Tải bản đầy đủ

Bài tiểu luận cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 và 2008

TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT LÝ TỰ TRỌNG
KHOA ĐIỆN –ĐIỆN TỬ
--------

Khoa Lý Luận Xã Hội

BÀI TIỂU LUẬN
Nhóm 3
Đề tài: Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 &2008

Thành viên :
Nguyễn Viết Mạnh
Đặng Thanh Bình
Nguyễn Phi Hào


MỤC LỤC

Tổng quan về cuộc khủng hoảng tài chính:
I. Khủng hoảng tài chính là gì ?
1. Khái niệm

2. Phân loại
II. Sơ lược về cuộc khủng hoảng tài chính 1997 & 2008.
1. Sơ lược , đặc điểm .
III. Thực trạng khủng hoảng tài chính ĐNÁ 1997.
& HOA KỲ 2008.
1. Nguyên nhân
2. Diễn biến
3. Tác động tới Việt Nam
IV . So sánh nét tương đồng giữa 2 cuộc khủng hoảng 1997&2008.
V. Kết luận, kiến nghị, đề ra giải pháp khắc phục.
1. Kết luận .
2. ĐNÁ & HOA KỲ đối phó với cuộc khủng hoảng .
3. Bài học rút ra cho VIỆT NAM.


PHẦN MỞ ĐẦU

Với mục đích tìm hiểu cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính, tiền tệ, Đông Nam
Á - Châu Á (Thái land) năm 1997 và khủng hoảng tài chình Hoa Kỳ năm
2008 để tìm ra được nguyên nhân , diễn biến , hậu quả của khủng hoảng gây
ra , so sánh sự khác nhau giữa 2 cuộc khủng hoảng . Nhóm chúng tôi đã
chọn đề tài này nhằm làm sáng tỏ những luận điểm đã nói trên đây .
Cuộc khủng hoảng kinh tế, tài ch


Cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính, tiền tệ, Đông Nam Á - Châu Á (Thái
lan)

NỘI DUNG
I. Khủng hoảng tài chính là gì ?
1. Khái niệm :
Khủng hoảng kinh tế là sự suy giảm các hoạt động kéo dài và trầm trọng
hơn cả suy thoái trong chu trình kinh tế .Khủng hoảng tài chính là cuộc
khủng hoảng ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán ,trung tâm tiền tệ lớn
và các giá trị tài sản khác .Sự đổ vỡ trầm trọng các bộ phận của thị trường Tài
chính tiền tệ kéo theo sự vợ nợ hàng loạt của các ngân hàng và tổ chức tài
chính do sự sụt giảm nhanh chóng về giá tài sản mà kết quả cuối cùng của nó là


sự đông cứng và bất lực của thị trường tài chính ,sự sụt giảm nghiêm trọng các

hoạt động kinh tế.
Khủng hoảng tài chính châu Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ
tháng 7 năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán
trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á nhiều
quốc gia trong đó được coi như là "những con Hổ Đông Á". Cuộc khủng hoảng
này còn thường được gọi là Khủng hoảng tiền tệ châu Á.
Khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ 2007-2009 là cuộc khủng hoảng trong nhiều
lĩnh vực tài chính (tín dụng, bảo hiểm, chứng khoán )diễn ra từ năm 2007 cho
đến tận nay. Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng
nhà ở thứ cấp. Và bản thân nó lại là nguồn gốc trực tiếp của cuộc khủng hoảng
tài chính toàn cầu 2007-2010.
2. Phân loại :
a. Khủng hoảng tiền tệ
b. Khủng hoảng kép
c. Khủng hoảng ngân hàng .
d. Khủng hoảng nợ nần.
II. Sơ lược về cuộc khủng hoảng tài chính 1997 & 2008.
1. Nguyên nhân :
a. Nguyên nhân khủng hoảng 1997.
Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém.
- Các dòng vốn nước ngoài kéo vào.
- Những thay đổi bất lợi của nền kinh tế thế giới.
- Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt.
Nguyên nhân đầu tiên gây ra cuộc khủng hoảng này là do Thái Lan và một số
nước Đông Nam Á là việc vừa cố định giá trị đồng tiền của mình vào Dollar Mỹ
vừa cho phép tự do hóa tài khoản vốn và sự nới lỏng chính sách tiền tệ của các
ngân hàng Trung ương để bảo vệ tỉ giá cố định. Kết quả là cung tiền tăng gây ra
sức ép lạm phát, và chính sách vô hiệu quá đã được sử dụng để chống lạm phát
và làm dòng tiền chảy vào nền kinh tế ngày càng nhiều.
b. Nguyên nhân khủng hoảng 2008.


Nguyên nhân sâu xa của cơn địa chấn tài chính bắt nguồn từ khủng hoảng tín
dụng và nhà đất tại Mỹ. Bong bóng bất động sản càng lúc càng phình to đã đặt
thị trường nhà đất và tiếp đó là tín dụng tại Mỹ cũng như nhiều quốc gia châu
Âu vào thế nguy hiểm. Cho vay dưới chuẩn tăng mạnh là khởi điểm cho quả
bong bóng tại thị trường nhà đất. Các ngân hàng cho vay cầm cố bất động sản
mà không quan tâm tới khả năng chi trả của khách. Dư nợ trong mảng này nhảy
từ 160 tỷ USD của năm 2001 lên 540 tỷ vào năm 2004 và bùng nổ thành 1.300
tỷ vào năm 2007. Theo ước tính vào cuối quý III năm 2008, hơn một nửa giá trị
thị trường nhà đất Mỹ là tiền đi vay với một phần ba các khoản này là nợ khó
đòi. Trước đó, để đối phó với lạm phát, FED đã liên tiếp tăng lãi suất từ 1% vào
giữa năm 2004 lên 5,25% vào giữa năm 2006 khiến lãi vay phải trả trở thành áp
lực quá lớn với người mua nhà. Thị trường bất động sản thời điểm này bắt đầu
có dấu hiệu đóng băng và sụt giảm.
2. Diễn biến :
a. Diễn biến năm 1997.
Thái Lan.
Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế THÁI LAN tăng trưởng với tốc độ bình
quân hàng năm là 9%. Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của
IMF đã cảnh báo nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh
tế có thể không giữ được lâu. Cuối năm 1996, thị trường chứng khoán Thái Lan
bắt đầu có sự điều chỉnh. Cả mức vốn hóa thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường
chứng khoán đều giảm đi.
Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng baht Thái bị tấn công đầu
cơ quy mô lớn. Ngày 30 tháng 6, thủ tướng Thái Lan Chavalit
Yongchaiyudh tuyên bố sẽ không phá giá baht, song rốt cục lại thả nổi baht vào
ngày 2 tháng 7. Baht ngay lập tức mất giá gần 50%. Vào tháng 1 năm 1998, nó
đã xuống đến mức 56 baht mới đổi được 1 dollar Mỹ. Chỉ số thị trường chứng
khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm
1997. Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn
23,5 tỷ USD. Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản.
Ngày 11 tháng 8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar
Mỹ cho Thái Lan. Ngày 20 tháng 8, IMF thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá
3,9 tỷ dollar.
Tác động tới châu Á
Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 07 năm 2007 tại Thái Lan, sau đó
lan ra một số quốc gia ở Châu Á(còn gọi là khủng hoảng tiền tệ Châu Á) . Các
quốc gia bị ảnh hưởng năng nhất của cuộc khủng hoảng này gồm: Inđônêsia,


