Tải bản đầy đủ

tiểu luận luật bản quyền hoa kỳ

ĐẠI HỌC HUẾ
ĐẠI HỌC LUẬT

BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài
BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ
KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT CHO VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện:
1. Phan Thị Tiên Sinh
2. Tô Thị Minh Hằng

Lớp: KT K37A

HUẾ, 04/2016
1


MỤC LỤC

2



A. PHẦN MỞ ĐẦU
Sở hữu trí tuệ được hiểu là việc sở hữu các tài sản trí tuệ - những kết quả từ
hoạt động tư duy, sáng tạo của con người. Đối tượng của loại sở hữu này là các tài
sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng trong
quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học, công nghệ của nhân loại.
Đó là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học – kĩ thuật ứng
dụng cũng như các tên gọi, hình ảnh được sử dụng trong các hoạt động thương
mại.Do vậy, việc bảo hộ quyền tác giả đối với các sản phẩm của sự sáng tạo trí tuệ
của các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Hoa Kì là nước công nghiệp rất phát triển, các quy định về quyền tác giả rất
chặt chẽ, vấn đề bảo hộ cũng như thực thi các xâm phạm quyền tác giả được coi
trọng và thực hiện một cách nghiêm chỉnh.Vì vậy, việc nghiên cứu, học hỏi kinh
nghiệm của quốc gia này nhằm phục vụ công tác xây dựng pháp luật về bảo vệ
quyền tác giả có ý nghĩa to lớn đối với Việt Nam.
Bên cạnh đó, Hoa Kì là đối tác thương mại lớn của Việt Nam và đồng thời là
bên tham gia kí kết hiệp định về Quyền tác giả năm 1997, Hiệp định Thương mại
năm 2001, hai nước cùng là thành viên Công ước Bern về bảo hộ quyền tác giả. Do
đó, việc nghiên cứu, tiếp thu, tiến tới sự tương thích về pháp luật trong lĩnh vực
quyền tác giả giữa hai nước là điều kiện hết sức quan trọng trong giao lưu, hợp tác
về kinh tế, thương mại, văn hóa.
Tuy có ý nghĩa lí luận và thực tiễn quan trọng như vậy nhưng vấn đề bảo hộ
quyền tác giả trong pháp luật Hoa Kì chưa được các nhà khoa học pháp lý đầu tư
nghiên cứu một cách thỏa đáng. Chính vì vậy, nhóm đã chọn đề tài tiểu luận là
“Bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Hoa Kì – kinh nghiệm pháp luật cho Việt
Nam”.

3


B. PHẦN NỘI DUNG
C. CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ
1.1.

Khái quát về quyền tác giả:

1.1.1. Khái niệm quyền tác giả:
Quyền tác giả, theo tiếng anh thực chất là quyền sao chép vì từ “copyright”
được ghép từ “copy” (sao chép) và “right” (quyền).

Các nước theo hệ thống luật dân sự (civil law) (của các nước châu Âu lục
địa, điển hình là Pháp) gọi là quyền tác giả (droit d’ auteur). Ngay trong thuật ngữ
này tác giả được đề cập một cách trực tiếp thể hiện quyền của tác giả trước hết là
quyền tinh thần đối với những tài sản trí tuệ do mình sáng tạo ra, sau đó mới là
quyền kinh tế (thương mại hóa tài sản trí tuệ). Với thuật ngữ quyền tác giả, đã thể
hiện và ghi nhận trực tiếp các quyền tinh thần và quyền kinh tế của tác giả.1
Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, quyền tác
giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
Như vậy, có thể khái quát quyền tác giả là quyền của người sáng tác đối với
các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học do họ sáng tạo. quyền tác giả bao gồm
những quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả liên quan đến tác phẩm, các quyền
này được bảo hộ bởi pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm của quyền tác giả
Thứ nhất, quyền tác giả là quyền gắn liền với nhân thân của chủ thể sáng tạo,
là sự thể hiện quyền cơ bản của con người, đó là quyền tự do sáng tạo.
Thứ hai, quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.Quyền nhân
thân là những quyền gắn liền với các chủ thể, bao gồm quyền nhân thân không thể
chuyển giao và quyền nhân thân có thể chuyển giao.Còn quyền tài sản là độc quyền
khai thác hoặc cho người khác khai thác tác phẩm của chủ sở hữu quyền tác giả.
Thứ ba, quyền tác giả có thể trở thành đối tượng của các giao dịch mua bán
thông qua hình thức chuyển quyền sử dụng quyền tác giả bằng hợp đồng.
Thứ tư, đối tượng của quyền tác giả được định hình dưới một dạng vật chất
nhất định và thiên về việc bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm, cùng với sự phát
1Giáo trình Pháp luật sở hữu trí tuệ Đại học Luật Huế , trang 31

4


triển khoa học công nghệ quyền tác giả dễ bị xâm phạm hơn. Đối tượng bảo hộ
quyền tác giả là các tác phẩm – những ý tưởng sáng tạo được thể hiện dưới hình
thức vật chất nhất định. Pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của
các ý tưởng sáng tạo mà không quy định điều kiện nội dung và giá trị nghệ thuật
của tác phẩm được bảo hộ.
Điều này có nghĩa là mặc dù ý tưởng của các tác giả là trùng hoặc tương tự
với nhau nhưng được thể hiện dưới hình thức khác thì các tác giả đó đều được pháp
luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm do mình sáng tạo ra.
Cũng vì đặc điểm này mà các tác phẩm muốn được bảo hộ cần phải được
định hình dưới một hình thức nhất định (từ ngữ, hình ảnh, âm thanh, màu sắc...)
Thứ năm, quyền tác giả xác lập theo cơ chế bảo hộ tự động và được bảo hộ
một cách không tuyệt đối. Các quy định về việc sử dụng hợp lý tác phẩm cho thấy
rằng quyền tác giả không phải được bảo vệ tuyệt đối.2
1.1.3. Bảo hộ quyền tác giả
Bảo hộ quyền tác giả có ý nghĩa sống còn đối với tăng trưởng và phát triển
kinh tế của tất cả các quốc gia. Pháp luật của các quốc gia, các điều ước quốc tế đều
đã quan tâm nhiều đến việc bảo hộ quyền tác giả nhằm ngăn chặn tình trạng vi
phạm bản quyền có xu hướng ngày càng gia tăng không chỉ ở các nước đang phát
triển mà cả ở những nước phát triển như Hoa Kì, Nhật Bản,.... Trong bối cảnh chịu
sức ép của tiến trình toàn cầu hóa hội nhập kinh tế quốc tế cũng như sự phát triển
không ngừng của khoa học công nghệ hướng tới nền kinh tế tri thức thì bảo hộ
quyền tác giả là phương thức hữu hiệu nhất để bảo vệ sức sáng tạo của toàn xã hội
nhằm tạo lập môi trường văn hóa của các quốc gia ngày càng nâng cao.
1.1.4. Ý nghĩa bảo hộ quyền tác giả
Bảo hộ quyền tác giả có ý nghĩa vô cùng to lớn.
Thứ nhất, bảo hộ quyền tác giả góp phần thúc đẩy sức sáng tạo và sự phát
triển của văn học, nghệ thuật và khoa học góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn cả trên trường quốc tế.
Thứ hai, thông qua việc bảo hộ quyền tác giả sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
việc phổ biến tác phẩm tới công chúng và là cầu nối cho việc tăng cường sự hiểu
2Luận văn ThS. Luật: 60 38 60 / Trần Anh Hùng

