Tải bản đầy đủ

Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp

Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

A. MỞ ĐẦU
1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Tri Tôn là một huyện miền núi, dân tộc của tỉnh An Giang, nằm ở trung tâm
của vùng tứ giác Long Xuyên. Huyện sở hữu 4 ngọn núi của dãy Thất Sơn huyền
bí là Núi Dài (Ngọa Long Sơn), Núi Tô (Phụng Hoàng Sơn), Núi Nước (Thủy Đài
Sơn), Núi Tượng (Liên Hoa Sơn), có nhiều hang động ăn sâu vào lòng núi. Có
nhiều Chùa, Miếu thờ tự của đồng bào dân tộc Kinh, Khmer, Hoa. Đồng thời Tri
Tôn cũng là vùng căn cứ cách mạng qua các thời kỳ kháng chiến chống Pháp và
Mỹ. Huyện có 05 xã, thị trấn và 09 cá nhân được tặng danh hiệu anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân. Huyện có rất nhiều di tích lịch sử cách mạng, văn hóa
hình thành, xây dựng gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước. Trong này
nhiều di tích được công nhận cấp quốc gia như đồi Tức Dụp, Ô Tà Sóc, nhà mồ Ba
chúc,... Với những đặc điểm này đã tạo nên các loại hình du lịch phong phú như
du lịch sinh thái, dã ngoại, văn hóa, dân tộc, tín ngưỡng.
Tri Tôn được thừa
hưởng những gì tốt đẹp
nhất mà thiên nhiên ban
tặng, nhiều danh lam thắng
cảnh còn hoang sơ như hồ

Soài So, đồi Tà Pạ. Một
quần thể núi rừng trãi dài
giữa đồng bằng mênh
mông. Trên núi có nhiệt độ
thấp hơn dưới đồng bằng
khoảng vài ba độ. Với khí
hậu ôn hòa mát mẽ, cảnh
quan tuyệt đẹp như một bức
tranh thủy mặc nên thơ là
Núi Cô Tô
nơi lý tưởng cho du khách đến du lịch. Ngoài ra, những nét riêng trong ngôn ngữ,
trang phục, phong tục tập quán, kết hợp với các lễ hội dân gian, tín ngưỡng như lễ
hội đua bò Bảy Núi, lễ Dâng Y của dân tộc Khmer, giỗ tập thể Nhà Mồ Ba Chúc,
hay các đặc sản như cháo bò, tung lò mò, thốt nốt, gạo Nàng Nheng Bảy Núi,…đã
tạo cho Tri Tôn những điều kiện tốt để phát triển các loại hình du lịch.
Về vị trí Tri Tôn, phía bắc giáp huyện Tịnh Biên, phía nam giáp huyện Hòn
Đất (Kiên Giang), đông giáp huyện Châu Thành và Thoại Sơn, tây giáp huyện
Kiên Lương và thị xã Hà Tiên (Kiên Giang). Mặt khác, Tri Tôn nằm ở phía tây
nam của tỉnh An Giang, là trục đường chính nối kết TP. Châu Đốc – Long Xuyên –
Rạch giá và thị xã Hà Tiên, với 5 cửa ngõ ra vào bằng hệ thống đường thủy – bộ.
Có đường biên giới Việt Nam – Campuchia dài trên 17km, có vị trí rất thuận lợi
trong giao lưu kinh tế của khu vực. Đường thủy có kênh Mặc Cần Dưng, kênh
Tám Ngàn, kênh Vĩnh Tế. Đường bộ có 4 cửa ngõ ra vào Tri Tôn như quốc lộ N1,

Châu Huy Phong – Lớp B69

1/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

tỉnh lộ 55B, tỉnh lộ 941, tỉnh lộ 943. Với một vị trí như vậy, có thể nói Tri Tôn là
một trung điểm trong các tuyến du lịch của các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long.
Tuy nhiên thực tế thời gian qua Tri Tôn vẫn chưa thu hút được lượng du
khách đến tham quan du lịch và nghỉ dưỡng. Có phải khách thường ghé tham quan
rồi đi không hẹn ngày quay lại. Hay nguyên nhân do du lịch của Tri Tôn nghèo nàn
không hấp dẫn? Sản phẩm các tour du lịch đơn điệu? Hay du lịch Tri Tôn chưa
được quảng bá rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, nên nhiều người

không biết đến?
Tri Tôn là một trong 2 huyện nghèo nhất tỉnh An Giang, đời sống nhân dân
còn nhiều khó khăn. Nguồn thu nhập chủ yếu của bà con nhờ vào nông nghiệp như
trồng trọt, chăn nuôi nhỏ lẻ và làm thuê mướn theo thời vụ, thiếu việc làm ổn định,
lực lượng lao động thừa nhiều (nhưng không có trình độ). Phát triển du lịch ở Tri
Tôn là điều kiện thuận lợi để giải quyết công ăn việc làm, nâng cao trình độ dân trí,
giảm tỉ lệ bỏ học, nâng chất lượng cuộc sống cho nhân dân, nhất là đồng bào dân
tộc khmer.
Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp rất lớn vào GDP đối với nhiều
quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Do đó tìm giải pháp quảng
bá để vực dậy du lịch ở huyện Tri Tôn đang là mối quan tâm lớn của lãnh đạo địa
phương.
2- GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:
- Cung cấp thông tin tìm năng về du lịch huyện miền núi biên giới Tri Tôn,
tỉnh An Giang.
- Cảnh báo sự yếu kém của cách làm du lịch và quảng bá du lịch hiện nay tại
Tri Tôn.
- Góp phần phát triển ngành du lịch huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang ổn định
và bền vững.
3- KẾT CẤU ĐỀ TÀI:
Ngoài phần mở đầu và kiến nghị, kết luận, đề tài nghiên cứu gồm 3 chương,
tập trung một số vấn đề như:
- Giới thiệu khái quát về vấn đề kinh tế và phát triển du lịch theo quan điểm
của chủ nghĩa Mác Lê Nin và Đảng, nhà nước ta.
- Giới thiệu tổng quan về vị trí địa lý, kinh tế xã hội huyện Tri Tôn, tỉnh An
Giang.
- Khảo sát thực trạng cách làm du lịch và quảng bá du lịch tại Tri Tôn thời
gian qua. Thăm dò ý kiến của khách tham quan cũng như nhà quản lý du lịch.
- Tìm nguyên nhân của các vấn đề hạn chế về phát triển du lịch Tri Tôn và
đề ra những giải pháp khắc phục.
4 – PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Sử dụng các phương pháp:
- Phân tích
- Tổng hợp
- Logic
- Minh họa

Châu Huy Phong – Lớp B69

2/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

B. NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH:
1.1- MỘT SỐ KHÁI NIỆM:
Du lịch là các hoạt động thường xuyên có liên quan đến chuyến đi của con
người ngoài nơi cư trú, nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ
dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội được đặc trưng bởi sự tăng nhanh
về số lượng, mở rộng phạm vi và cơ cấu dân cư tham gia vào quá trình du lịch ở
từng nước.
Du lịch là tổng hợp các hoạt động kinh doanh được tổ chức nhằm đáp ứng
các nhu cầu của con người.
Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh
doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du
lịch.
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử,
văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác
được sử dụng, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Đây là yếu tố cơ bản để hình thành
các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.
Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, với ưu thế về tài nguyên
du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng
của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường.
Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung
cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường
thuỷ, đường hàng không.
Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu
trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm
đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
Chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ và giá bán, chương trình
được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết
thúc chuyến đi.
Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động, nhằm tìm
kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch.
Ngành kinh tế du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp, bao gồm các hoạt
động tổ chức, hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ, nhằm đáp
ứng các nhu cầu đi lại, ăn uống, nghỉ ngơi, lưu trú, thăm quan, giải trí, tìm hiểu,
lưu niệm... của du khách.
1.2- QUAN ĐIỂM MÁC – LÊ NIN VÀ ĐẢNG TA VỀ DU LỊCH:
a - Quan điểm của mác Lê Nin về du lịch:
Dù hoạt động trong lĩnh vực nào và ở giai đoạn lịch sử nào thì con người
cũng cần có thức ăn, quần áo, nhà ở, v.v, để duy trì sự tồn tại của con người và các
phương tiện vật chất cho hoạt động. Muốn có các của cải vật chất đó, con người
phải không ngừng sản xuất. Sản xuất càng được mở rộng, số lượng của cải vật chất
ngày càng nhiều, chất lượng càng tốt, hình thức, chủng loại... càng đẹp và đa dạng,
Châu Huy Phong – Lớp B69

3/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

không những làm cho đời sống vật chất được nâng cao mà đời sống tinh thần như
các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch... cũng được mở rộng và phát
triển. Quá trình sản xuất của cải vật chất cũng là quá trình làm cho bản thân con
người ngày càng hoàn thiện. Kinh nghiệm và kiến thức của con người được tích
luỹ và mở rộng, các phương tiện sản xuất được cải tiến. Các lĩnh vực khoa học,
công nghệ ra đời và phát triển giúp con người khai thác và cải biến các vật thể tự
nhiên ngày càng có hiệu quả hơn. Chính vì vậy C. Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ ra
rằng, sản xuất của cải vật chất là cơ sở, là điều kiện tiên quyết, tất yếu và vĩnh viễn
của sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người.
Ngày nay, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện
đại, cơ cấu kinh tế có sự biến đổi, lĩnh vực sản xuất phi vật thể (dịch vụ, du lịch)
phát triển mạnh mẽ sẽ đóng góp một tỷ trọng lớn trong thu nhập quốc dân. Các
ngành sản xuất phi vật thể (dịch vụ, du lịch) phát triển và ở nhiều nước, tạo ra
nguồn thu nhập ngày càng lớn so với các ngành sản xuất khác, góp phần quan
trọng cho sự tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia. Một
là khắc phục tình trạng đói nghèo, lạc hậu. Hai là cải thiện và nâng cao chất lượng
cuộc sống cho dân cư như: tăng tuổi thọ, giảm suy dinh dưỡng, giảm bệnh tật, phát
triển giáo dục, văn hóa, thể thao, v.v. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện vật chất để
tạo thêm việc làm, giảm thất nghiệp và nâng cao mức sống của nhân dân.
Như vậy, giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển du lịch có mối quan hệ biện
chứng. Phát triển du lịch tốt tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện có nguồn vốn đầu tư
vào các lĩnh vực hoạt động sản xuất vật chất khác, tạo thêm nhiều việc làm nâng
chất lượng cuộc sống của người dân và quan trọng hơn là phát triển về giao lưu
văn hóa.
b - Quan điểm của Đảng về du lịch:
Nước ta bước vào thời kì đổi mới, đại hội VI của Đảng cũng đã khẳng định
“Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội,
nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế”- (văn kiện
đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, trang 86).
Kế thừa thành công của đại hội VI, các đại hội sau của Đảng, như trong văn
kiện đại hội X, Đảng khẳng định “kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã
hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, ở địa phương, thực hiện tốt các chính
sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và
hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế xã hội.”
(trang 101). Đảng xác định rõ phương hướng phát triển du lịch gắn với phát triển
kinh tế là ngành dịch vụ tạo nguồn ngoại tệ. Để ngành du lịch phát triển thì phải
“Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, đa dạng hoá sản phẩm
và các loại hình du lịch” .
Văn kiện đại hội đảng XI xác định “Phát triển các ngành dịch vụ, nhất là
dịch vụ tài chính, ngân hàng, thương mại, du lịch và các dịch vụ có giá trị gia tăng
cao. Phấn đấu khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng GDP và
gấp ít nhất 1,3 lần tốc độ tăng trưởng của các ngành sản xuất sản phẩm vật chất.
tốc độ tăng trưởng dịch vụ bình quân 5 năm đạt 8 - 8,5%/năm”.
Châu Huy Phong – Lớp B69

