Tải bản đầy đủ

Tình hình cạnh tranh trên thị trường sữa công thức dành cho trẻ em từ 0-12 tháng tuổi tại Việt Nam qua các năm 2009-2011

Tình hình cạnh tranh trên thị trường sữa công thức dành cho trẻ
em từ 0-12 tháng tuổi tại Việt Nam qua các năm 2009-2011

Tháng 6/2012

Tổ chức Thống nhất và Tín thác Bảo vệ Người Tiêu dùng (CUTS International –
www.cuts-international.org) là một tổ chức phi lợi nhuận, phi chính phủ chuyên hoạt động
nghiên cứu, vận động và tuyên truyền chính sách về các vấn đề liên quan tới lợi ích công
cộng như chính sách thương mại và kinh tế quốc tế, cạnh tranh và đầu tư, bảo vệ người tiêu
dùng và phát triển, v.v. Trụ sở chính của CUTS đặt tại Jaipur, Ấn Độ với các văn phòng, chi
nhánh và trung tâm nguồn lực đặt tại các nơi khác trong và ngoài Ấn Độ, bao gồm New
Delhi, Chittorgarth, Calcutta (Ấn Độ), Nairobi (Kenya), Lusaka (Zambia), Geneva (Thụy Sỹ)
và Hà Nội (Việt Nam).
Bà Phạm Quế Anh hiện tại là Giám đốc Văn phòng Hà Nội (www.cuts-hrc.org) của CUTS
International. Được đào tạo chuyên nghành về luật, cho đến nay, bà Phạm Quế Anh đã thực
hiện nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau liên quan đến luật và chính sách cạnh tranh,
bảo vệ người tiêu dùng, điều tiết kinh tế và môi trường đầu tư được 10 năm. Bà đã thiết kế,
quản lý và thực hiện nhiều dự án nghiên cứu, hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng năng lực của
CUTS, gồm có 2 dự án đa quốc gia về chính sách cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng tại
Nam và Đông Nam Á, và 2 dự án dành riêng cho Việt Nam về phát triển cơ sở pháp lý và xây
dựng năng lực trong cách lĩnh vực kể trên. Bà đã có nhiều bài viết, nghiên cứu được xuất bản

liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng, chính sách cạnh tranh, môi trường đầu tư và thương
mại, v.v. và có nhiều bài phát biểu tại các hội thảo quốc gia và quốc tế.


Mục lục
Danh mục từ viết tắt...................................................................................................................4
FAO – Food & Agriculture Organisation - Tổ chức Nông Lương Thế giới..........................4
FMCG – Fast-moving consumer goods – Hàng tiêu dùng nhanh..........................................4
GDP – Gross Domestic Products – Tổng sản phẩm quốc nội...............................................4
HHI - Herfindahl-Hirschman Index - Chỉ số Herfindahl Hirschman....................................4
Danh mục các bảng....................................................................................................................5
Danh mục các biểu đồ................................................................................................................6
Bối cảnh ra đời của nghiên cứu..................................................................................................7
1.Phạm vi và Mục tiêu của Nghiên cứu.....................................................................................8
2.Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................................10
2.1 Phương pháp luận...........................................................................................................10
2.2 Dữ liệu sử dụng..............................................................................................................12
3.Cấu trúc thị trường và Cạnh tranh.........................................................................................14
3.1.Tổng quan về thị trường sữa và sữa công thức cho trẻ từ 0-12 tháng tuổi tại Việt Nam
..............................................................................................................................................14
3.2.Cấu trúc thị trường.........................................................................................................18
3.3.Tình hình cạnh tranh trên thị trường..............................................................................34
3.4.Rào cản gia nhập thị trường...........................................................................................37
3.5.Vai trò của hệ thống phân phối đối với cạnh tranh trên thị trường sữa công thức cho trẻ
0-12 tháng tuổi.....................................................................................................................40
4.Giá.........................................................................................................................................43
4.1.Giá sữa tại Việt Nam có phải là quá cao so với khu vực?.............................................44
Biểu đồ 7 dưới đây cho thấy mức tăng CPI của Việt Nam (thể hiện qua các cột màu vàng)
đứng vào hàng cao nhất trong khu vực trong khoảng thời gian từ 2009-2011. Tuy nhiên, tỷ
suất tăng giá của các mặt hàng sữa công thức cho trẻ em từ 0-12 tháng tuổi (thể hiện qua
các đường màu xanh, đỏ và đen ở trên) của Việt Nam chỉ ở mức tương đương với các quốc
gia khác trong khu vực, trong khi thấp hơn tỷ suất tăng giá tại Trung Quốc và Thái Lan.
Điều này có nghĩa là tỷ suất tăng giá của mặt hàng sữa công thức cho trẻ em tại các quốc
gia khác trong khu vực còn cao hơn hẳn mức tăng giá trung bình của giỏ hàng hóa nói
chung (thể hiện qua mức tăng CPI), trong khi đó mức tăng giá của mặt hàng này tại Việt
Nam là không cao so với các mặt hàng khác trong giỏ hàng hóa chung dùng để tính CPI. 47
Biểu đồ 8. Đường biến động tỷ giá đồng đô la Mỹ so với đồng tiền một số nước khu vực
Đông Nam Á (2007-cuối năm 2011)...................................................................................49
..............................................................................................................................................49
Nguồn: World Bank 2011....................................................................................................49

4.2.Giá sữa tại Việt Nam liên tục tăng trong khi giá sữa trên thị trường thế giới giảm?.....49
4.3.Giá sữa công thức cho trẻ em dưới 12 tháng tuổi ở Việt Nam so với tình hình lạm phát
..............................................................................................................................................51
4.4.Mức tăng giá sữa công thức cho trẻ em tại Việt nam so với mức tăng của tỷ giá hối
đoái.......................................................................................................................................53
2


4.5.Tỷ suất tăng giá sữa công thức ở Việt Nam có cao hơn các mặt hàng FMCGs khác
không?..................................................................................................................................55
Nguồn: A.C. Nielsen............................................................................................................55
4.6.Giá sữa ngoại cao hơn giá sữa nội, vượt quá khả năng của người tiêu dùng Việt Nam?
..............................................................................................................................................55
4.7.Phải chăng giá sữa tăng cao do doanh nghiệp sữa chi quá nhiều vào quảng cáo và
chuyển chi phí đó cho người tiêu dùng?..............................................................................59
4.8.Các yếu tố tác động tới việc điều chỉnh giá sữa của các doanh nghiệp.........................59
4.9.Tổng kết.........................................................................................................................61
5.Đánh giá khung pháp lý.........................................................................................................62
5.1.Bộ Quy tắc WHO và Nghị định 21................................................................................63
5.2.Luật Cạnh tranh 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành............................................65
5.3.Cơ chế quản lý giá hiện hành và quản lý giá sữa...........................................................71
5.4.Các quy định về quảng cáo............................................................................................81
5.5.Một số các luật và quy định khác có ảnh hưởng tới thị trường này...............................82
5.6.Kết luận..........................................................................................................................83
6.Kết luận chung và Khuyến nghị............................................................................................84
6.1.Kết luận chung...............................................................................................................84
6.2.Khuyến nghị...................................................................................................................88

3


Danh mục từ viết tắt
ASEAN – Association of South East Asian Nations - Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á
CAC – Codex Alimentarius Commission - Ủy ban Codex Alimentarius
CPI – Consumer Price Index - Chỉ số giá tiêu dùng
CR – Concentration Ratio - Chỉ số về mức độ tập trung của thị trường
FAO – Food & Agriculture Organisation - Tổ chức Nông Lương Thế giới
FMCG – Fast-moving consumer goods – Hàng tiêu dùng nhanh
GDP – Gross Domestic Products – Tổng sản phẩm quốc nội
HHI - Herfindahl-Hirschman Index - Chỉ số Herfindahl Hirschman
IFFO – Infant formula - Sữa công thức cho trẻ sơ sinh
MFN – Most Favour Nations – Quy chế Tối huệ quốc
MNC – Multinational Corporation – Công ty đa quốc gia
PPP – Purchasing Power Parity – Sức mua trung bình
R&D – Research and Development – Nghiên cứu và Phát triển
USD – US dollar – Đồng đô la Mỹ
VND – Vietnamese dong – Đồng Việt Nam
WHO – World Health Organisation - Tổ chức Y tế Thế giới
WTO – World Trade Organisation - Tổ chức Thương mại Thế giới

4


Danh mục các bảng
Bảng 1. Mức tiêu thụ sữa nói chung trong nước giai đoạn 1990-2010………………………15
Bảng 2. Số liệu thống kê số lượng hộp và giá trị nhập khẩu sữa bột nguyên
hộp…………...17
Bảng 3. Số lượng các công ty tham gia thị trường và số nhãn hàng trên thị trường qua các
năm 2009-2011……………………………………………………………………………….18
Bảng 4. Sự phân hóa của thị trường sữa công thức cho trẻ dưới 12 tháng tuổi ở Việt Nam so
với các quốc gia khác trong khu vực…………………………………………………………18
Bảng 5. Tổng quan thị phần xét về chủ sở hữu công ty và nguồn gốc sản xuất……………..20
Bảng 6. So sánh sự phân hóa thị trường xét về hình thái chủ sở hữu và nguồn gốc xuất xứ
hàng hóa ..………………………………………………………………………………..…..21
Bảng 7. Một số tiêu chuẩn về thành phần và hàm lượng chất dinh dưỡng theo Codex
81……......................................................................................................................................24
Bảng 8. Một số tiêu chuẩn về thành phần và hàm lượng các chất dinh dưỡng Codex
87……………………………………………………………………………………………..25
Bảng 9. Thị phần của các nhãn hàng chủ đạo trên các thị trường sữa công thức cho trẻ nhỏ
dưới 12 tháng tuổi tại Việt Nam tính theo sản lượng và giá trị (20092011).........................................................................................................................................30
Bảng 9b. Thị phần của các doanh nghiệp chủ đạo trên thị trường sữa công thức cho trẻ nhỏ
dưới 12 tháng tuổi tại Việt Nam (2009-2011) tính theo khối lượng và giá trị ......................33
Bảng 10. Số lượng nhãn hàng chiếm 80% thị phần trong các phân khúc thị trường sữa công
thức cho trẻ em từ 0-12 tháng ở Việt Nam so với các quốc gia khác trong khu
vực
.............................................................................................................
…………………......34
Bảng 11. So sánh giá bán trung bình tại các siêu thị và các cửa hàng nhỏ lẻtại Thành phố Hồ
Chí Minh và Hà Nội………………………………………......………………………..42
Bảng 12. Giá trung bình của các sản phẩm sữa công thức cho trẻ em từ 0-12 tháng tuổi tại
Việt Nam so với các quốc gia khác trong khu vực vào thời điểm Quý 4 /2011 …………….45
Bảng 13. So sánh giá trung bình của một số dòng sản phẩm sữa công thức cao cấp giữa các
nước trong khu vực tính theo giá trị tuyệt đối ………………………………………………45
Bảng 14. GDP bình quân đầu người tính theo PPP (USD/năm)…………………………….46
Bảng 15. So sánh thuế suất nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng sữa của Việt
Nam với một số nước………………………………………………………………………...47
Bảng 16. Giá trung bình của các sản phẩm sữa công thức cho trẻ em dưới 12 tháng tuổi tại
Việt Nam chia theo nhóm tuổi và nguồn gốc nhãn hiệu……………………………………..56