5


biết giữa các dân tộc, tạo tiền đề cho việc thiết lập hệ thống bảo hộ quốc tế đối với
quyền tác giả trong phạm vi toàn cầu.
Thứ ba, bảo hộ quyền tác giả dù ở cấp độ quốc gia hay quốc tế cũng sẽ góp
phần vào việc bảo đảm một cơ chế bảo hộ quyền tác giả ngày càng có hiệu quả
hơn.Việc bảo hộ quyền tác giả thông qua các phương thức như phương thức dân sự,
phương thức hành chính và phương thức hình sự.
1.1.5. Các nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả:
Nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả là tư tưởng chỉ đạo cho các chủ thể khi vận
dụng các quy phạm pháp luật về quyền tác giả, đặc biệt là đối với việc áp dụng các
quy định về quyền tác giả của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi giải quyết tranh
chấp.các nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả bao gồm:
- Nguyên tắc đối xử quốc gia là nguyên tắc bảo trợ tác phẩm có nguồn gốc từ
các quốc gia thành viên của Công ước, tương tự như bảo hộ tác phẩm của công dân
chính quốc gia mình.
- Nguyên tắc đương nhiên bảo hộ là sự bảo hộ không lệ thuộc vào bất kỳ thủ
tục hình thức nào như là thủ tục đăng ký, nộp lưu chiểu hoặc các thủ tục tương tự.
- Nguyên tắc độc lập bảo hộ việc hưởng và thực thi các quyền được đề cập
theo công ước là độc lập với những gì hiện được hưởng tại nước xuất xứ của tác
phẩm.
- Nguyên tắc bảo hộ suốt đời. Quyền tác giả với nguyên tắc chung là được
bảo hộ cho cho cả cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả qua đời. Với mỗi loại
hình tác phẩm thì có những ngoại lệ khác nhau về thời gian bảo hộ quyền tác giả.3
1.2.

Bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Hoa Kì:

1.2.1. Sơ lược sự ra đời và phát triển của quyền tác giả:
Trong thời kỳ Cổ đại và thời kỳ Trung Cổ người ta chưa biết đến quyền cho
một tác phẩm trí tuệ.Cùng với phát minh in (khoảng 1440), các bản sao chép lại của
một tác phẩm bắt đầu có thể được sản xuất ở số lượng lớn một cách dễ dàng hơn.
Nhưng tác giảvẫn chưa có được "quyền tác giả" ở bên cạnh và còn phải vui mừng là
chẳng những tác phẩm được in mà nhà in hay nhà xuất bản còn trả cho một số tiền
cho bản viết tay. Khi thời kỳ Phục hưng bắt đầu, cá nhân con người trở nên quan
3Luận văn ThS. Luật: 60 38 60 / Trần Anh Hùng

6


trọng hơn và đặc quyền tác giả cũng được ban phát để thưởng cho những người
sáng tạo ra tác phẩm của họ. Mãi đến thế kỷ XVIII, lần đầu tiên mới có các lý
thuyết về các quyền giống như sởhữu cho các lao động trí óc (và hiện tượng của sở
hữu phi vật chất). Trong một bộ luật của nước Anh năm 1710, Statue of Anne, lần
đầu tiên một độc quyền sao chép của tác giả được công nhận.Tác giả sau đó nhượng
quyền này lại cho nhà xuất bản.Sau một thời gian được thỏa thuận trước tất cả các
quyền lại thuộc về tác giả.Tác phẩm phải được ghi vào trong danh mục của nghiệp
hội các nhà xuất bản và phải có thêm ghi chú copyright để được bảo vệ.Phương
pháp này được đưa vào ứng dụng tại Hoa kỳ vào năm 1795 (yêu cầu phải ghi vào
danh mục được bãi bỏ tại Anh vào năm 1956 và tại Hoa Kỳvào năm 1978).
HR 5728, Đạo luật Stela tái phê chuẩn năm 2014 ( PL 113-200 ) đã ký thành
luật 04 tháng 12 năm 2014, sửa đổi tiêu đề 17 (UNITED STATES CODE TITLE
17—COPYRIGHTS AS AMENDED THROUGH DECEMBER 13, 2003)
1.2.2. Đối tượng được bảo hộ quyền tác giả
Theo quy định tại Điều 102 Luật quyền tác giả của Hợp chủng quốc Hoa Kì
hiện hành,Luật quyền tác giả bảo hộ tác phẩm nguyên thủy độc đáo hoàn chỉnh của
tác giả đã được định hình dưới bất kì một dạng vật chất thể hiện hữu hình nào hiện đã
được biết hoặc sẽ được phát triển trong tương lai, mà từ các dạng vật chất thể hiện
hữu hình này tác phẩm có thể được cảm nhận, tái bản hoặc phổ biến khác hoặc là trực
tiếp hoặc là với sự trợ giúp của các máy móc thiết bị. Pháp luật Hoa Kì, trong bất kỳ
trường hợp nào sự bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm nguyên thuỷ độc đáo hoàn
chỉnh của tác giả không mở rộng đến các ý tưởng, các biện pháp, phương pháp,
nguyên lý hoạt động, khái niệm, quy luật, phát minh, không phân biệt hình thức mà
chúng được miêu tả, giải thích, minh hoạ hoặc diễn đạt trong tác phẩm đó.
Về thể loại, tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm: Tác phẩm văn
học, tác phẩm âm nhạc bao hàm tác phẩm kèm theo bất kỳ một từ nào, tác phẩm sân
khấu bao hàm các tác phẩm kèm theo bất kỳ âm thanh nào, tác phẩm kịch câm và
vũ ba lê, tác phẩm về nghệ thuật, Hoa kỳ thuật, điêu khắc, tác phẩm điện ảnh và các
tác phẩm nghe nhìn khác, bản ghi âm, và tác phẩm kiến trúc.4
4Luật quyền tác giả của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (UNITED STATES CODE TITLE 17—COPYRIGHTS AS
AMENDED THROUGH DECEMBER 13, 2003) Điều 102: Đối tượng điều chỉnh của Luật Quyền tác giả:
quy định chung

7


Về nguồn gốc, theo quy định tại Điều 103 Luật quyền tác giả của Hợp chủng
quốc Hoa Kì, tác phẩm được bảo hộ không chỉ có tác phẩm nguyên thủy mà còn
bao gồm các tác phẩm phái sinh, tác phẩm biên soạn.5
1.2.3. Chủ sở hữu quyền tác giả
Khái niệm chủ sở hữu quyền tác giả được giải thích tại Điều 101 Luật quyền
tác giả như sau: “Chủ sở hữu quyền tác giả, đối với bất kì một quyền độc quyền nào
được quy định trong Luật quyền tác giả, chỉ người chủ sở hữu của quyền cụ thể đó”.
Theo đó chủ sở hữu quyền tác giả là người sở hữu các quyền tác giả được ghi nhận,
bảo hộ bởi Luật quyền tác giả.
Theo quy định tại Chương 2Luật quyền tác giả Hoa Kì, chủ sở hữu quyền tác
giả bao gồm:
Thứ nhất, chủ sở hữu gốc là tác giả (các tác giả), người sáng tạo ra tác phẩm
được bảo hộ. Theo quy định này, tác giả (các tác giả) là chủ sở hữu trước tiên và
đương nhiên của quyền tác giả.
Thứ hai, chủ sở hữu là người mà tác phẩm được tạo ra cho họ. Người chủ sở
hữu này không sáng tác ra tác phẩm được bảo hộ nhưng tác phẩm đó tạo cho họ
bằng cách thuê mướn .
Thứ ba, chủ sở hữu là người được chuyển nhượng quyền tác giả. Chủ sở hữu
quyền tác giả có thể chuyển nhượng một phần hay toàn bộ quyền này cho người
khác theo phương thức chuyển nhượng hợp pháp nào đó hoặc bằng cách để lại thừa
kế. Bởi vậy, người nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế phần quyền được chuyển
nhượng một cách độc lập với các quyền khác thuộc quyền tá giả.
Thứ tư, chủ sở hữu trong trường hợp tác phẩm hợp tuyển. Quyền tác giả tác
phẩm của từng tác phẩm riêng biệt trong một tác phẩm hợp tuyển là độc lập với
quyền tác giả tác phẩm hợp tuyển như một tổng thể, và trước hết thuộc về các tác
giả của các tác phẩm riêng biệt đó.
1.2.4. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả
Để bảo đảm cho việc bảo hộ được toàn diện, theo quy định tại Chương 3Luật
quyền tác giả Hoa Kì, thời hạn bảo hộ quyền tác giả như sau:

5Điều 103: Đối tượng điều chỉnh của Luật quyền tác giả: tác phẩm biên soạn và tác phẩm phái sinh