4/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

Nền kinh tế nước ta hiện nay, tỷ trọng ngành nông nghiệp vẫn còn khá cao,
nhất là vùng nông thôn. Do đó để phát triển kinh tế vùng này, Dảng ta xác định
mục tiêu là Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng
giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng
sản phẩm và lao động nông nghiệp. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy
hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái. Tăng cường đầu tư ngân
sách Nhà nước và đa dạng hoá các nguồn vốn để phát triển mạnh kết cấu hạ tầng
nông thôn, phát huy nguồn lực con người, chú trọng đào tạo nghề, giải quyết việc
làm cho nông dân và lao động ở nông thôn. Tạo điều kiện cho lao động nông thôn
có việc làm tại chỗ và ngoài nông thôn, kể cả ở nước ngoài. Ứng dụng rộng rãi
thành tựu khoa học và công nghệ; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
phát huy lợi thế của từng vùng, bảo vệ môi trường. Để làm được như vậy phải dựa
vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài, phát
huy tiềm năng của các thành phần kinh tế. Kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế và
xã hội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, nâng
cao đời sống vật chất và văn hoá của người dân nông thôn, nhất là đồng bào các
dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; giữ gìn truyền thống văn hoá và thuần phong
mỹ tục.
Nghị quyết số 11 của ban chấp hành đảng bộ tỉnh An Giang khóa IX ngày
18/01/2013 về đẩy mạnh phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh đến năm 2015 và định
hướng đến năm 2020 quan điểm “Phát triển du lịch theo hướng bền vững, chuyên
nghiệp, hiện đại, có trọng tâm. Tập trung các nguồn lực phát triển tuyến du lịch
trọng điểm của tỉnh là Núi Sam - Núi Cấm - Khu siêu thị Tịnh Biên. Trong đó ưu
tiên đầu tư phát triển khu du lịch Núi Sam nhằm tạo nền tảng đột phá, thúc đẩy các
khu, điểm du lịch khác phát triển như rừng tràm Trà Sư, Núi Tô, Ba Chúc, Ô Tà
Sóc…”. “Phát triển du lịch là nhiệm vụ lâu dài, gắn phát triển du lịch với các
ngành kinh tế khác để đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế, giảm nghèo bền vững,
đảm bảo an sinh xã hội…” “Phấn đấu đưa An Giang vào vùng trọng điểm du lịch
quốc gia, xây dựng và hoàn thành thương hiệu du lịch An Giang.”
Nghị quyết cũng nêu rõ nhiệm vụ và giải pháp tăng cường công tác xúc tiến,
quảng bá và hợp tác phát triển du lịch: “Đẩy mạnh xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá
du lịch với nhiều hình thức phong phú, đa dạng trên các phương tiện truyền thông
trong và ngoài nước nhằm giới thiệu hình ảnh du lịch An Giang. Chủ động liên kết,
hợp tác với du lịch các tỉnh nhằm nâng cao vị thế và gắn An Giang vào chuổi sản
phẩm du lịch liên vùng”. “Tổ chức duy trì các lễ hội truyền thống và phát triển các
loại hình văn hóa, nghệ thuật của các dân tộc kinh, hoa, chăm, khmer hàng năm.”
1.3 – CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH:
a- Nội dung cơ bản của luật du lịch:
Luật du lịch năm 2005 gồm 11 chương 88 điều được Quốc hội ban hành quy
định: Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụng
đối với tổ chức, cá nhân đầu tư vào một số lĩnh vực trong du lịch; làm rõ hơn các
lĩnh vực Nhà nước thực hiện và những lĩnh vực Nhà nước hỗ trợ để phát triển du
lịch. Trong đó chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, công tác xúc tiến, quảng bá quốc
gia, bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch; cho phép thành lập quỹ hỗ trợ phát triển
du lịch...
Châu Huy Phong – Lớp B69

5/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

Trong Luật Du lịch có những nội dung mới góp phần nâng cao tính hấp dẫn
của sản phẩm du lịch. Cụ thể, quy định chi tiết hơn việc xác định tài nguyên du
lịch và vấn đề quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch nhằm bảo đảm
nguyên tắc phát triển du lịch bền vững. Nội dung quy hoạch du lịch được đưa vào
Luật để khẳng định sự phát triển du lịch phải theo quy hoạch, bảo đảm tính hiệu
quả của đầu tư du lịch trong phạm vi toàn quốc và của mỗi địa phương. Ngăn ngừa
tình trạng xây dựng lộn xộn, mất mỹ quan, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh
thái tại các khu du lịch, điểm du lịch.
Vấn đề xã hội hoá trong lĩnh vực du lịch, sử dụng du lịch như một công cụ
hữu hiệu để xoá đói, giảm nghèo được quan tâm hơn thông qua các chính sách
khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển du lịch, khuyến khích cộng
đồng dân cư tham gia và được hưởng lợi ích từ các hoạt động du lịch. Có phần
kinh doanh du lịch, để nâng cao tính chuyên nghiệp và chất lượng các dịch vụ du
lịch, đảm bảo quyền lợi của khách du lịch.
Luật Du lịch khẳng định tài nguyên du lịch dù thuộc sở hữu của nhà nước,
Tổ chức hay cá nhân nhưng đều phải được bảo vệ, tôn tạo, khai thác hợp lý để phát
huy hiệu quả, sử dụng và bảo đảm phát triển du lịch bền vững. Tổ chức, cá nhân sở
hữu tài nguyên du lịch có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về
du lịch có thẩm quyền trong việc sử dụng và khai thác tài nguyên du lịch cho các
mục tiêu kinh tế khác, nhưng bảo đảm không làm giảm độ hấp dẫn của tài nguyên
du lịch.
Luật Du lịch cũng khẳng định các khu du lịch phải thành lập ban quản lý, trừ
trường hợp khu du lịch được giao cho một chủ đầu tư, thì chủ đầu tư chịu trách
nhiệm quản lý khu du lịch. Như vậy, các khu du lịch, nơi tập trung nhiều tài
nguyên du lịch, nơi diễn ra nhiều hoạt động du lịch trong một môi trường du lịch
đã có chủ thể quản lý, việc chỉ đạo và phối hợp hoạt động giữa chính quyền địa
phương với các Ban quản lý khu du lịch sẽ nhịp nhàng và đồng bộ hơn.
b- Chiến lƣợc phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn 2030:
Ngày 30/12/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2473/QĐ-TTg
phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2030". Nội dung chủ yếu của Chiến lược bao gồm quan điểm, mục tiêu, giải
pháp và chương trình hành động.
Về mục tiêu tổng quát, đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối
đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu,
mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và
thế giới. Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch
phát triển.
Mục tiêu cụ thể: Tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch bình quân thời kỳ
2011 - 2020 đạt 11,5 - 12%/năm. Năm 2015: Việt Nam đón 7 - 7,5 triệu lượt
khách du lịch quốc tế và 36 - 37 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ khách
du lịch đạt 10 - 11 tỷ USD, đóng góp 5,5 - 6% vào GDP cả nước; có tổng số
390.000 buồng lưu trú với 30 - 35% đạt chuẩn từ 3 đến 5 sao; tạo ra 2,2 triệu việc
làm trong đó có 620.000 lao động trực tiếp du lịch. Năm 2020: Việt Nam đón 10 10,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 47 - 48 triệu lượt khách du lịch nội địa;
Châu Huy Phong – Lớp B69

6/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

tổng thu từ khách du lịch đạt 18 - 19 tỷ USD, đóng góp 6,5 - 7% GDP cả nước; tạo
ra 3 triệu việc làm trong đó có 870.000 lao động trực tiếp du lịch.
Những giải pháp chủ yếu bao gồm phát triển sản phẩm du lịch, phát triển hệ
thống hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực du lịch; phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá và thương hiệu du
lịch; đầu tư và chính sách phát triển du lịch; hợp tác quốc tế về du lịch, quản lý nhà
nước về du lịch.
c – Chƣơng trình hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2013 - 2020:
Ngày 18/2/2013 thủ tướng chính phủ ký quyết định 321 phê duyệt chương
trình quốc gia về du lịch. Trong đó phấn đấu đến năm 2020, phát triển du lịch cơ
bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp; các sản phẩm du lịch
có chất lượng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được
với các nước trong khu vực và thế giới. Mục tiêu chung là góp phần đạt được chỉ
tiêu về lượng khách và tổng thu từ khách du lịch đã đề ra trong Chiến lược phát
triển du lịch đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Cùng với đó, phấn đấu xây dựng được hệ thống sản phẩm du lịch dựa trên
lợi thế về tài nguyên theo hướng chú trọng đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ,
phát huy giá trị nổi trội của tài nguyên du lịch của các vùng miền, đảm bảo nguyên
tắc phát triển du lịch bền vững. Phát triển được những sản phẩm du lịch có tính
cạnh tranh cao, phù hợp với thị trường mục tiêu của du lịch Việt Nam, chú trọng
thị trường có khả năng chi trả cao, lưu trú dài ngày.
Xây dựng được thương hiệu du lịch quốc gia, thương hiệu sản phẩm du lịch
theo vùng, thương hiệu loại hình du lịch tiêu biểu gắn với các địa phương, doanh
nghiệp và định vị thương hiệu du lịch Việt Nam ở trong và ngoài nước nhằm nâng
cao khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, nâng
cao hiệu quả khai thác du lịch, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước. Nâng cao năng lực quản lý du lịch thông qua củng cố tổ chức bộ máy
quản lý nhà nước; tăng cường thể chế, chính sách, phối hợp liên ngành tạo điều
kiện thuận lợi cho du lịch phát triển; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
và chất lượng cán bộ quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương.
Một trong những hoạt động chính của Chương trình là hỗ trợ phát triển sản
phẩm du lịch. Trong đó: thực hiện nghiên cứu thị trường mục tiêu của du lịch Việt
Nam nhằm định hướng xây dựng các sản phẩm du lịch phù hợp; hỗ trợ xây dựng
sản phẩm du lịch phù hợp thị trường mục tiêu của du lịch Việt Nam trên cơ sở khai
thác thế mạnh về tài nguyên du lịch, khai thác đặc trưng du lịch của 7 vùng du lịch
Việt Nam; nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch; hỗ trợ các kênh phân phối sản
phẩm du lịch và triển khai các Chương trình kích cầu du lịch nhằm thu hút khách
du lịch. Ngoài ra, Chương trình còn chú trọng đến các hoạt động liên quan đến
phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam; hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách
liên quan đến du lịch; củng cố hệ thống tổ chức, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ
quản lý du lịch.
d - Các văn bản khác:
Trên cơ sở luật du lịch và định hướng phát triển kinh tế của các nghị quyết
đại hội Đảng, về mặt quản lý nhà nước, các cấp, các ngành cáo một số văn bản sau:
Châu Huy Phong – Lớp B69