Hàn Quốc và Thái Lan. Đại Lục Trung Hoa, Đài Loan, Singapore và Việt Nam
không bị ảnh hưởng. Các quốc gia còn lai bị ảnh hưởng một phần như: Hồng
Kông, Malaysia, Lào, Philippines……
Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, gồm mất giá tiền
tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở một số nước châu Á.
Nhiều doanh nghiệp bị phá sản, dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống dưới
ngưỡng nghèo trong các năm 1997-1998
b. Diễn biến năm 2007.
Tháng 8 năm 2007, một số tổ chức tín dụng của Mỹ như New Century Financial
Corporation phải làm thủ tục xin phá sản. Một số khác thì rơi vào tình trạng cổ
phiếu của mình mất giá mạnh như Countrywide Financial Corporation. Nhiều
người gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo sợ và đến rút tiền, gây ra hiện
tượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng thêm khó khăn. Nguy
cơ khan hiếm tín dụng hình thành. Cuộc khủng hoảng tài chính thực thụ chính
thức nổ ra.Từ Mỹ, rối loạn này lan sang các nước khác. Ở Anh quốc ngân
hàng Northern Rock bị chao đảo vì người gửi tiền xếp hàng đòi rút tiền gửi của
mình ra.Trước tình hình đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã tiến hành các biện
pháp nhằm tăng mức độ thanh khoản của thị trường tín dụng chẳng hạn như
thực hiện nghiệp vụ thị trường mở mua vào các loại công trái Mỹ, trái phiếu cơ
quan chính phủ Mỹ và trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ đảm bảo theo tín dụng
nhà ở. Tháng Chín 2007, Cục Dự trữ Liên bang còn tiến hành giảm lãi suất cho
vay qua đêm liên ngân hàng (Fed fund rates) từ 5,25% xuống 4,75%. Trong khi
đó, Ngân hàng Trung ương Châu Âu đã bơm 205 tỷ Dollar Mỹ vào thị trường
tín dụng để nâng cao mức thanh khoản.
Tháng 12 năm 2007, cuộc khủng hoảng tiến sang nấc trầm trọng hơn khi những
báo cáo kinh tế cuối năm cho thấy sự điều chỉnh của thị trường bất động sản
diễn ra lâu hơn dự tính và quy mô của khủng hoảng cũng rộng hơn dự tính. Tình
trạng đói tín dụng trở nên rõ ràng. Hệ thống dự trữ liên bang cố gắng giảm
mạnh lãi suất liên ngân hàng vào tháng 12/2007 và tháng 2 năm 2008 nhưng
không có hiệu quả như mong đợi.Tháng 3 năm 2008, Ngân hàng dự trữ liên
bang New York cố cứu Bear Sterns, nhưng không nổi. Công ty này chấp nhận
để JP Morgan Chase mua lại với giá 10 dollar một cổ phiếu, nghĩa là thấp hơn
rất nhiều với giá 130,2 dollar một cổ phiếu lúc đắt giá nhất trước khi khủng
hoảng nổ ra. Việc Ngân hàng dự trữ liên bang New York cứu không nổi Bear
Sterns và buộc lòng để công ty này bị bán đi với giá quá rẻ đã khiến cho sự lo
ngại về năng lực can thiệp của chính phủ cứu viện các tổ chức tài chính gặp khó
khăn. Sự sụp đổ của Bear Stern đã đẩy cuộc khủng hoảng lên nấc thang trầm
trọng hơn.Tháng 8 năm 2008, đến lượt Lehman Brothers một tổ chức tài chính
vào loại lớn nhất và lâu đời nhất của Mỹ, bị phá sản. Tiếp sau Lehman là một số


công ty khác. Tháng 9 năm 2008, Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Ổn
định Kinh tế Khẩn cấp 2008 cho phép bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ chi tới 700
tỷ USD cứu nền tài chính của nước này bằng cách mua lại các khoản nợ xấu của
ngân hàng, đặc biệt là các chứng khoán đảm bảo bằng bất động sản.
Hoa Kỳ năm 2008
Cuộc khủng hoảng này là nguyên nhân chính làm cho kinh tế Hoa Kỳ rơi
vào suy thoái từ tháng 12 năm 2007. NBER dự đoán đây sẽ là đợt suy thoái
nghiêm trọng nhất ở Hoa Kỳ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Bình quân
mỗi tháng từ tháng 1 tới tháng 9 năm 2008, có 84 nghìn lượt người lao
động Hoa Kỳ bị mất việc làm.
Hàng loạt tổ chức tài chính trong đó có những tổ chức tài chính khổng lồ và lâu
đời bị phá sản đã đẩy kinh tế Hoa Kỳ vào tình trạngđói tín dụng. Đến lượt nó,
tình trạng đói tín dụng lại ảnh hưởng đến khu vực sản xuất khiến doanh nghiệp
phải thu hẹp sản xuất, sa thải lao động.cắt giảm các hợp đồng nhập đầu
vào. Thất nghiệp gia tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và qua đó tới tiêu
dùng của các hộ gia đình lại làm cho các doanh nghiệp khó bán được hàng
hóa.Nhiều doanh nghiệp bị phá sản hoặc có nguy cơ bị phá sản, trong đó có cả 3
nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Hoa Kỳ là General Motors, Ford
Motor và Chrysler LLC Các nhà lãnh đạo 3 hãng ô tô này đã nỗ lực vận
động Quốc hội Hoa Kỳ cứu trợ, nhưng không thành công.[20] Hôm 12 tháng 12
năm 2008, GM đã phải tuyên bố tạm thời đóng cửa 20 nhà máy của hãng ở khu
vực Bắc Mỹ.[21] Tiêu dùng giảm, hàng hóa ế thừa đã dẫn tới mức giá chung của
nền kinh tế giảm liên tục, đẩy kinh tế Hoa Kỳ tới nguy cơ có thể bị giảm phát.
Cuộc khủng hoảng còn làm cho dollar Mỹ lên giá. Do dollar Mỹ là phương tiện
thanh toán phổ biến nhất thế giới hiện nay, nên các nhà đầu tư toàn cầu đã mua
dollar để nâng cao khả năng thanh khoản của mình, đẩy dollar Mỹ lên giá. Điều
này làm cho xuất khẩu của Hoa Kỳ bị thiệt hại.[
Đối với thế giới:
Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu quan trọng của nhiều nước, do đó khi kinh tế
suy thoái, xuất khẩu của nhiều nước bị thiệt hại, nhất là những nước theo hướng
xuất khẩu ở Đông Á. Một số nền kinh tế ở đây như Nhật Bản, Đài
Loan, Singapore và Hong Kong rơi vào suy thoái. Các nền kinh tế khác đều
tăng trưởng chậm lại.Châu Âu vốn có quan hệ kinh tế mật thiết với Hoa Kỳ chịu
tác động nghiêm trọng cả về tài chính lẫn kinh tế. Nhiều tổ chức tài chính ở đây
bị phá sản đến mức trở thành khủng hoảng tài chính ở một số nước
như Iceland, Nga. Các nền kinh tế lớn nhất khu vực là Đức và Ý rơi vào suy


