn nữa, đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng giúp khách hàng được hưởng
các tiện ích trước khi tích lũy đủ tiền và đặc biệt quan trọng hơn, CVTD cần thiết cho
những trường hợp cá nhân có nhu cầu chi tiêu cấp bách, nhu cầu chi tiêu cho giáo dục,
y tế… Đối với thế hệ trẻ và người có thu nhập thấp, CVTD giúp họ có được một cuộc
sống ổn định ngay từ khi còn trẻ, bằng việc mua trả góp những gì cần thiết, tạo động
lực to lớn để làm việc, tiết kiệm, nuôi dưỡng con cái. Tuy nhiên, nếu lạm dụng CVTD
có thể làm cho người đi vay chi tiêu vượt quá mức cho phép, làm giảm khả năng tiết
kiệm và chi tiêu trong tương lai.
Ngoài ra, CVTD giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm
tăng khả năng huy động các loại tiền gửi cho ngân hàng, tạo điều kiện đa dạng hóa các
sản phẩm dịch vụ như: thẻ, các dịch vụ quản lí tiền mặt, tư vấn, chiết khấu. Ngoài ra,
đẩy mạnh hoạt động CVTD giúp ngân hàng tìm kiếm được lợi nhuận từ các khoản
vay, tăng thu nhập và phân tán rủi ro, góp phần quảng bá thương hiệu sản phẩm dịch
vụ, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng với các ngân hàng khác.
Bên cạnh đó, CVTD thúc đẩy thành phần tiêu dùng do đó gia tăng cầu trong
nước, trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội, hạn chế sự phụ thuộc vào cầu nước ngoài,
thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững hơn. CVTD thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc
làm và từ đó làm tăng thu nhập, tạo khả năng tiết kiệm, mở rộng cơ hội huy động vốn
và phát triển các dịch vụ ngân hàng.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng
thương mại
1.2.2.1. Nhóm các chỉ tiêu định tính
Đối với ngân hàng thương mại, một khoản cho vay tiêu dùng hiệu quả là khoản
cho vay đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ các bước trong quy trình cho vay; bên cạnh
đó, các thủ tục được xử lý thuận tiện và nhanh chóng cho khách hàng, nhưng vẫn đảm
bảo được những nguyên tắc an toàn và quy định nhất định.
Chất lượng nhân sự đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt
động của một ngân hàng. Một cán bộ có năng lực trình độ chuyên môn và kinh nghiệm
ngân hàng sẽ giảm thiểu được rủi ro khi cán bộ tín dụng đưa ra các kết quả thẩm định
đúng đắn, giúp đảm bảo hiệu quả cho vay của ngân hàng. Hơn nữa, cán bộ cần có tinh
thần, thái độ, đạo đức nghề nghiệp tốt thì trong quá trình tiếp cận phục vụ khách hàng
sẽ tạo cho khách hàng niềm tin và hình ảnh tốt trong mỗi khách hàng.
Hoạt động CVTD của ngân hàng luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro. Chính vì
vậy, công tác kiểm soát nội bộ đóng vai trò quan trọng trong việc nhận dạng, đo lường,
đánh giá các hoạt động để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa các rủi ro trong CVTD, qua
đó đề xuất những biện pháp quản lý rủi ro thích hợp, đẩy mạnh hoạt động CVTD của
9

Thang Long University Library


ngân hàng. Hoạt động kiểm soát nội bộ được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc sẽ
tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng.
Ngoài ra, uy tín của ngân hàng cũng là một chỉ tiêu đánh giá hoạt động CVTD
của ngân hàng. Uy tín chính là hình ảnh của ngân hàng trong mắt khách hàng, là đánh
giá của khách về các hoạt động của ngân hàng. Khách hàng thường lựa chọn những
ngân hàng lâu năm có hiệu quả kinh doanh tốt, an toàn và lành mạnh. Hơn nữa, ngân
hàng có uy tín tốt sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn, là tiền đề cho việc huy động
nguồn vốn lớn đến với ngân hàng với chi phí rẻ hơn và tiết kiệm được thời gian hơn.
Từ đó ngân hàng có nguồn lực cho hoạt động cho vay nói chung và CVTD nói riêng.
Một ngân hàng có chiến lược quản lý rủi ro CVTD hợp lý và đúng đắn, sẽ giúp
ngân hàng có thể nhận diện, đo lường trước được rủi ro có thể xảy ra, và có công tác
giám sát, kiểm soát chặt chẽ, nhằm đảm bảo được sự an toàn cho nguồn vốn cũng như
nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong việc đẩy mạnh hoạt động CVTD.
Hơn nữa, chính sách tín dụng hợp lý giúp cho hoạt động CVTD tăng trưởng hiệu
quả và bền vững nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát được rủi ro ngân hàng. Chính sách tín
dụng cần phù hợp với nhu cầu của khách hàng, nhận diện được các khách hàng tiềm
năng nhằm đưa ra những ưu đãi, hạn chế cho vay các khách hàng có khả năng mang
lại rủi ro cao, bên cạnh đó quy trình CVTD cũng phải phù hợp với quy định chung và
chuyên nghiệp hơn, thuận tiện hơn cho khách hàng.
Như vậy có thể nói các chỉ tiêu định tính phản ánh rủi ro CVTD tại NHTM là căn
cứ để đánh giá rủi ro CVTD một cách khái quát. Mặc dù vậy, để có được kết luận
chính xác hơn nữa thì phải dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu định lượng cụ thể bao
gồm các chỉ tiêu liên quan đến hoạt động CVTD của ngân hàng.
1.2.2.2. Nhóm các chỉ tiêu định lượng
Bên cạnh các chỉ tiêu định tính thì hoạt động CVTD còn được đánh giá qua các
chỉ tiêu định lượng như sau:
Doanh số CVTD thể hiện tổng lượng vốn mà ngân hàng đã cho các cá nhân, tổ
chức vay trong một thời kỳ cụ thể. Đây là chỉ tiêu phản ánh rõ nhất tốc độ mở rộng
CVTD. Doanh số này càng lớn chứng tỏ nhu cầu vay của khách hàng được đáp ứng tốt
hơn, đồng thời cho thấy khả năng tăng lợi nhuận từ hoạt động này của ngân hàng.
Doanh số CVTD * 100%
Tỷ trọng doanh số CVTD