7/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

Quyết định số 201 của thủ tướng chính phủ ngày 22/1/2013 phê duyệt quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030.
Với quan điểm “Phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn; du lịch chiếm tỷ
trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã
hội...” (điều 1)
Bộ văn hóa thể thao du lịch có quyết định 984 ngày 12/3/2013 về chương
trình kích cầu du lịch gắn với thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ năm 2013.
Bộ nội vụ có thông tư Số: 48/2005/TT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban Nhân dân
quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương.
Quyết định 801 của thủ tướng chính phủ ngày 27/6/2012 phê duyệt quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh An Giang đến năm 2020. Về du lịch
“Phát huy tổng hợp các nguồn lực xây dựng và phát triển du lịch, đa dạng hóa sản
phẩm du lịch, đẩy mạnh liên doanh, liên kết với các đơn vị làm du lịch trong nước
và quốc tế. Phấn đấu đến năm 2020 thu hút 6,5 triệu lược khách. Phát triển các khu
du lịch trọng điểm Núi Sam, Núi Cấm, Núi Cô Tô, núi Dài… các tuyến du lịch nội
tỉnh Long Xuyên - Châu Thành - Châu Phú - Châu Đốc - Tịnh Biên - Tri Tôn”.
“Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống gắn với du lịch và bảo vệ môi
trường trong hoạt động thương mại và du lịch”.
Nghị định số 149/2007/NĐ-CP ngày 09/10/2007 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực du lịch.
Quyết định số 01/QĐ-UBND, ngày 04/01/2011 của UBND tỉnh An Giang
về việc ban hành kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011 – 2015.
Quyết định 1500 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ngày 31/8/2011 Ban
hành Chương trình Xúc tiến đầu tư và thương mại giai đoạn 2011 - 2015 tỉnh An
Giang
Sở du lịch có
Định hướng phát
triển ngành Du lịch
An Giang đến năm
2015.
Trong
định
hướng quy hoạch
phát triển kinh tế xã
hội huyện Tri Tôn
đến
năm
2020
khẳng định “Để đột
phá về kinh tế, Tri
Tôn sẽ đẩy nhanh
phát triển thương
mại với nước bạn
Campuchia và các
loại hình du lịch dựa
UBND huyện Tri Tôn làm việc với nhà đầu tư
trên lợi thế biên giới, địa hình rừng núi, kênh rạch, di tích lịch sử, văn hóa, lễ hội,
sản phẩm truyền thống…”
Châu Huy Phong – Lớp B69

8/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

Ngoài ra UBND huyện Tri Tôn còn ban hành danh mục các lĩnh vực dự án
kêu gọi đầu tư và chính sách ưu đãi đầu tư, mời gọi đầu tư vào huyện Tri Tôn.
Về quảng bá du lịch, vào tháng 5/2011, UBND huyện Tri Tôn đã phát hành
cuốn sách Tri Tôn tiềm năng và cơ hội đầu tư. Nội dung cuốn sách giới thiệu tiềm
năng thế mạnh phát triển kinh tế xã hội của huyện; huyện Tri Tôn trên đà phát
triển; huyện Tri Tôn hướng đến năm 2020 với các mục tiêu nhiệm vụ giải pháp;
giới thiệu du lịch Tri Tôn; tóm tắt các dự án kêu gọi đầu tư trên các lĩnh vực.
Những văn bản trên phát huy phần nào những nội dung của luật du lịch
nhằm thúc đẩy phát triển du lịch Việt Nam, phấn đấu từ năm 2020 Việt Nam trở
thành một trong các quốc gia có ngành du lịch phát triển trong khu vực như nâng
cao chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ du lịch; nâng cao vị thế của Việt
Nam trên trường quốc tế; phát triển du lịch bền vững. Để thực hiện được điều này,
nhiệm vụ chủ yếu là đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá về du lịch, đa dạng hoá,
nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Việt Nam, bảo vệ tài nguyên môi trường du
lịch, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch, tăng cường hiệu lực quản lý nhà
nước về du lịch.

Xem đà điểu ở Tức Dụp

Châu Huy Phong – Lớp B69

9/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH DU LỊCH
VÀ QUẢNG BÁ DU LỊCH Ở HUYỆN TRI TÔN TỪ NĂM
2010 ĐẾN 2013:
2.1- ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH:
2.1.1 - VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN:
Tri Tôn
có 13 xã, 2 thị
trấn với 79
khóm ấp, trong
đó thị trấn Tri
Tôn là trung
tâm huyện lỵ.
Toàn huyện có
dân số khoảng
132.803 người,
với 32.820 hộ,
trong đó dân
tộc khmer có
45.180 người,
với 11.035 hộ,
chiếm 34,02%
dân số, một số
ít là người hoa,
còn lại phần đông
Hồ nước trên đồi Tà Pạ
là người kinh. Mật độ dân cư 221 người/km2. (theo số liệu báo cáo sơ kết giữa
nhiệm kỳ đại hội đảng bộ Tri Tôn lần X nhiệm kỳ 2010 – 2015)
Là một huyện miền núi, biên giới, tôn giáo, dân tộc của tỉnh An Giang, Tri
Tôn là huyện có diện tích tự nhiên 60.039 ha (diện tích lớn nhất so với các huyện
khác trong tỉnh), có chung đường biên giới với nước bạn Campuchia dài 17km,
cách trung tâm tỉnh An Giang 50 km về phía đông. Cách không xa các đô thị lớn
và cửa khẩu trong khu vực (TP. Châu Đốc; cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên; Thị xã du
lịch, cửa khẩu quốc tế Hà Tiên; TP. Rạch Giá),…
Qua khảo sát sơ bộ của ngành văn hóa thông tin, toàn Huyện hiện có hơn
142 di tích lịch sử cách mạng văn hóa. Trong này có hơn 100 di tích chưa được
xếp hạng. Có 11 di tích được Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch và UBND tỉnh công
nhận gồm: Đồi Tức Dụp, khu căn cứ Ô Tà Sóc, Bia Cầu Sắt Vĩnh Thông, Nhà Mồ
Ba Chúc, Chùa Phi Lai, Chùa Tam Bửu, Chùa Văn Long, Chùa Soai Tông A
(Sway ton), Gò Tháp An Lợi, Hang Tuyên Huấn, Bia cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.
Cùng nhiều di tích lịch sử cách mạng, văn hóa đã và đang được đề nghị xem xét
như: Chùa Hang, Cầu Sắt 13, Chùa Tà Miệt Trên, Chùa Tà Dung Trên, Chùa Linh
Sơn, Chùa B52,… Các di sản phi vật thể như: Kinh Lá, Dù Kê, dàn nhạc ngũ
âm…Các di sản trên luôn được trân trọng, giữ gìn, bảo tồn và phát huy ý nghĩa, đó
Châu Huy Phong – Lớp B69

10/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

là niềm tự hào của nhân dân địa phương và có sức thu hút du khách trong và ngoài
huyện đến tham quan.
Du lịch là nhu cầu khách quan, vốn có của con người, kinh tế càng phát
triển, năng suất lao động càng cao thì nhu cầu du càng tăng. Phát triển ngành du
lịch sẽ phát huy lợi thế của Tri Tôn về cảnh quan thiên nhiên, về nhiều loại lao
động đặc thù mang tính dân tộc, truyền thống của địa phương.
Tri Tôn có các dãy núi Cô Tô (hay còn gọi là núi Tô) – Phụng Hoàng Sơn,
Núi Dài - Ngọa Long Sơn, Núi Tượng (hay Voi) - Liên Hoa Sơn, núi Nước – Thủy
Đài Sơn, là bốn trong bảy ngọn núi tạo nên địa danh “Thất Sơn” hùng vĩ.
Núi Tô là ngọn núi đứng hàng thứ 2 trong dãy Thất Sơn, bao quanh bởi 4 xã
Núi Tô, Cô Tô, Ô Lâm và An Tức của huyện Tri Tôn. Ngọn núi có hình giống cái
tô lật úp, được tiếng là đẹp nhất trong các núi ở miền Thất Sơn. Vào những đêm
trăng sáng, dường như có tiên nữ về múa hát nhã nhạc ở sân Tiên lưng chừng núi.
Núi được hợp thành bởi một ngọn núi chính và 2 ngọn đồi con.
Ngọn chính cao 614m, chu vi 14.375m với cấu trúc đầy kỳ bí, không khí
trong lành, môi trường sạch sẽ, mang đậm nét đẹp hoang dã, trù phú của một vùng
đất chưa bị con người khai phá. Lên núi có Sân Tiên, vồ Hội, Điện Kín và đồi 614,
điện Năm Căn, chùa Bồng Lai,…Du khách sẽ tận hưởng không khí trong lành của
rừng núi và tiếng chim hót thỏa thích. Vào những tháng mưa, khách đến núi Tô
sẽ có dịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hai con suối Ô Thum và Ô Soài So như những
con rắn khổng lồ uốn lượn theo các khe đá đổ xuống Hồ Soài So rộng 5 ha, có
dung tích 400.000m3. Ngoài việc phục vụ du lịch, hồ còn dự trữ nước phục vụ
công tác chữa cháy.
Vào sâu phía bên trong hồ, du khách sẽ được đi dạo dưới bóng mát của vườn
xoài, với những cây xoài đại thụ xen lẫn với những vườn rau, vườn điều do người
dân trồng, góp phần tạo cho cảnh quan nơi đây càng mang nhiều sắc thái thôn dã,
gây trong lòng du khách một ấn tượng khó quên. Đặc biệt là khi cùng đắm mình
vào dòng nước trong suốt, mát lạnh để thưởng thức tiếng suối reo hoà cùng tiếng
chim hót. Dọc theo chân núi còn có nhiều chùa, miếu đã làm tăng thêm sự tôn
nghiêm, tĩnh lặng.
Bên cạnh ngọn núi chính là đồi Tà Pạ, cao 120m, chu vi 10.225m, một thời
gian dài ngọn đồi này bị khai thác đá triệt để. Hiện nay chính quyền không còn
cho khai thác đá, nhưng hậu quả để lại là ngọn đồi nham nhở. Trên đồi một hố sâu
chục mét, rộng thênh thang, khi mưa xuống nước đọng lại thành một hồ nước trong
vắt, làm cho không khí trên đồi trong lành, mát mẽ rất thích hợp với việc du lịch
nghỉ dưỡng. Hồ này cũng thu hút rất đông các em học sinh đến tắm vào những trưa
hè.
Sau Núi Tô là Đồi Tức Dụp, một ngọn đồi nhỏ với chiều cao khoảng 300m,
nhưng có địa hình hiểm trở với nhiều tảng đá dựng cheo leo, tạo thành những lò
ảng (hang trên núi) ăn luồng nhau như tổ ong. Nhờ đặc điểm ưu việt này, Tức Dụp
còn được mệnh danh là ngọn đồi “2 triệu đô la”. Đây là giá trị của bom đạn mà Mỹ
cương quyết ném xuống để san bằng ngọn đồi, nhưng chúng đã bất lực trước tinh
thần kháng chiến dũng cảm và mưu trí của quân dân An Giang, Tức Dụp trở thành
một căn cứ kháng chiến nổi tiếng trong thời kỳ chống Mỹ. Nay, đồi trở thành một
di tích lịch sử được Bộ Văn hoá xếp hạng. Với phong cảnh hữu tình, nằm bên cạnh
Châu Huy Phong – Lớp B69

