Tải bản đầy đủ

Mô hình tập đoàn kinh tế chaebol hàn quốc bài học kinh nghiệm và chính sách phát triển mô hình tập đoàn kinh tế của việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Lời mở đầu
l)

Tỉnh tất yếu phải nghiên cứu đề tài này:
Hiện nay khu vực hóa và toàn cầu hóa đang là xu huớng chi phối chủ yếu
trong thế giới hiện đại. Mỗi quốc gia đều đặt mục tiêu phải chủ động hội
nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Quá trình đó đòi hỏi các
quốc gia phải có một đầu tàu kinh tế thực sự thúc đẩy nền kinh tế đi lên mạnh
mẽ, đủ sức cạnh tranh với nuớc ngoài và tìm đuợc chỗ đứng trên thị truờng
thê giới vốn rộng mở nhung vô cùng khắc nghiệt. Những đầu tàu kinh tế đó
chính là các tập đoàn kinh tế. Tại các nuớc trên thế giới tập đoàn kinh tế đã
có bề dày lịch sử từ hàng trăm năm nay và thực sự đã trở thành một nhân tố
vô cùng quan trọng trong nền kinh tế. Còn ở Việt Nam khái niệm tập đoàn
kinh tế chỉ mới xuất hiện từ những năm cuối của thế kỷ truớc. Chính vì thế
những nghiên cứu về tập đoàn kinh tế ở Việt Nam cả về lý luận và thực tiễn
đều có nhiều hạn chế. Vì vậy việc nghiên cứu mô hình tập đoàn kinh tế trở
thành một tất yếu khách quan.
Việt Nam thuộc Châu Á- khu vực trong những năm gần đây đuợc đánh giá
là năng động nhất thế giới. Cả thế giới đã phải huớng sự chú ý của mình vào
Châu Á khi chứng kiến sự phát triển thần kỳ về kinh tế của châu lục này .
“Sân khấu thế giới đang dịch chuyển sang Châu Á” -đó là đánh giá mới đây

nhất của các nhà kinh tế thế giới. Và đóng vai trò quan trọng nhất trong nền
kinh tế Châu Á phải kể đến khu vực Đông Bắc Á với 3 nền kinh tế Nhật
Bản ,Trung Quốc, Hàn Quốc. Có một đặc điểm chung đáng luu ý nhất ở các
quốc gia này là nhân tố đóng vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế của họ
đó chính là các tập đoàn kinh tế. Ở Nhật Bản nó có tên gọi Zaibatsu, ở Trung
Quốc là Jituan Gongsi và ở Hàn Quốc đuợc gọi là Chaebol. Đây là 3 mô hình
tập đoàn kinh tế tiêu biểu nhất ở Châu Á.
Đồ án này đuợc nghiên cứu xuất phát từ nhận thức quan trọng của mô
hình tập đoàn kinh tế trong nền kinh tế thế giới hiện đại. Đe án chỉ xin nghiên
cứu một mô hình tập đoàn tiêu biểu và từ đó rút ra những định huớng cho
phát triển mô hình tập đoàn kinh tế ở Việt Nam. Tên đề án:
“Mô hình tập đoàn kỉnh tế Chaebol Hàn Quốc. Bài học kỉnh nghiệm và
chính sách phát triển mô hình tập đoàn kỉnh tế của Việt Nam trong tiến trình
hội nhập kỉnh tế quốc tế”.

Mô hình tập đoàn kinh tế Chaebol của Hàn Quốc từ lâu đã đuợc đánh giá
là một mô hình tập đoàn kinh tế điển hình. Nhờ có các Chaebol mà nền kinh


tế Hàn Quốc mới có thể trỗi dậy trong một thời gian ngắn. Hai thập kỷ 60 và
70 chứng kiến sự phát triển đỉnh cao nhất của mô hình này và đó cũng là thời
kỳ mà Hàn Quốc cùng với Đài Loan lập đuợc hai trong số thành tích kinh tế
xuất sắc nhất Châu Á ,và có lẽ trong số đó có những thành tích xuất sãc vào
bậc nhất thế giới. Cho nên khi nghiên cứu về mô hình tập đoàn ta không nên
bỏ sót mô hình này.
Bên cạnh đó, Hàn Quốc hiện nay đuợc coi là đối tác thuơng mại và đầu tu
lớn thứ 4 ở Việt Nam. Nen kinh tế của Hàn Quốc hiện nay vẫn bị chi phối
chủ yếu bởi hệ thống các Chaebol. Cho nên nghiên cứu mô hình này là rất
cần thiết.
2) Mục đích nghiên cứu:
Việt Nam hiện nay các tập đoàn kinh tế mới đuợc hình thành và phát
triển nên vấp phải nhiều hạn chế. Nghiên cứu về Chaebol- một trong những
mô hình tập đoàn kinh tế tiêu biểu nhất Châu Á sẽ giúp chúng ta hiểu rõ , rút
kinh nghiệm và đua ra chính sách cũng nhu biện pháp hiệu quả để phát triển
mô hình tập đoàn phù hợp với xu thế nhung vẫn đặc sắc Việt Nam.
Việt Nam và Hàn Quốc thiết lập quan hệ toàn diện đến nay đã đuợc 16
năm. Qua thời gian đó Hàn Quốc đã trở thành một trong những đối tác quan
trong nhất của Việt Nam. Nghiên cứu các tập đoàn mà ảnh huởng của nó chi
phối toàn bộ nền kinh tế Hàn Quốc sẽ giúp ta có những đối sách phù hợp
trong quá trình hợp tác kinh tế với nuớc này và góp phần thúc đẩy hơn nữa

