Tải bản đầy đủ

Thành phần linh hoạt của sáng tạo

- Thành phần linh hoạt của sáng tạo
Thành phần linh hoạt của sáng tạo là khả năng biến đổi thông tin đã thu nhận, thay đổi dễ
dàng và nhanh chóng trật tự của hệ thống tri thức, chuyển từ góc độ quan niệm này sang
quan niệm khác. Ngoài ra, thành phần này còn thể hiện ở khả năng định nghĩa lại sự vật hiện tượng đang quan tâm, gạt bỏ sơ đồ tư duy cũ đã có sẵn và xây dựng phương pháp
mới, trong những mối quan hệ khác, hoặc chuyển đổi quan hệ và nhận ra hiện tượng của
sự vật và của điều đang dự đoán. Tốc độ và khả năng tổ hợp là biểu hiện của khả năng
biến đổi các thao tác tư duy phù hợp với điều kiện khách quan của vấn đề đặt ra để giải
quyết.
Tư duy linh hoạt (Flexibility) gạt bỏ được sự cứng nhắc mà mỗi người ít nhiều đều có do
không thoát ra ngoài giải pháp quen thuộc, nó hạn chế sự nhận ra vấn đề từ một góc độ
khác với thông thường để thay đổi cách xem xét toàn bộ sự vật hoàn cảnh dưới góc độ
mới,... Tính linh hoạt của tư duy còn làm thay đổi một cách dễ dàng các thái độ đã cố hữu
trong hoạt động tinh thần, trí tuệ.
Dưới góc độ Tâm lí học, có thể phân chia tính linh hoạt thành hai thành phần: linh hoạt
bột phát và linh hoạt thích ứng.
+ Linh hoạt bột phát
Linh hoạt bột phát được đo bằng khả năng nêu được bao nhiêu cách sử dụng mới đối với
một sự vật cho trước. Có thể nhận thấy Brick uses test đã dùng nhiệm vụ test như sau:
trong vòng 10 phút cần đưa ra được tối đa các trả lời câu hỏi, liệu một hòn gạch bình
thường có thể dùng vào những việc gì?
+ Linh hoạt thích ứng

Linh hoạt thích ứng thể hiện khả năng linh hoạt trong tiếp cận phù hợp với một vấn đề.
Cụ thể như Test match - problem dùng các que diêm nhất định xếp được tối đa các hình
vuông hoặc hình tam giác có chung cạnh mà không thừa que diêm nào. Test này có khả
năng khảo sát chiến lược sắp xếp của nghiệm thể. Nghiệm thể cần có khả năng nhìn tam
giác hoặc hình vuông từ các góc độ khác nhau, nghĩa là khả năng nhìn sự vật từ các góc
độ khác nhau.
Trong khi linh hoạt bột phát cho cá nhân khả năng cấu trúc lại các cái đã có và tìm ra
chút gì đó mới mẻ, thì linh hoạt thích ứng tạo ra tính độc đáo của giải pháp.Cũng chính vì
vậy mà Guilford gọi linh hoạt thích ứng là tính độc đáo. Yếu tố độc đáo được đánh giá rất
cao trong thành phần sáng tạo, nó được hiểu là hiếm có, không quen thuộc và thích hợp.