=
Tổng doanh số cho vay

Doanh số thu nợ CVTD là chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng vốn đã cho
các cá nhân, tổ chức vay và được hoàn trả trong một thời kỳ cụ thể. Nếu doanh số cho
vay cao kèm theo doanh số thu nợ cũng cao thì đây được xem là các khoản vay tốt,
vòng quay vốn của ngân hàng là cao.
10


Doanh số thu nợ CVTD * 100%
Tỷ trọng doanh số thu nợ CVTD

=
Tổng doanh số thu nợ

Dƣ nợ CVTD phản ánh số vốn ngân hàng CVTD tại một thời điểm cụ thể. Nó
được tính trên số dư cuối kỳ trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Cùng với chỉ
tiêu doanh số cho vay, chỉ tiêu này cũng đánh giá mức độ tăng trưởng CVTD của ngân
hàng. Đây là chỉ tiêu mà ngân hàng theo dõi thường xuyên để biết tình hình sử dụng
vốn của khách hàng.
Tỷ trọng dư nợ CVTD

Tổng dư nợ CVTD * 100%
=

Tổng dư nợ cho vay

Chỉ tiêu dư nợ CVTD còn phản ảnh quy mô mở rộng CVTD và là cơ sở để xác
định thu nhập của ngân hàng từ hoạt động này. Tuy nhiên, dư nợ CVTD cuối kỳ cao
cũng chưa thể đánh giá hiệu quả CVTD là tốt được. Chỉ tiêu này phải kết hợp với các
chỉ tiếu khác để có thể đánh giá một cách toàn diện hiệu quả CVTD.
Nếu cả hai chỉ tiêu trên đều cao và tốc độ tăng trưởng của hai chỉ tiêu này cùng
dương thì chứng tỏ ngân hàng đang có tăng trưởng trong CVTD, sản phẩm cho vay
của ngân hàng đã có uy tín và thu hút khách hàng. Qua đó, nhu cầu về vốn CVTD
được ngân hàng đáp ứng tốt nhất. Mặc dù vậy, để xem xét hiệu quả CVTD có thực sự
tốt, ta vẫn cần phải xét đến các chỉ tiêu về thu nợ khác.
Nợ quá hạn CVTD là những khoản cho vay đến hạn mà khách hàng không trả
được hoặc trả không đầy đủ số tiền trong hợp đồng tín dụng và không được ngân hàng
gia hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn CVTD là tỷ lệ phần tram giữa nợ quá hạn CVTD và tổng dư nợ
CVTD của NHTM ở một thời điểm nhất định, thường cuối tháng, cuối quý, cuối năm.
Nợ quá hạn CVTD
Tỷ lệ nợ quá hạn CVTD

=

Tổng dư nợ CVTD

x 100%

Tỷ lệ này cho biết tại thời điểm xác định cứ 100 đồng ngân hàng CVTD thì có
bao nhiêu đồng là nợ quá hạn CVTD.
Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả CVTD của ngân hàng, nó phản ánh
những rủi ro cho vay mà ngân hàng phải đối mặt. Đối với ngân hàng, việc khách hàng
không trả được nợ có thể ảnh hưởng đến tính thanh khoản cũng như hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Do đó, điều quan trọng là ngân hàng cần duy trì tỷ lệ nợ quá hạn
CVTD ở mức thấp nhất có thể. Ngân hàng cần có những biện pháp hữu hiệu để giảm
thiểu kịp thời cũng như tăng cường công tác đòi nợ quá hạn và giám sát chặt chẽ các
khoản cho vay.
11

Thang Long University Library


Nợ xấu trong CVTD là những khoản nợ mà khả năng thu hồi là thấp nhất. Đây
là những khoản nợ mà ngân hàng không hề mong muốn. Tỷ lệ nợ xấu CVTD cho biết,
trong 100 đồng tổng dư nợ CVTD thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu CVTD. Vì vậy, tỷ
lệ nợ xấu CVTD là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả CVTD của ngân hàng.
- Tỷ lệ nợ xấu CVTD càng cao phản ánh những rủi ro trong cho vay của ngân
hàng càng lớn. Vì vậy ngân hàng phải luôn tìm cách giảm tỷ lệ này đến mức thấp nhất
có thể bằng những biện pháp khác nhau từ gia hạn đến phát mại tài sản đảm bảo.
Nợ xấu CVTD
Tỷ lệ nợ xấu CVTD =

Tổng dư nợ CVTD

x 100%

- Tỷ lệ nợ xấu CVTD trên nợ quá hạn CVTD cho biết cứ 100 đồng nợ quá hạn
CVTD thì có bao nhiêu đồng nợ xấu CVTD. Tỷ lệ này phản ánh chi tiết nhất tình hình
nợ xấu CVTD có nguy cơ mang lại rủi ro cao cho ngân hàng, nó chiếm bao nhiêu
trong nợ quá hạn. Từ đó, ngân hàng có thể đưa ra các phương án xử lý hợp lý và nhanh
chóng. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ hiệu quả các khoản vay càng thấp và độ an toàn
của ngân hàng càng thấp.
Nợ xấu CVTD

Tỷ lệ xấu CVTD trên
nợ quá hạn CVTD

=
Nợ quá hạn CVTD

Vòng quay vốn CVTD được các NHTM tính toán hàng năm để đánh giá khả
năng tổ chức quản lý vốn CVTD và hiệu quả CVTD trong việc đáp ứng nhu cầu của
khách hàng, giải quyết hợp lý giữa 3 lợi ích Nhà nước – Ngân hàng – Khách hàng.
Doanh số thu nợ CVTD
Vòng quay vốn CVTD

=

Dư nợ CVTD bình quân

Chỉ tiêu vòng quay vốn CVTD phản ánh số vòng chu chuyển vốn của NHTM đối
với khách hàng của hoạt động CVTD, cho biết thời gian thu nợ vay nhanh hay chậm.
Hệ số này càng tăng cho thấy tình hình quản lý vốn cho vay tốt, hiệu quả cho vay cao.
Ngược lại, hệ số này thấp chứng tỏ có những bất ổn có thể xảy ra trong quá trình thu
hồi vốn. Thông qua đó ngân hàng sớm có biện pháp nhắc nhở, đôn đốc khách hàng,
kịp thời hạn chế rủi ro có thể xảy ra. Đây cũng là căn cứ để ngân hàng đưa ra quyết
định có cho vay trong những lần tiếp theo hay không. Bên cạnh đó cũng cần xem xét
tới nhân tố dư nợ bình quân CVTD. Khi dư nợ bình quân thấp làm cho vòng quay vốn
tín dụng lớn nhưng lại không phản ánh được chất lượng khoản vay là cao bởi nó thể
hiện khả năng cho vay kém của ngân hàng.