mối quan hệ kinh tế nói riêng và mối quan hệ toàn diện nói chung Việt NamHàn Quốc.
3) Đối tượng-phạm vi:
Hiện nay ở Hàn Quốc có khoảng trên 30 Chaebol lớn nhỏ, nhung chỉ có
khoảng 5 Chaebol chi phối chủ yếu nền kinh tế Hàn Quốc. Đe án này nghiên
cứu về 3 trong số 5 Chaebol này. Đó là các Chaebol: Samsung, Hyundae,
Daewoo.
Các Chaebol ở Hàn Quốc ra đời từ những năm 50 ở Hàn Quốc nên
phạm vi nghiên cứu sẽ đuợc bắt đầu từ khi các Chaebol đuợc ra đời cho đến
nay.
Bên cạnh đó đề án cũng nghiên cứu về các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
từ giai đoạn hình thành cho đến nay.
4) Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề án là phương pháp thu thập số
liệu, phân tích, tổng hợp ...


5) Kết cẩu đề án:
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì đề án
gồm 4 chương sau đây:
Chương 1 :Tổng quan về mô hình tập đoàn kinh tế nói chung và Chaebol
Chương 2: Thực trạng về tập đoàn kinh tế Chaebol ở Hàn Quốc Chương
3: Giải pháp khắc phục những nhược điểm trong mô hình tập đoàn kinh
tế Chaebol ở Hàn Quốc.
Chương 4: Tập đoàn kinh tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế.


Chương 1: Tổng quan về tập đoàn kỉnh tế nói chung và
Chaebol
1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế và một số đặc điểm chung của tập đoàn
kinh tế:
1.1.1 Khải niệm tập đoàn kỉnh tế(TĐKT):
Các nhà kinh tế thế giới đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về TĐKT:
- Thứ nhất: TĐKT là tập hợp các công ty hoạt động kinh doanh trên các
thị trường khác nhau dưới sự kiểm soát về tài chính hoặc quản trị chung,
trong đó các thành viên của chúng ràng buộc với nhau bằng các mối quan hệ
tin cậy lẫn nhau trên cơ sở sắc tộc hoặc bối cảnh thương mại.(Left, 1978)
- Thứ hai: TĐKT là một hệ thống công ty hợp tác thường xuyên với nhau
trong một thời gian dài (Powell and Smith Doesr,1934)
- Thứ ba: TĐKT dựa trên hoạt động cung ứng sản phẩm dịch vụ thông
qua ràng buộc trung gian, một mặt ngăn ngừa sự liên minh ngắn hạn giữa các
công ty, mặt khác ngăn ngừa một nhóm công ty sát nhập với nhau để hình
thành một tổ chức duy nhất. (Granovette, 1994)
Theo luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì tập đoàn kinh tế được xếp là
một thành phần trong nhóm công ty,cụ thể như sau:
Nhóm công ty là một tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với
nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.
Thành phần của nhóm công ty gồm có:
- Công ty mẹ, công ty con.
- Tập đoàn kinh tế.
- Các hình thức khác.
Theo Viện nghiên cứu Quản lí kinh tế Trung ương CIEM thì: Khái niệm tập
đoàn kinh tế được hiểu là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp
nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài
chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất
phát từ lợi ích của các bên tham gia. Trong mô hình này “công ty mẹ”nắm
quyền lãnh đạo, chi phối “công ty con” về tài chính và chiến lược phát triển.
1.1.2 Một sổ đặc điểm chung của các tập đoàn kỉnh tế:
- Là tập hợp các doanh nghiệp liên kết với nhau thông qua quan hệ về
đầu tư vốn.
- Bản thân tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân mà là hình thức