5


Danh mục các biểu đồ
Biều đồ 1. Doanh thu và sản lượng tiêu thụ sữa bột khu vực thành thị/nông
thôn…………..28
Biểu đồ 2. Chỉ số CR2-4 của thị trường sữa công thức cho trẻ 0-6 tháng tuổi giai đoạn 20092011 tính theo nhãn hàng................................................................................................... .....31
Biểu đồ 3. Chỉ số HHI của thị trường sữa công thức cho trẻ 0-6 tháng tuổi giai đoạn 20092011 tính theo nhãn hàng ........................................................................................................32
Biểu đồ 4. Thị phần tính theo tổng sản lượng của các sản phẩm sữa công thức dành cho trẻ sơ
sinh 0-6 tháng tuổi (Bước 1) tính theo nhóm giá…………………………………………….36
Biểu đồ 5. Thị phần tính theo tổng sản lượng của các sản phẩm sữa công thức dành cho trẻ
nhỏ từ 6-12 tháng tuổi (Bước 2) tính theo nhóm giá ………………………………………...37
Biểu đồ 6. Thị phần tính theo tổng sản lượng của các sản phẩm sữa công thức dành cho trẻ
dưới 12 tháng có nhu cầu dinh dưỡng đặc biệt tính theo nhóm giá ………………………....37
Biểu đồ 7. Mức tăng giá các sản phẩm sữa công thức dành cho trẻ dưới 12 tháng tuổi so với
mức tăng CPI ở Việt Nam so với các quốc gia khác trong khu vực .......................................48
Biểu đồ 8. Đường biến động tỷ giá đồng đô la Mỹ so với đồng tiền một số nước khu vực
Đông Nam Á (2007-cuối năm 2011) ………………………………………………………...49
Biểu đồ 9. Xu hướng biến động của giá trung bình các sản phẩm sữa công thức cho trẻ em tại
Việt Nam trong giai đoạn 2009-2011 so với Q1/2009 ………………………………………50
Biểu đồ 10. Giá sữa bột gầy (SMP) trên thị trường thế giới 2008-2012 …………………….50
Biểu đồ 11. Tỷ lệ tăng mức tiêu thụ các FMCGs dưới sự ảnh hưởng của lạm phát ...............52
Biểu đồ 12. Mức tăng giá sữa so với sự thay đổi của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 20092011 ………………………………………………………………………………………….53
Biểu đồ 13. Mức tăng (%) của tỷ giá VND/USD theo quý qua các năm 2009-2011 ……….54
Biểu đồ 14. Xu hướng biến động của giá trung bình các sản phẩm sữa công thức cho trẻ em
tại Việt Nam trong giai đoạn 2009-2011 so với Q1/2009 …………………………………..54
Biểu đồ 15. Mức tăng của giá IFFOs so với các mặt hàng FMCGs khác …………………..55

6


Bối cảnh ra đời của nghiên cứu
Khi bắt tay vào thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi có thực hiện một phép thử đơn
giản để đo độ “nóng” của chủ đề nghiên cứu, bằng cách gõ cụm từ “giá sữa tăng” vào công
cụ tìm kiếm Google trên Internet. Kết quả sơ bộ là chúng tôi thu được là trong vòng 0,22 giây
đầu tiên, có 1.170.000 đầu tin có bao gồm cụm từ này hoặc trong đầu đề, hoặc trong nội dung
của bài viết. Kể cả sau khi Google đã loại hết các kết quả trùng lặp, chúng tôi vẫn có trong
tay tổng cộng 270 bài viết trên các trang tin điện tử tại Việt Nam có cụm từ này, trong đó tin
cũ nhất vào khoảng cuối năm 2007 - đầu năm 2008, trùng với thời điểm Chính phủ ra Nghị
định số 75/2008/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 170/2003/NĐ-CP
quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giá, đưa sữa vào danh mục cụ thể các
hàng hóa bình ổn giá.
Rõ ràng là vấn đề giá sữa, đặc biệt là sữa công thức cho trẻ em đang là một đề tài gây
nhiều xôn xao trong đại bộ phận dân cư Việt Nam. Một số câu hỏi chủ yếu liên quan đến giá
sữa tăng trong thời gian qua có thể được tóm tắt như sau:
-

Giá sữa nhập khẩu quá cao, bất hợp lý so với mức thu nhập thấp của đại đa số người
dân Việt Nam, có thể ảnh hưởng đến lượng sữa mà các hộ gia đình Việt có thể chi
trả, làm ảnh hưởng đến dinh dưỡng nói chung và sự phát triển của trẻ em nói riêng.

-

Giá sữa tại Việt Nam cao nhất trên thế giới và cao gấp 2-3 lần giá sữa tại các nước
khác trong khu vực?

-

Giá sữa tại Việt Nam đang tăng cao bất chấp sự sụt giảm của giá nguyên liệu trên
thị trường thế giới?

-

Có hay không vấn đề độc quyền tăng giá hoặc liên kết độc quyền để đặt giá vi phạm
Luật Cạnh tranh và làm tổn hại đến lợi ích của người tiêu dùng?

-

Các công ty sữa đang lợi dụng các khe hở của luật pháp để tăng giá bất hợp lý?

-

Phải chăng các công ty sữa đang lợi dụng chiêu bài “tăng cường dưỡng chất”, “cải
tiến chất lượng” khiến trẻ cao lớn, thông minh hơn và các biện pháp quảng cáo
mạnh mẽ, tinh vi khác để tăng giá?

Các cơ quan nhà nước Việt Nam đã tiến hành một loạt các đợt kiểm tra, thanh tra với
các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sữa tại Việt Nam, đồng thời đưa ra một số nghiên cứu,
như các nghiên cứu của Bộ NN&PTNT và Bộ Công Thương trong các năm gần đây, nhằm có
câu trả lời cho dư luận. Một loạt các động thái chính sách mới cũng được tiến hành, mà điển
hình nhất là sự ra đời của Thông tư số 104/2008/TT-BTC và Thông tư số 122/2010/TT-BTC
của Bộ Tài chính. Gần đây nhất là các công văn của Bộ Tài chính gửi các đơn vị sản xuất, kinh
doanh sữa tại Việt Nam đề nghị không điều chỉnh giá bán hàng hóa, sản phẩm nếu không có sự
thay đổi các yếu tố hình thành giá, và việc Tổng cục Hải quan có văn bản yêu cầu các cục hải
quan địa phương bổ sung ngay giá sữa nhập khẩu vào danh mục quản lý rủi ro hàng hóa nhập
khẩu nhằm siết chặt công tác quản lý.
Trong khi đó, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sữa cũng có các quan ngại riêng
của họ. Hai quan ngại chủ yếu nhất từ phía doanh nghiệp là: (i) các phương tiện thông tin đại
chúng đang đưa ra các cáo buộc không có căn cứ rõ ràng, gây ảnh hưởng tiêu cực trầm trọng
7


tới công việc sản xuất, kinh doanh cũng như uy tín của các công ty sữa trên thị trường Việt
Nam; và (ii) một số các quy định của nhà nước, đặc biệt là tình hình thực thi chúng còn nhiều
bất cập, có thể gây ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh và cam kết mở cửa thị trường của
Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cũng như lòng tin của doanh
nghiệp và làm gia tăng rủi ro cũng như chi phí hoạt độngcủa họtại Việt Nam.
Trong bối cảnh các quan ngại của tất cả các bên liên quan như trên, nhóm chuyên gia
độc lập chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu này để nhằm đưa ra một cái nhìn độc lập, khách
quan và minh bạch trên cơ sơ các số liệu mới nhất và phân tích tổng hợp về tình hình cạnh
tranh và vấn đề giá cả trên thị trường sữa công thức cho trẻ sơ sinh (infant - dưới 12 tháng tuổi)
tại Việt Nam qua các năm từ 2009 đến 2011, cũng như khung pháp lý điều chỉnh thị trường đó.

1. Phạm vi và Mục tiêu của Nghiên cứu
Ba mục tiêu cơ bản được thống nhất làm kim chỉ nam cho các nội dung nghiên cứu bao
gồm:


Xác định vị trí của giá các sản phẩm sữa công thức cho trẻ sơ sinh (dưới 12 tháng
tuổi) tại Việt Nam so với trên thị trường khu vực và các yếu tố chính ảnh hưởng
tới giá sữa ở Việt Nam;



Tìm hiểu và mô tả về tình hình cạnh tranh trên thị trường sữa công thức cho trẻ sơ
sinh dưới 12 tháng tuổi tại Việt Nam và xác định xem liệu đây có phải là một thị
trường mở/cạnh tranh hay không; và



Đánh giá một số quy định pháp lý điều chỉnh thị trường này.

Trên cơ sở các phân tích này, dĩ nhiên, mục tiêu cuối cùng là giải tỏa các quan ngại
phổ biến đối với thị trường bằng cách làm minh bạch vấn đề; đưa ra các khuyến nghị về
chính sách cũng như hành động cần thiết để nâng cao sự vận động cạnh tranh của thị trường
sữa công thức cho trẻ sơ sinh dưới 12 tháng tuổi; khiến cho người tiêu dùng có thể tiếp cận
được các sản phẩm sữa công thức chất lượng một cách hiệu quả.
Báo cáo cuối cùng của nghiên cứu sẽ có 4 phần chính. Phần thứ nhất về Cấu trúc thị
trường và Cạnh tranh nhằm tìm hiểu xem thị trường sữa công thức cho trẻ sơ sinh dưới 12
tháng tuổi tại Việt Nam có phải là một thị trường cạnh tranh hay không và liệu cơ chế hình
thành giá cả trên thị trường này có chịu ảnh hưởng của quá trình cạnh tranh cũng như có các
liên kết (agreements/collusion) hay hành vi đơn phương đặt giá (unilateral conduct) của các
doanh nghiệp độc quyền hay có vị trí thống lĩnh thị trường hay không. Phần thứ hai về Giá
xem xét cụ thể mối tương quan giữa giá sữa công thức cho trẻ sơ sinh dưới 12 tháng tuổi tại
Việt Nam với giá sản phẩm này tại các thị trường khu vực khác, cũng như các yếu tố khác như
mức chi phí sinh hoạt chung, lạm phát, giá nguyên liệu trên thế giới, sự thay đổi của tỷ giá hối
đoái, v.v. Phần thứ ba về Đánh giá khung pháp lý xem xét một số các luật và quy định có liên
quan chặt chẽ đến sự vận hành của thị trường này tại Việt Nam như Luật Cạnh tranh, Nghị
định 21/2006/ND-CP về việc khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ, cơ chế quản lý giá, v.v. để
đánh giá xem các quy định này có ảnh hưởng thế nào đến sự vận hành của thị trường, cũng như
sự hình thành và thay đổi của giá sản phẩm. Phần cuối cùng về Kết luận chung và Khuyến nghị
8


