Tải bản đầy đủ

BÀI THU HOẠCH của CHUYẾN THAM QUAN bảo TÀNG CHỨNG TÍCH CHIẾN TRANH

TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT LÝ TỰ TRỌNG TP.HCM
KHOA CƠ KHÍ

BÀI THU HOẠCH CỦA CHUYẾN THAM QUAN BẢO
TÀNG CHỨNG TÍCH CHIẾN TRANH

SINH VIÊN: HỒ ĐỨC THẮNG
LỚP: 12CĐ-CK1

TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 5 NĂM 2014


TỘI ÁC CỦA MỸ DÀNH CHO VIỆT NAM
Thảm sát thôn Mỹ Lai là một tội ác chiến tranh của Lục quân Hoa
Kỳ gây ra trong thời gian Chiến tranh Việt Nam. Vào ngày 16 tháng 3
năm 1968 tại khu vực thôn Mỹ Lai thuộc làng Sơn Mỹ, huyện Sơn Tịnh,
tỉnh Quảng Ngãi, các đơn vị lính Lục quân Hoa Kỳ đã thảm sát hàng
loạt 504 dân thường không có vũ khí, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ
em. Trước khi bị sát hại, nhiều người trong số các nạn nhân còn bị
cưỡng bức, quấy rối, tra tấn, đánh đập hoặc cắt xẻo các bộ phận trên cơ
thể.

Đại đội Charlie thuộc Tiểu đoàn số 1, Trung đoàn bộ binh số 20, Lữ
đoàn bộ binh số 11, Sư đoàn bộ binh số 23, Lục quân Hoa Kỳ, tới Nam
Việt Nam tháng 12 năm 1967. Trong tháng đầu tiên tại Việt Nam họ
không có cuộc chạm trán nào với đối phương. Tính cho đến giữa tháng 3
năm 1968, thương vong của đơn vị này là 5 người chết, 23 người bị
thương, trong đó phần lớn binh sĩ thiệt mạng vì mìn và bẫy. Trong
thời gian diễn ra Sự kiện Tết Mậu Thân (tháng 1 năm 1968), Tiểu
đoàn 48 của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (thường
được quân đội Hoa Kỳ gọi là Việt Cộng) đã tiến hành một số cuộc tấn
công trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Tình báo Mỹ cho rằng sau Sự
kiện Tết Mậu Thân, Tiểu đoàn 48 đã rút lui về ẩn náu tại địa bàn làng
Sơn Mỹ thuộc tỉnh này, cụ thể là các thôn Mỹ Lai 1, 2, 3 và 4.
Lục quân Hoa Kỳ quyết định tổ chức một cuộc tấn công lớn vào các
làng bị nghi ngờ này. Đại tá Oran K. Henderson ra lệnh cho các sĩ quan
cấp dưới "đánh mạnh vào đây, tiến gần kẻ địch và xóa sạch chúng".
Trung tá Frank A. Barker ra lệnh cho các chỉ huy của Tiểu đoàn 1 đốt
các ngôi nhà, giết sạch gia súc, phá hủy các kho lương thực và giếng
nước.
Vào hôm trước của cuộc tấn công, tại cuộc họp chiến thuật của Đại
đội Charlie, đại úy Ernest Medina thông báo cho lính của mình rằng gần
như mọi dân làng sẽ ra chợ vào lúc 7 giờ sáng, tất cả những ai còn ở
lại đều là lính Việt Cộng hoặc người giúp đỡ Việt Cộng. Một số binh sĩ


của đại đội Charlie sau này đã khai rằng mệnh lệnh của Medina theo như
họ hiểu là giết toàn bộ du kích, lính Việt Cộng và những ai "khả nghi"
(bao gồm cả phụ nữ, trẻ em), đốt trụi làng và đầu độc các giếng nước.
Mỹ không chỉ tan sát tỉnh Quãng Ngãi mà còn rải chất độc dioxin
xuống miền Nam Việt Nam.
Trong 10 năm (1961-1971), trải dài trên các tỉnh của miền Nam
Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 trở vào, quân đội Mỹ đã sử dụng 72 triệu
lít chất độc hóa học diệt cây, trong đó đáng chú ý là trên 40 triệu lít chất
độc màu da cam có chứa Đioxin–chất hóa học độc nhất và bền vững
nhất mà con người tìm ra.
Theo số liệu ban đầu, quân đội Mỹ đã sử dụng 72 triệu lít chất độc
diệt cây nhưng mới đây có tài liệu công bố là 100 triệu lít, trong đó đáng
chú ý là trên 40 triệu lít chất độc da cam có chứa dioxin. Kết quả, hơn 2
triệu người Việt Nam bị nhiễm chất độc, 3.340.000 ha đất bị hủy diệt,
44% đất canh tác hoang hóa. Những khảo sát của các nhà khoa học 20
năm sau chiến tranh cho thấy vẫn còn 22% rừng tự nhiên và 31% đất