11/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

ngọn núi Cô Tô hùng vĩ, đồi Tức Dụp luôn tấp nập du khách đến tham quan trong
những dịp lễ, Tết, … để xem những chiến tích xưa, được hít thở không khí trong
lành, chiêm ngưỡng cảnh núi non chập chùng, thư giãn với trò câu cá sấu, cỡi đà
điểu và bắn đạn thật, thưởng thức các món đặc sản như bánh xèo trứng đà điểu, bò
xào lá vang....
Núi Dài tuy không cao bằng núi Tô, nhưng là núi lớn nhất trong vùng, nằm
trên địa phận xã Lương Phi và Ba Chúc. Sở dĩ, đặt tên núi Dài vì núi có chiều dài
8.000m. Núi Dài có chiều cao đứng hàng thứ 3 của dãy Thất Sơn (cao 265m), có vị
trí thuận lợi trong việc đi lại. Môi trường và cảnh quan không bị khai thác bừa bãi,
nên núi Dài rất thích hợp để trở thành một điểm du lịch sinh thái. Đây là loại hình
du lịch đang được nhiều người ưa chuộng và cũng là một trong những thế mạnh
của du lịch Tri Tôn, hiện đang được nhiều nhà đầu tư quan tâm.
Nhắc đến núi Dài phải kể đến căn cứ Ô Tà Sóc. Ô Tà Sóc có địa hình đồi núi
hiểm trở, phức tạp, có nhiều hang động thông nhau, thuận lợi cho việc trú ẩn, nên
trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ ta chọn nơi đây làm căn cứ. Suốt 13 năm
chiến đấu với kẻ thù, trong đó có 5 năm (1962 - 1967) nơi đây là căn cứ của Văn
phòng Tỉnh uỷ. Có mấy ai biết được giữa không khí mát mẻ, trong lành, thoáng
đãng trên núi Dài bây giờ, lại là chiến trường đầy máu lửa của 50 năm về trước.
Ngày 28/12/2001 Ô Tà Sóc được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận là Di tích lịch
sử cấp quốc gia. Hy vọng rồi đây núi Dài sẽ trở thành điểm đến của nhiều du khách
yêu chuộng loại hình du lịch này.
Cảnh quan văn hóa Tri Tôn còn có nhà mồ Ba Chúc, chùa chiềng của các
tôn giáo và 36 chùa khmer. Cụm 3 di tích “Nhà mồ Ba Chúc, Chùa Phi Lai và
Chùa Tam Bửu” là những di tích được công nhận cấp quốc gia vào năm 1980. Nơi
này là điểm ghi dấu tội ác man rợ của bọn diệt chủng Pôn – Pốt 2 qua 12 ngày (từ
18/4/1978 đến ngày 29/4/1978) mà bọn chúng giết chết 3.157 người dân tại xã Ba
Chúc. Chứng tích tội ác còn đó, in dấu rõ ràng nơi đây, hài cốt của hàng ngàn
người dân vô tội được lưu giữ tại nhà mồ tập thể cho đến bây giờ. Nhà mồ Ba
Chúc có hình lục giác, mỗi trụ cột đỡ mái nhà được kiến trúc hình tượng như bàn
tay đẫm máu đang vươn thẳng lên. Bên trong nhà mồ là một khung hộp kính tám
cạnh, chứa đựng 1.159 bộ hài cốt được phân thành nhiều loại khác nhau như: độ
tuổi, giới tính … Nhà mồ được xây dựng giữa hai ngôi chùa Phi Lai và Tam Bửu,
đây là hai ngôi chùa do các tín đồ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa dựng lên và cũng là
nơi nhân dân Ba Chúc đã trú ẩn tránh sự càn quét đẫm máu của bọn Pôn Pốt I Eng
Sari (khmer đỏ). Cũng chính nơi đây đã trở thành nơi chứng kiến những tội ác của
chúng và những chứng tích đó vẫn còn in dấu cho đến ngày nay.
Núi Tượng (hay Voi) nằm trong địa phận thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn,
còn có tên là Liên Hoa Sơn. Người ta gọi núi Tượng vì nó giống hình con voi. Núi
vẫn chưa được khai thác du lịch. Núi Nước ngọn núi nhỏ nhất trong dãy thất sơn
với chiều cao chỉ khoảng 30m, leo lên núi, ta có thể quan sát toàn bộ thị trấn Ba
Chúc và đất bạn Campuchia, phong cảnh nên thơ hữu tình. Vào mùa nước lên núi
Nước như một hòn đảo nhỏ giữa mênh mông cánh đồng toàn là một màu nước
trắng xóa.
Huyện cũng có 36 chùa khmer. Trong này chùa Xà Tón (Xvay ton) là một
ngôi chùa thờ Phật nổi tiếng (theo phái tiểu thừa), tiêu biểu cho nghệ thuật kiến
Châu Huy Phong – Lớp B69

12/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

trúc chùa tháp của đồng bào Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chùa Xà Tón
nằm ngay ở trung tâm thị trấn Tri Tôn. Chùa Xà Tón đã được xây dựng cách đây
hơn 200 năm. Chính điện chùa Xà Tón nằm ở trung tâm khu đất của chùa. Chính
điện được xây theo hướng đông-tây có nóc nhọn và hai mái cong gợi hình ảnh nằm
dài uốn cong của rắn thần Naga. Nơi này còn lưu giữ bộ kinh viết trên lá buông lớn
nhất Việt Nam.
2.1.2- VỀ VĂN HÓA XÃ HỘI:
Tri Tôn là địa bàn cộng cư của dân tộc kinh chiếm khoảng 65% dân số và
khmer chiếm khoảng 34%, còn lại là dân tộc hoa. Nhiều lễ hội, đặc trưng văn hoá
cộng đồng của 2 dân tộc kinh, khmer trở thành nét đặc trưng văn hóa tiêu biểu và
thu hút khách du lịch đến tham quan, tìm hiểu.
Hàng năm, nơi đây đều tổ chức lễ hội vào các dịp tết Chol chnam thmay (lễ
mừng năm mới) và lễ Ðol ta (lễ xá tội vong nhân), Lễ hội đua bò Bảy Núi, Lễ
Dâng Y hecathinh, lễ cúng trăng oóc om bok của dân tộc khmer. Hay lễ giỗ tập thể
Nhà Mồ Ba Chúc, lễ vía đức Bổn Sư Ngô Lợi người khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu
Nghĩa và lập làng Ba Chúc. Trong dịp tết Chol chnam thmay, chính quyền địa
phương thường tổ chức Ngày hội văn hoá thể thao du lịch Khmer với nhiều hình
thức phong phú, thể hiện nét văn hoá độc đáo và để bà con dân tộc Khmer có dịp
giao lưu, học tập lẫn nhau, nhằm duy trì và phát huy nền văn hoá truyền thống. Lễ
hội thường diễn ra ba ngày vào giữa tháng tư hàng năm, gồm các hoạt động như:
thi biểu diễn các loại hình âm nhạc, biểu diễn thời trang, các món ẩm thực truyền
thống và các trò chơi dân gian đặc trưng của đồng bào dân tộc Khmer, Đồng thời,
lễ hội này còn có ý nghĩa là mừng vụ mùa mới trong năm.
Lễ Đôl ta của đồng bào khmer là một trong hai lễ lớn hiện nay – và trở thành
lễ hội tại địa phương. Nội dung bao trùm trong Lễ Đôl ta là nhằm tưởng nhớ công
ơn cha mẹ, họ hàng và cầu phước cho linh hồn những người đã khuất. Lễ Đôl ta
kéo dài từ ngày 16 đến 30/8 âm lịch với 4 lễ thức chính tại chùa và tại mỗi nhà
người Khmer như sau: Lễ đặt cơm vắt (Banh canh banh), Lễ cúng ông bà (Banh
Sên Đônta), Lễ hội (Banh phchum banh), Lễ tiễn ông bà (Banh chuônh Đônta).
Gắn với lễ này còn có ngày hội đua bò Bảy Núi.
Người Khmer vùng Bảy Núi có tập quán làm ruộng vần công, mỗi khi cày
cấy thường tập hợp cùng nhau làm hết thửa ruộng này đến thửa ruộng khác. Cày
bừa xong, họ thường cho bò chạy đua trên thửa ruộng của mình và đua bò đã trở
thành trò chơi dân gian có từ lâu đời của người Khmer vùng này.
Năm 1992, chính quyền hai huyện vùng Bảy Núi là Tịnh Biên và Tri Tôn
nhận thấy đua bò là một hoạt động văn hoá thể thao độc đáo của người dân tộc
Khmer. Hai huyện đã đứng ra liên kết tổ chức thành Lễ hội đua bò truyền thống
hằng năm để đồng bào dân tộc được vui chơi, thưởng ngoạn và rèn luyện thể lực,
thi đua chọn bò khoẻ, bò hay phục vụ nền sản xuất nông nghiệp năng suất cao. Lễ
hội được hai huyện luân phiên nhau tổ chức, trao giải thưởng. Các ngành chức
năng của huyện tham gia Ban tổ chức và cuộc đua có điều lệ, qui định rõ ràng. Đến
năm 2012, Lễ hội đua bò Bảy Núi đã tổ chức được 21 năm. Mỗi huyện đã xây
dựng một sân đua cố định đúng tiêu chuẩn. Tri Tôn có sân đua tại chùa Tà Miệt ở
xã Lương Phi và Tịnh Biên sân đua bò nằm tại chùa Thơ Mít ở xã Vĩnh Trung. Lễ
Châu Huy Phong – Lớp B69

13/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

hội đua bò mỗi năm thu hút càng đông du khách đến xem, năm 2012 tổ chức ở Tri
Tôn thu hút hơn 43.000 lược khách.
Ngoài ra, đến Tri Tôn du khách còn có thể thưởng thức văn hóa ẩm thực,
những món ăn đặc sắc, đầy hương vị khiến du khách ăn một lần rồi nhớ mãi. Trong
này tiểu biểu là các sản phẩm từ cây thốt nốt như nước thốt nốt, trái thốt nốt,
đường thốt nốt, bánh thốt nốt. Các món chế biến từ thịt bò như cháo bò, khô bò, bò
xào lá vang và lạp xưởng bò, các món thịt rừng, các món đặc sản côn trùng như ve
sữa, dế bắp, bù rầy, khô nhái...