8


Đối với các tác phẩm được sáng tạo vào hoặc sau ngày 1/1/1978: quyền tác
giả đối với tác phẩm được sáng tạo vào hoặc sau ngày 1/1/1978, tồn tại từ ngày tác
phẩm được sáng tạo và , ngoại trừ trường hợp quy định tại các Khoản tiếp theo, kéo
dài một thời hạn là cả cuộc đời của tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Tuy
nhiên, đối với các tác phẩm khuyết danh, ký danh hoặc sáng tạo do thuê mướn,
quyền tác giả kéo dài một thời hạn là 70 năm kể từ năm công bố lần đầu của tác
phẩm, hoặc một thời hạn là 100 năm kể từ năm sáng tạo tác phẩm, tuỳ thuộc vào
thời hạn nào kết thúc trước.
Đối với các tác phẩm đã được sáng tạo nhưng không được công bố hoặc có
quyền tác giả trước ngày 1/1/1978, quyền tác giả đối với tác phẩm được sáng tạo
trước ngày 1/1/1978, nhưng không thuộc lĩnh vực công cộng trước thời điểm này
hoặc có quyền tác giả, tồn tại từ ngày 1/1/1978, và kéo dài một thời hạn quy định tại
Điều 302. Tuy nhiên, trong đó không một trường hợp nào thời hạn bảo hộ quyền tác
giả đối với các tác phẩm đó kết thúc trước ngày 31/12/2002; và nếu tác phẩm này
được công bố vào hoặc trước ngày 31/12/2002, thời hạn bảo hộ quyền tác giả sẽ
không kết thúc trước ngày 31/12/2027.
Ngoài ra, Đạo luật tạo ra một hạn bảy mươi lăm năm tĩnh (ngày kể từ ngày
công bố) cho tác phẩm khuyết danh, công danh, và các công trình thực hiện cho
thuê . Thời hạn gia hạn cho các công trình có bản quyền trước năm 1978 đã không
đã bước vào phạm vi công cộng được tăng 28 năm tới bốn mươi bảy năm, tổng
cộng thời hạn bảy mươi lăm năm. Năm 1998, Luật Gia hạn bản quyền tiếp tục mở
rộng bảo vệ bản quyền với thời gian trong cuộc đời của tác giả cộng thêm bảy mươi
năm đối với quyền tác giả nói chung và để chín mươi lăm năm đối với các công
trình được thực hiện cho thuê và các công trình có bản quyền trước năm 1978.6
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả: các tác phẩm hiện có: Điều 304 quy định:
(a). Quyền tác giả có thời hạn bảo hộ lần đầu vào ngày 1/1/1978:
(1).
(A). Bất kỳ quyền tác giả nào trong đó thời hạn bảo hộ lần đầu của nó tiếp
tục tồn tại vào ngày 1/1/1978, sẽ kéo dài một thời hạn là 28 năm từ ngày tác phẩm
đó bị chiếm hữu nguyên thuỷ.
B). Trong trường hợp:

6 https://en.wikipedia.org/wiki/Copyright_Act_of_1976 .Thời hạn bảo hộ Đạo luật Bản quyền năm 1976
9


(i). Bất kỳ tác phẩm được công bố sau khi tác giả chết nào hoặc của bất kỳ ấn
phẩm định kỳ, bách khoa toàn thư, hoặc tác phẩm hợp tuyển khác mà quyền tác giả
của tác phẩm này bị chiếm hữu nguyên thuỷ bởi chủ sở hữu của tác phẩm đó, hoặc
(ii). Bất kỳ tác phẩm có quyền tác giả nào thuộc về tổ chức (ngoài những
người được chuyển nhượng hoặc cấp phép bởi cá nhân tác giả) hoặc thuộc về người
chủ mà đối với người này tác phẩm được tạo ra do thuê mướn,
Người chủ sở hữu quyền tác giả này sẽ được hưởng sự mở rộng và nối tiếp
thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm đó một thời hạn là 47 năm nữa.
(C). Đối với trường hợp bất kỳ tác phẩm có quyền tác giả nào bao hàm cả sự
đóng góp của cá nhân một tác giả trong một ấn phẩm định kỳ hoặc bách khoa toàn
thư hoặc tác phẩm hợp tuyển khác:
(i). Tác giả của những tác phẩm đó, nếu tác giả còn sống,
(ii). Vợ hoặc chồng goá, hoặc con cái của tác giả, vợ hoặc chồng goá của
những người con không còn sống của tác giả, hoặc
(iii). Những người thực hiện di chúc của tác giả, nếu tác giả, vợ hoặc chồng
goá, hoặc con cái của tác giả không còn sống, hoặc
(iv). Người có họ kế tiếp của tác giả, trong trường hợp không có di chúc,
sẽ được hưởng sự mở rộng và nối tiếp thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với
các tác phẩm đó một thời gian 47 năm nữa.
(2).
(A). Vào thời điểm kết thúc thời hạn bảo hộ quyền tác giả lần đầu đối với tác
phẩm quy định tại Điểm (1)(B) của Khoản này, quyền tác giả sẽ kéo dài một thời
hạn mở rộng và nối tiếp 47 năm nữa, trong trường hợp:
(i). Nếu một đơn đăng ký yêu cầu hưởng thời hạn thêm được gửi tới Cục Bản
quyền tác giả trong vòng một năm trước khi kết thúc thời hạn quyền tác giả lần đầu,
và yêu cầu này được đăng ký, sẽ thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm
đó, người được hưởng quyền yêu cầu nối tiếp thời hạn quyền tác giả và thời điểm
đơn được gửi, hoặc
(ii). Nếu không một đơn nào được nộp hoặc yêu cầu theo đơn này không
được đăng ký, vào thời điểm bắt đầu của thời hạn thêm, sẽ thuộc về người hoặc tổ

10


chức mà đã là chủ sở hữu của quyền tác giả vào ngày cuối cùng của thời hạn quyền
tác giả đầu tiên.
(B). Vào thời điểm kết thúc thời hạn quyền tác giả lần đầu đối với với tác
phẩm quy định tại Điểm (1)(C) của Khoản này, quyền tác giả sẽ kéo dài một thời
hạn mở rộng và nối tiếp một thời gian 47 năm nữa, trong trường hợp:
(i). Nếu một đơn đăng ký yêu cầu thời hạn thêm này đã được nộp tại Cục
Bản quyền tác giả trong vòng một năm trước khi kết thúc thời hạn quyền tác giả lần
đầu, và yêu cầu này được chứng nhận, vào thời điểm bắt đầu thời hạn thêm, sẽ
thuộc về bất kỳ người nào được hưởng quyền theo quy định tại Điểm (1)(C) đối với
việc mở rộng và nối tiếp quyền tác giả vào thời điểm đơn được nộp; hoặc
(ii). Nếu không một đơn nào được nộp hoặc yêu cầu theo đơn này đã không
được đăng ký,vào điểm bắt đầu của thời hạn thêm, sẽ thuộc về bất kỳ người nào
được hưởng quyền theo Điểm (1)(C) vào ngày cuối cùng của thời hạn quyền tác giả
lần đầu, đối với việc mở rộng và nối tiếp quyền tác giả.
(3).
(A). Đơn đăng để ký yêu cầu mở rộng và nối tiếp thời hạn quyền tác giả đối
với tác phẩm có thể được nộp tới Cục Bản quyền tác giả:
(i). Trong vòng một năm trước thời điểm kết thúc thời hạn quyền tác giả lần
đầu bởi bất kỳ người nào được hưởng quyền theo quy định tại Điểm (1)(B) hoặc (C)
đối với thời hạn 47 năm hưởng thêm; và
(ii). Vào bất kỳ thời điểm nào trong khoảng thời hạn mở rộng và nối tiếp
quyền tác giả bởi bất kỳ người nào mà đối với người này thời hạn hưởng thêm
thuộc về họ theo Điểm (2)(A) hoặc (B), hoặc bởi bất kỳ thừa kế hoặc người được uỷ
quyền của người này, nếu đơn được nộp theo tên của người đó.
(B). Các đơn này không phải là điều kiện của việc mở rộng và nối tiếp thời
hạn quyền tác giả đối với tác phẩm một thời gian 47 năm nữa.
(4).
(A). Nếu một đơn để đăng ký yêu cầu về việc mở rộng và nối tiếp thời hạn
quyền tác giả đối với tác phẩm không được nộp trong vòng một năm trước thời
điểm kết thúc thời hạn quyền tác giả lần đầu đối với tác phẩm, hoặc nếu yêu cầu
theo đơn này đã không được đăng ký, thì một tác phẩm phái sinh được sáng tạo theo
11