trồng thuộc vùng bị nhiễm chất độc hóa học.
Với trên 40 triệu lít chất da cam mà Mỹ đã sử dụng, trên toàn bộ
lãnh thổ miền Nam Việt Nam đã tồn lưu một lượng chất độc đioxin kỷ
lục trong lịch sử chiến tranh hóa học thế giới: 170-600kg dioxin. Trong
quá trình tồn dư trong đất dưới tác dụng của điều kiện thời tiết dioxin
dịch chuyển đến các khu vực xa hơn-vùng thấp trũng tiếp tục tồn tại ở
đó.
Hậu quả của chất độc hóa học–mà chủ yếu do chất da cam có chứa
dioxin–do Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh hóa học ở Việt Nam không
chỉ cho tác động trực tiếp, phải tính đến ảnh hưởng lâu dài đến môi
trường sinh thái và những di chứng cho các thế hệ nạn nhân chất độc
da cam, số nạn nhân ngày một tăng theo thời gian.
Báo cáo của hội thảo quốc tế lần thứ 2 (11-1993) về tác hại của chất
diệt cỏ Mỹ dùng trong chiến tranh Việt Nam cho thấy: rừng nội địa bị
phá vỡ cấu trúc, chức năng bị đảo lộn. Chỉ tính riêng rừng ngập mặn và
ứng phèn, có đến 240.000 ha bị phá hủy. Đặc biệt là rừng Sác (Cần Giờ,
thành phố Hồ Chí Minh) gần như bị phá trụi không còn cả giống trồng.
Phải cần 100 năm mới khôi phục lại hệ sinh thái ở đây. Chiến tranh
hóa học làm cho tài nguyên lâm sản bị cạn kiệt, tính ra có tới 75 triệu m3
gỗ bị đốt cháy thành than. Sau chiến tranh, ở miền Nam chỉ còn 29,2%
rừng dưới mứ can toàn sinh thái, không đủ chức năng bảo vệ môi
trường, hạn chế tác hại của thiên tai, như chống xói mòn, hạn hán,
lũ lụt...


Đối với dân thường, qua phân tích mô mỡ những người sống trong
vùng bị nhiễm độc ở miền Nam Việt Nam, nồng độ dioxin cao hơn so
với người thường là 3-4 lần. Do đó, nó là nguyên nhân làm xáo trộn
về di truyền như quái thai, ung thư, chết yểu…Thực tế sau chiến tranh,
tại những vùng bị nhiễm chất độc dioxin, tỉ lệ sinh con quái thai cao gấp
10 lần, sinh con chết hay sẩy thai cao gấp 6 lần…
Cuộc chiến tranh khốc liệt đã đi qua, nhưng hơn 15 triệu tấn bom
đạn cùng với gần 100 nghìn tấn chất độc hóa học đang để lại nhiều vết
tích trên mỗi mét đất và di chứng cho nhân dân Việt Nam. Những hố
bom và tiềm ẩn chất độc hóa học vẫn còn đó ở những làng quê Việt
Nam, những con người hằng ngày chịu những nỗi đau da cam,cần một
lời nói trách nhiệm của các công ty hóa chất Mỹ và những trái tim yêu
thương đồng loại.
Qua 2 tội ác mà Mỹ dành cho Việt Nam em cảm thấy đế quốc Mỹ
(can thiệp Mỹ) đã hành xử một cách mất nhân tính đối với đồng bào ta,
cho dù thế giới đã cấm rãi những chất độc hại có nguy hại lâu dài cho
Dân địa phương nhưng chúng vẫn cố tình rãi với liều lượng gấp nhiều
lần chỉ tiêu cho phép. Hậu quả là những nơi bị rãi với số lượng nhiều đã
làm cho người dân nơi đó sống với tình cảnh bị dị tật, bệnh hoạn ….cả
làng. Cách đối xử với tù binh thì như thời trung cổ - 1 hành động không
thể nào tha thứ được.
Sau khi đi tham quan, em nhận thấy những tội ác mà Mỹ đã để lại
cho Việt Nam là điều không thể tha thứ được, họ không xem dân tộc
ta là một “con người” mà chỉ xem là những sinh vật chuyển động. Thật
đáng hổ thẹn với chính bản than họ, với tổ quốc của họ, họ đã tuyên
ngôn độc lập năm 1776 với những tuyên bố về quyền của con người,
trong đó có “quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Họ
đã không làm theo lời tuyên ngôn của tổ quốc mình, thậm chí chỉ quyền
sống thôi họ cũng không dành cho người dân bản địa nơi họ xâm chiếm
nói chi đến quyền tự do hay mưu cầu hạnh phúc.
Em cảm thấy tự hào về dân tộc Việt Nam của chúng ta hơn – 1 dân
tộc anh hùng, bất khuất trước mọi thời đại, từ thuở dựng nước cho đến
ngày nay, trải qua biết bao nhiêu cuộc cuộc chiến tranh chống quân xâm
lăng, bọn thực dận và đế quốc…. Có lẽ vì lẽ đó mà đã tôi luyện cho tính
khí người Việt Nam một khí chất kiên cường và quả cảm, chịu đựng
được mọi cực hình mà không huề ly khai ra đồng đội, bán đứng tổ quốc
mình.
Cùng với đó, với những nhà lãnh đạo kiệt xuất đã đưa ra những


đường lối đúng đăn để cho đất nước thoát khỏi ách thống trị của đế quốc
Mỹ. Dân tộc ta thời kì nào cũng có những hào kiệt, xuất chúng trong
những lúc tình cảnh đất nước lâm nguy. Thật vậy, nếu như ngày xưa
chúng ta có Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi hay Quang Trung..
Thì ngày nay chúng ta có những : Hồ Chí Mình, Phạm Văn Đồng, Võ
Nguyên Giáp, Lê Duẩn…. Mà đáng kể nhất là dân tộc ta có tinh thần
yêu nước rất sâu đậm còn khi là một đưa trẻ…mà điển hình nhất là chị
Võ thị Sáu, chỉ với mười mấy tuổi thôi nhưng chị đã tỏ ra là một con
người có tinh thần và nghị lực thép, một con người đã trở thành biểu
tượng cho lòng quả cảm của thế hệ trẻ chúng ta.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×