liên kết các pháp nhân độc lập là công ty mẹ và các công ty con hay các
doanh nghiệp liên kết trong tập đoàn.
- Công ty mẹ và các công ty con phải tự chịu trách nhiệm về việc đầu tư
trong khoản vốn mà mình bỏ ra.
- Công ty mẹ có thể thực hiện cả hai chức năng là sản xuất kinh doanh và
đầu tư tài chính hay kinh doanh vốn đầu tư vào các doanh nghiệp khác.
- Quy mô của tập đoàn tương đối lớn và hoạt động đa dạng, đa nghành.
- Quan hệ giữa công ty mẹ với các công ty con và các doanh nghiệp liên
kết ở các tầng nấc khác nhau phụ thuộc vào mối liên kết của các doanh
nghiệp trong tập đoàn.
1.2 Chaebol ( ):
1.2.1 Khái niệm về Chaeboỉ:
Chaebol được coi là một mô hình tập đoàn đặc trưng của Hàn Quốc nên
nó đã trở thành một danh từ riêng để chỉ mô hình này. Chaebol thông thường
được định nghĩa: đó là tổ hợp công nghiệp một biến thể thuộc sở hữu của các
gia đình ở Hàn Quốc. Mỗi Chaebol gồm khoảng 40-50 công ty tuy không có
liên hệ với nhau về mặt kinh tế, kĩ thuật nhưng lại thuộc sở hữu của cùng một
gia đình, về kết cấu các Chaebol của Hàn Quốc là các conglomerate (tập
đoàn) gia đình trong đó các thành viên của gia đình đóng vai trò chủ đạo. về
nguồn gốc truyền thống chúng vẫn là các doanh nghiệp kiếu gia đình phong
kiến di thực lại và phát triển lên dưới chế độ tư bản chủ nghĩa .Các dòng họ
tạo lập ban đầu là những tộc trưởng tạo dựng công ty, do đó cơ cấu tổ chức
của nó mang hình thức tập đoàn đẳng cấp.
1.2.2 Đặc trưng của Chaeboỉ:
Xét về cơ chế quản lý thì mỗi Chaebol lại có phương thức quản lí riêng
nhưng nói chung các Chaebol đều có những đặc trưng chủ yếu sau:
+) Trong cơ cấu của Chaebol, các công ty thành viên hoạt động kinh doanh
chuyên ngành hoặc đa ngành.
+) Khác với tập đoàn công nghiệp của phương Tây, mọi quyết định quan
trọng của Chaebol đều chỉ được quyết định ở cấp cao nhất- tức là chủ tịch và
mọi nhân viên đều phải tuân thủ. Tuy vậy các quan chức cũng có vai trò quan
trọng và đóng góp không nhỏ trong việc ra quyết định.
+) Cơ cấu nhân sự trong các Chaebol nổi rõ lên là sự phân cấp, phân tầng rõ
rệt theo kiểu “pyramid scheme” (hệ thống kiểu kim tự tháp). Loại tổ chức này
tạo nên sự thống nhất chặt chẽ trong hoạt động và thúc đẩy mọi thành viên
luôn nỗ lực để đạt đựoc kết quả cao trong vị trí của mình và phấn đấu lên vị


trí cao hơn trong cơ cấu đó. Tuy nhiên cách tổ chức này không tránh khỏi
những hạn chế của một cơ chế quản lí truyền thống là tính cứng nhắc và thiếu
sự điều chỉnh linh hoạt.
+) Mức độ chi phối trong các Chaebol tuơng đối chặt chẽ và chủ yếu do
nguời sáng lập và hậu duệ của họ.
+) về sở hữu, các Chaebol duy trì chế độ sở hữu theo huyết thống, tức là do
các cá nhân sáng lập ra nó kiểm soát và tuân thủ theo kiểu truyền thống là cha
truyền con nối. Các thành viên trong gia đình theo thứ tự (thuờng là con trai
cả của gia đình thay cha nắm quyền kiểm soát và quản lý tài sản để kế tục sự
nghiệp của cha ông để lại). Theo "Uỷ ban buôn bán công bằng Hàn Quốc" thì
phần sở hữu của các gia đình trong 30 Chaebol lớn nhất tăng từ 43,8% (năm
1995) lên 44,1% (năm 1996).
1.2.3 Nguồn gốc hình thành và phát triển của các Chaeboỉ:
-Mặc dù cho đến những năm 1960 chuơng trình phát triển công nghiệp
quan trọng của Hàn Quốc vẫn chua đuợc bắt đầu nhung nguời ta đã tìm thấy
nguồn gốc của việc hình thành những doanh nghiệp trong nền kinh tế mang
màu sắc chính trị từ những năm 1950. Đã có một số nguời Hàn sở hữu và
quản lí những công ty khá lớn trong suốt thời kì cai trị của Nhật Bản. Sau khi
thoát khỏi sự đô hộ của Nhật thì có những nguời Hàn Quốc đã chiếm đuợc
những tài sản trong các doanh nghiệp Nhật và vài nguời trong số họ đã phát
triển nó thành các Chaebol vào thập niên 90.
- Các công ty đó chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ và hợp tác hình thành nên
tập đoàn bắt đầu từ thời kì tổng thống Park Chung Hee (nhiệm kì 1961- 1979)
. Ồng đã áp dụng mô hình tuơng tự nhu Zaibatsu - đuợc phát triển ở Nhật
trong suốt thời kì Meiji Era.
Khác biệt giữa mô hình Chaebol và mô hình Zaibatsu:
+ Chaebol đuợc điều hành bởi gia đình trong khi Zaibatsu lại đuợc điều
hành bởi những nhóm các nhà quản lý chuyên nghiệp.
+ Ở các Chaebol quyền lực tập trung trong tay chính những nguời sở
hữu,còn ở Zaibatsu có sự phân quyền và kết hợp chặt chẽ với các cổ đông.
+ Chaebol thường hình thành những công ty con để sản xuất các sản phẩm
phục vụ xuất khẩu, trong khi các tập đoàn lớn của Nhật lại thường thuê các
nhà đấu thầu bên ngoài.
- Chaebol đã trải qua thời kì phát triển thần kì bắt đầu từ những năm
1960 gắn chặt với mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu của Nam Hàn. Thập niên 50