sự cho phép của một sự cấp quyền hoặc cấp phép bản quyền được thực hiện trước
thời điểm kết thúc thời hạn quyền tác giả lần đầu có thể tiếp tục được sử dụng theo
các điều khoản của sự cấp quyền đó trong thời hạn mở rộng và nối tiếp quyền tác
giả mà không vi phạm quyền tác giả, miễn là sự sử dụng đó không mở rộng tới việc
sáng tạo trong thời hạn mở rộng và nối tiếp quyền tác giả các tác phẩm phái sinh
khác trên cơ sở tác phẩm có quyền tác giả bao hàm trong sự cấp phép đó.
(B). Nếu đơn để đăng ký yêu cầu mở rộng và nối tiếp thời hạn quyền tác giả
đối với tác phẩm được nộp trong vòng một năm trước thời điểm kết thúc thời hạn,và
yêu cầu đó được đăng ký, chứng nhận về đăng ký này sẽ tạo thành chứng cớ hiển
nhiên không phải chứng minh đối với hiệu lực của quyền tác giả trong thời hạn mở
rộng và nối tiếp và của các sự kiện tuyên bố trong chứng nhận. Giá trị của chứng cứ
tuỳ thuộc vào các chứng nhận của đăng ký thời hạn mở rộng và nối tiếp quyền tác
giả được thực hiện sau khi kết thúc thời gian một năm này sẽ thuộc phạm vi xem
xét của toà án.
(b). Quyền tác giả trong thời hạn nối tiếp và đăng ký thời hạn nối tiếp trước
ngày /1/11978: thời hạn của bất kỳ quyền tác giả nào, thời hạn nối tiếp của quyền
tác giả đó tồn tại vào bất kỳ thời điểm nào giữa khoảng thời gian từ 31/12/1976 tới
31/12/1977, tất cả, hoặc đối với quyền tác giả mà đăng ký thời hạn nối tiếp được
thực hiện giữa khoảng thời gian từ 31/12/1976 tới 31/12/1977, tất cả, được mở rộng
kéo dài một thời hạn là 75 năm kể từ ngày quyền tác giả đó được công nhận gốc.
(c). Chấm dứt sự chuyển nhượng và cấp phép trong thời hạn nối tiếp: trong
trường hợp bất kỳ quyền tác giả nào tồn tại hoặc là trong thời hạn đầu tiên hoặc là
trong thời hạn nối tiếp vào ngày 1/1/1978, ngoại trừ quyền tác giả đối với các tác
phẩm được làm do thuê mướm, sự cấp độc quyền hoặc không độc quyền theo một
chuyển nhượng hoặc cấp phép trong thời hạn nối tiếp quyền tác giả hoặc bất kỳ
quyền nào theo quyền tác giả đó, được thực hiện trước 1/1/1978, bởi bất kỳ người
nào được ủy nhiệm theo khoản (a)(1)(C) của Điều này, ngoại trừ trường hợp theo di
chúc, thuộc đối tượng chấm dứt theo các điều kiện sau:
(1). Trong trường hợp sự cấp quyền được thực hiện bởi người hoặc những
người không phải là tác giả, sự chấm dứt của sự cấp quyền này có thể có hiệu lực
bởi người hoặc những người còn sống đã thực hiện sự cấp quyền đó. Trong trường
12


hợp sự cấp quyền được thực hiện bởi một hoặc nhiều tác giả của tác phẩm, sự chấm
dứt của sự cấp quyền này có thể có hiệu lực, tuỳ thuộc vào mức độ tỷ phần trong
quyền sở hữu quyền tác giả trong thời hạn nối tiếp của một tác giả cụ thể, bởi người
hoặc những người mà theo Điểm (2) của Khoản này sở hữu và được hưởng quyền
thực thi tổng số lợi ích từ sự chấm dứt của tác giả trên 50 %.
(2). Trong trường hợp tác giả chết, lợi ích từ sự chấm dứt của tác giả được sở
hữu và có thể được thực hiện bởi người vợ hoặc chồng goá, con cái hoặc cháu chắt
của người này như sau:
(A). Người chồng hoặc vợ goá sở hữu toàn bộ lợi ích của tác giả từ sự chấm
dứt nếu không có bất kỳ người con hoặc cháu này của tác giả còn sống; và trong
trường hợp này thì người chồng hoặc vợ goá này sở hữu 50% lợi ích của tác giả;
(B). Những người con còn sống của tác giả và những người con còn sống
của những người con đã chết của tác giả sở hữu toàn bộ lợi ích từ sự chấm dứt
của tác giả nếu không có người chồng hoặc vợ goá của tác giả, và trong trường
hợp sau này quyền sở hữu 50% lợi ích của tác giả được phân chia giữa những
người này với nhau;
(C). Các quyền của những người con và cháu của tác giả trong tất cả các
trường hợp được phân chia giữa họ với nhau và được thực hiện trên cơ sở tỷ lệ phù
hợp với số những người con của tác giả được đại diện, phần của những người con
của một người con đã chết của tác giả đối với lợi ích từ sự chấm dứt có thể chỉ được
thực hiện thông qua hành vi của đa số những người con đó.
(3). Chấm dứt cấp quyền có thể có hiệu lực vào bất kỳ thời điểm nào trong
khoảng thời gian 5 năm kể từ khi kết thúc 56 năm tính từ ngày quyền tác giả được
công nhận gốc, hoặc kể từ ngày 1/1/1978, tuỳ thuộc vào thời điểm nào xẩy ra sau.
(4). Sự chấm dứt cấp quyền có thể có hiệu lực thông qua việc gửi thông báo
trước bằng văn bản cho người được cấp quyền hoặc người thừa kế hợp pháp của
người được cấp quyền. Trong trường hợp sự cấp quyền được thực hiện bởi một
hoặc những người mà không phải là tác giả, thông báo sẽ được ký bởi tất cả những
người được quyền chấm dứt sự cấp quyền theo Điểm (1) của Khoản này, hoặc bởi
những đại diện được uỷ nhiệm toàn quyền của họ. Trong trường hợp sự cấp quyền
được thực hiện bởi một hoặc nhiều tác giả của tác phẩm, thông báo trong phạm vi
13