Thốt nốt
dế bắp chiên giòn
Với cảnh quan đặc thù núi rừng, phong tục tập quán của dân tộc kinh,
Khmer, hoa, kết hợp với các lễ hội dân gian tạo cho Tri Tôn những điều kiện tốt
nhất để phát triển các loại hình du lịch như du lịch tham quan các di tích lịch sử
cách mạng, du lịch nghĩ dưỡng, leo núi dã ngoại, du lịch tâm linh, tín ngưỡng,…
Đảng bộ và chính quyền huyện Tri Tôn đang ra sức phấn đấu mời gọi đầu tư
phát triển du lịch, thực hiện nhiều kênh huy động vốn, liên doanh, liên kết tạo mọi
điều kiện cho các doanh nghiệp đến với Tri Tôn. Huyện đã xây dựng quy hoạch 4
dự án về du lịch, khảo sát các điểm đặt pano quảng cáo về du lịch, tham dự các lớp
tập huấn, hội thảo về du lịch do sở du lịch tổ chức để phát triển du lịch, tranh thủ
mọi khả năng, khai thác các mối quan hệ để tiếp cận quảng bá du lịch huyện nhà.
2.2- KẾT QUẢ QUẢNG BÁ DU LỊCH TRONG 3 NĂM QUA (2010 –
2012):
2.2.1 - THÀNH TỰU:
Xác định du lịch là ngành mũi nhọn, đầu tư cho du lịch là đầu tư cho tương
lai, ngay tử đầu mỗi nhiệm kỳ Đảng hộ, hay HĐND huyện Tri Tôn đều đề ra nghị
quyết tăng cường phát triển du lịch bằng nhiều hình thức quảng bá thu hút đầu tư.
Điển hình như thực hiện nhiều cuộc tọa đàm, gặp gỡ doanh nghiệp nhằm giúp
huyện lắng nghe những tâm tư, chia sẽ những khó khăn của các doanh nghiệp để
từng bước tháo gỡ. Chủ động quảng bá và kêu gọi các doanh nghiệp từ TP. HCM
đến đầu tư lĩnh vực du lịch thương mại và công nghiệp dịch vụ. Năm 2011 UBND
huyện Tri Tôn đã tổ chức biên soạn và in 4.000 cuốn sách Tri Tôn tiềm năng và cơ
hội đầu tư, đã quảng bá rộng rãi nội dung kêu gọi đầu tư và giới thiệu tiềm năng du
lịch của huyện Tri Tôn.
Châu Huy Phong – Lớp B69

14/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

Công tác quảng bá du lịch được huyện quan tâm như xây dựng các chuyên
mục văn hóa du lịch và Tri Tôn kêu gọi đầu tư phát định kỳ hàng tuần trên hệ
thống truyền thanh của huyện. Trang thông tin điện tử của huyện được ra mắt vào
cuối năm 2012 cũng đã góp phần quảng bá cho du lịch Tri Tôn. Ngoài ra UBND
huyện kết hợp cùng cổng thông tin điện tử tỉnh An Giang, đài phát thanh truyền
hình An Giang thường xuyên đưa tin bài, phóng sự giới thiệu cảnh đẹp và thế
mạnh du lịch của huyện Tri Tôn. Các cơ quan báo chí của đồng bằng sông cửu
long, TP.Hồ Chí Minh và trung ương cũng thỉnh thoảng giới thiệu phong cảnh,
vùng đất, con người và đặc sản của Tri Tôn đến khắp mọi miền đất nước. Từ đó
nhiều du khách trong nước và quốc tế tìm đến du lịch Tri Tôn.
Các trại sáng tác văn học nghệ
thuật, ca cổ cũng được hội văn học nghệ
thuật huyện tổ chức định kỳ hàng năm
qua đó thu hút đông đảo các tác giả từ
khắp các địa phương trong và ngoài tỉnh
sáng tác, giới thiệu hình ảnh, con người
Tri Tôn và vẻ đẹp huyền bí của dãy Thất
Sơn đến với nhân dân trong cả nước.
Việc tổ chức các lễ hội không ngừng mở
rộng quy mô cũng là một trong những
hình thức quảng bá hình ảnh Tri Tôn đến
với du khách trong nước và quốc tế.
Ngoài ra huyện cũng quảng bá
tuyên truyền hình ảnh du lịch bằng hình
thức phát tờ bướm, đặt các pano quảng
cáo về du lịch trên địa bàn huyện, tại các khu du lịch, các băng rol nhân dịp lễ hội
và khu vực tổ chức lễ hội. Tham gia trưng bày triển lãm giới thiệu thành tựu kinh
tế xã hội và các sản phẩm du lịch tại các hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức.
Từ những nổ lực và công tác quảng bá mà du lịch Tri Tôn từng bước phát
triển. Một số khu du lịch đã được đầu tư xây dựng và cũng bắt đầu trở thành những
điểm du lịch lý tưởng. Khu di dích lịch sử Ô Tà Sóc, khu du lịch Soài So xây dựng
năm 1986 đến năm 1994 đưa vào hoạt động và hiện nay đang nâng cấp. Khu di
tích lịch sử Tức Dụp (được công nhận Di tích lịch sử cấp Quốc gia Ngày
1/4/1985), năm 1986 Khu du lịch Tức Dụp và hồ Ô Tức Xa được đầu tư xây dựng,
đến năm 1994 bắt đầu hoạt động. Hàng năm thường xuyên được chỉnh trang phục
vụ tốt cho việc tham quan và về nguồn. Nhà mồ Ba Chúc được xây dựng vào năm
1979, đã hoạt động thu hút một số khách du lịch và hiện nay đang được cãi tạo
nâng cấp.
Hệ thống nhà hàng, khách sạn bước đầu phát triển, toàn huyện có 114 nhà
nghĩ, nhà trọ (trong này có 18 nhà trọ karaoke), 2 nhà hàng và hơn 4.500 cơ sở
dịch vụ thương mại. Tiêu biểu tại thị trấn Tri Tôn có nhà nghỉ Lạc Hồng, nhà trọ
Thanh Thanh Ngọc, Thanh Loan,…Nhà hàng Huê Dung, Trang Ngọc.
Huyện cũng đang quảng bá kêu gọi đầu tư 3 dự án là dự án du lịch Ô Tà
Sóc, khu du lịch Núi Nước, dự án xây dựng 3 điểm dừng chân khách du lịch trên
trục tuyến du lịch của Tri Tôn.
Châu Huy Phong – Lớp B69

15/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

Hàng năm huyện Tri Tôn tổ chức 3 lễ hội lớn, thật sinh động như lễ hội lịch
sử cách mạng huyện Tri Tôn (20/12 ) gắn với các hoạt động văn hóa thể thao, Lễ
hội đua Bò Bảy Núi vào tháng 10 dương lịch gắn với lễ đônta. Ngày hội văn hoá
thể thao du lịch Khmer thường được tổ chức vào trung tuần tháng 4 dương lịch
đúng vào dịp tết Chol chnam thmay với nhiều hình thức sinh hoạt cộng đồng
phong phú, thể hiện nét văn hoá độc đáo và để bà con dân tộc Khmer có dịp để
giao lưu, học tập lẫn nhau, nhằm duy trì và phát huy nền văn hoá truyền thống. Lễ
gồm các tiết mục như: thi biểu diễn các loại hình âm nhạc, biểu diễn thời trang, các
món ẩm thực truyền thống và các trò chơi dân gian đặc trưng của đồng bào dân tộc
Khmer. Những dịp lễ hội này thu hút rất đông lượng khách đến tham quan du lịch.
Về số lượt khách tham quan: hàng năm lượt khách đến tham quan tại các
điểm trên địa bàn huyện không ổn định. Cụ thể năm 2010 trên 300 ngàn người,
năm 2011 là 350.995 lượt người. Tuy nhiên năm 2012 có giảm, chỉ đạt 231.155
lượt. 6 tháng đầu năm 2013 đạt 249.047 lượt người. Khách tham quan chủ yếu tại
nhà mồ Ba Chúc, đồi Tức Dụp, khu du lịch Soài So, và cao điểm là những ngày
diễn ra lễ hội đua Bò. Tuy nhiên khách đến tham quan thường đi về trong ngày, ít
lưu trú lại.
Hai năm qua, ngành dịch vụ, du lịch duy trì tốc độ tăng hơn 49%. năm 2011
doanh thu khu vực này của huyện đạt 1.385 tỷ 869 triệu đồng. Năm 2012 là 1.579
tỷ 977 triệu đồng, và kế hoạch phấn đấu năm 2013 của huyện Tri Tôn trên 1.800 tỷ
đồng.
2.2.2 - HẠN CHẾ, YẾU KÉM:
Ngành Du lịch đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển, nên huyện và nhân
dân Tri Tôn chưa có nhiều kinh nghiệm trong quảng bá cũng như cách làm du lịch
chưa thu hút du khách. Lượng khách du lịch còn ít, các khu du lịch chủ yếu chỉ có
khách vào các dịp lễ tết, ngày thường thì hầu như rất ít khách.
Việc xúc tiến quảng bá đầu tư du lịch chưa được nhận thức đúng trong các
cấp các ngành, nên chưa chú ý quan tâm xây dựng cơ chế thông thoáng tạo nguồn
kinh phí và phối hợp lực lượng trong các chiến dịch quảng bá con người và du lịch
Tri Tôn. Hoạt động phối hợp liên ngành tuy đã được cải thiện, nhưng sự phối kết
hợp chưa thật tốt, chưa đủ để đáp ứng yêu cầu của hoạt động du lịch, chưa mang
tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao. Những chính sách ưu đãi đầu tư của
huyện bước đầu đã kích thích, lôi cuốn được các nguồn lực tham gia nhưng còn ở
mức thấp, chưa đi vào nề nếp và còn có tư tưởng ỷ lại, trông chờ, cho đó là trách
nhiệm của riêng ngành Du lịch.
Từ việc quảng bá thiếu thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư nên du lịch Tri
Tôn phát triển theo hình thức tự phát thiếu tính chuyên nghiệp. Điển hình như sản
phẩm du lịch chưa đa dạng phong phủ, chỉ phục vụ tham quan về nguồn là chính,
chưa có nhiều khu vui chơi giãi trí thư giãn. Khách tham quan thường tập trung
mùa tết, mùa lễ hội vía bà Chúa Xứ Núi Sam, lễ hội của huyện. Chưa có các loại
hình du lịch hấp dẫn; không biết cách tuyên truyền, quảng bá du lịch.
Thông tin quảng bá du lịch trên các phương tiện thông tin đại chúng, cổng
thông tin điện tử còn chung chung, chưa có tính cụ thể, chưa giới thiệu được tour,
tuyến du lịch. Ví dụ như từ TP. HCM về Tri Tôn phải đón xe gì, đến thị trấn Tri
Châu Huy Phong – Lớp B69