thoái, và Anh, Pháp, Tây Ban Nha cùng đều giảm tăng trưởng. Khu vực đồng
Euro chính thức rơi vào cuộc suy thoái kinh tế đầu tiên kể từ ngày thành lập.[28]
Các nền kinh tế Mỹ Latinh cũng có quan hệ mật thiết với kinh tế Hoa Kỳ, nên
cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi các dòng vốn ngắn hạn rút khỏi khu vực và khi
giá dầu giảm mạnh. Ecuador tiến đến bờ vực của một cuộc khủng hoảng nợ.
Kinh tế các khu vực trên thế giới tăng chậm lại khiến lượng cầu về dầu mỏ cho
sản xuất và tiêu dùng giảm cũng như giá dầu mỏ giảm. Điều này lại làm cho các
nước xuất khẩu dầu mỏ bị thiệt hại. [30] Đồng thời, do lo ngại về bất ổn định xảy
ra đã làm cho nạn đầu cơ lương thực nổ ra, góp phần dẫn tới giá lương thực tăng
cao trong thời gian cuối năm 2007 đầu năm 2008, tạo thành một cuộc khủng
hoảng giá lương thực toàn cầu.Nhiều thị trường chứng khoán trên thế giới gặp
phải đợt mất giá chứng khoán nghiêm trọng. Các nhà đầu tư chuyển danh mục
đầu tư của mình sang các đơn vị tiền tệ mạnh như dollar Mỹ, yên Nhật, franc
Thụy Sĩ đã khiến cho các đồng tiền này lên giá so với nhiều đơn vị tiền tệ khác,
gây khó khăn cho xuất khẩu của Mỹ, Nhật Bản, Thụy Sĩ và gây rối loạn tiền tệ
ở một số nước buộc họ phải xin trợ giúp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. [Hàn Quốc rơi
vào khủng hoảng tiền tệ khi won liên tục mất giá từ đầu năm 2008.

3.Tác động tới Việt Nam :
Lần thứ ba đất nước ta lại đang đứng trước thách thức của cơ chế thị trường và
hội nhập, sau khi vượt qua lần đầu vào những năm 1986-1992, lần hai vào năm
1997-1998… 3 cuộc khủng khoảng thế giới, khu vực tác động đến Việt Nam và
là dịp bộc lộ Trí tuệ và Bản lĩnh Việt Nam, đồng thời cho phép rút ra nhiều bài
học quý…Lựa chọn con đường đổi mới và chủ động hội nhập quốc tế để đẩy
nhanh và nâng cao chất lượng phát triển theo hướng bền vững, Việt Nam đã,
đang và sẽ còn phải tiếp tục đối diện với nhiều thử thách đa dạng, trong đó có
các cú sốc và thậm chí không loại trừ cả các cuộc khủng hoảng kinh tế với các
tính chất và quy mô tác động khác nhau, xuất phát từ trong ra, cũng như từ
ngoài vào, như là một tất yếu kinh tế và giá phải trả cho quá trình phát triển
trong một thế giới ngày càng “phẳng” hơn, có tính liên kết mở và cạnh tranh
hơn…
Cuộc khủng hoảng những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX
có liên quan với sự đổ vỡ mô hình kinh tế Xô Viết, kết thúc chiến tranh lạnh
trên phạm vi toàn cầu, mở đầu cho thời kỳ đổi mới và chuyển sang mô hình
kinh tế thị trường của Việt Nam. Đây là giai đoạn khó khăn nhất, liên quan đến
sự an nguy, “ tồn tại hay không tồn tại” của thể chế, với việc mất đi nhiều nền
tảng truyền thống, chỗ dựa về tư tưởng, kinh tế, quân sự và cả tinh thần của Việt


Nam…Bằng sự thông minh, dũng cảm và bản lĩnh cách mạng, dựa vào sự đồng
thuận và tin tưởng của nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo đất nước
vượt qua những năm tháng khó khăn to lớn, mới mẻ, chưa có tiền lệ lịch sử cả ở
phạm vi quốc gia, cũng như trên thế giới …
Cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ những năm 1997-1998, khởi đầu từ sự đổ vỡ
hệ thống tỷ giá cố định duy ý chí đồng Bạt Thái Lan do thị trường bất động sản
từ phát triển quá nóng dựa trên các khoản vay tín dụng quốc tế “rẻ” bị đột ngột
chuyển sang đình trệ và cộng hưởng bởi sự phá hoại của đầu cơ tiền tệ quốc tế,
đã bùng phát và lan toả trên toàn Châu Á, ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp và gián
tiếp đến các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam. Cũng bằng sự bình tĩnh,
tự tin, năng động và cả một chút “măy mắn” do chưa hội nhập khu vực sâu,
chúng ta đã vượt qua với phí tổn ít nhất so với các nước khu vực…
Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ hiện nay khởi đầu từ sự lạm dụng cho vay kinh
doanh bất động sản dưới chuẩn và sự bùng nổ của các chứng khoán nợ phái sinh
đang cho thấy những hệ luỵ và các chi phí giải cứu đắt đỏ toàn cầu với các
“gói” giải pháp trị giá hàng ngàn tỷ USD của Mỹ, cũng như của các nước Châu
Âu, Châu Á và nhiều nước khác trên thế giới. Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục
chịu các tác động của cuộc khủng hoảng này từ nhiều phía, trước hết liên quan
đến khó khăn về thị trường xuất khẩu, sụt giảm nguồn cung ngoại tệ từ xuất
khẩu, kiều hối, đầu tư gián tiếp trên thị trường chứng khoán và FDI; ngoài ra,
cuộc khủng hoảng còn làm phức tạp thêm lời giải trong cuộc chiến với lạm phát
đang trong giai đoạn quyết định ở Việt Nam…Tuy nhiên, thực tế cho thấy
chúng ta đang đi đúng hướng và chắc chắn sẽ vượt lên một cách an lành như
những cuộc khủng hoảng trước. Hơn nữa, điều kiện hiện nay của Việt Nam có
nhiều điểm thuận lợi hơn trước kia, cả về thế và lực, cũng như về bản lĩnh và
kinh nghiêm đối phó với khủng hoảng…
Cả 3 cuộc khủng hoảng đều cho thấy sự bình tĩnh, tự tin, năng động và sáng tạo
sẽ cho phép Việt Nam tìm ra lời giải tối ưu xử lý các vấn đề trong nước và góp
phần tích cực vào sự phát triển ổn định chung của khu vực và thế giới.
Mỗi khi có khủng hoảng, Trí tuệ và Bản lĩnh Việt Nam lại được dịp bộc lộ và
phát huy, tinh thần đoàn kết và sự đồng thuận trong cộng đồng Việt Nam
lạiđược dịp thử thách và củng cố, sự chỉ đạo về mặt Nhà nước được tăng
cường,trở nên tập trung, nhất quán hơn và có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các
cấp, ngành và địa phương, sử dụng đồng bộ và linh hoạt hơn các giải pháp hành
chính và thị trường theo hướng toàn diện và “sốc” hơn;
Những chủ trương và quyết sách được đề ra vào các thời điểm này cũng thường
minh mẫn, đúng đắn, đồng bộ, thiết thực và có ý nghĩa lâu dài hơn... Tuy nhiên,
điều cốt lõi là mỗi quốc gia, mỗi Chính phủ phải có đủ dũng cảm để thực hiện
một cách đầy đủ những quyết sách của mình có hiệu lực, hiệu quả thường xuyên