đưa ra các đánh giá tổng hợp đúc kết từ ba phần trước và đưa ra các khuyến nghị về chính sách
và hành động cần thiết.
Về mặt phạm vi nghiên cứu, trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung
phân tích các vấn đề xung quanh sản phẩm sữa công thức cho trẻ dưới 12 tháng tuổi (infant
formulas – IFFOs) tại Việt Nam trong khoảng 3 năm từ năm 2009 đến hết năm 2011. Các sản
phẩm khác như sữa tươi, sữa bột cho trẻ lớn (từ 1 tuổi đến 6 tuổi), người già và phụ nữ mang
thai hoặc cho con bú, sữa đặc có đường, v.v. không nằm trong phạm vi nghiên cứu của báo cáo
và thông tin về giá của các sản phẩm này, nếu có, sẽ chỉ được sử dụng trong tương quan so
sánh với mặt hàng sữa công thức cho trẻ dưới 12 tháng tuổi.
Sữa công thức cho trẻ em dưới 12 tháng tuổi là một sản phẩm rất đặc thù. Theo các tiêu
chuẩn khoa học kỹ thuật về dinh dưỡng và y tế hiện đại, đây là loại thực phẩm duy nhất có thể
thay thế cho sữa mẹ trong các trường hợp bất khả kháng mẹ không thể cho con bú, tuy rằng dĩ
nhiên chúng vẫn không thể sánh với sữa mẹ, vốn là nguồn dinh dưỡng quý giá nhất, thức ăn tổt
nhất cho sự phát triển toàn diện của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Do yêu cầu dinh dưỡng đặc thù của
trẻ dưới 12 tháng tuổi, các sản phẩm sữa công thức cho lứa tuổi này phải tuân theo các tiêu
chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt do Ủy ban Codex Alimentarius đặt ra. Đặc biệt, cho đến 6 tháng
tuổi, hoặc ít nhất là 4 tháng tuổi, nếu không có nguồn sữa mẹ tự nhiên, trẻ không nên sử dụng
các loại thực phẩm khác như sữa bò, sữa đậu nành, sữa cho người lớn hay bột ăn dặm để thay
thế. Đối với nhóm trẻ có yêu cầu dinh dưỡng đặc biệt như trẻ sinh non, nhẹ cân, trẻ bị dị ứng
không dung nạp lactose, trẻ bị tiêu chảy, .v.v. thì buộc phải tuân theo các chỉ dẫn của bác sỹ.
Sữa bột dinh dưỡng nói chung và sữa công thức cho trẻ sơ sinh dưới 12 tháng tuổi nói
riêng tại Việt Nam có một quy trình sản xuất có thể đơn giản hóa như sau:
Sữa tươi (fresh milk) được rút nước và chất béo theo một quy trình công nghệ chuyên
biệt, trở thành sữa bột gầy (skimmed milk powder - SMP). Đối với IFFOs, quy trình
xử lý sữa bột gầy phải đáp ứng những tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe và cao hơn so với
quy trình xử lý sữa bột gầy cho các sản phẩm sữa khác. 1 Sau quá trình xử lý này, các
dưỡng chất và vi chất dinh dưỡng (micro-nutritions) được trộn/đưa (từ dùng đã đơn
giản hóa) vào sữa bột gầy theo các công thức (formulations) nhất định đã được chuẩn
hóa cho từng nhóm đối tượng trẻ (theo độ tuổi, theo thể trạng và bệnh lý, v.v.). Các
loại dưỡng chất và vi chất được đưa vào cùng với tỷ lệ của chúng phải theo tiêu chuẩn
tối thiểu đặt ra bởi Codex. Tuy nhiên, Mỹ và Châu Âu đưa ra tiêu chuẩn cao hơn cho
các nhà máy đặt tại nước họ. Các vi chất được đưa vào phải có chứng nhận nghiên
cứu qua một thời gian đủ dài và có chứng nhận của Cục Quản lý Dược và Thực phẩm
(của Mỹ) hoặc Ủy ban châu Âu.2
Quá trình xử lý nghiêm ngặt hơn nhằm đảm bảo cho các vi khuẩn có khả năng tồn tại trong sữa bị tiêu diệt
hoàn toàn và tuổi thọ của sữa được đảm bảo, vì hệ tiêu hóa của trẻ em nhạy cảm hơn so với người lớn. Xem
thêm trang 2, báo cáo Milk Powder Production - Milk Powder Producers - Milk Powder Specification (Sản xuất
sữa bột, Nhà sản xuất sữa bột và Đặc tả kỹ thuật sản xuất) của công ty Watson Diary Consulting, có thể được
tải về từ địa chỉ
2
Xem thêm báo cáo Regulatory Impact Statement: Policy Guidelines for the Regulation of Infant Formula
Products (Đánh giá tác động: Hướng dẫn về Qui định đối với sản phẩm sữa trẻ em), Australia and New Zealand
Food Regulation Ministerial Council (Hội đồng liên bộ Quản lý Thực phẩm của Úc và New Zealand), có thể
được tải về từ địa chỉ
1

9


Ở Việt Nam hiện nay, việc sản xuất sữa gầy ít béo từ sữa tươi còn rất hạn chế, hầu
như không có, do chúng ta chưa có công nghệ sản xuất có thể đảm bảo các yêu cầu về vệ
sinh, an toàn thực phẩm như ở nhiều nước trên thế giới. Dây chuyền sản xuất sữa bột gầy nói
chung thường hiện đại, phức tạp và rất đắt. Đối với một thị trường không phải quá lớn như
Việt Nam, ít có doanh nghiệp nào muốn bỏ một nguồn vốn lớn đầu tư vào một dây chuyền
sản xuất như vậy vì thời gian hoàn vốn quá dài, và có khả năng làm tăng giá thành phẩm rất
nhiều so với việc nhập khẩu nguyên liệu, làm giảm tính cạnh tranh về giá của thành phẩm.
Do đó, các công ty sữa hiện đang kinh doanh trên thị trường Việt Nam đều: (i) hoặc nhập
khẩu nguyên hộp sữa công thức từ các cơ sở sản xuất ngoài Việt Nam (hoặc tại nơi có trụ sở
và nhà máy chính của công ty, hoặc nước thứ ba); (ii) hoặc nhập khẩu sữa bột gầy (là nguyên
liệu thô) và chế biến thành sữa công thức tại nhà máy đặt tại Việt Nam. Như vậy có thể nói
hoàn toàn không có sản phẩm sữa công thức cho trẻ em dưới 12 tháng tuổi nào tại Việt Nam
là 100% nội địa. Các mặt hàng IFFOs tại Việt Nam có thể phân thành hai loại chính, một loại
là sữa thành phẩm nhập khẩu nguyên hộp, in hoặc dán nhãn tiếng Việt của công ty theo quy
định pháp luật trước khi đưa vào lưu thông trên thị trường (sau đây gọi tắt là ‘sữa nhập khẩu’)
và loại thứ hai là sữa được sản xuất tại Việt Nam sử dụng nguyên liệu nhập khẩu bởi các
công ty có nhà máy đặt tại đây (bao gồm các công ty 100% Việt Nam và công ty liên doanh)
(sau đây gọi tắt là ‘sữa sản xuất trong nước’).
Ngoài ra trên thị trường Việt Nam hiện nay còn đang lưu thông một lượng sữa bột
nhập khẩu khác gọi là “hàng xách tay”, thực chất là hàng nhập khẩu song song (parallel
imports). Một số doanh nghiệp nhập một hoặc một vài container hay vài tấn để phân phối lẻ.
Các sản phẩm này cũng có nguồn gốc từ các nhà sản xuất sữa đang có mặt trên thị trường
nhưng nhãn mác không có tiếng Việt và không được bảo hành, đảm bảo chất lượng bởi nhà
phân phối. Loại này có số lượng không đáng kể, chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trên thị trường.
Trong khuôn khổ báo cáo, chúng tôi không bao gồm các mặt hàng nhập khẩu song song này.

2. Phương pháp nghiên cứu
2.1 Phương pháp luận
Một thị trường cạnh tranh là nơi có nhiều hàng hóa và dịch vụ có chủng loại đa dạng
và có thể thay thế được cho nhau, người tiêu dùng có thể luôn luôn thay đổi và chuyển sang
mua những hàng hóa/dịch vụ có tính cạnh tranh hơn về giá hoặc về chất lượng. Vì vậy, cạnh
tranh là một xu hướng tất yếu giữa các nhà sản xuất có hàng hóa tương tự hoặc liên quan tới
nhau, về mặt giá cả, chất lượng, hay các dịch vụ sau khi bán, v.v… đặc biệt là thông qua giá
cả. Tuy nhiên, trong thực tế, có thể xảy ra những tình huống khác, ví dụ như, trong trường
hợp của độc quyền, chỉ có duy nhất một nhà sản xuất/một nhà cung ứng của một loại hàng
hóa/dịch vụ cụ thể trên thị trường, không có hàng hóa thay thế, chính điều này đã tạo ra sức
mạnh thị trường độc tôn cho nhà cung ứng đó, cho phép họ có thể vượt qua mọi qui luật thị
trường.
Tuy nhiên, cạnh tranh là không đồng nhất trên các thị trường khác nhau. Mỗi thị
trường, mỗi loại hàng hóa, thậm chí mỗi địa phương đều có những đặc điểm riêng biệt có thể
ảnh hưởng đến cạnh tranh, và các đặc điểm đó có thể khác đi vào các thời điểm khác nhau. Vì
10


vậy, khi phân tích/nghiên cứu cạnh tranh, công việc đầu tiên người ta thường phải làm là
khoanh vùng thị trường thành các thị trường cụ thể, trong phân tích cạnh tranh gọi là “thị
trường liên quan” (relevant market). Thị trường liên quan xác định mức độ cạnh tranh hiệu
quả trên thị trường, liên quan tới hàng hóa/dịch vụ, thời gian và địa điểm. Để xác định được
thị trường liên quan cho một trường hợp cạnh tranh cụ thể, người ta thường xem xét tới “ thị
trường hàng hoá liên quan” và “thị trường địa lý liên quan” trong một “giai đoạn” cụ thể.
Các nghiên cứu/phân tích cạnh tranh nói chung trước đây thường có hai phương pháp
tiếp cận chủ yếu:
(i)

Phương pháp tiếp cận về hành vi (Behavioral approach) xem xét cụ thể các
hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường xem chúng có vi phạm
luật cạnh tranh của một quốc gia cụ thể hay không. Luật cạnh tranh của các
quốc gia trên thế giới có thể có nhiều dị biệt so với nhau, nhưng thường bao
giờ cũng nhằm điều chỉnh ba nhóm hành vi cạnh tranh cơ bản: (a) các hành vi
câu kết (collusion) làm hạn chế cạnh tranh trên thị trường, bao gồm các hành
vi như cartel ấn định giá, duy trì sản lượng, v.v.; (b) các hành vi hạn chế cạnh
tranh mang tính đơn phương (unilateral conducts) bao gồm các hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền; và (c) các hành vi mua bán, sát nhập
doanh nghiệp (mergers and acquisitions) có thể gây hạn chế cạnh tranh.