12


Trích lập dự phòng rủi ro CVTD
Theo Thông tư số 36/2014/TT - NHNN quy định: “Dự phòng rủi ro là khoản tiền
được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng không thực
hiện nghĩa vụ theo cam kết”. Vậy nên các ngân hàng sử dụng quỹ dự phòng nhằm bù
đắp khoản nợ quá hạn khi rủi ro xảy ra để không làm ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân
hàng.
Dự phòng rủi ro CVTD
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro CVTD =

x 100%

Dư nợ CVTD

Tỷ lệ trên cho biết DPRR trong CVTD được trích so với dư nợ CVTD. Tỷ lệ này
càng cao, chứng tỏ nợ xấu càng nhiều, ngân hàng CVTD chưa đạt hiệu quả cao, vẫn
phải trích lập dự phòng nhiều.
Khả năng bù đắp rủi ro CVTD là chỉ tiêu phản ánh khả năng có thể bù đắp cho
các rủi ro phát sinh từ các khoản CVTD như nợ khó đòi, nợ xấu. Khả năng bù đắp rủi
ro càng cao chứng tỏ tiềm lực tài chính của ngân hàng càng mạnh và an toàn trong
kinh doanh ở mức cao.
Hệ số khả năng
bù đắp CVTD

DPRR CVTD được trích
=

Nợ đã xử lý rủi ro

Nếu hệ số này >1, chứng tỏ ngân hàng trích lập dự phòng đầy đủ, và có khả năng
bù đắp vốn khi xảy ra rủi ro tín dụng
Nếu hệ số này <1, cho biết trích lập dự phòng không đủ khả năng bù đắp vốn khi
xảy ra rùi ro tín dụng
Nếu hệ số này =1, ngân hàng đủ khả năng bù đắp rủi ro CVTD.
Thu nhập từ hoạt động CVTD
Khoản vay được đánh giá là có hiệu quả khi khoản vay đó tạo được thu nhập cho
ngân hàng. Ngân hàng hoạt động kinh doanh với mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Hoạt
động CVTD có hiệu quả sẽ giúp ngân hàng không chỉ thu về được nguồn vốn ban đầu
mà còn thu được lãi nhằm chi trả cho các khoản chi phí và có thêm lợi nhuận.
Tỷ lệ thu nhập từ
hoạt động CVTD

Doanh thu từ hoạt động CVTD
=

x 100%
Tổng thu nhập

Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả CVTD. Chỉ tiêu
này phản ánh mức sinh lời từ hoạt động CVTD của ngân hàng, theo đó chỉ tiêu này
càng cao thì lợi nhuận từ CVTD đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng càng lớn, thể
hiện hiệu quả CVTD càng tốt. Ngoài ra, tỷ lệ này còn giúp ngân hàng xây dựng định
hướng phát triển hoạt động CVTD tại ngân hàng.
13

Thang Long University Library


1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng
Quá trình hình thành và phát triển bất cứ một loại hình dịch vụ nào của ngân
hàng cũng đều bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Vì vậy, khi đẩy
mạnh hoạt động kinh doanh nói chung hay đẩy mạnh hoạt động CVTD nói riêng, các
ngân hàng luôn phải nghiên cứu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng để có các chiến lược,
kế hoạch phù hợp, mang lại hiệu quả cao cho ngân hàng.
1.2.3.1. Các nhân tố chủ quan
Nhóm nhân tố thuộc về ngân hàng
Chính sách tín dụng là một yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại của các
NHTM. Vì vậy, các NHTM cố gắng tìm mọi cách để đưa ra những chính sách tín dụng
riêng của mình một cách hấp dẫn nhất nhằm thu hút khách hàng và các nguồn vốn
nhàn dỗi từ dân cư. Bên cạnh đó, ngân hàng cố gắng tung ra các chương trình khuyến
mãi, chương trình dự thưởng, tặng quà đối với khách hàng thường xuyên của mình.
Nếu chính sách tín dụng hợp lý thì doanh số cho vay tăng lên trong đó bao gồm cả
doanh số CVTD. Đây là điều thu hút người dân đến với ngân hàng nhiều hơn, làm cho
ngân hàng huy động vốn được nhiều hơn và ngân hàng sẽ có khả năng lưu chuyển vốn
trong nền kinh tế một cách thuận lợi hơn.
Quy mô vốn của ngân hàng giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động của ngân
hàng, đồng thời thể hiện vị thế của ngân hàng trong ngành. Bất cứ thành phần kinh tế
nào muốn hoạt động đều cần phải có vốn. Riêng với lĩnh vực kinh doanh ngân hàng –
một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt, số vốn cần phải có lớn hơn gấp nhiều lần. Nguồn
vốn của ngân hàng bao gồm vốn chủ sở hữu và nguồn huy động được. Vốn càng lớn,
càng có điều kiện mở rộng hoạt động kinh doanh như nâng cao cơ sở hạ tầng, máy
móc, thiết bị, công nghệ…; có khả năng đa dạng hóa danh mục sản phẩm dịch vụ, tăng
sức cạnh tranh cho ngân hàng. Nhờ đó hoạt động của ngân hàng phát triển theo và
CVTD không phải là một ngoại lệ.
Hoạt động Marketing là một phương thức rất hiệu quả để đưa sản phẩm dịch vụ
của ngân hàng ra thị trường. Marketing ngân hàng nhằm đáp ứng tốt nhu cầu mong
muốn của khách hàng về chất lượng, chủng loại sản phẩm dịch vụ ngân hàng, đồng
thời có các biện pháp nhằm kích thích nhu cầu của khách hàng để đạt được mức sử
dụng sản phẩm của ngân hàng cao nhất. Muốn cho sản phẩm dịch vụ của ngân hàng
đến được tận tay người tiêu dùng, ngân hàng phải tăng cường các hoạt động xúc tiến
hỗn hợp của marketing ngân hàng như quảng cáo, khuyến mãi, tiếp xúc khách hàng
qua mạng lưới dịch vụ, qua hội nghị tiếp xúc khách hàng… Như vậy hình ảnh của
ngân hàng được quảng bá rộng rãi và lấy được lòng tin của khách hàng. Nhờ đó các
sản phẩm dịch vụ của ngân hàng nói chung và CVTD nói riêng sẽ phát triển mạnh
mẽ hơn.
14