trên thực tế, tránh hình thức, “đánh trống bỏ dùi” và chú ý hơn đến chọn lọc, ưu
tiên thực hiện chính sách trọng tâm phù hợp mục tiêu từng giai đoạn cụ thể theo
sát thực tiễn, tránh việc “cào bằng” chính sách; cũng như xử lý các tác động mặt
trái của những chính sách và điều chỉnh những bất cập mới phát sinh của chúng
trong thực tiễn. Nhân dân ta có truyền thống lạc quan và tiết kiệm, biết tự lượng
sức mình “trông giỏ bỏ thóc”, không “bóc ngắn cắn dài”, giàu ý chí, sự thông
minh và năng động thích nghi với những thách thức đủ loại trong cuộc sống để
sinh tồn và phát triển.
Nhờ Trí tuệ và Bản lĩnh Việt Nam, trên thực tế, nhất là từ nửa cuối năm2008
đến nay, đã và đang xuất hiện một số dấu hiệu mới tích cực cho phép cảm nhận
về sự chuyển sáng dần của bức tranh triển vọng kinh tế nước ta trong thời gian
tới, nổi bật là: Đang có sự cải thiện dần các chỉ số lạm phát và thâm hụt thương
mại, mối lo về cuộc khủng hoảng tiền tệ đã dịu đi; Thanh toán quốc tế vẫn được
duy trì ổn định, sự căng thẳng thâm hụt trong cán cân thanh toán đang dần được
cải thiện, dự trữ ngoại tệ được bảo tồn và tăng thêm; Thị trường nội tệ và ngoại
tệ đã có sự ổn định trở lại, tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ trên thị
trường“chợ đen” đã giảm sâu…Thâm hụt thương mại được cải thiện rõ rệt. Các
khu vực kinh tế lấy lại đà tăng trưởng khá ổn định, thị trường chứng khoán và
thị trường bất động sản đang cho thấy có sự phục hồi dần, tuy chậm, nhưng khá
vững chắc; Thị trường bất động sản đang dần ấm lên; Tốc độ phát triển kinh tế
của Việt Nam hiện vẫn thuộc hàng dẫn đầu các nước khu vực. Sự mở rộng các
mặt hàng sản xuất xuất khẩu là rất ấn tượng. Uy tín và “thương hiệu Việt Nam”
đang ngày càng được củng cố trong sự nhìn nhận và lựa chọn của thế giới; thu
hút vốn đầu tư nước ngoài đang có những dấu hiệu rất tốt, đặc biệt kết quả thu
hút FDI đạt mức kỷ lục chưa từng có trong lịch sử đất nước;
Dòng đầu tư gian tiếp nước ngoài cũng có dấu hiệu gia tăng trở lại; Xu hướng
đẩy mạnh mua vào cổ phiếu các ngân hàng Việt Nam của các nhà đầu tư
nướcngoài ngày càng đậm nét hơn; Các nhà đầu tư nước ngoài dường như đã
bước sang giai đoạn tăng tốc chiếm lĩnh thị trường Việt Nam ...Thế giới đang
hiểu và xích gần Việt Nam hơn. Đặc biệt, trong chuyến công tác Việt Nam
trung tuần tháng 9/2008, Phó Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) James Adam
nhận định: "Việt Nam đã có những bài học về điều hành kinh tế vĩ mô để kiềm
chế, giảm lạm phát, qua đó duy trì tăng trưởng…mọi khó khăn đang được khắc
phục dần dần. Chính phủ đã hành động quyết liệt kiềm chế lạm phát và đã đạt
được nhiều kết quả…Chính phủ Việt Nam đã có những quyết định thích hợp.
Đến giờ vẫn chưa có dấu hiệu rủi ro nào trong các quyết định…Việt Nam có thể
sẽ thành nước có thu nhập trung bình, thoát khỏi danh sách các nước nghèo của
WB trong vòng 3 năm tới”. Việt Nam được các nhà đầu tư Nhật Bản đánh giá là
địa điểm sản xuất tốt nhất ở châu Á trong vòng 5 - 10 năm tới. Nhiều doanh
nhân, nhà đầu tư nước ngoài khác cũng đã đánh giá Việt Nam như một con rồng


kinh tế mới, đang chuyển mình nhanh chóng và sẽ trở thành một trong những
nền kinh tế năng động nhất và hứa hẹn nhất khu vực.
V. Kết luận, kiến nghị, đề ra giải pháp khắc phục.
1.Kết Luận:
a.Hậu quả năm 1997:
Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất giá
tiền tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở một số nước châu Á.
Nhiều doanh nghiệp bị phá sản, dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống dưới
ngưỡng nghèo trong các năm 1997-1998. Những nước bị ảnh hưởng nặng nề
nhất là Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan.
Khủng hoảng kinh tế còn dẫn tới mất ổn định chính trị với sự ra đi
của Suharto ở Indonesia và Chavalit Yongchaiyudhở Thái Lan. Tâm lý chống
phương Tây gia tăng cùng với sự phê phán gay gắt nhằm vào George
Soros và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Các phòng trào Hồi giáo và ly khai phát triển
mạnh ở Indonesia khi chính quyền trung ương của nước này suy yếu.
Một ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng, đó là GDP và GNP bình quân đầu
người tính bằng Dollar Mỹ theo sức mua tương đương giảm đi. Nội tệ mất giá là
nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng này. Cuốn CIA World Fact Book cho biết
thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan đã giảm từ mức 8.800 USD năm
1997 xuống còn 8.300 USD vào năm 2005, của Indonesia giảm từ 4.600 USD
xuống 3.700 USD, của Malaysia giảm từ 11.100 USD xuống 10.400 USD.
Cuộc khủng hoảng không chỉ lây lan ở khu vực Đông Á mà nó góp phần dẫn
tới khủng hoảng tài chính Nga và khủng hoảng tài chính Brasil. Một số nước
không bị khủng hoảng, nhưng kinh tế cũng chịu ảnh hưởng xấu do xuất khẩu
giảm và do FDI vào giảm.
b. Hậu quả năm 2008:
Mỹ
Sau thời kỳ khủng hoảng vào cuối năm 2008 và đầu năm 2009, nền kinh tế Mỹ
đang lấy lại đà tăng trưởng. Cụ thể, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ gần đây đã giảm từ
10% cuối năm 2009, xuống còn 7,2% vào quý III/2013; thị trường bất động sản
phục hồi và ổn định… Kinh tế Mỹ có được kết quả trên là nhờ vào các yếu tố
sau:


Thứ nhất, Chính quyền G. Bush đã “bơm” gói cứu trợ lớn nhất trong lịch sử trị
giá lên tới 700 tỷ USD, nhằm giải quyết các tài sản xấu trong khu vực tài chính
(chủ yếu là chứng khoán cho vay cầm cố), trợ giúp tài chính thông qua mua cổ
phần nâng vốn, thay đổi quản lý và lãnh đạo các công ty. Kết thúc chương trình
cứu trợ vào ngày 21/7/2010, gói cứu trợ này đã làm cho khu vực tài chính và
ngân
hàng
cho
vay
trở
lại;
Thứ hai, gói kích thích kinh tế trị giá 831 tỷ USD của chính quyền Tổng thống
B. Obama vào tháng 01/2009, để chi cho các hạng mục cơ sở hạ tầng, công
nghệ thông tin, giáo dục; hỗ trợ dân chúng gặp khó khăn; giảm thuế và mua
hàng hoá và dịch vụ;
Thứ ba, các chương trình giải cứu khu vực tài chính và cung tiền mạnh mẽ chưa
từng có của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Cụ thể, FED đã chi 29 tỷ USD
cho Jase P. Morgan mua lại Tập đoàn tài chính Bear Stern, chi 182 tỷ USD để
giải cứu Tập đoàn tài chính AIG. Bên cạnh đó, FED cũng đã có hàng loạt các
động thái khác như các chương trình nới lỏng định lượng, các quyết định cắt
giảm lãi suất... nhằm hỗ trợ nền kinh tế Mỹ hồi phục.
Châu Âu
Căn bệnh” nợ công ở châu Âu bắt đầu bùng phát từ Hy Lạp (đầu năm 2009) khi
nước này tiết lộ mức thâm hụt ngân sách lên tới 13,6% GDP. Sau đó nợ công đã
nhanh chóng lan sang các nước khác như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italia và
Pháp.
Điển hình ở Tây Ban Nha, vấn đề nghiêm trọng nhất là khu vực ngân hàng với
đống nợ xấu lên tới 300 tỷ Euro (441 tỷ USD).
Thời kỳ này, khu vực Eurozone phải giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ: Khủng
hoảng nợ công và khủng hoảng hệ thống ngân hàng bắt nguồn từ Tây Ban Nha.
Để giải quyết những nhiệm vụ này, sau nhiều nỗ lực, ngày 11/7/2011, Eurozone
thống nhất thành lập Cơ chế Ổn định châu Âu (ESM) nhằm cứu trợ các nền
kinh tế trong khu vực thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công.
Điều đáng nói, sau gần 1 năm ra đời thì đến tháng 12/2012, ESM mới chính
thức được vận hành. Hệ quả là lòng tin của các nhà đầu tư ở khu vực này bị hủy
hoại nghiêm trọng. Châu Âu thực sự có hy vọng khi ông Mario Draghi – Chủ
tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) điều chỉnh chính sách: (i) Cắt giảm
mạnh lãi suất đồng Euro từ 0,75%/năm xuống còn 0,5% từ tháng 4/2013 và sau
đó hạ tiếp còn 0,25%/năm; (ii) Mua trái phiếu của các chính phủ gặp khó khăn
về nợ công; (iii) Cung ứng tiền giá rẻ cho các ngân hàng gặp khó khăn về thanh
khoản một cách trực tiếp mà không cần phải thông qua chính phủ…


Với những thay đổi lớn trong chính sách và biện pháp giải cứu, châu Âu đã
vượt qua khủng hoảng nợ công và loại bỏ nguy cơ đổ vỡ khối Eurozone. Niềm
tin của nhà đầu tư đã quay trở lại và tăng trưởng kinh tế đã ổn định hơn Mặc dù
mức tăng trưởng của Eurozone còn âm nhưng dự báo khu vực này sẽ kết thúc
thời kỳ khủng hoảng trong quý IV/2013 hoặc trong quý I/2014..
2. ĐNÁ & HOA KỲ đối phó với cuộc khủng hoảng :
Các biện pháp khôi phục kinh tế sau khủng hoảng năm 1997.
Để khôi phục nền kinh tế và ngăn ngừa khủng hoảng tái diễn, các nền kinh tế
Đông Á bị ảnh hưởng nặng đều tiến hành các cải cách cơ cấu mạnh mẽ, gồm:
cải tổ cách thức quản lý trong khu vực doanh nghiệp, cải cách tài chính, đẩy
mạnh hội nhập quốc tế, đổi mới phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô, và đổi mới
cả phương thức tăng trưởng kinh tế.
Đổi mới phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô.
Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia đã và đang thực thi một chế độ tỷ giá hối đoái
linh hoạt và cơ chế ổn định giá cả. Cụ thể, các nước từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái
neo và hướng tới chế độ mục tiêu lạm phát. Đồng thời, các nước nỗ lực gia tăng
lượng dữ trự ngoại hối nhà nước của mình. Từ 1997 đến 2005, năm nước bị ảnh
hưởng nặng nhất của khủng hoảng đã tăng lượng dự trữ ngoại hối của mình lên
bốn lần, đạt 378 tỷ USD.
Cải cách khu vực tài chính.
Các nước Đông Á đã thực thi các biện pháp, chính sách sau để cải cách khu vực
tài chính: (1) Xóa và giảm nợ xấu, tái vốn hóa các thể chế tài chính; (2) Đóng
cửa các thể chế tài chính đổ vỡ, (3) Tăng cường giám sát và áp dụng các tiêu
chuẩn quản trị, kế toán mới đối với các tổ chức tín dụng và tài chính khác; (4)
Đẩy mạnh chuyên môn hóa các thể chế tài chính; (5) Tăng cường giám sát và
điều tiết các tổ chức tín dụng đồng thời với nâng cao kỷ luật thị trường. Yellen
(2007) cho thấy các ngân hàng của Hàn Quốc đã áp dụng phương thức quản trị
hiện đại của phương Tây và đã giảm được tỷ lệ sở hữu gia đình tại các ngân
hàng, tăng cường lợi ích cho các giám đốc bằng cách cho họ quyền chọn mua cổ
phiếu, v.v... Còn các ngân hàng Malaysia đã thay đổi tập quán cho vay của
mình. Giờ đây, họ cho các xí nghiệp nhỏ và vừa vay nhiều hơn.