và đầu 60 sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là bông và sợi; thập niên 70 và 80 là
sản phẩm công nghiệp nặng và hóa chất; thập niên 90 là các sản phẩm điện
lạnh và công nghệ cao.
- Thời gian gần đây bên cạnh những Chaebol truyền thống, đã xuất hiện
những tập đoàn mức trung bình ở Hàn Quốc. Ví dụ như Appeal Telecom
được sáng lập bởi Lee Ga Hyoung -một cựu viên chức của Samsung. Appeal
Telecom đang sản xuất và quảng bá sản phẩm điện thoại di động và sắp tới sẽ
mở rộng lĩnh vực hoạt động của nó. Ở Đức những tập đoàn kiểu tương tự như
vậy đã đóng góp lớn cho nền kinh tế nên người ta cho rằng hoàn toàn có lí do
gì để những tập đoàn này giành được vị trí quan trọng trong nền kinh tế Hàn
Quốc.
- Sự hình thành của ba Chaebol lớn nhất Hàn Quốc:
+) Samsung ( nghĩa là 3 ngôi sao): là tập đoàn lớn nhất của Hàn Quốc ,được
sáng lập bởi Lee Byung Chul-con trai một địa chủ. Năm 1938 Lee thành lập
công ty tại Daegu lấy tên là Samsung. Trải qua quá trình lâu dài Samsung từ
một công ty vận tải và kinh doanh bất động sản đã mở rộng lĩnh vực hoạt
động của mình :thành lập công ty sản xuất đường tinh luyện (1953), giành
được quyền kiểm soát với một số ngân hàng thương mại và công ty bảo hiểm
(những năm 1950), sản xuất sản phẩm điện máy (những năm 1960) đến nay
Samsung đã trở thành một trong những tập đoàn hàng đầu thế giới.
+ Hyundae ( nghĩa là hiện đại): chính thức được đổi tên vào năm 1976, người
sáng lập là ông Chung Yu Jung. Tiền thân của Hyundae ban đầu là một công
ty sửa chữa ô-tô, rồi đến công ty xây dựng, đóng tàu. Với sự mở rộng cả về
quy mô và kĩnh vực hoạt động hiện nay Hyundae là tập đoàn rất lớn hoạt
đông đa ngành nghề.
+ Daewoo ( nghĩa là đại vũ): được thành lập vào những năm 1960, người
sáng lập là ông Kim Woo Chung. Lĩnh vực ban đầu và chủ yếu của DaeWoo
là các ngành công nghiệp nặng sau đó là các sản phẩm về điện máy. DaeWoo
luôn được đánh giá là tập đoàn đi đầu trong tính sáng tạo, đổi mới và táo bạo
trong kinh doanh.