từng phần của tác giả sẽ được ký bởi tác giả hoặc đại diện được uỷ nhiệm toàn
quyền của người đó hoặc nếu tác giả này chết, được ký bởi số lượng và tỷ lệ những
người sở hữu lợi ích từ sự chấm dứt của tác giả đó theo yêu cầu của Điểm (1) và (2)
của Khoản này, hoặc được ký bởi những người được uỷ nhiệm toàn quyền của họ.
(A). Thông báo sẽ tuyên bố ngày có hiệu lực của sự chấm dứt, ngày mà sẽ
rơi vào khoảng thời gian 5 năm quy định tại Điểm (3) của Khoản này, và thông báo
sẽ được gửi không dưới 2 năm hoặc trên 10 năm trước ngày đó. Bản sao của thông
báo sẽ được đăng ký tại Cục Bản quyền tác giả trước ngày có hiệu lực của sự chấm
dứt như là điều kiện để sự chấm dứt có hiệu lực.
(B). Thông báo này phải tuân thủ theo hình thức, nội dung và trình tự gửi
thông báo theo các quy định sẽ ban hành trong một quy chế.
(5). Chấm dứt cấp quyền có thể có hiệu lực không phụ thuộc vào bất kỳ
thoản thuận về sự trái ngược nào, kể cả thoả thuận về việc làm di chúc hoặc thực
hiện bất kỳ sự cấp quyền trong tương lai nào.
(6). Trong trường hợp sự cấp quyền được thực hiện bởi người hoặc những
người không phải là tác giả, tất cả các quyền theo Điều Luật này mà được bao hàm
trong sự cấp quyền bị chấm dứt, vào ngày có hiệu lực của sự chấm dứt sẽ lại thuộc
về tất cả những người được hưởng quyền chấm dứt sự cấp quyền đó theo Điểm (1)
của Khoản này. Trong trường hợp sự cấp quyền được thực hiện bởi một hoặc nhiều
tác giả của tác phẩm, tất cả các quyền cụ thể của tác giả theo Điều luật này mà bao
hàm trong sự cấp quyền bị chấm dứt, vào ngày có hiệu lực của sự chấm dứt, sẽ lại
thuộc về tác giả này, hoặc nếu tác giả này đã chết, thuộc về những người sở hữu lợi
ích từ sự chấm dứt theo Điểm (2) của Khoản này, kể cả những người chủ sở hữu
không cùng ký thông báo về sự chấm dứt theo Điểm (4) của Khoản này, trong tất cả
các trường hợp các quyền thuộc sở hữu trở lại này phụ thuộc và các hạn chế sau:
(A). Tác phẩm phái sinh được sáng tạo theo sự cho phép của một sự cấp
quyền trước khi chấm dứt sự cấp quyền này có thể tiếp tục được sử dụng theo các
điều kiện và điều khoản của sự cấp quyền đó sau khi chấm dứt sự cấp quyền, nhưng
đặc quyền này không mở rộng tới việc sáng tạo các tác phẩm phái sinh sau khi
chấm dứt sự cấp quyền các tác phẩm phái sinh khác dựa trên cơ sở các tác phẩm
được bảo hộ bao hàm trong sự cấp quyền đó.
14


(B). Các quyền mà trong tương lai sẽ thuộc sở hữu trở lại vào thời điểm
chấm dứt sẽ được chuyển giao vào ngày thông báo về chấm dứt đã được gửi như
quy định tại Điểm (4) của Khoản này.
(C). Đối với các trường hợp mà các quyền của tác giả thuộc sở hữu trở lại
của hai hoặc nhiều người theo Điểm (2) của Khoản này, chúng sẽ được trao cho
những người đó theo tỷ phần quy định tại Điểm đó. Do vậy, tuỳ thuộc vào quy định
tại Đoạn (D), trường hợp cấp quyền tiếp theo hoặc thoả thuận thực hiện sự cấp
quyền tiếp theo về phần của một tác giả cụ thể đối với bất kỳ quyền nào bao hàm
trong sự cấp quyền bị chấm dứt chỉ có hiệu lực nếu nó được ký cùng một số lượng
và tỷ lệ những người sở hữu như được yêu cầu về sự chấm dứt theo Điểm (2) của
Khoản này, đối với với những người này quyền đó được trao theo Điểm này. Sự cấp
quyền tiếp theo hoặc thoả thuận về sự cấp quyền tiếp theo này có hiệu lực đối với
tất cả những người mà đối với những người này các quyền bao hàm trong sự cấp
quyền tiếp theo được trao cho họ theo Đoạn này, kể cả những người không cùng ký
vào sự cấp quyền tiếp theo đó. Nếu bất kỳ một người nào chết sau khi các quyền
theo sự cấp quyền bị chấm dứt được trao cho người này, thì người đại diện pháp lý,
người uỷ nhiệm hoặc những người thừa kế theo luật của người này đại diện cho
người đó thực hiện quy định tại Đoạn này.
(D). Sự cấp quyền tiếp theo hoặc thoả thuận thực hiện cấp quyền tiếp theo về
bất kỳ quyền nào bao hàm trong sự cấp quyền bị chấm dứt chỉ có hiệu lực nếu
chúng được tiến hành sau ngày có hiệu lực của sự chấm dứt. Tuy nhiên, ngoại trừ
thoả thuận về sự cấp quyền tiếp theo có thể được thực hiện giữa tác giả hoặc bất kỳ
những người nào quy định tại câu thứ nhất của Điểm (6) của Khoản này, hoặc giữa
những người quy định tại Đoạn (C) của Điểm này với người được cấp quyền gốc
hoặc những người kế vị hợp pháp của người đó, sau khi thông báo chấm dứt được
gửi như quy định tại Điểm (4) của Khoản này.
(E). Chấm dứt sự cấp quyền theo Khoản này chỉ có hiệu lực với những
quyền bao hàm trong sự cấp quyền đó phát sinh theo Điều luật này và không có
hiệu lực đối với các quyền phát sinh theo bất kỳ các Luật của Liên Bang, các Bang,
hoặc nước ngoài.
15


(F). Trừ phi và cho tới khi sự chấm dứt có hiệu lực theo Khoản này, sự cấp
quyền, nếu sự cấp quyền này không quy định khác, tiếp tục có hiệu lực trong thời
hạn còn lại của thời hạn nối tiếp mở rộng quyền tác giả.7
Về thời hạn quyền tác giả đối với ngày kết thúc Điều 305 có quy định “Tất
cả các thời hạn quyền tác giả quy định tại các Điều từ 302 tới 304 tính tới ngày cuối
cùng của năm theo lịch mà trong năm đó các thời hạn khác nhau kết thúc”.8
1.2.5. Những hạn chế đối với quyền tác giả
Cũng như luật pháp của các nước khác, Luật quyền tác giả của Hoa Kì cũng
quy định những hạn chế quyền của tác giả đối với chủ sở hữu các tác phẩm từ Điều
107 đến Điều 112.
Một là, hạn chế đối với các quyền độc quyền: các sử dụng hợp lý: việc sử
dụng một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm các hình thức sử dụng
thông qua hình thức sao chép dưới dạng bản sao hoặc bản ghi hoặc bởi bất kì một
phương thức nào cho mục đích bình luận, phê bình, đưa tin hoặc giảng dạy (bao
hàm cả việc sử dụng nhiều bản sao cho lớp học), nghiên cứu, học tập là không vi
phạm quyền tác giả.
Hai là, hạn chế của các quyền độc quyền: tái bản nhằm mục đích lưu trữ và
dùng trong thư viện.
Ba là, hạn chế đối với các quyền độc quyền: ảnh hưởng của việc chuyển
nhượng các bản sao và bản ghi cụ thể.
Bốn là, hạn chế các quyền độc quyền: một số ngoại lệ đối với quyền trình
diễn hoặc trình bày: được phép sử dụng tác phẩm để trình diễn hoặc trình bày trong
các trường hợp nhất định không bị coi là hành vi xâm phậm quyền tác giả.
Năm là, hạn chế đối với các quyền độc quyền: truyền sóng thứ cấp.
Sáu là, hạn chế đối với các quyền độc quyền: các bản ghi thử.
1.2.6. Ký hiệu quyền tác giả
Theo quy định của Luật quyền tác giả Hoa Kì, kí hiệu quyền tác giả được
quy định từ Điều 401 đến Điều 406:
7Chương 3 Luật quyền tác giả của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (UNITED STATES CODE TITLE 17—
COPYRIGHTS AS AMENDED THROUGH DECEMBER 13, 2003)
8Chương 3 Luật quyền tác giả của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (UNITED STATES CODE TITLE 17—
COPYRIGHTS AS AMENDED THROUGH DECEMBER 13, 2003)