Cải tổ cách thức quản lý của khu vực xí nghiệp.
Các nước Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia đã hoàn thiện các thủ tục về phá
sản, nỗ lực tái cơ cấu nợ của các xí nghiệp, củng cố các quy định và tiêu chuẩn
về cáo bạch, bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ cũng như nâng cao quyền
lực và trách nhiệm của ban giám đốc, áp dụng các tiêu chuẩn kế toán và kiểm
toán theo thông lệ quốc tế, tăng cường mức vốn tự có của doanh nghiệp và tạo
thuận lợi cho các hoạt động mua lại và sáp nhập kể cả với doanh nghiệp trong
nước cũng như với doanh nghiệp nước ngoài.
Cải cách các thị trường.
Các nước Đông Á đã và đang phát triển thị trường trái phiếu định danh bằng nội
tệ của mình. Đồng thời, cải cách thị trường lao động đã cho phép các xí nghiệp
tuyển dụng và sa thải lao động dễ dàng hơn, giúp xí nghiệp của các nước Đông
Á trở nên linh hoạt hơn.
Ở Mỹ :
Chính phủ
Tổng thống George W. Bushtrong một buổi làm việc tại Nhà Trắng với một số
thành viên của Quốc hội. Hai ứng viên Tổng thốngJohn McCain và Barack
Obamacũng có mặt.
Ngày 13 tháng 2 năm 2008, Tổng thống George W. Bush đã ký Economic
Stimulus Act of 2008 theo đó chính phủ sẽ áp dụng một chương trình kích cầu
tổng hợp trị giá 168 tỷ dollar chủ yếu dưới hình thức hoàn thuế thu nhập cá
nhân.[38]
Trước tình hình khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, chính quyền Bush đã trình
quốc hội thông qua gói tài chính 700 tỷ dollar. Ban đầu Hạ viện Hoa Kỳ do
Đảng Dân chủ Hoa Kỳ chiếm đa số bác bỏ vì cho rằng không thể phí tiền để
cứu không được quá nhiều tổ chức tài chính gặp khó khăn. Song sau khi kế
hoạch sử dụng 700 tỷ dollar được điều chỉnh sang hướng chi cho cả các chương
trình phục vụ đông đảo người dân nhằm kích thích tiêu dùng (như trợ giúp cho
người thất nghiệp, hỗ trợ dinh dưỡng cho người nghèo và người thu nhập thấp,
phát triển cơ sở hạ tầng), qua đó vực dậy nền kinh tế, nó đã được Thượng viện
thông qua.[39][40] Ngày 3 tháng 10 năm 2008, Tổng thống Bush đã ký Emergency
Economic Stabilization Act of 2008 cho phép thực hiện gói kích thích 700 tỷ
dollar này.


Kế hoạch của Barack Obama.
Barack Obama - khi đó hẵn còn là ứng viên Tổng thống Hoa Kỳ - phát biểu
trước Thượng viện về cuộc khủng hoảng 2007.
Barack Obama, tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ, sau khi trúng cử đã nêu ra một
chương trình kích thích kinh tế trong đó Hoa Kỳ sẽ tiến hành kích cầu bằng:
Những dự án phát triển cơ sở hạ tầng chưa từng có kể từ thập niên 1950;


[41]





Nâng cấp hệ thống sử dụng năng lượng của các văn phòng cơ quan chính
phủ Hoa Kỳ theo hướng tiết kiệm năng lượng; Đầu tư lớn cho phát triển
công nghệ nhất là thông tin y tế điện tử, hệ thống máy tính cho các trường
phổ thông và phát triển mạng Internet băng thông rộng;[42]
Cấp thêm ngân sách cho Chương trình bảo hiểm y tế (Medicaid).[43]

Cấp thêm 50 tỷ dollar ngoài khoản 20 tỷ dollar đã được đồng ý cho ngành
công nghiệp ô tô với điều kiện là ngành này phải cải tổ đáng kể.[44]
The Obama-Biden Pla


Chương trình nghị sự phục hồi kinh tế của Tổng thống và Phó Tổng thống
mới[45] có nội dung:


Hành động khẩn cấp để tạo việc làm cho người Mỹ;



Trợ giúp khẩn cấp cho các hộ gia đình gặp khó khăn;



Trợ giúp trực tiếp và khẩn cấp cho người sở hữu nhà, thay vì cứu trợ các
tổ chức tài chính cho vay nhà ở thế chấp vô trách nhiệm;



Phản ứng nhanh, mạnh với khủng hoảng tài chính bằng tất cả các công cụ
mà nước Mỹ có.

Ngày 17 tháng 2 năm 2009, Barack Obama đã ký American Recovery and
Reinvestment Act. Đạo luật này cho phép Chính phủ thực hiện gói kích thích thứ
hai kể từ khi khủng hoảng nổ ra. Gói kích thích này trị giá 787 tỷ dollar.

3.Bài học rút ra cho VIỆT NAM.


Thứ nhất, tuân thủ các yêu cầu, lẫn quy trình của kinh tế thị trường, coi trọng
tính đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm của các mục tiêu, loại công cụ chính
sách và sự phối hợp ăn khớp cần có giữa các cơ quan chức năng hữu quan, nâng
cao hiệu quả đầu tư kinh tế-xã hội...
Cần sớm khắc phục một số những vướng mắc, mâu thuẫn trong nhận thức về
quyền lực chủ quan của nhà nước với sức mạnh thị trường khách quan; tính ôm
đồm đa mục tiêu với tính cụ thể và có hạn trong hoạch định kế hoạch phát triển
ngắn và trung hạn vĩ mô và vi mô; sự chi phối ít nhiều bởi tư duy nhiệm kỳ và
lợi ích cục bộ, địa phương, của sự “vận động hành lang” và cơ chế quan liêu,
hình thức, “ làm thì láo, báo cáo thì hay”...đã, đang và sẽ từng ngày, từng giờ
tồn tại và phát tác tiêu cực, làm đình trệ, hạn chế, thậm chí biến dạng công cuộc
đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước. Cần cắt giảm các chi tiêu công không
mang tính sản xuất và không phục vụ cho các mục tiêu bảo đảm xã hội, cũng
như vào việc cải thiện căn bản cơ cấu và hiệu quả sử dụng vốn vay của khối các
đại gia tổng công ty và tập đoàn DNNN, mà hiện đang chiếm giữ tới hơn 50%
vốn đầu tư nhà nước, 70% tổng dư nợ quốc gia và hơn 80% tổng dư nợ tín
dụng. Cần hỗ trợ sự hình thành những tập đoàn kinh tế mạnh trong khu vực nhà
nước, lẫn cả trong khu vực ngoài nhà nước, sao cho chúng đủ sức trở thành đối
tác bình đẳng với các công ty nước ngoài không chỉ trên thị trường nội địa, mà
còn cả trên thị trường khu vực và quốc tế. Đặc biệt, cần nâng cao chất lượng
xây dựng các quy hoạch, dự án; thực hiện nghiêm túc các quy định về đấu thầu
thực chất( chống thông thầu, ép thầu và đánh trận giả kiểu « quân xanh quân đỏ
») ; tăng cường kiểm toán độc lập, xây dựng và áp dụng rộng rãi hệ thống chỉ
tiêu hiệu quả và hệ số tín nhiệm. Về dài hạn, cần chuyển nhanh từ mô hình “nhà
nước – nhà đầu tư lớn nhất” và phát triển chủ yếu theo bề rộng hiện nay, sang
mô hình “nhà nước – nhà quản lý công” và phát triển theo bề sâu, đi đôi với
việc chuyển nguồn động lực chính trong đâu tư phát triển kinh tế từ khu vực
kinh tế nhà nước sang khu vực kinh tế ngoài nhà nước, phù hợp tinh thần cốt lõi
của công cuộc đổi mới và theo xu hướng chung trên thế giới.
Thứ hai, nâng cao chất lượng công tác thông tin, dự báo, phản biện và chủ động
các phương án và giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn khủng hoảng...Cần coi trọng
đúng mức và phân biệt rạch ròi giữa yêu cầu dự báo khách quan với mục tiêu
chính sách và ý chí chủ quan. Dự báo cần bám sát, cập nhật và đưa ra các cảnh
báo cần thiết về các biến động thị trường khách quan trong nước và quốc tế.
Đồng thời, cần coi trọng dự báo tác động 2 mặt của chính sách theo yêu cầu
quản lý kinh tế thị trường. Việc dự báo, đánh giá tác động 2 mặt tích cực và tiêu
cực cả về xu hướng định tính, lẫn về định lượng của việc áp dụng các chính
sách và định mức cụ thể trong quá trình điều hành kinh tế vĩ mô của nhà nước là
rất quan trọng, nhất là với những mặt hàng đầu vào nhạy cảm của đời sống kinh
tế- xã hội đất nước. Cả về lý thuyết, lẫn thực tế đều cho thấy, xuất phát từ lợi ích
hoặc mục tiêu cục bộ hạn hẹp của ngành và đơn vị mình, cũng như cả từ các sức