Chương 2: Thực trạng về tập đoàn kỉnh tế Chaebol ở
Hàn Quốc

2.1 Cơ cẩu quản lỷ trong các Chaebol:
2.1.1 về cơ cấu sở hữu:
Cơ cấu quản lý trong các Chaebol có thể chia làm 3 loại nhu sau:


+ Loại thứ nhất: Cơ cấu sở hữu trục tiếp (mô hình của Han Jin Group)

+ Loại thứ ba: Cơ cấu sở hữu hỗn hợp (mô hình của Samsung Group)

2.1.2 về cơ cấu quyền lực:
Cơ cấu quyền lực đã đuợc đề cập ở trên xác Chaebol đều áp dụng mô
hĩnh “kim tự tháp”( pyramid scheme) thể hiện một nền chuyên chế độc tài.
Tất cả nguời dân và xã hội đều chấp nhận điều này và coi nó nhu một tập
quán và truyền thống trong kinh doanh.
2.1.3 về cơ chế điều hành'.
Cơ chế điều hành: trong mỗi Chaebol đều có một cơ quan điều hành


riêng, cho dù tên gọi khác nhau, các cơ quan này đều có chức năng: giúp chủ
tịch tập đoàn phối hợp hoạt động của Công ty chi nhánh, điều hành nhân sự,
tài chính, đầu tu nghiên cứu và triển khai (R&D). Bằng các hoạt động cụ thể,
các cơ quan điều hành góp phần nâng cao tính hiệu quả của tập đoàn nói
chung, các Công ty chi nhánh nói riêng. Do quan hệ đẳng cấp, chủ tịch
Chaebol có vai trò chi phối các thành viên khác của Hội đồng. Nhìn chung,
chủ tịch Chaebol mang tính độc đoán, gia truởng, đó là đặc thù nổi bật nhất
trong các tổ chức kinh doanh Hàn Quốc.
2.2 Khuynh hướng đa dạng hóa trong các Chaebol Hàn Quốc:
2.2.1 Tỉnh tất yếu phải đa dạng hóa:
- Đa dạng hóa là xu thế chung của các tập đoàn trên thế giới
- Ban đầu các tập đoàn kinh tế mở rộng phạm vi hoạt động theo vùng địa
lí, sau đó hoc gặp phải giới hạn về địa lí -ỳ buộc các tập đoàn phải đa dạng
hóa để tăng khả năng sinh lời và sức cạnh tranh.
2.2.2 Đặc trưng trong đa dạng hóa của các Chaebol Hàn Quốc:
- Bắt đầu từ những năm 50 ,phát triển đỉnh cao vào những năm 70.
- Tốc độ đa dạng hóa nhanh: thể hiện ở 2 tiêu chí là số luợng gia tăng
nhanh chóng số chi nhánh và công ty thành viên, số lĩnh vực mà các Chaebol
tham gia hoạt động.
- Mức độ đa dạng hóa cao: theo thống kê việc đa dạng hóa ở các công ty
thuộc 20 Chaebol hàng đầu Hàn Quốc lớn gấp 10 lần so với tốc độ đa dạng
hóa các công ty khác trên thế giới.
- Sự đan xen giữa đa dạng hóa liên hệ và đa dạng hóa không liên hệ
2.2.3 Nguyên nhân đa dạng hóa:
- Do chính sách kinh tế của chính phủ trong sự nghiệp công nghiệp hóa:
+ Giai đoạn 1973-1979 chính phủ tập trung vào các ngành công nghiệp
nặng và công nghiệp hóa chất. Những công ty nào đầu tu vào 2 ngành này sẽ
đuợc huởng uu đãi của chính phủ->các Chaebol đa dạng hóa vào công nghiệp
nặng.
+ Mỗi Chaebol khi thành lập một công ty mới thì mới đuợc vay vốn, khi
vay đuợc vốn lại thành lập công ty mới lại đuợc vay vốn-> các Chaebol liên
tiếp thành lập những công ty mới để đuợc vay nhiều vốn.
+ Chính phủ không cho phép các Chaebol thực hiện phá sản đối với các
công ty thành viên do lo ngại tình trạng thất nghiệp gia tăng ,các biện pháp hỗ