Trong những đặc điểm này, thích hợp ở đây có nghĩa là sản phẩm sáng tạo đáp ứng được
yêu cầu thực tế đề ra.
- Thành phần mềm dẻo (Fluency)
Thành phần mềm dẻo là năng lực tổ hợp nhanh chóng, tạo ý tường mới nhanh chóng để
kết hợp các yếu tố riêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh, sự vật hiện tượng.Đôi khi năng lực
này là sự nhớ được nhanh, tái hiện nhanh các từ, các câu thành ngữ hoặc các liên tưởng
về các ý tưởng đã biết được lưu giữ trong bộ nhớ.Từ đó, nhanh chóng hình thành giả
thuyết mới và nhanh chóng sản sinh ra ý tưởng mới.
Tính mềm dẻo được tạo ra bởi các yếu tố sau:
+ Lưu loát trong từ ngữ Khả năng lưu loát trong từ ngữ thể hiện ở hành động tìm ra ý
tưởng và diễn đạt một cách nhanh chóng và dễ hiểu bằng ngôn từ của cá nhân.Từ một số
từ, một số chữ, các tổ hợp từ có thể nhanh chóng tạo được các câu văn.
+ Lưu loát trong ý tưởng Khả năng này biểu hiện ở việc tìm ra được câu trả lời phù hợp,
các giải pháp phù hợp với các yêu cầu, điều kiện cho trước. Cụ thể như yêu cầu nhanh
chóng nêu lên hay kể tên các đồ vật cứng, tròn, nhỏ hơn quả bóng đá. Hoặc yêu cầu hãy
đặt các tên phù hợp cho một câu chuyện ngắn hay nêu được các công dụng của một vật
dụng, các khả năng sử dụng có thể có của một đồ vật cụ thể.
+ Lưu loát trong liên tưởng
Lưu loát trong liên tưởng thể hiện ở khả năng tìm điểm tựa từ hình ảnh này để nhớ lại hay
hình dung ra hình ảnh khác. Chẳng hạn như khả năng nhanh chóng tìm được từ phù hợp
liên quan đến hoàn cảnh cho trước. Cụ thể như tìm được các từ liên quan đến từ đen (có
thể là: tối tăm, thất vọng, thua, xui thâm, thẩm,...). Lưu loát trong liên tưởng là khả năng
tìm ra nhiều giải pháp khi có một vấn đề đặt ra nhờ sự liên tưởng đến những giải pháp đã
có trong vốn kinh nghiệm.
+ Lưu loát trong biểu đạt
Lưu loát trong biểu đạt thể hiện ở khả năng suy nghĩ và diễn đạt bằng ngôn ngữ cá nhân
rõ ràng, rành mạch. Khi tính khái quát trừu tượng càng cao thì càng có khả năng nhận ra
nhanh chóng các trường hợp cụ thể, càng biểu đạt chúng mau lẹ bằng ngôn ngữ. Thường

để đánh giá sự lưu loát biểu đạt, ta dùng test cấu tạo câu. Đơn cử như với bốn từ cho
trước hãy cấu tạo thành càng nhiều câu càng tốt không tính đến chất lượng câu (vì dù sao
cho mỗi câu cũng là một ý rồi). Trí nhớ có vai trò nhất định trong test này vì cá nhân phải
lục lại trong kí ức những biểu tượng đã có để biểu đạt nhanh chóng, chính xác, hiệu quả.