ép đa chiều khác, các cá nhân hoặc tổ chức được phân công thực hiện dự báo,
nếu có lợi ích gắn liền hoặc bị chi phối cao bởi các đơn vị kinh doanh độc
quyền nêu trên, chắc chắn trong quá trình tiến hành và công bố kết quả dự báo
sẽ khó bảo đảm việc tính đúng, tính đủ và công khai các tác động 2 mặt, nhất là
mặt trái và các hệ lụy dây chuyền khôn lường do những chính sách và mức giá
mà họ đề nghị và mượn tay chính phủ áp đặt cho xã hội. Việc coi nhẹ các phản
biện xã hội và các đánh giá tác động chính sách (định kỳ hoặc đột xuất) trước và
sau khi ban hành do các tổ chức chuyên nghiệp và độc lập thực hiện theo đặt
hàng của cấp có thẩm quyền khách quan cũng là một bất cập khác trong quy
trình lập pháp nói chung, trong công tác dự báo kinh tế nói riêng ở nước ta. Việc
thành lập bổ sung mạng lưới các cơ quan có chức năng chuyên trách xây dựng,
phản biện và đề xuất hoàn thiện các chính sách quản lý nhà nước các cấp từ TW
xuống các địa phương, trước hết là các Phòng Chính sách và Dự báo kinh tế ở
các sở kinh tế tham mưu tổng hợp cho chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc TW( như sở KH&ĐT, sở Tài chính…) là cần thiết để khắc phục các hạn
chế này, nhất là trong việc sớm phát hiện các bất cập, ngăn chặn sự lạm dụng và
đề xuất các bổ sung cần thiết kịp thời cho các chính sách mà TW đã ban hành.
Thứ ba, trọng dụng người tài là coi trọng cuộc đấu tranh không khoan nhượng
với tệ nạn tham nhũng là biểu hiện, điều kiện và giải pháp cần thiết để củng cố
Bản lĩnh và trí Tuệ Việt Nam trong quá trình phát triển...... Tham nhũng làm
thất thu và thất thoát, cũng như làm giảm hiệu quả chi NSNN, làm nản lòng nhà
đầu tư trong và ngoài nước, làm giảm hiệu lực những luật định quản lý kinh tế xã hội (nhất là với chính sách chống đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả......), làm
gia tăng tình trạng rối loạn kỷ cương xã hội, mất đoàn kết và uy tín quốc gia,
gây cản trở cho sự vận hành thông suốt của nền kinh tế với tư cách một chỉnh
thể tự nhiên, làm giảm hiệu lực và hiệu quả các chính sách, uy tín nhà nước, gây
tổn thất to lớn, khó lường cho đất nước, là trở ngại lớn nhất, thách thức lớn nhất,
kẻ thù nguy hiểm nhất từ bên trong đối với công cuộc đổi mới và phát triển ở
Việt Nam.... Tham nhũng làm tăng các xung lực gây ra khủng hoảng và lạm
phát, đồng thời làm trầm trọng thêm những hậu quả của chúng, làm giảm kết
quả những chính sách chống khủng hoảng và lạm phát của Chính phủ.Chống
tham nhũng ở Việt Nam thực chất là cuộc đấu tranh về “giá cả của những con
dấu và chữ ký”. Đối tượng của nó hạn hẹp, nhưng phức tạp. Tính phức tạp này
nắn liền với sự chưa hoàn thiện và thiếu đồng bộ của những đổi mới các cơ chế
kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước, cũng như bởi sự suy giảm chất lý tưởng
trong nhận thức chính trị của các quan chức nhà nước ở vào giai đoạn chuyển
đổi đầy cam go này. Nếu cuộc đấu tranh này bị xem nhẹ thì không những không
thể ngăn chặn và giải quyết hiệu quả các cuộc khủng hoảng và lạm phát tương
lai, mà còn nẩy sinh nguy cơ đưa cuộc cải cách kinh tế hiện nay thoát khỏi sức
mạnh của luật pháp, từ bỏ lợi ích cộng đồng, để thiên về lợi ich phe phái. Khi
đó, hậu quả tiêu cực tham nhũng gây ra cho nền kinh tế - xã hội sẽ rất phức tạp,
to lớn và khó lường.... Vì thế, để củng cố Bản lĩnh và Trí tuệ Việt Nam trong