Đội ngũ cán bộ nhân viên có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của hoạt động CVTD.
Như vậy, cán bộ tín dụng chính là hình ảnh của ngân hàng. Trình độ của cán bộ tín
dụng thể hiện trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, máy tính, khả năng
giao tiếp đối với khách hàng. Một cán bộ tín dụng tốt không chỉ là một người có trình
độ chuyên môn giỏi mà còn phải là một người có đạo đức nghề nghiệp, nhất là trong
bối cảnh máy móc kỹ thuật hiện đại như hiện nay. Ngoài ra, khi tiếp xúc với khách
hàng, cán bộ tín dụng có thái độ nhiệt tình, niềm nở, hướng dẫn khách hàng một cách
chu đáo sẽ tạo được thiện cảm đối với khách hàng, giữ chân được khách hàng đó và có
thể thu hút thêm được nhiều khách hàng mới đến với ngân hàng. Bên cạnh đó, vấn đề
đạo đức nghề nghiệp cũng cần được quan tâm. Cán bộ ngân hàng phải đặt lợi ích của
ngân hàng và khách hàng lên đầu, không vì tư lợi cá nhân gây tổn hại đến ngân hàng
và khách hàng.
Trình độ khoa học công nghệ của ngân hàng: Một ngân hàng được trang bị các
công nghệ hiện đại sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn. Ngân hàng có thể
quản lý khách hàng dễ dàng hơn, tiết kiệm được nhân công cũng như chi phí quản lý.
Ngoài ra, việc nâng cao công nghệ có thể tăng tiện ích cho khách hàng, ngân hàng đưa
sản phẩm đến với khách hàng thuận tiện hơn và các dịch vụ của ngân hàng sẽ được
khách hàng biết đến nhiều hơn.
Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ là khâu sau khi giải ngân, giúp ngân hàng
có những thông tin về tình hình sử dụng vốn của khách hàng. Việc thực hiện công tác
kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ giúp ngân hàng quản lý các hoạt động của khách hàng
theo những quy định, điều lệ nhất định từ đó nhanh chóng phát hiện sai phạm của
khách hàng và đưa ra giải pháp giúp đảm bảo an toàn, hiệu quả trong hoạt động cho
vay và tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
Uy tín của ngân hàng là hình ảnh của ngân hàng trong lòng khách hàng, là niềm
tin của khách hàng đối với ngân hàng. Uy tín của mỗi ngân hàng được xây dựng và hình
thành trong cả một quá trình lâu dài. Những ngân hàng có uy tín luôn chiếm được lòng
tin của khách hàng là tiền đề cho việc đẩy mạnh hoạt động cho vay của ngân hàng.
Nhóm nhân tố về khách hàng
Khả năng tài chính của khách hàng là điều kiện hàng đầu mà ngân hàng cần xem
xét, đánh giá trước khi đưa ra quyết định cho vay. Do các khoản vay tiêu dùng có độ
rủi ro cao nên ngân hàng luôn chú trọng đến công tác thẩm định năng lực tài chính của
khách hàng, nhằm đảm bảo nguồn trả nợ cho khách hàng trong tương lai, đảm bảo an
toàn trong công tác CVTD. Ngân hàng luôn cố gắng thu hút các khách hàng tiềm năng,
có thu nhập cao và ổn định, cung cấp cho họ sản phẩm phù hợp nhất, từ đó đảm bảo
hiệu quả trong cho vay.
15