16/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

Tôn phải tham qua điểm nào trước, địa chỉ nào nổi bậc mà khi đến Tri Tôn du
khách không nên bỏ lỡ...
Vai trò chỉ đạo, tư vấn về ý tưởng quảng bá, tuyên truyền, hướng dẫn nội
dung, chuyên môn, kỹ thuật và tổ chức sự kiện thiếu sự chủ động, sâu sát và chưa
thường xuyên. Một số hoạt động lễ hội, sự kiện du lịch rập khuôn, nặng về phô
trương, sân khấu hóa, chưa thật sự quảng bá được tiềm năng phát triển du lịch.
Điển hình như lễ hội văn hóa thể thao du lịch khmer đang có nguy cơ thu hẹp về
quy mô tổ chức. Trước đây có diễu hành xe ngựa (xe phổ biến của bà con khmer
xưa dùng để thồ hàng, chở người), mấy năm gần đây không có trong chương trình
lễ hội. Du lịch của huyện không thể phát triển nếu thiếu sự quảng bá để liên kết
phát triển vùng, cùng xây dựng một thương hiệu chung cho Tỉnh. Để thực hiện
điều đó, vai trò nhạc trưởng không ai khác là Tổng cục du lịch, Sở văn hóa thể thao
du lịch Tỉnh và UBND huyện Tri Tôn.
Do khâu quảng bá kêu gọi đầu tư chưa đúng mức nên cơ sở hạ tầng chưa
được nâng cấp sữa chữa kịp thời, thiếu các khách sạn ở mức trung bình. Thắng
cảnh đẹp, di tích lịch sử có, nhưng chưa được đầu tư đúng mức. Núi Tô, Núi
Tượng, Núi Dài, đồi Tà Pạ, Ô Tà Sóc chưa phải là khu du lịch vì chưa có cơ sở hạ
tầng nào đáng kể.
Các dự án về du lịch có nhiều nhưng do quá trình quảng bá, xúc tiến thương
mại chưa tìm hiểu kỹ về năng lực doanh nghiệp, nên một số dự án thiếu vốn đầu tư
trở thành quy hoạch treo. Cụ thể như dự án khu khu du lịch sinh thái kết hợp nghĩ
đưỡng Soài So, dự án khu du lịch văn hóa khmer tại đồi Tà Pạ, xã Núi Tô, đã có
nhà đầu tư đăng ký, nhưng khi đi vào thực hiện gặp khó khăn trong khâu huy động
vốn hiện nay vẫn còn nằm trên giấy, chưa thực hiện được.
Do giao thông đường bộ ở tất cả các tuyến đường đến huyện Tri Tôn đều
xuống cấp, gây khó khăn trong vận chuyển hàng hóa, cũng như khách tham quan
du lịch, hao tốn chi phí và thời gian, dẫn đến hiệu quả đem lại không cao. Huyện
chưa có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mặt bằng đáp ứng yêu cầu phục vụ cho tổ chức các
sự kiện lễ hội, triển lãm, hội chợ theo hướng chuyên nghiệp hóa. Mặt khác chương
trình xúc tiến đầu tư chưa
khởi động đều, nổi trội vẫn
là hoạt động thương mại,
xúc tiến du lịch còn yếu do
số lượng doanh nghiệp
không nhiều. Lĩnh vực
thương mại quy mô nhỏ,
sản phẩm du lịch còn sơ
đẳng và đơn điệu.
Bộ phận chuyên trách
quảng bá, xúc tiến phát
triển du lịch vừa yếu lại vừa
thiếu. Huyện có 1 cán bộ
phụ trách mảng du lịch của
phòng văn hóa thông tin.
Huyện chưa có hướng dẫn
Khách tham quan sa bàn, Tức Dụp
Châu Huy Phong – Lớp B69

17/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

viên du lịch (khu du lịch Tức Dụp có hướng dẫn viên là nhân viên nhà hàng nên
chỉ khi nào có đoàn nào đặt cơm tại nhà hàng mới có nhân viên thuyết trình và
hướng dẫn khách tham quan). Do đó ngành du lịch Tri Tôn chưa đáp ứng được yêu
cầu nhiệm vụ mới trong thời kỳ hội nhập và cạnh tranh gay gắt hiện nay. Công
tác đào tạo bồi dưỡng về nghiệp vụ xúc tiến quảng bá tuy đã có nhiều cố gắng
nhưng chưa đồng bộ về cơ sở vật chất kỹ thuật. Một số hoạt động xúc tiến, việc
tham gia các hội chợ du lịch, tổ chức các chương trình giới thiệu điểm đến còn
mang nặng hình thức, theo lối mòn, đơn điệu, thiếu tính chuyên nghiệp và hiệu quả
chưa cao.
Dân số đông, trình độ dân trí thấp, người hiểu, biết làm du lịch không nhiều.
Các điểm du lịch lực lượng hướng dẫn viên ít, thái độ phục vụ chưa tốt. Còn xuất
hiện hiện tượng chào mời khách, ăn xin, thiếu vệ sinh môi trường… Từ đó ảnh
hưởng lớn đến việc quảng bá hình ảnh du lịch của Tri Tôn. Khách đến tham quan
mà bị chèo kéo, xin ăn, hay cảnh quan môi trường tại các điểm du lịch thiếu vệ
sinh thì làm sao đến lần thứ 2 hay giới thiệu cho nhiều người khác đến tham quan.
Các món ăn, hàng hóa đặc sản địa phương nhiều nhưng hầu hết đều sản xuất
nhỏ, lẻ chưa có thương hiệu riêng, Chưa đuộc bài bán tập trung ở một điểm hay 1
chợ du lịch, gây khó khăn trong khâu quảng bá, giới thiệu sản phẩm đặc trưng của
vùng.
2.2.3 - NGUYÊN NHÂN:
Huyện có cơ chế chính sách quảng bá phát triển ngành du lịch, nhưng thiếu
tính thuyết phục. Nhận thức về phát triển du lịch không cao, thiếu sự phối hợp giữa
các huyện, các ngành. Hành lang pháp lý chưa toàn diện, thiếu tính chủ động sáng
tạo trong xã hội hóa các nguồn lực (nhân, tài, vật lực) cho phát triển du lịch, còn bị
bó hẹp trong phạm vi ngành Du lịch.
Chính sách ưu đãi, mời gọi đầu tư chưa hấp dẫn, hoạt động du lịch chưa
chuyên nghiệp (marketing yếu, sản phẩm du lịch kém) ...
Việc trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa trong thời gian qua chưa
đáp ứng được yêu cầu về phát huy ý nghĩa di tích và tạo cảnh quan để thu hút
khách du lịch. Nguyên nhân là việc làm vừa qua chỉ mang tính bảo quản, tu sửa
nhỏ, chống xuống cấp, thiếu quy hoạch đồng bộ. Hơn nữa đa số di tích là công
trình xây dựng bằng gỗ, hang động, tồn tại qua hàng trăm năm, nên có nhiều tác
động của thiên nhiên và côn trùng, trong đó có một số hạng mục đã xuống cấp.
Trình độ cũng như năng lực của cán bộ làm công tác du lịch còn thiếu nên
công tác quảng bá còn mang tính hình thức, chưa thực sự có chiều sâu. Trình độ
dân trí thấp, hộ nghèo đông trên 17% dân số, do đó việc nâng cao nguồn lực con
người phục vụ trong du lịch còn gặp nhiều khó khăn.
Với đặc điểm là một huyện miền núi, dân tộc, biên giới và đa tôn giáo, nền
kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Kinh tế của huyện có điểm xuất phát thấp,
cơ sở hạ tầng kém Vốn đầu tư cho du lịch chủ yếu chỉ dựa vào ngân sách. Việc
quảng bá không có tính chuyên nghiệp nên các hạng mục du lịch, các khu điểm du
lịch được đầu tư quá rời rạc và nhàm chán, không thể nào đủ để kéo chân du
khách từ xa đến. Mặt khác kỷ năng quản lý, hội nhập du lịch còn hạn chế.
Du lịch của Tri Tôn chậm phát triển và “mờ nhạt” do tính không chuyên
nghiệp trong hoạt động du lịch, quảng bá du lịch, cùng với sự quản lý yếu kém, sự
Châu Huy Phong – Lớp B69

18/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

liên kết thiếu chặt chẽ giữa các địa phương trong vùng, môi trường sinh thái cũng
đang bị xâm hại. Đây là nguy cơ cho sự phát triển không bền vững về du lịch nói
chung, nếu không được chấn chỉnh kịp thời.
Khách ít chịu lưu trú lại các điểm du lịch Tri Tôn vì thiếu nơi vui chơi, mua
sắm thiếu các khách sạn, nhà nghỉ tiện nghi. Và thiếu thông tin về Tri Tôn.
Chưa liên kết với các công ty du lịch để quảng bá thiết kế các tour liên tuyến
nhằm hấp dẫn. Chủ yếu là lượng khách đi theo đoàn tham quan vòng vòng các
điểm du lịch, các khu di tích cách mạng... chỉ thích hợp với khách địa phương,
khách nội địa.
2.3- NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA:
Một là, trong bối cảnh hết sức khó khăn của ngành du lịch những năm vừa
qua, được sự quan tâm của huyện, chương trình quảng bá mời gọi đầu tư được phê
duyệt và triển khai tạo cơ hội cho ngành Du lịch phát triển. Tuy nhiên du lịch Tri
Tôn chưa phát triển, còn đang nhỏ giọt. Kinh nghiệm cho thấy, các ngành dịch vụ,
nhất là du lịch thường chịu tác động mạnh của những biến động không thuận do
tình hình thế giới và trong nước đem lại. Sau khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu
vực, nạn khủng bố, sóng thần, SARS, cúm gia cầm, heo tai xanh,… rất nhiều quốc
gia khu vực tập trung phát triển du lịch, dùng du lịch làm cứu cánh vực dậy nền
nền kinh tế.
Hai là Tri Tôn có điểm xuất phát thấp, đa số người dân thuộc hộ nghèo,
đồng bào dân tộc khmer, việc phát triển du lịch gắn với các làng nghề truyền thống
và lễ hội văn hóa khmer là một trong những điều kiện để vực dậy nền du lịch Tri
Tôn. Nhưng hiện nay huyện chưa làm tốt điều này.
Ba là, hạ tầng kinh tế, cơ sở chưa đáp ứng, đường xá chưa thông thoáng.
Chính vì nguyên nhân này mà cửa ngõ vào Tri Tôn hiện nay chỉ thu hút được
lượng khách từ Châu Đốc qua Tịnh Biên rồi mới ghé Tri Tôn. Còn hướng Long
Xuyên Châu Thành và Long Xuyên – Thoại Sơn vào Tri Tôn không có. Đòi hỏi
phải cãi thiệu cơ sở hạ tầng, đường xá.
Ba là thiếu tính năng động trong điều phối hoạt động chương trình, tổ chức
sự kiện du lịch. Bộ máy điều phối, tổ chức triển khai chương trình hành động
không phát sinh đầu mối tổ chức bộ máy riêng mà gắn với nhiệm vụ của Ngành.
trách nhiệm, tính chủ động và năng động trong huy động lực lượng phối hợp thực
hiện các mục tiêu đề ra. Do đó đòi hỏi chính quyền các cấp cần quan tâm hơn, có
chương trình, kế hoạch cụ thể lồng ghép hoạt động du lịch với quảng bá rộng rãi
đến du khách.
Bốn là, quảng bá, xúc tiến du lịch chưa đạt hiệu quả. Nâng cao chất lượng
sản phẩm và dịch vụ du lịch, tăng khả năng cạnh tranh, xúc tiến quảng bá là tiền đề
quan trọng cho phát triển du lịch. Các hoạt động này cần được tiến hành một cách
khoa học, chuyên nghiệp, sâu rộng và thường xuyên. Muốn tăng cường thu hút
khách du lịch, với số lượng nhiều, thời gian lưu trú lâu và mức chi tiêu cao, một
mặt phải nghiên cứu thị trường tỷ mỷ, hệ thống, làm cơ sở xây dựng sản phẩm du
lịch đặc thù, chất lượng cao, đa dạng, giá cả phù hợp khả năng thanh toán của
khách. Mặt khác, vấn đề quan trọng là phải tuyên truyền quảng bá ở tầm vĩ mô và
quảng cáo ở tầm doanh nghiệp thật sâu, rộng ở trong và ngoài nước dưới nhiều
Châu Huy Phong – Lớp B69

19/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

hình thức, thành những chiến dịch, quy mô lớn, tập trung vào những thị trường
trọng điểm để phát động, củng cố và mở rộng thị trường. Bên cạnh huy động
nguồn lực trong nước, cần chú trọng hợp tác, hội nhập quốc tế đa dạng, đa phương
để tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế, khai thác khách, nguồn vốn, kinh nghiệm, công
nghệ cho sự phát triển và gắn với thị trường khu vực và thế giới.
Năm là sự phối hợp liên ngành, địa phương chưa chặt chẽ và đồng bộ. Hoạt
động du lịch đòi hỏi và chỉ có thể đem lại hiệu quả cao nhất khi có sự phối hợp liên
ngành, địa phương chặt chẽ và đồng bộ nhằm tháo gỡ kịp thời khó khăn vướn mắc
liên ngành, nhất là trong việc đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh, tạo điều kiện
thuận lợi cho khách du lịch quốc tế vào Việt Nam.
Sáu là các loại hình dịch vụ ăn theo du lịch chưa phát triền nhiều, các cơ sở
lưu trú nhà hàng, khách sạn chưa đạt tiêu chuẩn điều này dẫn đến khó kéo chân du
khách nghỉ lại qua đêm tại Tri Tôn. Cần phát triển một cách đồng bộ, đặc biệt là
gắn phát triển du lịch với làng nghề truyền thống, giới thiệu sản phẩm đặc sản để
nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.
Bảy là việc thiếu hướng dẫn viên du lịch dẫn đến khách tham quan Tri Tôn
chỉ là cỡi ngựa xem hoa chứ chưa thật sự biết nhiều về vùng đất anh hùng này.
Những vấn đề đặt ra như trên đòi hỏi cần có nhiều giải pháp khắc phục và
quảng bá để du lịch Tri Tôn ngày càng phát triển, thu hút đông lượng du khách đến
tham quan.