16


Một là, hình thức kí hiệu của bản sao có thể cản nhận bằng thị giác: bao gồm
3 yếu tố dưới đây:
Biểu tượng © (một chữ C trong vòng tròn) hoặc từ "quyền tác giả"
(copyright), hoặc từ viết tắt "Bản quyền" (Copr.); Năm tác phẩm được xuất bản lân
đầu tiên; Tên của chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm hoặc chữ viết tắt mà
tên của người này có thể được nhận ra, hoặc nhìn chung không thể hiểu khác về
việc xác định chủ sở hữu.Chẳng hạn như © 2006 Jonh Malk.
Hai là, hình thức kí hiệu của bản ghi của bản ghi âm bao gồm Biểu tượng P
(chữ P trong vòng tròn); Năm công bố lần đầu của bản ghi âm; Tên của chủ sở hữu
quyền tác giả đối với bản ghi âm, hoặc chữ viết tắt mà tên của người này có thể
được nhân biết, hoặc nhìn chung không thể hiểu khác về việc xác định chủ sở hữu.
Nếu nhà sản xuất bản ghi âm có tên trên nhãn hiệu bản ghi hoặc bao bì thì tên của
nhà sản xuất được coi là một phần của kí hiệu đó, ví dụ như (P) 2006 A.B.C.
Records Inc.
1.2.7. Đăng kí quyền tác giả
Nhìn chung, đăng ký bản quyền là một thủ tục pháp lý nhằm lập hồ sơ công
khai những thông tin cơ bản của một bản quyền cụ thể. Tuy nhiên, đăng ký không
phải là một điều kiện bảo hộ bản quyền.Mặc dù đăng ký không phải là yêu cầu bắt
buộc để được bảo hộ, nhưng luật bản quyền mang lại một số thuận lợi nhằm khuyến
khích chủ sở hữu bản quyền tiến hành đăng ký. Việc đăng kí quyền tác giả được quy
định tại Điều 408 Chương 4 Luật quyền tác giả của Hợp chủng quốc Hoa Kì như
sau:
Thứ nhất, đăng kí được phép: vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn bảo hộ
quyền tác giả lần đầu đang tồn tại đối với bất kỳ tác phẩm đã hoặc chưa công bố
nào mà quyền tác giả đối với tác phẩm đó được bảo hộ trước ngày 1/1/1978, và
trong khoảng thời gian tồn tại của bất kỳ quyền tác giả được bảo hộ vào hoặc sau
ngày đó, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc bất kỳ quyền độc quyền nào đối với tác
phẩm có thể đạt được yêu cầu đăng ký bản quyền thông qua việc gửi tới Cục Bản
quyền tác giả hồ sơ yêu cầu nộp cùng với đơn và khoản lệ phí theo quy định. Việc
đăng ký này không phải là điều kiện đối với sự bảo hộ quyền tác giả.

17


Thứ hai, hồ sơ đăng ký một tác phẩm gửi tới Thư viện Quốc hội Hoa kỳ, Cục
Bản quyền. Hồ sơ bao gồm: Đối với tác phẩm chưa công bố, một bản sao hoặc bản
ghi hoàn chỉnh; Đối với tác phẩm đã công bố, hai bản sao hoặc bản ghi là phiên bản
chuẩn; Đối với tác phẩm đã công bố lần đầu ngoài Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, một
bản sao hoặc bản ghi như đã được công bố; Đối với một phần của một tác phẩm hợp
tuyển, một bản sao hoặc bản ghi là phiên bản chuẩn của tác phẩm hợp tuyển đó.
Thứ ba, đăng ký quyền tác giả có thể thông qua mạng, đăng ký với mẫu đơn
điền sẵn hoặc đăng ký với mẫu đơn giấy.
Thứ tư, việc đăng ký quyền tác giả sẽ có hiệu lực kể từ ngày Cục Bản quyền
tác giả nhận đơn đăng ký và các yêu cầu kèm theo (phí nộp đơn, tác phẩm bảo hộ).
Nếu người nộp đơn tiến hành nộp đơn qua mạng, người nộp đơn sẽ nhận được một
email phản hồi xác nhận đơn đăng ký đã được tiếp nhận bởi Cục Bản quyền tác giả.
Trường hợp nộp đơn theo hình thức mẫu đơn giấy, người nộp đơn sẽ không nhận
được phản hồi xác nhận rằng đơn đã được tiếp nhận. Muốn biết chính xác ngày nộp
đơn, người nộp đơn có thể yêu cầu dịch vụ xác nhận thông báo ngày nhận đơn từ
các Công ty chuyển phát nhanh hoặc bưu điện.
Thứ năm, về đăng kí gia hạn: để đăng ký gia hạn cần mẫu đăng ký RE được
điền đầy đủ và phù hợp, và nếu cần, phụ lục của mẫu đăng ký RE và phí hồ sơ
không được hoàn trả cho mỗi mẫu đăng ký (như đối với đăng ký lần đầu). Mỗi phụ
lục đăng ký cần được gửi kèm với bản tác phẩm lưu đang được xem xét.
Thứ sáu, với tác phẩm sưu tập chưa xuất bản thì theo những điều kiện nhất
định, một tác phẩm có thể được đăng ký theo hình thức chưa xuất bản với tư cách là
"tác phẩm sưu tập", cùng với đơn đăng ký và phí.
Thứ bảy, dữ liệu bản quyền tác giả tại Cục Bản quyền tác giả luôn được mở
để cho việc tự tra cứu và nghiên cứu của mọi công dân thông qua trang web của
Cục Bản quyền.Mọi công dân có quyền yêu cầu Cục Bản quyền tiến hành việc tra
cứu thông tin phục vụ cho mục đích cá nhân của mình và phải trả phí tra cứu.
1.2.8. Cục bản quyền tác giả và Ban trọng tài nhuận bút quyền tác giả
Theo quy định tại Chương 7 Luật quyền tác giả, Cục Bản quyền của Hoa Kỳ
là cơ quan thực hiện việc quản lý nhà nước về bản quyền tác giả, là nơi nhận các
khiếu nại về bản quyền và là nơi các văn bản liên quan tới bản quyền được lưu giữ
khi đáp ứng được các yêu cầu của luật bản quyền Hoa Kỳ.
18


Ban trọng tài nhuận bút quyền tác giả được quy định tại Chương 8 Luật
quyền tác giả, theo đó ban trọng tài nhuận bút quyền tác giả được thành lập nhằm
tối đa hóa việc đưa tác phẩm sáng tạo tới công chúng, tạo cho chủ sở hữu sự đền bù
hợp lý về kinh tế, cân bằng vai trò của chủ sở hữu quyền tác giả và người sử dụng,
giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực tới các ngành công nghiệp có liên quan đến quyền
tác giả.
1.2.9. Xâm phạm quyền tác giả và các biện pháp thực thi
Một tác phẩm sẽ không bị xem là vi phạm bản quyền nếu nó là sự tổng hợp
có tính sáng tạo riêng từ nhiều hệ thống tác phẩm khác về ý (ý văn, ý nhạc, ý
tưởng). Tuy nhiên,để kết luận rằng một tác phẩm là không hay có vi phạm bản
quyền, trường hợp này, thường rất phức tạp và đôi khi phải có sự can thiệp của các
luật sư và tòa án. Đây chính là điểm khó nhất trong các quy định pháp luật về xác
định hành vi vi phạm bản quyền tác phẩm.
Theo quy định tại Điều 501 Luật Quyền tác giả thì: "Bất kỳ người nào mà
xâm phạm bất kỳ quyền độc quyền nào của chủ sở hữu quyền tác giả như quy định
tại các Điều 106 tới 118 hoặc của các tác giả như quy định tại Điều 106 A(a) hoặc
người mà nhập khẩu các bản sao hoặc bản ghi vào Hợp chủng quốc Hoa Kỳ vi
phạm Điều 602, là người vi phạm bản quyền hoặc quyền của tác giả".
Ngoài ra, Luật bản quyền tác giả Hoa Kỳ còn quy định chi tiết các biện pháp thực
thi chống vi phạm bao gồm: Một là, các lệnh của Tòa án (Điều 502). Hai là, tịch thu
và xử lý đồ vật vi phạm (Điều 503). Ba là, bồi thường thiệt hại và lợi nhuận (Điều
504).Bốn là, chi phí tố tụng và lệ phí luật sư (Điều 505); năm là, Các hình phạt hình
sự (Điều 506).Sáu là, cấm nhập khẩu và phân phối (Điều 601).
Để bảo đảm cho việc thực thi quyền tác giả tốt hơn phù hợp với đặc thù của
nhà nước Liên bang, Luật bản quyền tác giả quy định cụ thể nghĩa vụ của các Bang,
các cơ quan nhà nước của Bang và các công chức nhà nước các Bang đối với xâm
phạm quyền tác giả(Điều 511) và thời hiệu của việc khởi kiện và thông báo nộp đơn
và quyết định khởi kiện (Điều 507, 508).
Như vậy, với những nội dung pháp luật về bảo hộ quyền tác giả được trình
bày trong Chương này cho thấy, quyền tác giả đã được Nhà nước Liên bang Hoa Kỳ
quan tâm xây dựng nhằm thiết lập một hành lang pháp lý cho việc bảo hộ quyền tác
19