Thang Long University Library


Đạo đức khách hàng: một trong những rủi ro mà ngân hàng hay gặp trong hoạt
động cho vay, đặc biệt là trong CVTD là vấn đề đạo đức của khách hàng. Việc thu
thập thông tin, đánh giá đạo đức của cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu sử dụng dịch vị
CVTD là rất khó khăn đối với ngân hàng. Ngân hàng thường hạn chế số tiền cho vay
đối với những khách hàng mới, chưa có quan hệ với ngân hàng. Nếu người đi vay
chứng minh được phẩm chất đạo đức tốt, tạo được sự tin cậy đối với ngân hàng, họ sẽ
có cơ hội vay được số tiền lớn hơn, đồng nghĩa với việc góp phần đẩy mạnh hoạt động
CVTD đối với ngân hàng.
Tài sản đảm bảo: Để hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra, giá trị TSĐB là cơ sở để
ngân hàng đưa ra hạn mức tín dụng cho từng món vay, do đó nó quyết định doanh số
cho vay của ngân hàng. Việc định giá TSĐB đúng mức, hợp lý và yêu cầu quan trọng
khi xác định số tiền cho vay nhằm đảm bảo độ an toàn, thu nhập của ngân hàng cũng
như thỏa mãn tốt nhu cầu khách hàng.
Xu hướng tiêu dùng của khách hàng chính là căn cứ để ngân hàng thực hiện phát
triển sản phẩm dịch vụ, một trong những biện pháp đẩy mạnh CVTD. Khách hàng
càng có xu hướng tiêu dùng các hàng hóa đắt tiền, nhu cầu vay tiêu dùng càng tăng,
ngân hàng càng có điều kiện đẩy mạnh CVTD. Những thay đổi lớn trong xu hướng
tiêu dùng của khách hàng có thể tác động tích cực hay tiêu cực đến hoạt động CVTD.
Do đó các cán bộ tín dụng ngân hàng phải luôn nghiên cứu tìm hiểu thị hiếu, xu hướng
tiêu dùng của khách hàng để có những điều chỉnh, thay đổi hình thức cũng như phát
triển các sản phẩm cho vay mới cho phù hợp.
1.2.3.2. Các nhân tố khách quan
Môi trƣờng kinh tế: Hoạt động của NHTM được coi là “mạch máu” của nền
kinh tế, chịu sự biến động mạnh mẽ từ những chuyển biến của nền kinh tế. Trong đó
hoạt động tín dụng cũng là một hoạt động chịu sự ảnh hưởng của nền kinh tế. Chẳng
hạn như, nếu nền kinh tế trong giai đoạn phát triển, tăng trưởng tốt, ổn định đất nước,
không có chiến tranh hoặc khủng bố thì nhu cầu về vốn vay tiêu dùng của cá nhân và
hộ gia đình sẽ tăng lên. Người tiêu dùng sẽ yên tâm về mức thu nhập của họ và như
vậy thì khả năng người tiêu dùng phát sinh nhu cầu tiêu dùng lớn hơn. Ngược lại, nếu
nền kinh tế đang suy thoái, lạm phát, tình hình chính trị không ổn định thì sẽ làm cho
nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình chỉ dừng lại ở mức vừa đủ và sẽ làm cho
hoạt động CVTD của các NHTM kém phát triển. Chính vì thế, điều mà các NHTM
phải quan tâm và chú ý tới là những dự báo kinh tế trong các năm trước khi đưa ra
chính sách tín dụng nói chung và chính sách CVTD nói riêng.
Môi trƣờng chính trị: Một quốc gia có tình hình chính trị ổn định thì khi đó
người dân mới có thể yên tâm lao động sản xuất kích thích nền kinh tế phát triển, nhu
16


cầu tiêu dùng của dân cư sẽ tăng, kích thích sự phát triển của hoạt động CVTD. Còn
nếu tình hình chính trị mất ổn định dẫn đến những hoạt động bạo loạn trong dân
chúng, người dân không chú tâm vào lao động sản xuất ảnh hưởng đến nền kinh tế. Từ
đó nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm sút và ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của
ngân hàng.
Môi trƣờng kỹ thuật – công nghệ: Hiện nay, khi đời sống ngày càng phát triển,
nhu cầu của con người ngày càng cao, đòi hỏi các ngân hàng phải không ngừng đổi
mới để có thể thu hút khách hàng nhiều hơn. Việc áp dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại
vào hoạt động kinh doanh ngân hàng giúp ngân hàng có thể cung cấp các sản phẩm
dịch vụ phù hợp, đảm bảo chất lượng đáp ứng nhu cầu tốt nhất của khách hàng. Bên
cạnh đó sự cạnh tranh gay gắt trong ngành hiện nay buộc các ngân hàng phải thường
xuyên cập nhật các công nghệ mới để tránh bị lạc hậu, mất lợi thế cạnh tranh, để có thể
tồn tại và phát triển.
Môi trƣờng Pháp lý: Các hoạt động trong xã hội đều bị chi phối bởi luật pháp
mà Nhà nước đã đề ra. Trong hoạt động tín dụng cũng vậy, cả ngân hàng (người cho
vay) và khách hàng (người đi vay) đều phải tuân thủ đúng theo quy định của NHNN.
Chính vì có pháp luật thì sẽ tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo một sân
chơi bình đẳng giữa các NHTM với nhau. Bên cạnh đó, những chính sách của Nhà
nước, đặc biệt là chính sách về kinh tế cũng tác động đến CVTD của các NHTM. Các
quy định của pháp luật phải rõ ràng, đầy đủ, thông thoáng, đồng bộ, linh hoạt,… tạo ra
hành lang pháp lý vững chắc.
Chủ trƣơng chính sách của Nhà nƣớc: Khi Nhà nước khuyến khích đầu tư
trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài như hạ trần lãi suất cho vay thì một mặt sẽ
kích thích đầu tư phát triển kinh tế, mặt khác giảm thiểu thất nghiệp, tăng thu nhập của
người lao động, từ đó tăng mức sống của người dân lên. Bên cạnh đó, còn là cơ sở
thuận lợi để phát triển hoạt động CVTD của các NHTM. Ngoài ra, các chính sách ưu
đãi cho hộ nghèo vay vốn, cho vay tín chấp đối với nông dân,… là những chính sách
rất tích cực làm cho khoảng cách giàu nghèo giảm đi, cải thiện mức sống bắt kịp cuộc
sống thời đại. Những chính sách mà Chính phủ đưa ra đều có ảnh hưởng đến hoạt
động tín dụng của các NHTM.
Khả năng tài chính và đạo đức của ngƣời đi vay
Rõ ràng nếu khách hàng có thu nhập cao và ổn định thì việc trả nợ ngân hàng
thường ít ảnh hưởng đến các chỉ tiêu khác trong gia đình, đặc biệt là các nhu cầu thiết
yếu và với những người này họ sẵn sàng thanh toán tiền vay cho ngân hàng để tránh
rắc rối về mặt pháp lý. Ngày nay, phần lớn các món vay tiêu dùng quy định nguồn trả
là thu nhập thường xuyên của khách hàng trong tương lai, ngoại trừ các khoản vay
ngắn hạn.
17