Châu Huy Phong – Lớp B69

20/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

CHƢƠNG 3 : MỤC TIÊU GIẢI PHÁP QUẢNG BÁ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH Ở HUYỆN TRI TÔN
3.1- MỤC TIÊU :
3.1.1- Mục tiêu tổng quát:
Tập trung mọi nguồn lực, mọi hình thức tuyên truyền quảng bá bằng miệng,
pano, áp phích, hệ thông cơ quan thông tin truyền thông, báo chí, mạng internet để
thu hút lượng khách đến tham quan và các doanh nghiệp đầu tư. Phát triển đa dạng
các loại hình, sản phẩm du lịch. Phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi
nhọn, trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái,
truyền thống văn hoá lịch sử. Huy động tối đa nguồn lực trong nước và tranh thủ
sự hợp tác, hỗ trợ quốc tế, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Tổ chức quảng bá, cũng như tổ chức các sự kiện lễ hội cần mang tính
chuyên nghiệp hơn. Từng bước đưa ngành du lịch huyện Tri Tôn phát triển vượt
bật, để du lịch trở thành ngành kinh tế chính của huyện.
3.1.2- Mục tiêu cụ thể:
Phấn đấu lượng du khách tham quan Tri Tôn năm sau luôn cao hơn năm
trước. Phấn đấu năm 2013 đạt 400 ngàn lượt khách, và cứ mỗi năm tăng thêm 50
ngàn lược khách, đến năm 2015 Tri Tôn đón khoảng 500 ngàn lược khách. Đến
năm 2020 phải đẩy mạnh quảng bá du lịch để thu hút lượng du khách đến Tri Tôn
lên đến trên 800 ngàn lượt người mỗi năm. Đưa hoạt động du lịch vào quỹ đạo của
khu vực và có tính chuyên nghiệp. Hình thành chợ bày bán các sản phẩm đặc sản
và du lịch của Tri Tôn.
3.2- GIẢI PHÁP QUẢNG BÁ VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở HUYỆN
TRI TÔN THỜI GIAN TỚI:
Thực hiện nghị quyết của Đảng, triển khai Luật Du lịch và vì nhận thức
được lợi ích to lớn, nhiều mặt do du lịch mang lại, để du lịch phát triển vượt bậc
trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đem lại nguồn thu nhập lớn, các cấp lãnh đạo
huyện Tri Tôn cần phải thực hiện các giải pháp sau:
3.2.1 - Quảng bá mời gọi thu hút đầu tƣ lĩnh vực du lịch theo tính chuyên
nghiệp hóa, trùng tu, tôn tạo, mở rộng quy mô các điểm du lịch:
Kêu gọi đầu tư vào các điểm du lịch ở huyện Tri Tôn, không chỉ giải quyết
vấn đề của ngành du lịch mà còn thúc đẩy vấn đề kinh tế xã hội huyện nhà. Tri Tôn
có nhiều địa điểm để du lịch, nhưng đa số những diểm này đều chưa phải là một
khu du lịch thực sự vì chưa có cơ sở hạ tầng nào đáng kể và thiếu vốn đầu tư. Do
đó, Huyện cần tạo cơ chế thông thoáng, có chính sách hợp lí để mời gọi các nhà
đầu tư. Mà khâu trước tiên phải làm sao cho các nhà đầu tư hiểu về Tri Tôn, hiểu
về đất, người, về văn hoá và cơ hội đầu tư ở Tri Tôn, qua các kênh khác nhau. Cần
tăng cường quảng bá, gặp gỡ giữa các doanh nghiệp thông qua các hội thảo. Cần
thông báo chính sách mời gọi đầu tư rộng rãi, công khai, rõ ràng qua các phương
tiện thông tin đại chúng. Huyện cần đăng tải tất cả các thông tin, chính sách ữu đãi
thu hút đầu tư lên cổng thông tin điện tử huyện, nhằm cung cấp tất cả thông tin để
các nhà đầu tư quan tâm có thể tìm kiếm dễ dàng, đồng thời cần cập nhật bổ sung
các thông tin mới lên trang web thật kịp thời.
Châu Huy Phong – Lớp B69

21/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

Các dự án mời gọi đầu tư phải hấp dẫn, khả thi. Cần thúc đầy nhanh hơn nữa
dự án mời gọi đầu tư về khu du lịch Núi nước, núi Tượng, Soài So. Cũng cần lập
dự án mời gọi các nhà đầu tư xây dựng hệ thống nhà hàng, khách sạn, hệ thống
đường giao thông. Khi nhận được đầu tư sẽ giải quyết được vấn đề khan hiếm vốn,
cơ sở du lịch sẽ được xây dựng khang trang trở thành một điểm du lịch thực sự, thu
hút được lượng lớn khách du lịch.
3.2.2 - Tăng cƣờng quảng bá tuyên truyền trên các phƣơng tiện thông tin
đại chúng về hình ảnh con ngƣời và loại hình du lịch ở Tri Tôn, nâng cao
chất lƣợng chuyên mục trên hệ thống phát thanh, cổng thông tin điện tử
huyện, đƣa vào chƣơng trình giảng dạy cho học sinh:
Sử dụng hình thức quảng cáo trên truyền hình, trên mang internet và các cơ
quan báo chí. Tăng cường đăng hình ảnh, các đoạn Video Clip, âm thanh giới thiệu
cảnh quan, vẽ đẹp các lễ hội truyền thống của huyện lên trang thông tin điện tử
huyện và cổng thông tin điện tử Tỉnh. Đài truyền thanh huyện cần có phóng viên
chuyên trách đưa tin ghi hình kịp thời các hoạt động du lịch, xúc tiến đầu tư du lịch
của huyện để phát trên đài truyền hình An Giang, đồng thời cộng tác với cổng
thông tin huyện, Tỉnh.
Đây là hình thức tiếp thị tìm nguồn khách du lịch bằng thông tin, giới thiệu
các điểm, khu du lịch, tour du lịch. Du lịch khó áp dụng phương châm "hữu xạ tự
nhiên hương". Có sản phẩm du lịch hấp dẫn, phải quảng bá, xúc tiến, giới thiệu
công phu, khách mới đến. Sản phẩm du lịch cũng khác hàng hóa thương mại. Hàng
hóa thương mại có thể đem ngay ra chợ bán. Du lịch chỉ có thể mang được hơi thở,
phần hồn, hình ảnh của sản phẩm ra thị trường để mời gọi.
Đẩy mạnh
xúc tiến, tuyên
truyền, quảng bá
du lịch với các
hình thức linh hoạt;
phối hợp chặt chẽ
giữa các cấp, các
ngành; tranh thủ
hợp tác quốc tế
trong hoạt động
xúc tiến du lịch ở
trong và ngoài
nước, từng bước
tạo dựng và nâng
cao hình ảnh du
lịch Tri Tôn; nâng
cao nhận thức và
trách nhiệm của các
Núi Nước, Ba Chúc
cấp, các ngành và của nhân dân về vị trí, vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước
Tri Tôn có nhiều cảnh quan đẹp, chúng ta cần phải tăng cường công tác
quảng bá xúc tiến du lịch, mời gọi khách du lịch kết hợp linh hoạt các hình thức
Châu Huy Phong – Lớp B69

22/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

tuyên truyền như: hội chợ, hội thảo, triển lãm... và các phương tiện thông tin tuyên
truyền khác thông qua các pano, áp phích, quảng cáo trên đài phát thanh, đài
truyền hình, báo chí, qua mạng internet, đồng thời phát hành các tập sách, tập ảnh
giới thiệu về du lịch Tri Tôn như sách giới thiệu những cảnh đẹp Tri Tôn, ách nói
về sự tích, truyền thuyết, chiến công của quân và dân Tri Tôn về các danh lam
thắng cảnh và di tích lịch sử, văn hóa hay cẩm nang du lịch Tri Tôn, …giới thiệu
danh thắng ở Tri Tôn, kết hợp các điểm du lịch khác trong Tỉnh định hướng phát
triển thị trường du lịch. Đồng thời tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài và hỗ trợ
quốc tế để phục vụ công tác xúc tiến quảng bá du lịch đạt hiệu quả.
Biên soạn tài liệu và đưa vào dạy lồng ghép trong 2 môn học địa lý, lịch sử ở
trường phổ thông nhằm giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng huyện nhà cho
học sinh, giới thiệu cảnh quan thiên nhiên và các điểm đến du lịch cũng như các lễ
hội văn hóa của cộng đồng khmer. Lực lượng này là kênh thông tin tuyên truyền
cho bạn bè người thân ở khắp các địa phương, góp phần làm tăng lượng du khách
đến tham quan du lịch tại Tri Tôn.
3.2.3 - Xúc tiến khảo sát quy hoạch khu du lịch, xác định loại hình du lịch
trọng điểm trƣớc khi quảng bá để thu hút đầu tƣ đúng, cải tiến sản
phẩm, nâng cao chất lƣợng dịch vụ và phục vụ du lịch, tránh tình trạng
quy hoạch treo:
Ngay từ bây giờ, hành động đầu tiên là phải làm ngay quy hoạch. Người làm
quy hoạch và duyệt quy hoạch, tối thiểu phải có trình độ ngang bằng với cuộc sống
thời hội nhập. Quy hoạch phải mang tính đồng bộ liên ngành, liên vùng và liên
quốc gia; phải có bước đi phù hợp khả năng nhanh chóng tạo ra sự cộng hưởng của
các công trình, công đoạn đã đầu tư. Tuyệt đối không có quan niệm “mì ăn liền”
hoặc cách làm chụp giựt, vì đó là tín hiệu tự phá sản. Ngành du lịch cần tập trung
huy động mọi nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng cơ sở tiến hành khảo sát các điểm
du lịch Núi Tô, Núi Tượng, Núi Dài, Núi Nước, đồi Tà Pạ,… thu thập số liệu,
thông tin và tiến hành phân tích đánh giá hiện trạng tài nguyên-môi trường du lịch,
tình hình khai thác, tổ chức quản lí các hoạt động kinh doanh, hiện trạng quy
hoạch, kiến trúc và hạ tầng cơ sở. Tử đó đề xuất kế hoạch đầu tư và quảng bá kêu
gọi nhà đầu tư triển khai xây dựng nâng cấp cơ sở hạ tầng kịp thời để những nơi
này thực sự là một khu du lịch hấp dẫn đối với du khách. Như tiếp tục đầu tư xây
dựng bổ sung các hạng mục công trình cho đồi Tức Tụp, nhà mồ Ba Chúc,…tạo
thêm sự mới lạ cho du khách sau mỗi lần tham quan. Đồng thời tiến hành sửa
chữa, nâng cấp đầu tư các công trình giao thông, điện, bưu điện,.. tạo hệ thống giao
thông thuận tiện, thông tin liên lạc thông suốt nhất là ở các tuyến du lịch của
huyện. Đăng ký thương hiệu cho các sản phẩm đặc sản địa phương,… để đáp ứng
nhu cầu phát triển của ngành du lịch trong giai đoạn hội nhập kinh tế khu vực và
quốc tế.
Du lịch trọng điểm ở Tri Tôn là du lịch văn hóa và du lịch tâm linh. Du lịch
văn hóa gồm lễ hội cộng đồng dân tộc như đua bò, Óc-om-bóc, Chol-chnamthmay, các danh thắng như Soài So, Tức Dụp, Ô Tà Sóc. Du lịch tâm linh có 36
chùa khmer, nhà mồ Ba Chúc, chùa Phi Lai, Tam Bửu.
Chọn công trình trọng điểm đầu tư trước mang lại hiệu quả, tránh dàn trãi.
Khi đã có quy hoạch, thì thiết kế xây dựng một khu du lịch cụ thể, yếu tố văn hóa
Châu Huy Phong – Lớp B69