trợ từ phía chính phủ giúp các công ty tiếp tục duy trì và mở rộng hoạt động.
+ Chính phủ giảm thiểu rủi ro cho các Chaebol bằng cách thủ tiêu cạnh
tranh trong thị truờng nội địa -> Chaebol độc quyền, tích lũy đuợc nguồn vốn
lớn tạo điều kiện tham gia vào những ngành không phải trọng điểm.
- Tình trạng kém phát triển của yếu tố đầu vào và mức chi phí giao dịch
thấp-> khả năng chuyển hoạt động sang các ngành khác dễ dàng.
- Việc các Chaebol mong muốn có sức mạnh để cải thiện quan hệ với
chính phủ và tự bảo vệ mình: giảm tình trạng phụ thuộc vào nguồn tài chính
từ chính phủ và sự tổn thuơng truớc những biến động về chính trị-> đa dạng
hóa để tăng khả năng tự chủ.
- Đặc điểm của hệ thống quản lí: quyền lực trong các Chaebol tập trunng
trong tay một số nguời nhung lại không đuợc pháp luật bảo vệ -> đa dạng hóa
để giảm thiểu rủi ro.
- Tính biến động của của môi truờng kinh doanh: do tính không ổn định
của thị trườn g-> đa dạng hóa để giảm thiểu rủi ro và tăng khả năng cạnh
tranh.
2.3 Vai trò của các Chaebol trong nền kinh tế Hàn Quốc:
- Từ khi được hình thành cho đến trong suốt những năm 70 Chaebol đã
thực sự trở thành trụ cột kinh tế của Hàn Quốc. Với sự trợ giúp của chính phủ
Chaebol đã sản xuất kinh doanh thương mại và dịch vụ, thu hút chuyển giao
công nghệ... Các Chaebol trong thời kì này đã đóng góp rất lớn cho sự tăng
trưởng và phát triển kinh tế của nền kinh tế với tỷ lệ hàng năm trung bình 2030% GDP và tỷ lệ xuất khẩu chiếm khoảng 40%, đồng thời đã tạo ra nền
công nghệ hiện đại cho nền sản xuất Hàn Quốc.
- Không chỉ có nguời Hàn Quốc, mà cả khách quốc tế và báo chí thế giới
mỗi lần nói đến kinh tế Hàn Quốc là y nhu nói tới ba tập đoàn kinh doanh lớn
hàng đầu, từ lâu đuợc coi là "ruờng cột" kinh tế của nuớc này. Nguời Hàn
từng ví bộ ba này là "tam đại chaebol (tập đoàn kinh doanh)", đó là Samsung
(Ngôi sao), Hyundai (Hiện đại) và Daewoo (Đại vũ). Họ là những đại gia
xuyên suốt thế kỉ 20 và 21. Bên cạnh đó cũng tồn tại những tập đoàn khác
nhu: LG, SSangyong ...cũng đuợc coi là hệ xuơng sống của nền kinh tế Nam
Hàn.
Samsung từ lâu rồi đuợc xem là hiện tuợng, là đặc trung điển hình của sự
năng động, sáng tạo trong nền kinh tế của xứ Hàn. Daewoo là "vua" của


nhiều kiểu ô-tô các loại, còn Hyundae là "anh cả đỏ" của kỹ nghệ đóng tàu
thủy và các thiết bị quan trọng của công nghiệp quốc phòng, (số liệu về tỷ lệ
đóng góp của các Chaebol trong nền kinh tế)
- Vai trò quan trọng của các Chaebol còn thể hiện ở mức độ ảnh huởng
của nó đến đời sống nhân dân. Nguời dân Hàn rất quan tâm tới tin tức từ các
chaebol bởi hoạt động của các chaebol có thể ảnh huởng trực tiếp tới cuộc
sống của họ.
- Chaebol có thể phát triển đuợc là do 3 nguồn lực chủ yếu:
+ nguồn vốn vay từ nuớc ngoài
+ những đặc quyền mà chính phủ giành cho họ
+ nguồn công nghệ hiện đại tiếp nhận từ nuớc ngoài
2.4 Mối liên hệ của Chaebol với chính phủ:
- Những công ty đuợc thành lập ở Nam Hàn vào cuối những năm 40 đầu
những năm 50, có mối liên hệ khá chặt chẽ với chính phủ của tổng thống Ree
Syung Man (nhiệm kì 1948-1960). Điều này giải thích vì sao các doanh
nghiệp này lại nhận đuợc những uu đãi đặc biệt từ chính phủ.
- Sau khi quân đội giành đuợc chính quyền vào năm 1961 họ đã tuyên bố
sẽ xóa bỏ hoàn toàn nạn tham nhũng và bất công xã hội còn tồn tại từ thời
tổng thống Ree. Rất nhiều quan chức đã bị bắt và bị buộc tội tham nhũng.
Nhung sau đó các lãnh đạo của chính quyền mới lại nhận ra rằng họ không
thể thực hiện mục tiêu cải cách kinh tế của mình nếu không có sự giúp đỡ của
các doanh nghiệp. Chính vì thế mà đã dẫn đến quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa
các doanh nghiệp và lãnh đạo chính phủ trong nỗ lực cải cách nền kinh tế đất
nuớc.
- Sự hợp tác giữa chính phủ và tập đoàn kéo theo nó là sự phát triển đáng
kinh ngạc của nền kinh tế bắt đầu từ đầu những năm 60. Khởi đầu là những
mặt hàng tiêu dùng thiết yếu và công nghiệp nhẹ, tiếp đến là công nghiệp
nặng, hóa chất,công nghiệp thay thế hàng nhập khẩu. Các nhà chính trị và các
nhà lập kế hoạch chính phủ rất tin tuởng vào kế hoạch hợp tác với các tập
đoàn và đã sử dụng các tập đoàn nhu đầu tàu để phát triển kinh tế.
- Các Chaebol đuợc chính phủ cho phép huởng một loại trợ cấp và đặc
quyền, bao gồm việc hạn chế các công ty đa quốc gia tham gia thị truờng, hỗ
trợ chiến luợc tạo vốn và các hoạt động phát triển công nghệ huớng vào xuất
khẩu. Bên cạnh đó đuợc bảo hộ về thị truờng để làm chủ các công nghệ phức
tạp, giảm thiểu sự phụ thuộc vào đầu tu trực tiếp nuớc ngoài (FDI), và buộc
họ phải đầu tu nâng cao năng lực nghiên cứu của mình để cạnh tranh trên thị