Thang Long University Library


Đạo đức người đi vay cũng là một yếu tố quan trọng với ngân hàng. Nó được
đánh giá dựa trên năng lực pháp lý và độ tín nhiệm. Vì nếu thực sự khách hàng có thu
nhập cao, ổn định và thậm chí đưa ra được điều kiện đảm bảo tốt thì chưa chắc họ đã
có thiện chí khi trả nợ. Do đó, trước khi cho vay cán bộ tín dụng phải đánh giá độ tín
nhiệm của khách hàng trong việc thực hiện tất cả các giao ước của hợp đồng tín dụng.
Ngân hàng cũng cần xem xét năng lực pháp lý của khách hàng, tài sản đảm bảo có liên
quan đến các vụ kiện, tranh chấp hay không.
Đối thủ cạnh tranh của ngân hàng: Do cạnh tranh trong lĩnh vực CVTD của
các NHTM trong nước và nước ngoài là rất lớn nên trong thời gian gần đây cùng với
việc nới lỏng các cơ chế tín dụng, các NHTM trong nước đã bắt đầu tiến hành mở rộng
hoạt động CVTD. Việc mở rộng CVTD là một điều tất yếu giúp cho các ngân hàng đa
dạng hóa sản phẩm để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng về số lượng và chất
lượng trong một môi trường đầy biến động và cạnh tranh. Ngoài ra tìm hiểu đối thủ
cạnh tranh để có các chiến lược kinh doanh hợp lý cũng là việc ngân hàng phải làm để
có thể đứng vững và phát triển.

18


TỔNG KẾT CHƢƠNG 1
Toàn bộ chương 1 là những lý luận cơ bản về cho vay nói chung, cho vay tiêu
dùng nói riêng và đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng trong ngân hàng thương mại.
Từ những vấn đề mang tính khái quát về cho vay tiêu dùng đến những vấn đề cụ thể
như: khái niệm, đặc điểm, vai trò của cho vay tiêu dùng hay các phương thức phân loại
cho vay tiêu dùng. Bên cạnh đó, chương 1 cũng là cơ sở lý luận đưa ra cách thức
nghiên cứu thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng sẽ được trình bày trong chương
tiếp theo.

19

Thang Long University Library


CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU
DÙNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH PHÚ XUYÊN
2.1. Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam –
Chi nhánh Phú Xuyên
2.1.1. Vài nét về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Thành lập ngày 26/3/1988, hoạt động theo Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam,
đến nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Agribank là
Ngân hàng thương mại hàng đầu giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong phát triển kinh tế
Việt Nam, đặc biệt là đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Agribank là một trong số các ngân hàng có quan hệ ngân hàng đại lý lớn nhất
Việt Nam với trên 1.000 ngân hàng đại lý tại gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ; là
Ngân hàng lớn nhất Việt Nam cả về vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ nhân viên, mạng lưới
hoạt động và số lượng khách hàng. Tính đến 31/12/2014, vị thế dẫn đầu của Agribank
vẫn được khẳng định với trên nhiều phương diện:
- Tổng tài sản: 762.869 tỷ đồng.
- Tổng nguồn vốn: 690.191 tỷ đồng.
- Vốn điều lệ: 29.605 tỷ đồng.
- Tổng dư nợ: trên 605.324 tỷ đồng.
- Mạng lưới hoạt động: gần 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc,
Chi nhánh Campuchia.
- Nhân sự: gần 40.000 cán bộ, nhân viên.
Ngoài ra, Agribank luôn chú trọng đầu tư đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân
hàng phục vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triển màng lưới dịch vụ
ngân hàng tiên tiến. Agribank là ngân hàng đầu tiên hoàn thành Dự án Hiện đại hóa hệ
thống thanh toán và kế toán khách hàng (IPCAS) do Ngân hàng Thế giới tài trợ. Với
hệ thống IPCAS đã được hoàn thiện, Agribank đủ năng lực cung ứng các sản phẩm,
dịch vụ ngân hàng hiện đại, với độ an toàn và chính xác cao đến mọi đối tượng khách
hàng trong và ngoài nước. Hiện nay, Agribank đang có hàng triệu khách hàng là hộ
sản xuất, hàng chục ngàn khách hàng là doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, Agribank là ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam trong việc tiếp nhận
và triển khai các dự án nước ngoài. Trong bối cảnh kinh tế diễn biến phức tạp,
Agribank vẫn được các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát
triển châu Á (ADB), Cơ quan phát triển Pháp (AFD), Ngân hàng Đầu tư châu u
20


(EIB)… tín nhiệm, ủy thác triển khai trên 123 dự án với tổng số vốn tiếp nhận đạt trên
5,8 tỷ USD. Agribank không ngừng tiếp cận, thu hút các dự án mới: Hợp đồng tài trợ
với Ngân hàng Đầu tư châu

u (EIB) giai đoạn II; Dự án tài chính nông thôn III

(WB); Dự án Biogas (ADB); Dự án JIBIC (Nhật Bản); Dự án phát triển cao su tiểu
điền (AFD) v.v...
Bên cạnh nhiệm vụ kinh doanh, Agribank còn thể hiện trách nhiệm xã hội của
một doanh nghiệp lớn với sự nghiệp An sinh xã hội của đất nước. Thực hiện Nghị
quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và
bền vững đối với 61 huyện nghèo thuộc 20 tỉnh, Agribank đã triển khai hỗ trợ 160 tỷ
đồng cho hai huyện Mường Ảng và Tủa Chùa thuộc tỉnh Điện Biên. Sau khi bàn giao
2.188 nhà ở cho người ngh o vào 2009, tháng 8 2010 Agribank tiếp tục bàn giao 41
khu nhà ở với 329 phòng, 40 khu vệ sinh, 40 hệ thống cấp nước, 40 nhà bếp, 9.000m2
sân bê tông, trang thiết bị phục vụ sinh hoạt cho 38 trường học trên địa bàn hai huyện
này. Bên cạnh đó, Agribank ủng hộ xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết tại
nhiều địa phương trên cả nước; tặng sổ tiết kiệm cho các cựu nữ thanh niên xung
phong có hoàn cảnh khó khăn; tài trợ kinh phí mổ tim cho các em nhỏ bị bệnh tim bẩm
sinh; tài trợ kinh phí xây dựng Bệnh viện ung bướu khu vực miền Trung; tôn tạo, tu bổ
các Di tích lịch sử quốc gia.
Với những thành tựu đạt được, vào đúng dịp kỷ niệm 21 năm ngày thành lập
(26/3/1988 - 26/3/2009), Agribank vinh dự được đón Tổng Bí thư tới thăm và làm
việc. Tổng Bí thư biểu dương những đóng góp quan trọng của Agribank và nhấn mạnh
nhiệm vụ của Agribank đó là quán triệt sâu sắc, thực hiện tốt nhất Nghị quyết 26NQ TW theo hướng “Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn
lực, phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông
dân”.
Với vị thế là Ngân hàng thương mại – Định chế tài chính lớn nhất Việt Nam,
Agribank đã, đang không ngừng nỗ lực, đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, đóng
góp to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế của đất
nước.
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Phú Xuyên
Trước tình hình đổi mới của nền kinh tế, nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng. Để
đáp ứng nhu cầu đó ngân hàng phải mở rộng mạng lưới hoạt động, đa dạng hóa các
dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã
thành lập thêm nhiều chi nhánh trên cả nước đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà
Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế,…
21