23/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

cũng luôn được đặt lên hàng đầu. Đánh mất bản sắc văn hóa của cộng đồng địa
phương, mọi sản phẩm du lịch dù hoàn thiện, sang trọng đến mấy cũng trở nên
kém ý nghĩa. Du khách sẽ không bỏ tiền của, thời gian công sức để đi đến nơi xa
xôi chỉ để trải nghiệm những thứ giống như ở nhà. Trên thế giới, 60% dòng khách
du lịch hiện nay là có mục đích tìm hiểu nền văn hóa khác lạ. Cho nên sản phẩm
quan trọng của du lịch là du lịch văn hóa. Sức hấp dẫn du khách là bản sắc văn
hóa, cách ứng xử văn hóa của điểm đến và trình độ văn hóa của những nhà tổ chức
du lịch chuyên nghiệp. Không có sản phẩm du lịch nào không mang nội dung,
không thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc.
Phối hợp của các ngành và địa phương lựa chọn, hỗ trợ tổ chức các lễ hội
truyền thống tiêu biểu, gắn với việc tuyên truyền quảng bá nâng cao nhận thức du
lịch trong nhân dân với việc hình thành các tours du lịch văn hóa phục vụ khách
trong và ngoài nước. Các lễ hội này chủ yếu được tổ chức bằng nguồn lực huy
động tại chỗ. Chính quyền địa phương cần tham gia định hướng, hỗ trợ một phần
kinh phí nhằm gắn các hoạt động lễ hội với việc thu hút khách. Các lễ hội truyền
thống được tổ chức hàng năm gắn với việc tuyên truyền thu hút khách, tạo điều
kiện cho các công ty lữ hành xây dựng thành tour bán cho khách, như: Cholchnam-thmay (lễ mừng năm mới), lễ Ðol-ta (lễ xá tội vong nhân), Lễ hội đua bò
Bảy Núi, hay chúng ta có thể tổ chức hội thi leo núi….v.v.
Tạo hướng liên hoàn giữa các điểm du lịch, khu du lịch như cụm Tức Dụphồ Soài So-chùa Hang- chùa Svay-Ton (quanh núi Tô), cụm chùa Phi Lai- nhà mồ
Ba Chúc-Núi nước (khu vực thị trấn Ba Chúc), Cụm Tức Dụp-Nhà mồ Ba ChúcLâm viên Núi Cấm
Kêu gọi đầu tư cải tạo và mở rộng các điểm du lịch hiện có, đầu tư thêm các
khu vui chơi giải trí phục vụ du lịch và các dịch vụ phục vụ khách tham quan (cửa
hàng bán đồ lưu niệm đặc sản, ăn uống, khách sạn) tại các điểm du lịch. Cần tổ
chức các hội thi chuyên ngành dịp cọ sát, cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ,
tạo khí thế thi đua trong toàn ngành, tăng sức cạnh tranh. Tổ chức khảo sát nâng
cấp tour chuyên đề như tour sinh thái gắn với di tích lịch sử cách mạng-Tức Dụp,
Ô Tà Sóc, tour sinh thái du khảo đồng quê, cắm trại, leo núi – Hồ Soài So, Núi Tô,
Núi Nước, tour tín ngưỡng tâm linh: nhà mồ Ba Chúc và 36 chùa khmer,…Hoặc
có thể tổ chức tour du lịch kiểu home stay – cho du khách về cùng sống chung với
dân, làm những công việc như dân như trồng lúa, cắt lúa, tát cá, hoặc cho du khách
học cách làm các món ăn đặc sản địa phương,…làm cho du khách có thể hiểu hơn
về đời sống văn hóa nhân dân tri tôn.
Phát triển du lịch làng nghề truyền thống khmer như đường thốt nốt, làm
gốm, dệt thổ cẩm, ... (ưu tiên hỗ trợ phát triển hạ tầng, bảo vệ môi trường, xúc tiến
bán sản phẩm, chính sách đối với nghệ nhân, vay vốn ưu đãi,….). Hỗ trợ chỉnh
trang cảnh quan, vệ sinh môi trường địa điểm tham quan cho các làng nghề. Tập
trung đầu tư phát triển loại hình du lịch vùng núi gắn với phát triển những sản phẩm
phục vụ du lịch mang nét đặc trưng của vùng Bảy Núi. Tạo điều kiện cho các cơ sở
đăng ký thương hiệu. Mời các nghệ nhân và đại diện cơ sở sản xuất (mặt hàng đặc
sắc) tham gia biểu diễn thực hành mẫu, bán hàng lưu niệm tại các sự kiện xúc tiến
của Ngành; Tổ chức xây dựng mới và nâng cấp được tours du lịch làng nghề. Làng
gốm ở Sóc Nam Quy (xã Châu Lăng, Tri Tôn) có thể phát triển thêm hình thức gốm
Châu Huy Phong – Lớp B69

24/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tiểu luận “Quảng bá phát triển du lịch Tri Tôn hiện nay - thực trạng và giải pháp”

không chỉ phục vụ cho sinh hoạt đời sống mà còn phục vụ sản phẩm du lịch nhỏ
gọn với nhiều mẫu mã đa dạng và phong phú. Với giá thành quá rẻ mà có được một
sản phẩm đặc trưng của vùng du lịch thì du khách chẳng tiếc gì mà không mua làm
quà hoặc trưng bày trong bộ sưu tập của họ. Nghề bánh phồng mì ở Ba Chúc, nghề
làm đường thốt nốt của bà con khmer thành sản phẩm độc đáo phục vụ du lịch.
Gắn với các làng nghề là hình thành chợ đặc sản Tri Tôn. Khu chợ này dành
riêng bán các hàng hóa phục vụ du lịch như khu ẩm thực các món ăn vùng Bảy Núi
Tri Tôn, khu hàng lưu niệm (gồm sản phẩm gốm sứ, đường thốt nốt…)….
Cần tổ chức các hoạt động văn nghệ dân gian phục vụ khách tại các điểm du
lịch đông khách. Tại Tri Tôn, chúng ta có thể phát huy các điệu múa điệu hát độc
đáo của người khmer. Trong các khu khu du lịch, chúng ta có thể xây lực lượng
văn nghệ quần chúng phục vụ khách du lịch, khi đó ta có thể mời khách du lịch
cùng tham gia như mời lên cùng nhảy điệu lâm thonh, Răm Vong, dù kê, múa gáo
dừa,…giải quyết được công ăn việc làm cho một số lao động.
3.2.4 - Đẩy mạnh phối hợp liên ngành trong quảng bá tạo điều kiện thuận
lợi, khuyến khích các hoạt động du lịch:
Liên kết giữa các đài truyền thanh huyện thị thành trong tỉnh, tỉnh bạn, liên
kết vời đài phát thanh truyền hình tỉnh mở các chuyên mục định kỳ giới thiệu
quảng bá về du lịch Tri Tôn.
Đẩy mạnh việc phối hợp liên ngành giữa cơ quan thông tin đại chúng - Du
lịch - Công an - Hải quan và Bộ đội Biên phòng để tuyên truyền và giải quyết
những chính sách, tạo thuận lợi cho du khách trên các lãnh vực: Thủ tục xuất nhập
cảnh, phí lệ phí, visa... qua lại cửa khẩu. Qua đó có chính sách thu hút du khách từ
Campuchia đến Tri Tôn và ngược lại, vì đây là đối tượng khách du lịch tiềm năng
rất lớn.
Đẩy mạnh sự liên kết giữa các ngành trong huyện, các huyện trong tỉnh,
giữa tỉnh và huyện, các tỉnh trong vùng đồng bằng Sông Cửu Long, giữa tỉnh và
Trung Ương, Tỉnh An Giang – Tà Keo – Can Dal (Campuchia), giữa các công ty
lữ hành du lịch, giữa các khu nghỉ dưỡng, di tích thắng cảnh, các làng nghề, các
khu mua sắm và các điểm dừng chân. Từ đó thành lập các tuyến du lịch liên hoàn.
Đó là tính đồng bộ của các sản phẩm du lịch đặc trưng truyền thống và nét văn hóa
hiện đại mà du khách có nhu cầu. Tính đồng bộ được thể hiện tương đối toàn diện:
Kinh tế - văn hóa - môi trường; sức khỏe - tâm linh - tình cảm. Sự liên kết, đồng bộ
còn phải được bảo đảm bằng sự ổn định chất lượng của nó. Mọi sự phát triển, nâng
cấp đều phải dựa trên cái nền ổn định từ chất lượng dịch vụ đến giá cả. Mỗi du
khách sau một tour qua Tri Tôn, nếu du khách không cảm thấy hấp dẫn, mới lạ, dễ
chịu hơn nơi khác thì ít lắm cũng đừng gây cho họ có sự bực mình hoặc không hài
lòng dù nhỏ. Đặc biệt khách hành hương thì thêm yêu cầu là giúp họ giải tỏa được
tâm trạng, lấy lại thăng bằng cuộc sống tinh thần.
Hiện nay, Ban quản lý phát triển du lịch huyện đã được thành lập. Hy vọng
sẽ phối hợp tốt với các ban khác để tạo nên sức mạnh phát triển du lịch. Ban sẽ làm
được nhiều điều mà trước đây còn nằm trong ban quản lý dự án đầu tư huyện
không thực hiện được. Văn hóa - kinh tế - du lịch thể hiện gắn bó chặt chẽ ngay
Châu Huy Phong – Lớp B69

25/29

ĐVCT: Đài Truyền Thanh Tri Tôn


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×