Các nhà tâm lí học Anh - Mĩ coi trọng yếu tố số lượng các ý tưởng, còn nội dung ý tưởng
chỉ là yếu tố thứ yếu. Do đó yếu tố số lượng mới là yếu tố tiêu chuẩn đánh giá về sáng
tạo.
- Thành phần độc đáo (Originality)
Thành phần độc đáo là tính độc lập trong giải quyết vấn đề đặt ra. Nó cho phép con người
nhìn sự vật hiện tượng, vấn đề một cách khác lạ, mới. Có thể nhận thấy những biểu hiện
cụ thể ở thành phần này như khả năng sử dụng các từ hiếm, lạ, ít gặp, sử dụng các hiện
tượng mới lạ, bất ngờ.
Tính độc đáo được tạo bởi hai yếu tố chính sau:
+ Sự hiếm - lạ duy nhất Tiêu chí "hiếm" được hiểu trên căn cứ của số liệu thống kê. Cụ
thể như những từ có tần số xuất hiện thấp nhất trong tập hợp các từ được nêu ra có thể
được coi là từ hiếm, lạ. Mặt khác, các từ hiếm - lạ đó được lựa chọn đưa ra trong khoảng
thời gian ngắn nhất.
+ Sự liên tưởng xa Có thể nắm được ý nghĩa của sự liên tưởng xa qua việc nghiên cứu
các minh hoạ. Đơn cử như Test consecuence trong đó yêu cầu đưa ra các liên tưởng mới
lạ về một vấn đề nào đó, cụ thể như: trong trường hợp nào thì ăn uống là thừa? Trong
khoảng thời gian cho trước, cần đưa ra các giải thích, các tình huống. Người nào đưa ra
được nhiều giải thích hoặc giải thích càng xa với tình huống ban đầu (nhưng vẫn có tính
giải thích) thì chứng tỏ có tính độc đáo càng cao. "Xa" có thể được hiểu ở khía cạnh thời
gian, không gian, nội dung, hình thức,... hoặc những thứ thường không ai nghĩ đến, đáng
chú ý là ở đây những giải thích thông thường, phổ biến sẽ phản ánh tính linh hoạt trong ý
nghĩ, còn những giải thích hiếm, lạ và xa sẽ phản ánh tính độc đáo.
Tính độc đáo của sáng tạo bộc lộ chủ yếu ở các giải pháp mới lạ, hiếm, không quen thuộc
và duy nhất có ở đây cần lưu ý đến tính hợp lí, kinh tế của giải pháp và cách thực thi giải
pháp.
- Thành phần tính cấu trúc - kế hoạch (Elaboration) Thành phần tính cấu trúc - kế hoạch
bao gồm các năng lực xây dựng cấu trúc mới từ các thông tin đã biết, năng lực xây dựng
các kế hoạch thực hiện giải pháp từ những ý tưởng mới, cho phép cá nhân nghĩ ra được
các bước hành động liên tiếp tổ chức và phối hợp của cơ ngón tay, cơ mặt,... Thông
thường, tính cấu trúc - kế hoạch có thể ước lượng bằng các test sử dụng ngôn ngữ.
- Thành phần nhạy cảm vấn đề (Sensibility) Thành phần nhạy cảm vấn đề là sự nhanh
chóng phát hiện sai lầm, mâu thuẫn, thiếu hụt hay thiếu logic, thiếu ngắn gọn, chưa tối
ưu,... cũng như khả năng nắm bắt dễ dàng nhanh chóng các vấn đề, nhận ra ý nghĩa mới


của sự vật từ những thông tin còn thiếu hụt của mình để từ đó nảy sinh ý muốn cấu trúc
lại sự vật, hiện tượng cho hợp lí, hài hoà hơn, thích hợp hơn để tạo ra cái mới. Tiêu chí
nhạy cảm vấn đề thể hiện ở sự cởi mở, thái độ thông thoáng trong tiếp xúc với ngoại giới
và con người.
- Tính mở rộng áp dụng hay định nghĩa lại sự vật hiện tượng (Redefinion).
Tính mở rộng áp dụng hay định nghĩa lại sự vật hiện tượng là sự áp dụng một cách hoàn
toàn mới, hoàn toàn khác một đồ vật, hiện tượng hoặc một bộ phận của nó (rất có ý nghĩa
trong sáng tạo kỹ thuật). Xin được giới thiệu một bài toán cụ thể về vấn đề kỹ thuật.Yêu
cầu đặt ra là tìm những vật nào có thể sử dụng để châm lửa. Sau đây là những đề xuất,
hãy chọn giải pháp hợp lí trong những gợi ý:
+ Dây thừng
+ Bắp cải
+ Đồng hồ bỏ túi
+ Con cái
+ Cái kim
Không thể có nhiều người nghĩ rằng chiếc đồng hồ bỏ túi có thể châm lửa vì quên áp
dụng những đặc tính đặc biệt khác của nó khi mặt kính lúp của đồng hồ có thể châm hoả
bằng ánh sáng mặt trời. Lúc khả năng này bị hạn chế nghĩa là tính sáng tạo bị giảm sút
theo cơ chế chung.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×