Thang Long University Library


Trên địa bàn thành phố Hà Nội, ngày 16/05/1989 Ban lãnh đạo Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã quyết định thành lập Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Phú Xuyên theo Nghị định số
53 HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thành lập các ngân hàng
chuyên doanh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, trực thuộc trung tâm
điều hành của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Chi nhánh
hoạt động dưới sự chỉ đạo của giám đốc Hoàng Văn Kiên. Trụ sở chính tại Tiểu khu
Phú Mỹ, Thị trấn Phú Xuyên, Huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Ngay từ khi thành lập
Agribank – Chi nhánh Phú Xuyên đã được phép thực hiện mọi hoạt động tín dụng,
thanh toán trong và ngoài nước, tham gia các hoạt động mua bán ngoại tệ. Agribank –
Phú Xuyên là một chi nhánh trực thuộc NHNo&PTNT Việt Nam, đồng thời là một đại
diện được ủy quyền, có quyền tự chủ kinh doanh và phải chịu sự ràng buộc về nghĩa
vụ và quyền lợi với NHNo&PTNT Việt Nam. Về pháp lý, chi nhánh có quyền kí kết
các hợp đồng kinh tế dân sự, chủ động kinh doanh, tổ chức nhân sự theo phân cấp ủy
quyền của NHNo&PTNT Việt Nam. NHNo&PTNT chi nhánh Phú Xuyên đã tập trung
nâng cao chất lượng tín dụng, xử lý nợ tồn đọng cũ và quản lý chặt chẽ hơn công tác
thẩm định, xét duyệt các khoản cho vay mới, tiến hành các biện pháp phù hợp để giảm
nợ thấp quá hạn.
Trải qua chặng đường hơn 20 năm hoạt động và phát triển NHNo&PTNT chi
nhánh Phú Xuyên đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần tăng trưởng vào nền
kinh tế đất nước. Chi nhánh Phú Xuyên luôn luôn hoạt động theo phương châm của
NHNo&PTNT Việt Nam, đó là tập trung huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi để từ đó
phát triển các loại hình dịch vụ cho vay. Đồng thời, chi nhánh không ngừng triển khai
và phát triển các dịch vụ tiện ích, các loại hình sản phẩm để đáp ứng tối đa nhu cầu của
khách hàng. Trải qua nhiều khó khăn, thách thức, tập thể cán bộ công nhân viên chi
nhánh luôn quyết tâm hoàn thành các mục tiêu đề ra. Chi nhánh đã khẳng định được vị
thế của mình trên địa bàn huyện nói riêng và địa bàn tỉnh nói chung.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ các phòng ban thuộc Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Phú Xuyên
2.1.3.1. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam – Chi nhánh Phú Xuyên
Để thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ mà NHNN cũng như NHNo&PTNT
Việt Nam giao phó, cơ cấu tổ chức quản lý của Chi nhánh bao gồm:
Mô hình tổ chức:
- Ban giám đốc
22


- Bộ máy tổ chức quản lý của Chi nhánh được bố trí thành 3 phòng ban, mỗi
phòng ban thực hiện chức năng và nhiệm vụ riêng của mình theo sự chỉ đạo và phân
công của Ban giám đốc
- Phòng Kế hoạch và Kinh doanh
- Phòng Kế toán và Ngân quỹ
- Phòng Hành chính – Nhân sự
Cơ cấu tổ chức quản lý chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phú Xuyên được thể
hiện dưới sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Phú Xuyên

Giám đốc

Phó giám đốc

Phòng Kế hoạch

Phòng Kế toán

Phòng Hành

4 phòng giao

và Kinh doanh

và Ngân quỹ

chính – Nhân sự

dịch

(Nguồn: Phòng Kế toán Tổng hợp Agribank – Chi nhánh Phú Xuyên )
2.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Phú Xuyên
Ban giám đốc
Giám đốc chi nhánh là người đứng đầu thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
theo quy định của Pháp luật và ngân hàng cấp trên. Chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt
động điều hành kinh doanh của chi nhánh. Giám đốc phân công, ủy quyền cho Phó
giám đốc giải quyết và kí một số văn bản về những vấn đề thuộc thẩm quyền của
mình. Ban giám đốc điều hành công việc theo chương trình, kế hoạch mà ngân hàng
cấp trên đã đề ra.
23