(ii)

Phương pháp tiếp cận về cấu trúc (Structural approach) xem xét cấu trúc của
các thị trường liên quan, bao gồm các vấn đề như mức độ tập trung, tích tụ
(level of concentration), mức độ cạnh tranh (level of competition), rào cản gia
nhập/rút lui khỏi thị trường (barriers to entry/exit), v.v. Các thị trường có mức
độ cạnh tranh thấp thường hay xảy ra các hành vi hạn chế cạnh tranh hơn, ví
dụ như trong thị trường độc quyền, doanh nghiệp độc quyền thường có xu
hướng lạm dụng vị trí thống lĩnh và quyền lực thị trường của mình như áp đặt
giá cao bất hợp lý, v.v.

Tuy nhiên, các phân tích/nghiên cứu về cạnh tranh hiện đại không còn phân chia rõ
ràng theo các cách tiếp cận này. Sự phát triển của thị trường ra khỏi các giới hạn của thương
mại hàng hóa, dịch vụ thông thường, tới bao gồm các giá trị tri thức con người, ví dụ như các
quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) khiến cho các cách phân chia rạch ròi nói trên trở nên lạc hậu.
Trong các vụ việc cạnh tranh ở hiện tại, người ta thường căn cứ theo các điều khoản cụ thể
của luật cạnh tranh từng quốc gia, và ngày càng sử dụng nhiều hơn các công cụ của kinh tế
học.3 Trong đó, một số các bước quan trọng nhất là: (1) xác định thị trường liên quan, (2)
phân tích cấu trúc thị trường, (3) xác lập (có hay không) sự tồn tại của quyền lực thị trường,
(4) xem xét ảnh hưởng của một hay nhiều hành vi cụ thể đối với cạnh tranh trên thị trường,
(5) xem xét các lợi ích kinh tế có thể có được từ hành vi cụ thể đó, và (6) cân nhắc phương
3

Ví dụ Ủy Ban Châu Âu, trong thông cáo của mình về Xác định thị trường liên quan phục vụ Luật Cạnh tranh
của Cộng đồng Châu Âu năm 1997 có nêu cao tác dụng của các công cụ kinh tế học như sau: “Có một số phép
thử định lượng đã được thiết kế riêng cho việc phân chia thị trường. Các phép thử này bao gồm nhiều phương
pháp kinh tế hình lượng học và thống kê như: ước lượng tính co dãn về cầu, và tính co dãn chéo về giá của cầu
hàng hóa; hay phép thử dựa trên sự tương đồng trong thay đổi về giá theo thời gian; phép phân tích nhân quả
giữa thông số giá và sự tương đồng về mức giá hay/hoặc sự đồng qui. Ủy ban có xem xét đến tất cả các dữ liệu
định lượng sẵn có có thể cho phép suy xét một cách triệt để, để xác định các mô hình về tính có thể thay thế cho
nhau của hàng hóa trong quá khứ.” – Thông báo số OJ C 372 của Ủy ban Châu Âu ra ngày 9/12/1997.

11


pháp xử lý (remedies) để đảm bảo cạnh tranh hiệu quả trên thị trường, trong hiện tại cũng
như tương lai, trong khi vẫn bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và quyền lợi hợp pháp của
doanh nghiệp.
Trong nghiên cứu này, do không phải là một vụ việc/hành vi cạnh tranh cụ thể nào,
nên chúng tôi chỉ sử dụng một số các bước căn bản để đánh giá cạnh tranh trên thị trường nói
trên, bao gồm việc xác định thị trường liên quan, phân tích cấu trúc thị trường và phân tích
các đặc điểm về cạnh tranh trên thị trường đó, ví dụ như cạnh tranh về giá, hay khác biệt hóa
sản phẩm, vai trò của hệ thống phân phối với cạnh tranh trên thị trường, v.v., đặc biệt có xem
xét đến cả các quy định pháp luật có liên quan đến thị trường này bên cạnh Luật Cạnh tranh
của Việt Nam. Các công cụ kinh tế học hay luật học được sử dụng trong quá trình phân tích
sẽ được giải thích cụ thể và ngắn gọn trong các phần sau, mà không nêu chi tiết ở đây, do báo
cáo này không phải là một nghiên cứu thuần túy học thuật.
Một lưu ý đặc biệt là khi phân tích về sự hình thành giá trên thị trường, chúng tôi
không bàn đến khái niệm mức giá cạnh tranh hoàn hảo (perfectly competitive price level) do
hình thái thị trường cạnh tranh hoàn hảo không tồn tại trong thực tế. Một mức giá cạnh tranh
hoàn hảo là khi lợi ích của người mua (người tiêu dùng) (consumer surplus) và người bán
(nhà sản xuất, cung ứng) (producer surplus) là cân bằng; thông tin về giá là luôn có sẵn và
lưu chuyển tự do giữa người mua và người bán. Bản thân mức giá cạnh tranh (competitive
price level), điều gần nhất với mức giá cạnh tranh hoàn hảo, là khi người bán không thể hạ
giá thêm nữa để có thể đảm bảo mình có lợi nhuận hợp lý, cũng đã là một vấn đề đau dầu
chưa thể giải đáp của các cơ quan cạnh tranh trên toàn thế giới, do giá cả không chỉ chịu sự
tác động của cung, cầu mà còn của rất nhiều các yếu tố khác nữa, trong khi lợi nhuận luôn là
thông tin nhạy cảm đối với doanh nghiệp. Chúng tôi chỉ phân tích xem liệu trên thị trường
sữa công thức cho trẻ từ 0-12 tháng tuổi tại Việt Nam có tồn tại các doanh nghiệp độc quyền
hay có vị trí thống lĩnh có đủ quyền lực thị trường để ấn định/giữ giá ở mức “phi cạnh tranh”
(quá cao bất hợp lý – unreasonably high) hay không và nếu không có, chúng tôi sẽ giả định là
giá sữa trên thị trường đang ở mức cạnh tranh để từ đó phân tích, so sánh với các thông số
khác.
2.2 Dữ liệu sử dụng
Nghiên cứu này có sử dụng các dữ liệu của công ty A.C. Nielsen thu thập và tổng hợp
được từ chuyên môn nghiên cứu thị trường của họ về giá bán lẻ của các mặt hàng IFFOs liên
quan trên thị trường Việt Nam và khu vực cũng như tình hình cạnh tranh trên các thị trường
đó. Các thị trường trong khu vực được lựa chọn để so sánh bao gồm Trung Quốc, Hồng
Kông, Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Philippines, trên cơ sở một số tiêu chí
như: (1) cùng là các nước nhập khẩu sữa, hoặc sử dụng nguyên liệu nhập khẩu là chính; (2)
cùng là các nước có tập quán tiêu thụ sữa khá giống nhau (không có truyền thống tiêu thụ
sữa, nhưng bắt đầu hình thành thói quen tiêu thụ sữa gần đây khi kinh tế - xã hội phát triển);
và đặc biệt (3) cùng có sự hiện diện các công ty sữa và các nhãn hàng tương tự với Việt Nam.
Số liệu về giá, thị phần và các số liệu có liên quan đã được thu thập cho khoảng 3 năm từ năm
2009 đến hết năm 2011.

12


Các thông tin về giá bán lẻ sản phẩm sữa công thức tại Việt Nam do công ty A.C.
Nielsen cung cấp phục vụ cho nghiên cứu là giá bán lẻ của 01 kilogram từng loại sản phẩm
trong các dòng sản phẩm dẫn đầu trên thị trường (top brands – được đánh giá theo tiêu chí cấu
thành trên 80% tổng khối lượng và giá trị bán lẻ trên thị trường) của tất cả các công ty, chia
theo độ tuổi của nhóm trẻ em có thể sử dụng sản phẩm, và tính theo phương pháp đóng gói
(bằng hộp sắt hay hộp giấy, có trọng lượng 400g, 500g hay 900g). Giá này được tính bằng
đồng Việt Nam (VNĐ), đồng thời được quy đổi ra đô la Mỹ (USD) theo tỷ giá từng thời điểm
(tính theo từng quý) trên trang website chuyên về quy đổi các loại tiền tệ trên thế giới
. Một số thông số khác cũng được đưa vào tính giá bán lẻ trung bình như
nguồn gốc sản phẩm (nhập khẩu hoàn toàn hay chế biến và đóng gói tại Việt Nam trên cơ sở
nguyên liệu nhập khẩu), hay được bán trên thị trường bán lẻ truyền thống (hệ thống cửa hàng
nhỏ, lẻ, các chợ) hay hiện đại (các siêu thị lớn, chuỗi/hệ thống siêu thị). Tất cả các thông số về
giá trong nghiên cứu này đều dựa trên các dữ liệu về giá nói trên, trên cơ sở tính toán của nhóm
chuyên gia, hoặc là do công ty A.C. Nielsen tổng hợp. Các dòng sản phẩm dẫn đầu trên thị
trường Việt Nam của các công ty bao gồm:
Các sản phẩm sữa công thức dẫn đầu thị trường ở
Việt Nam cho trẻ 0-6 tháng tuổi
Dòng sản phẩm

Thuộc công ty

Các sản phẩm sữa công thức dẫn đầu thị trường ở
Việt Nam cho trẻ 6-12 tháng tuổi
Dòng sản phẩm

Thuộc công ty

Dielac Alpha 1

Vinamilk

Dielac Alpha 2

Vinamilk

Similac IQ

Abbott

Similac Gain IQ

Abbott

Enfalac A+

Mead Johnson

Enfapro A+

Mead Johnson

Friso Gold 1

FrieslandCampina

Friso Gold 2

FrieslandCampina

Nan 1 Pro

Nestle

Dutch Lady 2

FrieslandCampina

Dulac Gold

Dumex

Dupro Gold

Dumex

Frisolac

FrieslandCampina

Nan 2 Pro

Nestle

Similac

Abbott

Friso 2

FrieslandCampina

Dutch Baby 1

FrieslandCampina

Similac Gain

Abbott

Giá bán lẻ các sản phẩm tương tự trên các thị trường khu vực cũng được tính theo
phương pháp này, với tiêu chí chọn lựa là các dòng sản phẩm tương đồng nhất với các dòng sản
phẩm dẫn đầu tại Việt Nam.
Các thông tin, số liệu khác như số liệu về tỷ giá hối đoái, chỉ số giá tiêu dùng, mức thu
nhập bình quân theo đầu người tính theo sức mua trung bình (GDP per capita by PPP), v.v. đều
được tổng hợp từ các nguồn chính thức như Tổng cục Thống kê Việt Nam, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam, Ngân hàng Thế giới, v.v. và có chú dẫn nguồn cụ thể.
Bên cạnh đó, chúng tôi có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu phổ biến khác
như: rà soát và đánh giá các văn bản pháp lý, xem xét và tiếp thu kết quả của các nghiên cứu
được tiến hành trước, v.v. Tuy nhiên, thực tế là các nghiên cứu học thuật riêng về thị trường
sữa công thức cho trẻ em dưới 12 tháng tuổi tại Việt Nam và trên thế giới không nhiều. Các
nghiên cứu có liên quan nhiều nhất đến nghiên cứu này, trên cơ sở đó có thể rút ra nhiều
thông tin/dữ liệu thứ cấp hữu ích chỉ bao gồm một báo cáo của Cục Quản lý Cạnh tranh – Bộ
13