giả. Nhìn chung,các quy định pháp luật về bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Hoa
Kỳ được quy định chi tiết, cụ thể có tính chất hướng dẫn, định hướng cho việc bảo
hộ quyền tác giả, như các định nghĩa, khái niệm quyền tác giả và những vấn đề liên
quan; chủ sở hữu quyền tác giả và vấn đề chuyển nhượng quyền tác giả, thời hạn
bảo hộ, cách thức ghi ký hiệu, nộp lưu chiểu cũng như vấn đề đăng ký bảo hộquyền
tác giả; quy định về quản lý nhà nước về quyền tác giả;... đồng thời cũng phản ảnh
được sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là
côngnghệ thông tin và internet cũngnhư thương mại điện tử đã và đang tác động lớn
đến những nỗ lực bảo hộ quyền tác giả. Việt Nam và Hoa Kỳ cũng đã đạt được
những thành tựu to lớn trong quan hệ hợp tác song phương trong lĩnh vực thương
mại cũng như vấn đề bảo hộ quyền tác giải thông qua việc hai nước ký kết Hiệp
định Quyền tác giả năm 1997 và Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ ngày 26
tháng 11 năm 2001, tạo tiền đề pháp lý cho việc bảo hộ quyền tác giả giữa hai nước.
Dù có những khác biệt về chế độ chính trị, truyền thống và tư duy pháp lý, song
pháp luật của Việt Nam đã có sự thống nhất với các cam kết bảo hộ quyền tác giả
giữa hai quốc gia.Tuy vậy, trong thực tiễn thi hành pháp luật bảo hộ quyền tác giả
giữa Việt Nam - Hoa Kỳcũng có sự khác nhau đáng kể. Những điểm khác biệt này
cần phải được nghiên cứu, xem xét nhằm tạo lập hành langpháp lý thuận lợi cho
việc bảo hộ quyền tác giả ở cả Việt Nam và Hoa Kỳ.9

9Luận văn ThS. Luật: 60 38 60 / Trần Anh Hùng

20


CHƯƠNG 2. KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT CHO VIỆT NAM
2.1. So sánh pháp luật bảo hộ qyền tác giả của Hoa Kỳ và Việt Nam:
2.1.1. Những điểm tương đồng trong các quy định pháp luật về bảo hộ
quyền tác giả của Hoa Kỳ và Việt Nam
Thứ nhất, cũng như Việt Nam, Hoa Kỳ dành một luật riêng quy định về
quyền tác giả năm 1976, có hiệu lực từ 01 tháng 01 năm 1978 và được sửa đổi, bổ
sung năm 1998 được HR 5728, Đạo luật Stela tái phê chuẩn năm 2014 ( PL 113200 ) đã ký thành luật 04 tháng 12 năm 2014, sửa đổi luật quyền tác giả tiêu đề 17
(UNITED

STATES

CODE TITLE

17—COPYRIGHTS AS AMENDED

THROUGH DECEMBER 13, 2003)
Thứ hai, về đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo Luật quyền tác giả.
Đối tượng quyền tác giả bao gồm mọi sản phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực văn
học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới bất kỳ hình thức và bằng bất kỳ
phương tiện nào, không phân biệt nội dung, giá trị và không phụ thuộc vào bất kỳ
thủ tục nào.
Thứ ba, về thực thi và bảo hộ quyền tác giả. Luật quyền tác giả Hoa Kỳ quy
định cụthể, chi tiết hơn các quy định pháp luật Việt Nam về các cơ chế thực thi và
bảo hộquyền tác giả như hành vi xâm phạm quyền tác giả, đăng ký quyền tác giả,
cácbiện pháp thực thi đặc biệt... giúp cho việc thực thi quyền tác giả thuận lợi và dễ
dàng. Tựu trung lại có các biện pháp như dân sự, hành chính, hình sự.
2.1.2. Những điểm khác biệt trong các quy định pháp luật về bảo hộ quyền
tác giả của Hoa Kỳ và Việt Nam
Một là, về truyền thống pháp luật thì pháp luật Hoa Kỳ thuộc hệ thống thông
luật (Common Law), còn Việt Nam chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Châu
Âu lục địa và hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa nên đã dẫn đến quan niệm khác
nhau về cơ chếthực thi luật pháp.
Hai là, khác biệt về tư duy pháp lý và cơ chế áp dụng pháp luật.
Ba là, Hoa Kỳ là nhà nước Liên bang, nên một điểm khác biệt nữa trong việc bảo
hộvà thực thi pháp luật về bảo hộ quyền tác giả là làm rõ mối quan hệ giữa pháp
luật Liên bang và của từng bang.

21


2.2.

Một số bài học kinh nghiệm đối với công tác lập pháp và thực thi pháp
luật quyền tác giả tại Việt Nam
2.2.1. Quản lý nhà nước về quyền tác giả
Sự khác biệt về quản lý nhà nước giữa Cục Bản quyền tác giả của Việt Nam

và Hoa Kỳ.
Cục Bản quyền tác giả Hoa Kỳ trực thuộc Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, đây là
một điểm đặc thù của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả của Hoa
Kỳ. Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ là thể chế liên bang lâu đời nhất tại Hoa Kỳ và là cơ
quan nghiên cứu của Quốc hội Hoa Kỳ. Đây được coi là thư viện lớn nhất thế giới
với hàng tỷ đầu sách, bản ghi âm, ảnh, bản đồ cũng như các tác phẩm khác.
Tại Việt Nam, Cục Bản quyền là cơ quan của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có
chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về bảo hộ quyền
tác giả, quyền liên quan trong cả nước theo đường lối, chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà nước.
Cục Bản quyền tác giả đã có bộ máy tổ chức tương đối hoàn thiện, với tổng
số 25 cán bộ, công chức trong biên chế để thực hiện vai trò quản lý nhà nước về
quyền tác giả, quyền liên quan. Văn phòng Cục, Phòng Quyền tác giả, Phòng
Quyền liên quan, Phòng Thông tin là 4 tổ chức chuyên môn thực hiện chức năng
tham mưu và thi hành công vụ quản lý hành chính nhà nước về quyền tác giả, quyền
liên quan. Văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh và Văn phòng đại diện tại
thành phố Đà Nẵng, là 2 tổ chức đại diện của Cục Bản quyền tác giả tại 2 khu vực
miền Nam và miền Trung. Website quyền tác giả Việt Nam là kênh thông tin và
công cụ quan trọng, hữu hiệu để chỉ đạo hướng dẫn các hoạt động quyền tác giả,
quyền liên quan theo thẩm quyền của Cục Bản quyền tác giả.
Trong những năm qua, Cục Bản quyền tác giả đã coi trọng công tác đào tạo,
bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức ở các chức danh khác
nhau. Đó là các khóa đào tạo về lý luận chính trị, quản lý hành chính theo tiêu
chuẩn chức danh công chức nhà nước, tham gia các chương trình đào tạo do Tổ
chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và các tổ chức quốc tế liên quan tổ chức. Hầu
hết cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý quyền tác giả, quyền liên quan sử dụng
được tiếng Anh trong các diễn đàn quốc tế, dịch tài liệu liên quan, một số người có
hai ngoại ngữ. Một số cán bộ, công chức đã tham gia các đoàn đàm phán Chính phủ
22