Thang Long University Library


Phó giám đốc là người hỗ trợ giám đốc, phụ trách điều hành một số nghiệp vụ
hoạt động kinh doanh của chi nhánh và phải chịu trách nhiệm trước Giám đốc, trước
Pháp luật về việc thực hiện nghiệp vụ được phân công.
Phòng Kế hoạch và Kinh doanh
Phòng kế hoạch – kinh doanh giúp ban giám đốc điều hành hoạt động kinh doanh
và tổ chức nhân sự của chi nhánh. Phòng trực tiếp quản lý cân đối nguồn vốn đảm bảo
các cơ cấu về kỳ hạn, loại tiền tệ, loại tiền gửi…và quản lý các hệ số an toàn theo quy
định, tham mưu cho giám đốc chi nhánh điều hành nguồn vốn và chịu trách nhiệm đề
xuất chiến lược khách hàng, chiến lược huy động vốn tại địa phương và giải pháp phát
triển nguồn vốn. Đồng thời có nhiệm vụ thẩm định và đề xuất cho vay các dự án tín
dụng theo phân cấp ủy quyền, thường xuyên phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn,
tìm nguyên nhân và đề xuất hướng khắc phục.
Phòng Kế toán và Ngân quỹ
Phòng Kế toán và Ngân quỹ của chi nhánh chịu trách nhiệm thực hiện các công
việc như: Quản lý và thực hiện công tác hạch toán chi tiết, kế toán tổng hợp; thực hiện
công tác hậu kiểm đối với hoạt động kế toán của chi nhánh; thực hiện nhiệm vụ quản
lý, giám sát tài chính. Phối hợp các phòng ban xây dựng và trình các kế hoạch tài
chính; theo dõi, quản lý tài sản, công cụ lao động, văn phòng phẩm, ấn chỉ… Ngoài ra,
phòng còn chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, chính xác, kịp thời, hợp lý, trung thực
của số liệu kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo kế toán; quản lý an toàn tiền tệ kho quỹ
theo đúng quy định của NHNN và NHNo&PTNT Việt Nam; thực hiện ứng tiền và thu
tiền cho các phòng giao dịch trong và ngoài quầy ATM theo ủy quyền kịp thời, chính
xác, đúng chế độ quy định; thu – chi tiền mặt có giá trị giao dịch lớn, tổ chức hành
chính thực hiện điều chuyển tiền giữa quỹ nghiệp vụ của chi nhánh với NHNN và các
ngân hàng trực thuộc NHNo trên địa bàn.
Phòng Hành chính – Nhân sự
Phòng hành chính – nhân sự thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụ
kinh doanh tại chi nhánh, thực hiện công tác an ninh, an toàn chi nhánh. Phòng hành
chính – nhân sự có những nhiệm vụ chính sau: thực hiện quy định của nhà nước và
hội sở có liên quan đến chính sách cán bộ về tiền lương, bảo hiểm xã hội; thực hiện
quản lý lao động, tuyển dụng lao động, điều động và sắp xếp cán bộ phù hợp với năng
lực, trình độ và yêu cầu của nhiệm vụ kinh doanh theo thẩm quyền của ngân hàng;
thực hiện bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ lãnh đạo của chi nhánh và xây dựng kế hoạch,
tổ chức đào tạo nâng cao trình độ về mọi mặt của cán bộ nhân viên của chi nhánh; thực
hiện kiểm tra thường xuyên tuân thủ quy chế, nội dung của NHNo&PTNT.
24


Phòng giao dịch
Hiện nay chi nhánh có 4 phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh là: Phòng giao
dịch Phú Minh, Phòng giao dịch Minh Tân, Phòng giao dịch Đồng Quan, Phòng giao
dịch Đại Xuyên. Các phòng giao dịch chịu trách nhiệm xử lý các giao dịch đối với
khách hàng là cá nhân và các tổ chức kinh tế như sau: Mở tài khoản tiền gửi, tiền vay
cho khách hàng, chịu trách nhiệm xử lý các yêu cầu của khách hàng về tài khoản hiện
tại và tài khoản mới; thực hiện các giao dịch nhận tiền gửi và rút tiền của khách hàng,
thực hiện cho vay, phát hành bảo lãnh trong phạm vi ủy quyền của giám đốc; thực hiện
thu nợ theo quy định; xử lý gia hạn nợ, đôn đốc khách hàng trả nợ (cả gốc và lãi) đúng
hạn, chuyển nợ quá hạn, thực hiện các biện pháp thu nợ.
2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Phú Xuyên giai đoạn 2012 - 2014
2.2.1. Tình hình huy động vốn
Nguồn vốn là điều kiện tiên quyết cho mọi hoạt động của ngân hàng. Nguồn vốn
mạnh, ổn định là cơ sở để ngân hàng tổ chức các hoạt động kinh doanh quyết định vốn
quy mô hoạt động tín dụng, quyết định năng lực cạnh tranh. Sự cạnh tranh giữa các
ngân hàng trong việc huy động vốn trong những năm gần đây có xu hướng ngày càng
mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó, nguồn vốn của Agribank – Chi nhánh Phú Xuyên vẫn
liên tục tăng trưởng, là kết quả của việc tổng hợp, nâng cao ứng dụng công nghệ, phát
triển sản phẩm dịch vụ và phong cách giao dịch văn minh của cán bộ của ngân hàng.
Xét về quy mô
Tình hình huy động vốn của Agribank – Phú Xuyên không ngừng tăng trưởng
qua các năm 2012, 2013, 2014. Nhìn vào bảng 2.1, năm 2012, tổng nguồn vốn huy
động của chi nhánh đạt 265.048,51 triệu đồng. Sang đến năm 2013, con số này là
352.604,19 triệu đồng, tăng hơn 30% so với năm 2012. Đây là mức tăng trưởng trung
bình so với toàn ngành vì năm 2013 là năm khó khăn trong hoạt động huy động vốn
của các NHTM. Nhưng với uy tín và kinh nghiệm lâu năm của mình Agribank – Phú
Xuyên đã đưa ra các biện pháp nhằm ổn định cũng như phát triển nguồn vốn như: tăng
cường tiếp thị, khuyến mãi, cung cấp các sản phẩm đa dạng, hấp dẫn, khai thác nhiều
kênh huy động và mở thêm hai phòng giao dịch, thu hút nhiều đối tượng khách hàng
nhất là khách hàng cá nhân, linh hoạt điều chỉnh mức lãi suất và kỳ hạn phù hợp với
thị trường.
Chính vì vậy, trong năm 2013, tuy là năm nền kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng
nguồn vốn huy động của ngân hàng vẫn tăng ổn định. Bước sang năm 2014, nguồn
vốn huy động tại ngân hàng đạt 494.409,65 triệu đồng, tăng 40,22% so với năm 2013.
Mức tăng cao hơn năm 2013 (30,03%) là do có sự cạnh tranh lớn từ các ngân hàng
25

Thang Long University Library


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×