Công Thương về tình hình cạnh tranh trên thị trường sữa bột (bao gồm cả sữa cho người lớn,
trẻ lớn, người già và phụ nữ mang thai, v.v.) Việt Nam, một nghiên cứu tình huống chính
sách của Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright về tác động của cơ chế quản lý giá sữa lên
giá sữa trên thị trường tại Việt Nam, một báo cáo chuyên ngành sữa của Trung tâm Thông tin
Nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, và một số lượng đếm được trên
đầu ngón tay các bài viết nhỏ, lẻ khác. Sự thiếu hụt về nguồn dữ liệu thứ cấp đặt ra yêu cầu
đối với nhóm nghiên cứu phải thu thập thông tin ban đầu (primary data) thông qua việc tiến
hành một cuộc thăm dò ý kiến chuyên sâu (tự nguyện) với các bên liên quan trên thị trường
này để thu thập thông tin cũng như quan điểm từ các góc độ khác nhau về các khía cạnh của
vấn đề nghiên cứu.
Cuộc thăm dò ý kiến nói trên có sự tham gia của tổng cộng 12 cá nhân/cơ quan, tổ
chức, bao gồm: 01 đại diện của Chính phủ (Cục Quản lý Giá - Bộ Tài chính), 02 đại diện của
hiệp hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (đại diện cho phía người tiêu dùng), 04 công ty sữa
nước ngoài, 01 nhà báo có nhiều bài viết về vấn đề giá sữa tại Việt Nam (đại diện cho các
phương tiện thông tin truyền thông), 02 chuyên gia có kinh nghiệm nghiên cứu và hiểu biết
chuyên sâu về thị trường này (đại diện cho giới chuyên môn), và 02 nhà bán lẻ, một quy mô
lớn (siêu thị lớn) và một quy mô nhỏ (cửa hàng chuyên bán đồ dùng và sản phẩm cho bà mẹ
và trẻ em). Số lượng tham gia phỏng vấn (sample size) tuy nhỏ nhưng là sự chọn lựa
(selective sampling) đại diện của tất cả các bên liên quan quan trọng nhất đối với thị trường
và có nhiều thông tin cũng như hiểu biết nhất về thị trường này chứ không phải chọn lựa ngẫu
nhiên (random sampling). Trao đổi với các bên liên quan đều được tiến hành trực tiếp (trừ 01
cuộc phỏng vấn với 01 công ty sữa được tiến hành qua điện thoại) bao gồm cả việc sử dụng
các bản câu hỏi chuẩn, và các câu hỏi mở, nhằm trao đổi chi tiết với từng bên về các khía
cạnh chuyên môn hoặc mảng quan tâm đặc biệt của từng bên. Thông qua các cuộc trao đổi
này, chúng tôi không chỉ thu thập được quan điểm của các bên liên quan đối với từng vấn đề,
so sánh chéo các quan điểm này, mà còn tập hợp nên được một bức tranh toàn cảnh về thị
trường sữa công thức cho trẻ em tại Việt Nam với các đặc trưng riêng biệt nhất. Đặc biệt, các
thành viên của nhóm nghiên cứu còn tiến hành xem xét cụ thể tình hình tại các cơ sở bán lẻ
(siêu thị, cửa hàng chuyên bán sữa, cửa hàng bán đồ dùng cho bà mẹ và trẻ em) để thu nhập
thông tin thực tế. Các thông tin thu thập được qua phỏng vấn (như danh tính, địa chỉ của
người được phỏng vấn và chia sẻ) được bảo mật hoàn toàn, và không có cá nhân nào được
trích dẫn cụ thể trong nghiên cứu.
Cuối cùng, khi đưa ra các khuyến nghị về chính sách và hành động cần thiết, cũng
như tại một số điểm trong báo cáo, chúng tôi có tiến hành tham khảo các kinh nghiệm quốc tế
có liên quan để từ đó rút ra bài học tốt nhất cho Việt Nam.
3. Cấu trúc thị trường và Cạnh tranh
3.1.

Tổng quan về thị trường sữa và sữa công thức cho trẻ từ 0-12 tháng tuổi tại
Việt Nam

3.1.1. Tổng cầu trên thị trường
Mức tiêu thụ sữa tại Việt Nam tăng khá nhanh. Trong vòng 20 năm từ 1990 đến 2010,
mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người tại Việt Nam đã tăng gấp 41 lần.
14


Bảng 1 – Mức tiêu thụ sữa nói chung trong nước giai đoạn 1990-2010
Năm

1990

Tiêu thụ sữa nội địa (tấn)

31.00
0

Tiêu thụ bình quân (kg/người/năm) 0,5

1995

2000

2010

260.000 460.00
0

1.300.000

3,6

14,8

5,9

Nguồn: Phỏng theo Bùi Thị Nga, Trần Hữu Cường và Philippe Lebailley (2011), Phân tích về Chuỗi Giá trị
trong Sản xuất và Cung ứng Sữa tươi ở miền Bắc Việt Nam (An Analysis of the Value Chain of Fresh Milk in
the North of Vietnam (A Case Study in Son La Province)), bài viết trong Tập san nghiên cứu Vietnam’s Socioeconomic Development – A Social Science Review, Số 68 ra tháng 12/2011 của Viện Kinh tế Việt Nam, trang
35-50

Bảng 1 cho thấy các con số khá khả quan về dinh dưỡng tại Việt Nam. Tuy nhiên, nếu
nhìn vào riêng phân khúc thị trường sữa công thức dành cho trẻ em từ 0-12 tháng thì Việt
Nam không phải là 1 thị trường lớn.
Theo kết quả tổng điều tra dân số mới nhất của Tổng cục thống kê 4 thì dân số Việt
Nam năm 2009 là xấp xỉ 85,8 triệu người, trong đó số lượng trẻ dưới 12 tháng tuổi chỉ dao
dộng quanh mức 1,5 triệu người (chiếm 1,75% tổng dân số). Như vậy, số lượng trẻ dùng sữa
công thức trên thực tế còn ít hơn vì phải trừ đi số lượng trẻ dưới 4 tháng tuổi và dưới 6 tháng
tuổi được bú mẹ hoàn toàn (theo Tổng điều tra dinh dưỡng 2009-2010 của Việt Nam 5, công
bố vào tháng 4/2012, các con số này là 25,8% và 19,6%),
3.1.2. Tổng cung trên thị trường
Thị trường sữa công thức cho trẻ dưới 12 tháng tuổi tại Việt Nam hiện đang có sự
hiện diện của một số lượng lớn các công ty thuộc nhiều thành phần sở hữu khác nhau (như
100% vốn Việt Nam, liên doanh và 100% vốn nước ngoài) cũng như văn phòng đại diện
tham gia cung cấp, hoặc qua sản xuất tại chỗ trên nguyên liệu nhập khẩu hoặc qua nhập khẩu
nguyên hộp như đã đề cập ở trên, nhiều dòng sản phẩm cùng một lúc. Trong số này, chỉ có 3
công ty có nhà máy chế biến công suất lớn đặt tại Việt Nam là Nutifoods và Vinamilk 6
(doanh nghiệp Việt Nam), và FrieslandCampina7. Ngoài ra còn có một số doanh nghiệp nhỏ
khác như Hancofood, Vinacali và Tân Úc Việt, v.v. và một nhà máy của Nestle, hiện đã đóng
cửa do sản xuất không cạnh tranh.
Các sản phẩm sữa công thức cho trẻ sơ sinh dưới 12 tháng tuổi được coi là các sản
phẩm sản xuất trong nước có thể kể đến các sản phẩm như:


Công ty Vinamilk: Alpha, Dielac, Star, Dielac Alpha, Dielac Star…

Xem thông tin tại địa chỉ
Xem Báo cáo tóm tắt về Tổng điều tra dinh dưỡng năm 2009-2010, có thể tải về từ địa chỉ

6
Theo thông tin mới nhất, Vinamilk hiện nắm 19.3% cổ phần của một nhà máy sản xuất sữa bột từ sữa tươi của
New Zealand (trị giá 74,43 triệu Đô la Mỹ). Nhà máy này đã bắt đầu vận hành từ 8/2011.Như vậy trong tương
lai, Vinamilk có thể chủ động hơn về nguồn cung nguyên liệu đầu vào cho việc sản xuất sữa công thức tại Việt
Nam.Vinamilk dự kiến sản lượng sữa bột của họ sẽ tăng khoảng 125% so với hiện nay vào năm 2016.
7
FrieslandCampina là công ty liên doanh được thành lập từ năm 1995 tại Việt Nam giữa công ty Xuất nhập
khẩu tỉnh Bình Dương - Protrade và công ty Royal FrieslandCampina – một tập đoàn sữa hàng đầu tại Hà Lan.
4
5

15




Công ty FrieslandCampina: Dutch Lady, Friso Gold và Frisolac…



Công ty Nutifood: Nuti, Nuti IQ, Nuvita…



Công ty Vinacali: Intellac



Công ty Tân Úc Việt: Arti Plus, Arti Gold, Arti Gain, Arti Grow…



Công ty Hanco: Dollac, Dollac IQ, Dollac Pro…



Một số sản phẩm khác do các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp tư nhân khác
đóng gói.