tương lai không thể không bao hàm nội dung chống tham nhũng triệt để. Nhằm
mục đích đó, cần phải: Khắc phục sự không minh bạch giữa hai hệ thống quyền
lực Đảng và Nhà nước. Dân chủ hoá đời sống kinh tế - xã hội phải được tăng
cường, đi đôi với xây dựng một nhà nước pháp quyền mạnh. Pháp luật là tối
cao, không có cá nhân nào đứng trên pháp luật; Lấp kín những lỗ hổng luật
pháp mà có thể là nơi xuất phát và ẩn nấp của tệ tham nhũng. Hệ thống luật
pháp phải rõ ràng, đồng bộ và nhất quán, đồng thời mang tính hiện đại, theo kịp
trình độ phát triển luật pháp và thông lệ quốc tế. Các thủ tục hành chính phải
đơn giản hoá, công khai, công bằng, thống nhất, nhanh chóng và trực tiếp. Việc
phân định nhiệm vụ, quyền hạn trong hệ thống cơ quan hành chính phải gắn liền
với tăng cường trách nhiệm trực tiếp và cuối cùng của chúng. Đảm bảo mọi tài
sản xã hội, mọi luật định và mọi công việc Nhà nước đều có người chịu trách
nhiệm cá nhân và trách nhiệm hình sự cụ thể, rõ ràng; Tạo lập cơ chế phòng
ngừa và trấn áp tham nhũng có hiệu lực. Phát triển hệ thống tư pháp và thực
hiện rộng rãi tự do báo trí, ngôn luận. Mọi khiếu nại của công dân phải được xét
xử nhanh và thoả đáng trên cơ sở pháp luật. Xây dựng đội ngũ công an kinh tế
lẫn công an hình sự mạnh, chỉ hành động theo pháp luật và bản thân cũng phải
được sự bảo vệ của pháp luật. Thường xuyên tiến hành “tẩy rửa” bộ máy Nhà
nước từ trên xuống. Tập trung quyền lực cho người đủ uy tín và năng lực để độc
lập thực hiện những chiến dịch kiểu “bàn tay sạch” ở Ý, bắt đầu từ những khâu,
đầu mối quan trọng nhất để tạo và nhân lên kết quả dây chuyền. Kiên quyết loại
bỏ những phần tử và cả những bộ phận quan chức tham nhũng (trong tương lai,
xu hướng tham nhũng tập thể sẽ gia tăng thay cho tham nhũng của một vài cá
nhân). Mặt khác, ngày càng cải thiện đời sống cho công chức Nhà nước, đảm
bảo sự tin tưởng và an toàn vào cuộc sống tương lai của họ để họ an tâm công
tác, không cần phải tham nhũng vì túng thiếu. Tăng cường trang bị cơ sở vật
chất – kỹ thuật cho công tác quản lý Nhà nước. Hiện đại hoá các công nghệ
quản lý nhà nước, đi đôi với nâng cao đạo đức, lý tưởng và năng lực nghiệp vụ
chuyên môn của công chức nhà nước....
Việt Nam không thiếu vốn và tài nguyên (cả vật chất, lẫn nguồn nhân lực),
không thiếu các cơ hội kinh doanh cả trong và ngoài nước, nhưng hiện đang
thiếu một cơ chế đào tạo, tập hợp và trọng dụng nhân tài - tức những lao động
có trình độ cao, các nhà khoa học, các chuyên gia cao cấp, các nhà tổ chức và
kinh doanh tài ba...... trong tất cả các lĩnh vực: nghiên cứu, tư vấn, hoạch định,
chính sách và quản lý nhà nước, cũng như trong kinh doanh và quản lý kinh
doanh. Họ chính là những nhà thiết kế, tổ chức và trực tiếp sử dụng tốt nhất các
yếu tố về lao động, vốn, tài nguyên và cơ hội kinh doanh nói trên. Hoạt động
của họ sẽ là chất keo kết dính các nhân tố, và tạo ra động lực mạnh mẽ hàng đầu
cho sự phát triển đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam hiện đại. Cơ chế đào tạo,
tập hợp và trọng dụng nhân tài phải tạo sự di chuyển chất xám tự do và nâng
cao tính chuyên nghiệp trong thị trường lao động theo “quy luật tối ưu” của tự
nhiên.


Mọi lao động trong xã hội đều có quyền và nhận được sự giáo dục tốt, cần thiết
và sống được bằng lao động chuyên môn của mình; thoả mãn các điều kiện nuôi
dưỡng tốt nhất cho nhân tài (lương, điều kiện học tập, lao động, khả năng tiếp
cận các thông tin và công nghệ mới, sự tôn trọng về tinh thần và thăng tiến cá
nhân....). Các quan chức hành chính, các nhà khoa học và các doanh nhân, nhà
quản trị doanh nghiệp thực thụ cần được ngồi đúng vị trí của mình; Đồng thời,
phải coi trọng việc phát hiện, lựa chọn và sử dụng đúng những nhân tài đầu đàn,
tái lựa chọn liên tục trên cơ sở lấy hiệu quả công việc, chứ không phải bằng cấp,
học vị, chức tước..
Các thang bậc giá trị xã hội phải có sự thay đổi: Không chỉ các vị lãnh đạo nhà
nước, mà các nhà khoa học, văn nghệ sĩ, doanh nhân, lao động lành nghề, các
chuyên gia trong mọi lĩnh vực ngành nghề kinh tế - xã hội đều phải được tôn
trọng và được đối xử như nhau trong dư luận xã hội và trong hưởng thụ lợi ích
vật chất tương xứng với tài năng và đóng góp có ích cho xã hội của họ. Phải coi
trọng việc phát hiện, lựa chọn và sử dụng đúng những nhân tài đầu đàn, nếu
chọn sai đầu đàn thì cả đội ngũ sẽ kém hiệu lực và phát sinh nguy cơ hạ thấp
dần trình độ cán bộ, công chức Nhà nước; cần tái lựa chọn liên tục, lấy hiệu quả
công việc làm cơ sở đánh giá và lựa chọn chứ không phải bằng cấp, học vị,
chức tước. Trong mọi thời kỳ phát triển của đất nước phải đảm bảo duy trì
nguyên tắc mọi lao động trong xã hội đều sống được bằng lao động chuyên môn
của mình. Lợi ích kinh tế cá nhân phải được tôn trọng cùng với lợi ích cộng
đồng và siết chặt kỷ luật lao động. Không chỉ sử dụng biện pháp giáo dục hành
chính, mà còn cần dùng cả biện pháp cạnh tranh - thất nghiệp để nâng cao hiệu
quả và kỷ luật lao động. Tăng cường kiểm tra, thanh lọc và trừng phạt những
lao động lười biếng, gian dối, kém hiệu quả. Ngoài ra, cần nhấn mạnh rằng sự
tồn tại đông đảo lực lượng lao động có thu nhập thấp, kém đào tạo tay nghề và
những người nghèo khổ, trong khi hệ thống an sinh xã hội chưa được coi trọng
phát triển sẽ luôn luôn là nguồn sung lực tiềm tàng gây ra sự bất ổn về kinh tế
xã hội, thậm chí đe doạ sự tồn tại của cả chế độ chính trị của bất kỳ quốc gia
nào. Đặc biệt, cần quan tâm giải quyết tốt nhu cầu cần về xây dựng, củng cố và
phổ biến rộng rãi nhận thức về các giá trị xã hội chuẩn chung nhằm tạo sự đồng
thuận xã hội rộng rãi trong nước và quốc tế, kể cả với Việt Kiều, tạo thước đo
tin cậy trong định hướng, đánh giá các hoạt động kinh tế – xã hội, cũng như nhu
cầu về xây dựng các thiết chế đủ hiệu lực bảo vệ, phát huy hiệu quả các nguồn
lực và sức mạnh của quốc gia, của các địa phương và doanh nghiệp trong nước
và quốc tế cho phát triển bền vững...
Nói cách khác, Trí tuệ và Bản lĩnh Việt Nam sẽ được hội tụ, biểu hiện tập trung
và phát huy tốt nhất khi và chỉ khi tạo được sự đồng thuận và dân chủ hóa xã
hội cao trên cơ sở xây dựng, củng cố và phổ biến rộng rãi nhận thức về các giá
trị xã hội chuẩn chung, các lợi ích quốc gia trở thành tối thượng, đội ngũ trí thức
tinh hoa được tập hợp và trọng dụng, phản biện và giám sát xã hội được tăng


cường, đồng thời các nhà lãnh đạo biết nêu gương, với mục tiêu cao nhất và
xuyên suốt của mọi chính sách là bảo đảm xây dựng một đất nước Việt Nam
độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, giàu mạnh, xã hội công bằng , dân chủ và văn minh..



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×