truờng quốc tế...
- Sau này các Chaebol đã tiến hành nhiều biện pháp để tăng tính độc lập
về tài chính ,tránh sự phụ thuộc vào chính phủ, tránh sự can thiệp của chính
phủ vào hoạt động kinh doanh, đặt chính phủ vào tình thế khó khăn khi phải
đua ra những quyết định liên quan tới Chaebol.
2.5 Những điểm yếu trong mô hình Chaebol:
- Làm mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu kinh tế quốc gia, công nghiệp
nhẹ bị bỏ rơi, công nghiệp nặng cũng chỉ tập trung vào một số ngành nhất
định.
- Mô hình Chaebol dẫn đến sự tập trung nguồn lực và tài nguyên quốc gia
trong tay một nhóm nguời, gây bất công lớn cho xã hội. Có tới 94.6% các
công ty vừa và nhỏ không đuợc nhà nuớc đầu tu cho nghiên cứu và phát triển
khiến chúng sụp đổ kéo theo thất nghiệp .
- Địa vị và quyền lực đặc biệt của Chaebol đuợc chính phủ nâng đỡ đã dẫn
đến thái độ bất chấp trách nhiệm xã hội. Nó tạo nên sự độc quyền về giá cả
gây lạm phát triền miên ,kèm theo tệ nạn buôn lậu ,trốn thuế. Do tính ích kỉ
của hệ thống gia đình trị ,chế độ làm việc nhiều giờ khi tiền luơng thấp ,giá cả
bị đẩy lên cao đã dẫn đến tình trạng khoảng cách giàu - nghèo tăng và đe dọa
sự ổn định xã hội.
- Với sự phát triển của xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa cộng thêm tốc độ đa
dạng hóa diễn ra quá nhanh thì các Chaebol thuờng vay nợ cao để mở rộng và
phát triển kinh doanh. Thông thường họ vay từ 100-200% số vốn tự có để mở
rộng kinh doanh va coi nợ ngân hàng là nguồn lực không thể thiếu . Chính vì
thế tạo các Chaebol không có nền tài chính vững chắc và nhiều Chaebol đã đi
đến phá sản.(số liệu).Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến
khủng hoảng IMF diễn ra ở Hàn Quốc giai đoạn 1997-1998.
- Kết quả điều tra cũng cho thấy tình trạng tham nhũng phổ biến trong các
Chaebol đặc biệt là sự tồn tại của các quỹ đen và tình trạng hối lộ.
- Các Chaebol khuyến khích công ty con mua cổ phần của nhau nhằm ngăn
cản sự tham gia của nhà đầu tư bên ngoài. Do mô hình tổ chức khép kín của
các Chaebol nên hiện tượng chuyển nhượng cổ phần bất hợp pháp diễn ra khá
thường xuyên và rất khó phát hiện các gia tộc sáng lập Chaebol lợi dụng điều
này để thu lợi bất chính.


- Các Chaebol cũng bắt đầu bộc lộ hạn chế trước yêu cầu năng động của thị
trường.
- Một tệ hại khác của mô hình Chaebol là cạnh tranh bằng mọi cách, kể cả
hối lộ, để giành đặc lợi và chèn ép doanh nghiệp nhỏ.