Tổng sản lượng sữa bột thành phẩm sản xuất trong nước (cho tất cả các độ tuổi và các
nhóm đối tượng bao gồm trẻ nhỏ dưới 6 tuổi, phụ nữ mang thai và người già, các sản phẩm
chăm sóc y tế) hiện trung bình đáp ứng ở mức trên 50% tổng nhu cầu về sữa bột của toàn bộ
thị trường trong nước, phần còn lại khoảng gần 50% phải nhập khẩu các sản phẩm nguyên
hộp từ thị trường nước ngoài (gọi chung là sữa bột sản xuất ở ngoài Việt Nam hay sữa ngoại).
Cụ thể năm 2007, sữa bột thành phẩm sản xuất trong nước đáp ứng 50,64% nhu cầu thị
trường, năm 2008 đáp ứng 49.485 nhu cầu và 8 tháng đầu năm 2009, con số này là 52,14%.
Các mặt hàng sữa công thức ngoại (nhập khẩu nguyên lon) cho trẻ nhỏ dưới 12 tháng
tuổi hiện đang có mặt trên thị trường Việt Nam cũng rất đa dạng, phong phú và được nhập
bởi nhiều doanh nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoài, từ các thị trường khác nhau. Có thể kể
đến một số mặt hàng chủ chốt như sau:


Hãng Abbott: Similac, Similac IQ, Similac Neosure, Similac Gain, Similac
Gain IQ



Hãng Mead Johnson: Enfalac A+, Enfapro A+, Enfalac Premature, Enfalac
Lactofree



Hãng Nestle: Lactogen, Nan,



Hãng Dumex: Dumex Dulac, Dumex Dupro



Hãng Milex: Milex 1, 2



Hãng sữa Meiji: Meiji Infant Formula, Meiji Follow-Up Formula, Meiji Gold



Hãng XO: Imperial Dream XO, Star Science Gold



Hãng Wakodo: Wakodo HiHi và GunGun



Các dòng sản phẩm (brand lines) khác như Babysan, Primavita, Aptamil,
Physiolac, Insulac, Milmax…

Trong những năm qua, giá trị nhập khẩu đối với sữa bột thành phẩm (nói chung cho
tất cả các loại độ tuổi và các nhóm người dùng) liên tục tăng và tăng mạnh. Năm 2007 có
7.081.553 hộp sữa bột được nhập vào Việt Nam, đến năm 2008 tăng lên 8.306.197 hộp, tăng
khoảng 17,3%. Bối cảnh suy giảm kinh tế và lạm phát vào cuối năm 2008 dẫn tới những
tháng đầu năm 2009, người dân thắt chặt chi tiêu và chuyển hướng sang tiêu dùng các sản
phẩm sản xuất trong nước có mức giá thấp hơn nên lượng sữa bột nguyên hộp nhập khẩu về
16


Việt Nam đã giảm cả về số lượng và giá trị nhập khẩu, đặt biệt tháng 1/2009 lượng nhập khẩu
thấp hơn cùng kỳ năm 2008 là 53%. Nhưng đến đầu tháng 3/2009 khi có thông tin không
chính thức về việc tăng thuế nhập khẩu sữa của Bộ Tài chính, kim ngạch nhập khẩu sữa tăng
đột ngột 7,39 triệu USD so với trước đó, tương đương tăng lên 32%. Đây có thể coi là một
động thái dễ hiểu của các doanh nghiệp nhập khẩu nhằm tận dụng mức thuế nhập khẩu sữa
thấp hết mức có thể.
Bảng 2 - Số liệu thống kê số lượng hộp và giá trị nhập khẩu sữa bột nguyên hộp
Năm
Gía trị nhập khẩu (USD)
Số lượng nhập khẩu (hộp)

2007

2008

5T.2009

291.191.521

322.045.443

86.707.639

7.081.553

8.306.197

2.921.595

Nguồn: Xử lý số liệu của Tổng Cục thống kê Hải Quan – Báo cáo Đánh giá cạnh tranh trên thị trường sữa bột
Việt Nam do Cục Quản lý Cạnh tranh – Bộ Công Thương thực hiện, 2010, trang 25

3.1.3. Nhận xét chung
Thị trường sữa công thức cho trẻ em dưới 12 tháng tuổi tại Việt Nam là một thị
trường có dung lượng cầu không phải lớn, tuy nhiên mức cung lại khá cao với sự hiện diện
của một số lượng lớn các công ty cả Việt Nam và nước ngoài. Mỗi công ty lại cung cấp khá
nhiều dòng sản phẩm phong phú khác nhau, bao gồm cả sữa sản xuất trong nước và sữa nhập
khẩu nguyên hộp. Vì vậy, đánh giá sơ bộ là mức độ cạnh tranh trên thị trường này sẽ rất cao.
Phản hồi của một số công ty sữa nước ngoài cho hay sự có mặt của họ trên thị trường Việt
Nam tại thời điểm hiện nay, bất chấp mức độ cạnh tranh khốc liệt ở đây, có lý do chính là để
xây dựng thương hiệu, chứ không nhằm nhiều vào mục tiêu lợi nhuận cho các dòng sản phẩm
này. Một số công ty nêu lý do sự hiện diện của họ trong thị trường này là để xây dựng tên
tuổi, thương hiệu cho các sản phẩm khác không mấy liên quan.
Việt Nam tiếp tục là một thị trường khá hấp dẫn các nhà đầu tư cả trong nước lẫn
quốc tế. Bằng chứng là số lượng công ty tham gia cung ứng trong tất cả các phân khúc thị
trường và số lượng nhãn hàng có mặt trên thị trường không ngừng tăng lên qua các năm từ
2009-2011 (Xem Bảng 3). Các con số này chỉ thấp hơn so với Trung Quốc (vốn là một thị
trường lớn hơn rất nhiều so với Việt Nam xét về cầu), nhưng cao hơn đáng kể so với các thị
trường khác trong khu vực như Indonesia, Malaysia, Philippines, Hồng Kông, Singapore, và
Thái Lan (xem Bảng 4 dưới đây). Điều này càng cho thấy mức độ cạnh tranh cao của thị
trường dành cho các sản phẩm sữa công thức cho trẻ 0-12 tháng tuổi tại Việt Nam.
Bảng 3. Số lượng các công ty tham gia thị trường và số nhãn hàng
trên thị trường qua các năm 2009-2011

17


FY 2009

FY 2010

FY 2011

Số công ty (Nhóm 0-6 tháng)

21

23

28

Số nhãn hàng có trên thị trường

40

42

50

ERR

ERR

ERR

Số công ty (Nhóm 6-12 tháng)

21

22

27

Số nhãn hàng có trên thị trường

38

42

53

ERR

ERR

ERR

Số công ty (Nhóm nhu cầu dinh dưỡng đặc biệt)

17

16

25

Số nhãn hàng có trên thị trường

25

24

39

Nguồn: A.C. Nielsen

Bảng 4. Sự phân hóa của thị trường sữa công thức cho trẻ dưới 12 tháng tuổi
ở Việt Nam so với các quốc gia khác trong khu vực
Số nhãn hang trong
từng nhóm sản phẩm
0-6 tháng
6 -12 tháng
Đặc biệt
Số nhãn hàng trong
từng nhóm sản phẩm
0-6 tháng

Việt Nam
FY
FY
2009
2011
40
50
ERR
ERR
38
53
ERR
ERR
25
39
Singapore
FY
FY
2009
2011
17
19

6-12 tháng

18

20

Đặc biệt

27

29

Trung Quốc
FY
FY
2009
2011
46
55
ERR
ERR
45
54
ERR
ERR
18
23
Hồng Kông
FY
FY
2009
2011
22
31
ERR
ERR
20
29
ERR
ERR
15
16

Indonesia
FY
FY
2009
2011
19
20
ERR
ERR
18
18
ERR
ERR
15
15
Thái Lan
FY
FY
2009
2011
21
17
ERR
ERR
14
15

Malaysia
FY
FY
2009
2011
20
17
ERR
ERR
20
17
ERR
ERR
19
18
Philippines
FY
FY
2009
2011
16
16
ERR
ERR
13
13
ERR
ERR
13
15
Nguồn: A.C. Nielsen

3.2.

Cấu trúc thị trường

Như đề cập ở trên, thị trường sữa công thức cho trẻ từ 0-12 tháng tuổi tại Việt Nam
nói chung phân hóa mạnh thành hai mảng chính – các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và các
sản phẩm sản xuất tại nước ngoài sau đó nhập khẩu nguyên hộp vào nước ta nếu xét từ gốc
độ nguồn gốc sản xuất. Xét từ góc độ chủ sở hữu của các công ty sản xuất và nhập khẩu,
cũng có thể chia thị trường này thành hai nhóm tách bạch – các công ty nước ngoài, chủ yếu
là các tập đoàn đa quốc gia (MNCs), và các công ty Việt Nam (bao gồm cả các công ty 100%
vốn nội địa). Trừ trường hợp của các công ty liên doanh như FrieslandCampina, mặc dù có
vốn của phía Việt Nam và sản xuất tại Việt Nam, nhưng do sản phẩm của họ mang các nhãn
hàng quốc tế nên vẫn được xếp vào nhóm các công ty nước ngoài, thì đa số các sản phẩm sữa
công thức sản xuất tại Việt Nam là do các công ty Việt Nam sản xuất, còn các sản phẩm nhập
khẩu nguyên hộp là do các công ty nước ngoài nhập khẩu vào8.
Ngoài ra, bên cạnh các nhà sản xuất sữa (dù ở tại Việt Nam hay ngoài Việt Nam), trên thị trường sữa công thức
cho trẻ nhỏ dưới 12 tháng ở Việt Nam cũng tồn tại một số lượng khá lớn các công ty chuyên nhập khẩu và phân
8

18


Chiếm ưu thế hơn trên thị trường vẫn là các sản phẩm sữa công thức nhập khẩu
nguyên hộp, tuy ưu thế này có xu hướng giảm dần từ năm 2009 đến nay. Cụ thể, trong các
dòng sữa cho trẻ từ 0-6 tháng tuổi, xét về sản lượng bán trên thị trường 9, thị phần của các mặt
hàng nhập khẩu có giảm từ 50,7% trong năm 2009 xuống 43,7% năm 2011; trong khi xét về
giá trị bán được trên thị trường, các con số này là 62,8% năm 2009 xuống 56,1% năm 2011.
Nếu tính về chủ sở hữu, trong phân khúc thị trường này, thị phần của các công ty nước ngoài
cũng giảm từ 76,4% trong năm 2009 xuống còn 69,7% trong năm 2011 (xét về sản lượng); và
giảm từ 87,1% trong năm 2009 xuống còn 81,8% trong năm 2011 (xét về giá trị). Sở dĩ các
con số xét về mặt giá trị cao hơn do giá của các mặt hàng nhập khẩu nguyên hộp do các công
ty nước ngoài nhập về Việt Nam thường cao hơn. Cũng có một sự dịch chuyển tương tự về
tương quan thị phần giữa các loại sản phẩm có xuất xứ khác nhau và giữa các công ty nước
ngoài và trong nước trong phân khúc thị trường sản phẩm dành cho trẻ từ 6-12 tháng tuổi. Và
sự dịch chuyển này đặc biệt mạnh trong phân khúc thị trường dành cho các sản phẩm chuyên
biệt. Xét từ góc độ chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp nội địa trong khi đảm bảo
đáp ứng nhu cầu thị trường, Việt Nam đã khá thành công trong thời gian qua, với những
thành tựu không nhỏ của Vinamilk, một doanh nghiệp đầu ngành. Nếu quy sự dịch chuyển về
tương quan thị phần này về góc độ hành vi tiêu dùng, có thể nhận thấy các sản phẩm sữa
công thức sản xuất tại Việt Nam có giá thấp hơn phù hợp với thu nhập của đại đa số dân
chúng đang ngày càng được lựa chọn nhiều hơn, tuy các sản phẩm nhập ngoại vẫn có ưu thế
so sánh tại thời điểm hiện tại.