của các Hiệp định có cam kết về quyền tác giả, quyền liên quan. 30% cán bộ, công
chức làm công tác quản lý hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan có trình độ
tiến sĩ và thạc sĩ.10
2.2.2. Trình tự, thủ tục đăng ký bản quyền tác giả
Việc đa dạng hóa các hình thức đăng ký và nâng cấp cơ sở dữ liệu cho việc
đăng ký như của Cục Bản quyền tác giả Hoa Kỳ là một tham khảo hữu ích cho Việt
Nam. Tại Hoa Kỳ, người nộp đơn có thể lựa chọn một trong ba hình thức đăng ký
quyền tác giả( đăng ký quyền tác giả có thể thông qua mạng, đăng ký với mẫu đơn
điền sẵn hoặc đăng ký với mẫu đơn giấy) .
Tại Việt Nam, chỉ có cách thức nộp đơn duy nhất là nộp đơn theo mẫu giấy
cùng các tài liệu gửi kèm và nộp tại Cục Bản quyền.
2.2.3. Hệ thống chế tài trong việc thực thi bảo hộ quyền tác giả
Hệ thống chế tài trong việc thực thi bảo hộ quyền tác giả của Hoa Kỳ được
coi là hoàn thiện và đầy đủ, bao gồm các biện pháp như: Các lệnh của Tòa án; tịch
thu và xử lý đồ vật vi phạm; bồi thường thiệt hại và lợi nhuận; chi phí tố tụng và lệ
phí luật sư; cấm nhập khẩu và phân phối; các hình phạt hình sự. Hệ thống các cơ
quan Tòa án được coi là trung tâm trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến
thực thi bảo hộ quyền tác giả tại Hoa Kỳ với trình tự, thủ tục, thời gian giải quyết
nhanh gọn và thuận lợi.
Tại Việt Nam, hiện tại có rất nhiều văn bản quy định thẩm quyền cũng như
các chế tài thực thi bảo hộ quyền tác giả. Các chế tài chủ yếu của Việt Nam bao
gồm: Biện pháp hành chính, dân sự, hình sự có liên quan đến việc thực thi quyền
tác giả . Hệ thống các cơ quan thực thi cũng rất nhiều và không tập trung.
2.2.4. Vai trò của các Hiệp hội liên quan đến quyền tác giả
Tại Hoa Kỳ, các Hiệp hội liên quan đến quyền tác giả có vai trò rất lớn trong
việc vận đồng hành lang đối với các cơ quan nhà nước để ban hành các đạo luật,
văn bản pháp luật khác có liên quan đến việc bảo hộ quyền tác giả cũng như việc
thực thi chống lại các hành.

10 http://cov.gov.vn/cbq/index.php?option=com_content&view=article&id=54&Itemid=74. Cục bản quyền
tác giả Việt Nam

23


Tại Việt Nam, hình thành hệ thống quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên
quan để góp phần thực hiện vai trò tự quản lý quyền của các chủ thể.
Hệ thống tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan được hình
thành với 4 tổ chức gồm: Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam
(VCPMC) quản lý quyền của các nhà soạn nhạc, soạn lời; Hiệp hội Công nghiệp
ghi âm Việt Nam (RIAV) quản lý quyền của nhà sản xuất bản ghi âm; Trung tâm
Bảo vệ quyền tác giả văn học Việt Nam (VLCC) quản lý quyền của tác giả tác phẩm
văn học; Hiệp hội Quyền sao chép Việt Nam (VIETTRO) quản lý quyền sao chép.
Đây là loại hình tổ chức lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam, sau các chuyến nghiên
cứu, khảo sát hoạt động và kinh nghiệm từ các nước có nền công nghiệp bản quyền
phát triển, và sau nhiều hội nghị, hội thảo được tổ chức. Là tổ chức phi chính phủ,
phi lợi nhuận, thực hiện ủy thác quyền từ các chủ sở hữu, các tổ chức quản lý tập
thể quyền tác giả, quyền liên quan tiến hành các công việc cấp phép sử dụng quyền,
thu và phân phối tiền bản quyền cho các chủ thể quyền đã ủy thác.11
Tuy nhiên, vai trò của các hiệp hội rất mờ nhạt , chủ yếu là nơi thu hút, tập
trung các hội viên qua đó khuyến khích việc đăng ký bản quyền, thực hiện việc hợp
tác khai thác giá trị bản quyền của các tác phẩm, hợp tác với các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thực thi bảo hộ quyền tác giả khi có hành vi xâm phạm.
2.2.5. Vi xâm phạm quyền tác giả có liên quan đến quyền lợi của các hội viên
cũng như các hiệp hội
Tại Việt Nam, liên quan đến lĩnh vực bản quyền tác giả, vai trò của các Hiệp
hội rất mờ nhạt, chủ yếu mới là nơi thu hút, tập trung của các hội viên qua đó
khuyến khích việc đăng ký bản quyền, thực hiện việc hợp tác khai thác giá trị bản
quyền của các tác phẩm, hợp tác với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực thi
bảo hộ quyền tác giả khi có hành vi xâm phạm.
Các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan đã có nhiều cố
gắng để thực hiện sứ mệnh của mình, có tổ chức hoạt động mang lại hiệu quả thiết
thực như VCPMC. Tính đến hết năm 2011, VCPMC đã thu hơn 101 tỷ đồng tiền sử
dụng tác phẩm âm nhạc. Hiện tại, các tổ chức này đang đứng trước tình trạng bất
11 http://cov.gov.vn/cbq/index.php?option=com_content&view=article&id=54&Itemid=74. Cục bản quyền
tác giả Việt Nam

24


hợp tác, trốn tránh nghĩa vụ pháp lý khi khai thác sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn,
bản ghi âm, chương trình phát sóng của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Tuy nhiên, tất cả các hoạt động từ việc ký hợp đồng ủy thác quyền, cấp phép
sử dụng quyền, thu và phân phối tiền, bảo vệ quyền lợi của hội viên có quyền được
khai thác sử dụng ở nước ngoài và ngược lại, cũng như các hoạt động quản trị đều
là những công việc mới mẻ, chưa có tiền lệ, vì vậy các tổ chức quản lý tập thể phải
học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia nói chung và Hoa Kỳ nói riêng để thực hiện
vai trò của mình.
2.2.6. Vấn để bản quyền và văn hóa
Việc bảo hộ bản quyền tác giả có mối liên hệ trực tiếp tới sự phát triển nền
văn hóa của từng quốc gia, khu vực cũng như trên toàn thế giới. Do vậy, việc bảo hộ
quyền tác giả cần phải được đặt trong các môi trường văn hóa đặc thù của từng
quốc gia, nhằm từng bước hình thành nét văn hóa tôn trọng bản quyền trong việc
khai thác, sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
2.2.7. Giải quyết những thách thức về vấn đề bản quyền trong thời đại kỹ
thuật số- nội dung trọng tâm của việc bảo hộ quyền tác giả trong giai đoạn hiện nay
2.2.7.1. Những nét đặc trưng của công nghệ số có liên quan đến bản quyền:
Những công nghệ cần được điều chỉnh bởi luật bản quyền đều là những ứng
dụng kỹ thuật liên quan tới việc lưu trữ và chuyển giao quyền tác giả. Những công
nghệ này liên quan tới luật bản quyền dưới nhiều phương diện được liệt kê sau đây:
Dễ dàng sao chép; dễ dàng phổ biến; dễ dàng lưu trữ.
2.2.7.2. Những điểm đáng lưu ý của pháp luật Hoa Kỳ đối với việc bảo hộ
quyền tác giả trong thời đại kỹ thuật số
Thứ nhất, tìm đến những hình thức thể hiện mới.
Suốt hai thế kỷ qua, không biết bao nhiêu lần chủ đề bản quyền liên quan tới
những hình thức mới của quyền tác giả được đưa ra thảo luận. Nghề nhiếp ảnh, kỹ
thuật quay phim, các dữ liệu điện tử, và các chương trình máy tính là một số ví dụ
điển hình. Về mặt cơ bản, trong mỗi trường hợp các nhà hoạch định chính sách đều
có thể xem xét vấn đề một cách tổng quát hơn là chỉ dừng lại ở những kỹ thuật và
phương thức biểu đạt cụ thể, để có thể thừa nhận sợi chỉ chung xuyên suốt về quyền
sáng tạo liên quan tới bản quyền tác giả.
Thứ hai, duy trì cơ cấu các đặc quyền.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×