Bảng 5. Tổng quan thị phần xét về chủ sở hữu công ty và nguồn gốc sản xuất
Thị phần xét theo sản lượng

Thị phần xét theo giá trị

FY 2009

FY 2010

FY 2011

FY 2009

FY 2010

FY 2011

Nhóm 0-6 tháng

100%

100%

100%

100%

100%

100%

Công ty nước ngoài

76,4%

72,0%

69,7%

87,1%

83,9%

81,8%

Công ty Việt Nam

23,6%

28,0%

30,3%

12,9%

16,1%

18,2%

ERR

ERR

ERR

ERR

ERR

ERR

Hàng nhập khẩu

50,7%

48,0%

43,7%

62,8%

60,6%

56,1%

Hàng sản xuất tại Việt Nam

49,3%

52,0%

56,3%

37,2%

39,4%

43,9%

ERR

ERR

ERR

ERR

ERR

ERR

phối các mặt hàng này. Một số công ty nhập hàng của các hãng sữa chưa có văn phòng hay công ty tại Việt Nam
về phân phối tới các nhà bán lẻ ở thị trường trong nước; còn một số khác chuyên phân phối cho các công ty sữa
nước ngoài đã có hiện diện trực tiếp tại Việt Nam. Vì lực lượng thứ nhất chiếm một mảng thị phần rất nhỏ,
không đáng kể ở trong nước; trong khi không thể tính thị phần của lực lượng thứ hai (do sản phẩm của họ phân
phối chính là sản phẩm của các hãng sữa nước ngoài nhập vào Việt Nam và bán ra), nên trong phần phân tích
cấu trúc thị trường, nghiên cứu này sẽ không tính tới các công ty nhỏ này, mà đưa họ vào xem xét trong phần về
hệ thống phân phối và vai trò của hệ thống phân phối đối với cạnh tranh.
9
Từ đây trở về sau, những nơi đề cập đến ‘sản lượng’có thể được hiểu là ‘sản lượng bán’, cũng như ‘giá trị’ là
‘giá trị bán được’

19


Nhóm 6-12 tháng

100%

100%

100%

100%

100%

100%

Công ty nước ngoài

75,6%

67,8%

66,7%

86,6%

81,0%

79,3%

Công ty Việt Nam

24,4%

32,2%

33,3%

13,4%

19,0%

20,7%

Hàng nhập khẩu

47,8%

44,7%

41,7%

60,6%

58,5%

54,8%

Hàng sản xuất tại Việt Nam

52,2%

55,3%

58,3%

39,4%

41,5%

45,2%

ERR

ERR

ERR

ERR

ERR

ERR

Nhóm sản phẩm chuyên
biệt

100%

100%

100%

100%

100%

Công ty nước ngoài

48,8%

36,7%

26,1%

58,1%

43,9%

29,7%

Công ty Việt Nam

51,2%

63,3%

73,9%

41,9%

56,1%

70,3%

ERR

ERR

ERR

ERR

ERR

ERR

Hàng nhập khẩu

45,6%

26,8%

15,3%

56,5%

38,1%

23,3%

Hàng sản xuất tại Việt Nam

54,4%

73,2%

84,7%

43,5%

61,9%
76,7%
Nguồn: A.C. Nielsen

100%

Một lần nữa, có thể thấy đây là một tín hiệu đáng khích lệ cho ngành sữa Việt Nam,
nếu so sánh với các thị trường khu vực khác. Một số thị trường như Thái Lan, Hồng Kông,
Philippines và Singapore, 100% thị phần trên thị trường là do các công ty đa quốc gia từ các
quốc gia có danh tiếng về ngành sữa như Hà Lan, Úc, New Zealand, Mỹ, .v.v nắm giữ và
hoàn toàn không có bóng dáng nền công nghiệp nội địa. Tại thị trường Malaysia, trên 90% thị
phần cũng thuộc về các công ty đa quốc gia. Hai quốc gia có tình hình tương tự với Việt Nam
trong khu vực là Indonesia và Trung Quốc, nơi thị phần của các công ty trong nước và các
sản phẩm sản xuất trong nước khá cao và đang dần tăng (xem Bảng 6 dưới đây). Như vậy, có
thể thấy, doanh nghiệp Việt Nam, sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đang từng bước khẳngđịnh
vị thế của mình và hoàn toàn không hề bị lấn lướt quá nhiều bởi các công ty nước ngoài và
sản phẩm nhập khẩu, không có tình trạng thị trường bị thống trị hoàn toàn bởi các công ty đó
và sản phẩm đó. Ít nhất, cán cân thị phần trên thị trường hiện nay là khá cân bằng.
Bảng 6. So sánh sự phân hóa thị trường xét về hình thái chủ sở hữu
và nguồn gốc xuất xứ hàng hóa

Thị phần theo sản lượng
Tổng/0-6 tháng
Công ty nước ngoài
Công ty trong nước
Tổng/6-12 tháng
Công ty nước ngoài

Việt Nam
FY
FY
2009
2011
100,0% 100,0%
76,4%
69,7%
23,6%
30,3%
ERR
ERR
100,0% 100,0%
75,6%
66,7%

Trung Quốc
FY
FY
2009
2011
100,0% 100,0%
30,3%
38,7%
69,7%
61,3%
ERR
ERR
100,0% 100,0%
33,1%
40,1%

Indonesia
FY
FY
2009
2011
100,0% 100,0%
43,6%
40,1%
56,4%
59,9%
ERR
ERR
100,0% 100,0%
46,4%
40,3%

Malaysia
FY
FY
2009
2011
100,0% 100,0%
95,8%
96,0%
4,2%
4,0%
ERR
ERR
100,0% 100,0%
95,2%
95,2%

20


Công ty trong nước
Tổng/Đặc biệt
Công ty nước ngoài
Công ty trong nước

Thị phần theo sản lượng
Tổng/0-6 tháng
Công ty nước ngoài
Công ty trong nước
Tổng/6-12 tháng
Công ty nước ngoài
Công ty trong nước
Tổng/Đặc biệt
Công ty nước ngoài
Công ty trong nước

24,4%
33,3%
ERR
ERR
100,0% 100,0%
48,8%
26,1%
51,2%
73,9%
Singapore
FY
FY
2009
2011
100,0% 100,0%
100,0% 100,0%
ERR
ERR
ERR
ERR
100,0% 100,0%
100,0% 100,0%
ERR
ERR
ERR
ERR
100,0% 100,0%
100,0% 100,0%
ERR
ERR

66,9%
59,9%
ERR
ERR
100,0% 100,0%
98,5%
99,1%
1,5%
0,9%
Hồng Kông
FY
FY
2009
2011
100,0% 100,0%
100,0% 100,0%
ERR
ERR
ERR
ERR
100,0% 100,0%
100,0% 100,0%
ERR
ERR
ERR
ERR
100,0% 100,0%
100,0% 100,0%
ERR
ERR

53,6%
59,7%
ERR
ERR
100,0% 100,0%
66,4%
62,7%
33,6%
37,3%
Thái Lan
FY
FY
2009
2011
100,0% 100,0%
100,0% 100,0%
ERR
ERR
ERR
ERR
100,0% 100,0%
100,0% 100,0%
ERR
ERR

4,8%
4,8%
ERR
ERR
100,0% 100,0%
100,0% 100,0%
ERR
ERR
Philippines
FY
FY
2009
2011
100,0% 100,0%
100,0% 100,0%
ERR
ERR
ERR
ERR
100,0% 100,0%
100,0% 100,0%
ERR
ERR
ERR
ERR
100,0% 100,0%
100,0% 100,0%
ERR
ERR
Nguồn: A.C. Nielsen

Trong phần tiếp sau của mục này, chúng tôi chuyển sang xem xét cấu trúc thị trường
các sản phẩm sữa công thức dành cho trẻ dưới 12 tháng tuổi tại Việt Nam từ góc độ phân tích
cạnh tranh.
3.2.1. Xác định thị trường sản phẩm liên quan10
Thị trường sản phẩm liên quan, theo điều 3(1) Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004
(Xem phần Đánh giá khung pháp lý dưới đây để có các thông tin chi tiết hơn về đạo luật
này), là “thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế được cho nhau về đặc tính,
mục đích sử dụng và giá cả”. Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét lần lượt các yếu tố
này để xác định thị trường sản phẩm liên quan cho các sản phẩm sữa công thức cho trẻ từ 012 tháng tuổi tại Việt Nam.

Phân loại theo đặc tính, mục đích sử dụng
Đối với nhóm các sản phẩm sữa công thức dành cho trẻ em, năm 1963 Tổ chức Y tế
Thế giới (WHO) và Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) thành lập Ủy ban Codex
Alimentarius (CAC) với mục đích nâng cao các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm nhằm bảo
vệ sức khỏe cho cộng đồng. Sau khi thành lập, CAC cùng với các hiệp hội nhi khoa, căn cứ
trên các công trình nghiên cứu về dinh dưỡng của các nhà khoa học, các chuyên gia y tế, và
các tổ chức khác đã đề ra các bản tiêu chuẩn (Codex Standards) trong đó có xác định về
thành phần và hàm lượng các chất dinh dưỡng tối thiểu cần có trong sữa bột, đặc biệt là sữa
công thức dành cho trẻ em. Các bản tiêu chuẩn này cũng đã được sửa đổi, hoàn thiện qua các
năm nhằm đưa ra những tiêu chuẩn phù hợp hơn cho sự phát triển của trẻ cả về thể chất và trí
tuệ.
Số liệu trong phần Xác định thị trường liên quan phỏng theo Báo cáo Đánh giá Cạnh tranh trên Thị trường
Sữa bột Việt Nam của Cục Quản lý Cạnh tranh – Bộ Công Thương (2010) – trang 32-36
10

21


Các bản tiêu chuẩn này đã được giới thiệu đến các quốc gia là thành viên của WHO,
FAO và thành viên Liên hợp quốc nhằm thống nhất thực hiện theo đó yêu cầu các nhà sản
xuất sữa nói chung và sữa bột nói riêng phải tuân thủ các quy định về hàm lượng chất dinh
dưỡng tối thiểu có trong sữa và phải ghi rõ hàm lượng chất dinh dưỡng bên ngoài bao bì của
sản phẩm. Theo các bản tiêu chuẩn do CAC đưa ra, trẻ em được chia theo các nhóm tuổi và
mỗi nhóm tuổi có nhu cầu về các loại chất dinh dưỡng và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau.
Cụ thể:
 Nhóm trẻ sơ sinh (infant children) là những trẻ từ mới sinh cho đến dưới 12 tháng
tuổi. Trong nhóm này lại chia thành nhóm trẻ từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi và nhóm trẻ từ 6
tháng tuổi cho đến 12 tháng tuổi.
 Nhóm trẻ nhỏ (young children) là những trẻ từ 12 tháng tuổi đến 3 tuổi. Ở nhóm
tuổi này, thể chất, các hệ miễn dịch, tiêu hóa… của trẻ đã phát triển, có thể hấp thụ và tiêu
hóa hầu hết các thức ăn và chất dinh dưỡng, tuy vẫn ở một mức độ nhất định.
 Nhóm trẻ em là nhóm trẻ có độ tuổi từ 3 tuổi trở lên. Những trẻ ở nhóm này có
thể chất, các hệ thống miễn dịch, tiêu hóa… đã phát triển tương đối hoàn thiện do vậy khả
năng tiêu hóa, hấp thụ thức ăn tốt do vậy các thành phần dinh dưỡng có phong phú hơn.
Bên cạnh đó, do sự khác nhau về điều kiện phát triển của thai nhi, các ảnh hưởng của
môi trường, bệnh lý… mà trẻ sinh ra có nhiều sự khác biệt về cơ địa, cân nặng, tình trạng sức
khỏe, bệnh lý… Đại đa số trẻ sinh ra ở điều kiện bình thường nhưng cũng không ít trẻ sinh non,
sinh nhẹ cân. Thậm chí có nhiều trẻ sinh ra ở điều kiện bình thường nhưng trong quá trình phát
triển lại xuất hiện nhiều biểu hiện không bình thường như bị còi xương, bị táo bón, bị dị ứng
hay không dung nạp đạm sữa bò, sữa dê, không dung nạp lactose, sucrose, fructose, bị các bệnh
đường ruột, kém tiêu hoá, kém hấp thụ v.v... Vì vậy, những trẻ này cần những sản phẩm sữa
bột công thức đặc biệt nhằm khắc phục những biểu hiện về bệnh lý nói trên trong quá trình phát
triển.
Với những đặc điểm và ý nghĩa nêu trên, hầu hết các hãng, công ty sữa trên thị trường
như Vinamilk, FrieslandCampina, Abbott, Nestle, Dumex, Mead Johnson, Nutifood… đã sản
xuất và nhập khẩu các sản phẩm sữa công thức cho từng nhóm trẻ em riêng gồm:
-

Sữa công thức cho trẻ từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi

-

Sữa công thức cho trẻ từ 6 tháng đến 12 tháng tuổi

-

Sữa công thức cho trẻ từ 12 tháng đến 36 tháng tuổi

-

Sữa công thức cho trẻ từ 36 tháng đến 72 tháng tuổi

-

Sữa công thức cho trẻ em từ 6 tuổi trở lên

-

Sữa công thức đặc biệt dành cho trẻ có nhu cầu dinh dưỡng đặc biệt.

Tuy nhiên, một số hãng sữa, ví dụ Hãng XO còn phân chia các sản phẩm sữa bột dành
cho trẻ em thành các nhóm nhỏ hơn như: sữa cho trẻ từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi, từ 3 tháng đến
6 tháng tuổi, từ 6 tháng đến 12 tháng tuổi…; tuy nhiên số lượng không nhiều và không có sự
khác biệt quá mức so về đặc tính.
22


a. Nhóm các sản phẩm sữa công thức dành cho trẻ từ 0 – 6 tháng tuổi
Sữa bột dành cho trẻ từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi là phân đoạn quan trọng trên thị
trường sữa bột nói chung và sữa bột dành cho trẻ em nói riêng. Do trẻ trong nhóm tuổi từ sơ
sinh đến 6 tháng tuổi chưa thể tiêu hóa các loại thức ăn, thực phẩm khác do vậy sữa công thức
dành cho trẻ trong nhóm tuổi này có hai chức năng:
 Thay thế sữa mẹ trong trường hợp mẹ không có sữa hoặc không thể cho con bú
trong các trường hợp như phẫu thuật, đang uống thuốc…
 Là nguồn thức ăn bổ sung để cung cấp bổ sung chất dinh dưỡng trong trường hợp
mẹ không có đủ sữa cho con bú.
Trẻ từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi có hệ tiêu hóa chưa phát triển đầy đủ, do vậy khó tiêu
hóa các loại thức ăn khác, mà hầu như chỉ có thể tiêu hóa sữa mẹ hay sữa công thức được sản
xuất mô phỏng theo các thành phần của sữa mẹ. Vì vậy, các sản phẩm sữa công thức dành
cho nhóm tuổi này phải được sản xuất với yêu cầu nghiêm ngặt về hàm lượng và tỉ lệ các chất
dinh dưỡng nhằm vừa đảm bảo cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng nhưng lại vừa phải đảm
bảo không gây tác hại cho sự phát triển bình thường của trẻ. Bên cạnh đó, trẻ ở nhóm tuổi
này rất nhạy cảm với môi trường, mùi vị và thường dễ có những phản ứng không tốt khi phải
tiếp xúc với các hương thơm hay mùi vị lạ nên hương thơm, mùi vị của các sản phẩm sữa
dành cho trẻ ở nhóm tuổi này cũng có yêu cầu rất nghiêm ngặt, thường là không bổ sung bất
cứ hương liệu nào.
Hàm lượng và tỉ lệ các chất dinh dưỡng có trong các sản phẩm sữa công thức dành
cho trẻ từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi đã được CAC xây dựng riêng trong bản tiêu chuẩn 81
(Codex Standard 72 – 1981). Có thể xem một số ví dụ về các chỉ tiêu dinh dưỡng theo bản
tiêu chuẩn 81 tại Bảng sau11.

Bảng 7. Một số tiêu chuẩn về thành phần và hàm lượng chất dinh dưỡng theo Codex 81
Chất dinh dưỡng
Protein

Tổng chất béo

Linoleic (L)

11

Đơn vị

Tối thiểu

Tối đa/GLU

100 kcal

1,8

3,0

100 Kj

0,45

0,7

100 kcal

4,4

6,0

100 kJ

1,05

1,4

100 kcal

300

1.400

100 kJ

70

330

Chi tiết hàm lượng các chất dinh dưỡng khác xin tham khảo tại Codex Standard 72 – 1981.

23


Chất dinh dưỡng
α-Linoleic (α-L)

Đơn vị

Tối thiểu

Tối đa/GLU

100 kcal

50

NS

100 kJ

12

NS

5:1

15:1

g/100 kcal

9,0

14,0

g/100 kJ

2,2

3,3

µg RE/100 kcal

60

180

µg RE/100 kJ

14

43

µg RE/100 kcal

1

2,5

µg RE/100 kJ

0,25

0,6

µg RE/100 kcal

0,5

5

µg RE/100 kJ

0,12

1.2

µg RE/100 kcal

4

27

µg RE/100 kJ

1

6,5

µg RE/100 kcal

60

300

µg RE/100 kJ

14

72

µg RE/100 kcal

80

500

µg RE/100 kJ

19

119

µg RE/100 kcal

300

1.500

µg RE/100 kJ

70

360

µg RE/100 kcal

35

175

µg RE/100 kJ

8,5

45

µg RE/100 kcal

0,1

1,5

µg RE/100 kJ

0,025

0,36

mg/100 kcal

10

70

mg/100 kJ

2,5

17

Ratio L/α-L
Tổng
Carbohydrates
Vitamin A

Vitamin D3

Vitamin E

Vitamin K

Thiamin

Riboflavin

Niacin

Vitamin B6

Vitamin B12

Vitamin C

(NS = not specified; RE = retinol equivalents; GLU = guidance upper level)
Nguồn: Trích theo Báo cáo Đánh giá cạnh tranh trên thị trường sữa bột Việt Nam
xuất bản năm 2010 của Cục Quản lý Cạnh tranh – Bộ Công Thương

Chính bởi các đặc thù của nhóm tuổi từ 0-6 tháng và các yêu cầu nghiêm ngặt về hàm
lượng dinh dưỡng trong sữa, các nhà dinh dưỡng khuyến nghị nên sử dụng đúng loại sữa
24


được sản xuất dành riêng cho trẻ ở nhóm dưới 12 tháng tuổi. Chính vì vậy, xét khả năng thay
thế cho nhau về mục đích sử dụng, nhóm sữa từ 0-6 tháng ít/không có khả năng bị thay thế
bởi các sản phẩm sữa khác, trừ sữa mẹ vốn là thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
Trong thị trường các sản phẩm sữa và sữa bột, sữa công thức nói chung, nhóm các sản phẩm
sữa công thức cho trẻ từ 0-6 tháng là một phân đoạn riêng.
b. Nhóm các sản phẩm sữa công thức dành cho trẻ từ 6 - 12 tháng tuổi
Năm 1987, CAC đã ban hành bản tiêu chuẩn 87 (Codex Standard 156 -1987) 12.Các sản
phẩm sữa công thức dành cho trẻ từ 6-12 tháng tuổi phải đảm bảo về thành phần và hàm lượng
các chất dinh dưỡng được đưa ra theo bản tiêu chuẩn này. Có thể xem một số ví dụ về các chỉ
tiêu dinh dưỡng theo bản tiêu chuẩn 87 tại Bảng sau:
Bảng 8. Một số tiêu chuẩn về thành phần và hàm lượng các chất dinh dưỡng Codex 8713
Chất dinh dưỡng Khối lượng cho 100 kcal

Protein
Chất béo
Vitamin A

Khối lượng cho 100 kJ

Tối thiểu

Tối đa

Tối thiểu

Tối đa

3,0 gram

5,5 gram

0,7 gram

1,3 gram

3 gram

6 gram

0,7 gram

1,4 gram

60 I.U
hoặc 18 µg

180 I.U
Hoặc 54 µg

250 I.U
750 I.U
Hoặc 75 µg hoặc 225 µg

Vitamin D

40 I.U
hoặc 1 µg

120 I.U
Hoặc 3 µg

10 I.U
30 I.U
hoặc 0,25 µg hoặc 0,75 µg

Vitamin C

8mg

NS

1,9 mg

NS

Vitamin B1

40 µg

NS

40 µg

NS

Vitamin B2

60 µg

NS

14 µg

NS

Nicotinamide

250 µg

NS

60 µg

NS

Vitamin B6

45 µg

NS

11 µg

NS

Folic acid

4 µg

NS

70 µg

NS

Vitamin B12

0,15 µg

NS

0,04 µg

NS

Vitamin K1

4 µg

NS

1 µg

NS

Vitamin H

1,5 µg

NS

0,4 µg

NS

Nguồn: Trích theo Báo cáo Đánh giá cạnh tranh trên thị trường sữa bột Việt Nam
xuất bản năm 2010 của Cục Quản lý Cạnh tranh – Bộ Công Thương

So với bản tiêu chuẩn 81, thành phần và hàm lượng của các chất dinh dưỡng được xây
dựng trong bản tiêu chuẩn 87 quy định mở hơn, hầu như chỉ đưa ra thành phần và mức hàm
lượng nhỏ nhất mà không quy định mức hàm lượng lớn nhất. Sở dĩ như vậy vì trẻ trong nhóm
12
13

Codex Standard for Follow-up Formula, Codex Standard 156-1987
Các chỉ tiêu cụ thể khác xin tham khảo thêm tại bản Codex Standard 156 – 1987

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×