Chương 3: Giải pháp khắc phục những nhược điểm của mô
hình Chaebol
3.1 Những giải pháp được chính phủ Hàn Quốc áp dụng và kết quả thu
được:
Những nhược điểm trong mô hình Chaebol đã được bộc lộ rõ trong khủng
hoảng IMF (khủng hoảng về tài chính tiền tệ xảy ra ở Hàn Quốc vào năm
1997-1998). Điều đó cho thấy các Chaebol luôn đóng vai trò hạt nhân trong
mọi vấn đề về kinh tế. Chính vì thế ngay sau khủng hoảng chính phủ Hàn
Quốc đã yêu cầu các Chaebol phải cải cách để tổ chức tốt hơn việc kinh
doanh. Cụ thể là chính phủ đã đề ra 5 quy định ban đầu và 3 quy định bổ sung
(gọi là quy tắc 5+3)bắt buộc các Chaebol phải tuân theo.
3.1.1 Năm quy định ban đầu:
- Củng cố năng lực kinh doanh để giữ vai trò hạt nhân trong nền kinh tế
- Cải thiện chất lượng vốn.
- Xóa bỏ tình trạng bảo đảm vay nợ
- Tăng tính minh bạch trong quản lí
- Nâng cao trách nhiệm giải trình trong quản lí.
Chính phủ cũng coi 5 quy định này giữ vai trò chủ chốt trong việc khôi phục
lại nền kinh tế sau khủng hoảng.
3.1.2 Ba quy định bổ sung:
- Giảm bớt những quyền sở hữu không cần thiết
- Ngăn ngừa việc chống cạnh tranh trong nhóm tập đoàn và tình trạng gian
lận trong nội thương.
- Ngăn ngừa hành vi trốn tránh trách nhiệm và nghĩa vụ nộp thuế.
3.1.3 Kết quả:
Hầu hết các Chaebol đều bị giảm tổng doanh sô bán hàng tuy nhiên số nợ của
họ lại có xu hướng giảm đi(số liệu)
*) Giảm tốc độ đa dạng hóa quá nhanh:
- Từ năm 1991 chính phủ áp dụng biện pháp hạn chế đa dạng hóa bằng
cách:
+ điều chỉnh quyền sở hữu Chaebol thông qua luật phát triển doanh
nghiệp.
+ xét kỹ các dự án kinh doanh trước khi đâu tư.
+ hỡ trợ và bảo vệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Đầu năm 1993 chính sách chuyên môn hóa đuợc tiến hành với các biện
pháp can thiệp trục tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động của các Chaebol: chính


phủ yêu cầu 30 Chaebol hàng đầu phải lựa chọn 3 ngành công nghiệp cốt lõi.
- Chính sách hợp nhất hoặc mua các công ty thuộc 5 Chaebol hàng đều
Hàn Quốc.
*) Do sự lũng đoạn quá mức của các Chaebol đối với nền kinh tế, chính phủ
Kim Dae Jung đã bắt tay vào công cuộc cải cách nhằm hạn chế và thay đổi
cục diện. Năm 2005 chính phủ đã sửa chữa Luật Công bằng thuơng mại để
hạn chế mức đầu tu của Chaebol.
3.2 Những biện pháp khác được áp dụng để khắc phục những nhược
điểm của Chaebol:
Nhóm giải pháp đuợc chính phủ Hàn Quốc đua ra sau khủng hoảng chỉ
khắc phục đuợc phần nào những bất cập tồn tại trong mô hình Chaebol. Cho
đến bây giờ việc khắc phục hoàn toàn những căn bệnh cố hữu trong mô hình
này vẫn còn là bài toán khó. Các nhà kinh tế đã đua ra một số những giải
pháp sau đây:
3.2.1 Các biện pháp từ phía chỉnh phủ:
- Chính phủ xây dựng các thể chế trên cơ sơ cơ chế thị truờng và chấm dứt
uu đãi với các Chaebol có quy mô lớn.
- Vấn đề điều chỉnh và xây dựng hệ thống luật pháp-> quan trọng
- Tạo dựng thị truờng vốn hiệu quả và thị truờng cạnh tranh hoàn hảo.
- Tăng cuờng hoạt động hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để vừa
tăng tính cạnh tranh , vừa đua nền kinh tế thoát khỏi sự phụ thuộc vào các
Chaebol.
3.2.2 Các biện pháp từ phía Chaeboỉ:
- Tăng tính minh bạch trong hoạt động quản lí và kinh doanh.
- Giảm nguồn vốn vay bằng cách giảm dần đa dạng hóa chỉ tập trung vào
một số lĩnh vực kinh doanh chủ yếu, hoạt động kinh doanh hiệu quả.
- Tăng tính năng động , giảm dần tính cứng nhắc độc đoán trong cơ cấu
quản lí; tập trung hóa cao trong quá trình ra quyết định, đổi mới sản phẩm,
nâng cao khả năng cạnh tranh...

Chương 4: Tập đoàn kỉnh tế ở Việt Nam trong điều kiện
1_Ạ

I ___1 _

Ạ_
_1

» _1 _

A

r



r

____
_Ạ

_

A

r



hội nhập kỉnh tê quoc tê
4.1 Thực trạng mô hình tập đoàn kinh tế ở Việt Nam:
4.1.1 Quá trình hình thành và phát triển mô hình tập đoàn kỉnh tế ở Việt
Nam:


- Các tập đoàn được hình thành theo 2 con đường chủ yếu là: con đường
phát triển truyền thống và tập đoàn hình thành trên cơ sở một công ty Nhà
nước có quy mô rất lớn. Ở Việt Nam hiện nay, các tập đoàn đang được hình
thành theo con đường thứ 2. Sự phát triển các tập đoàn ở Việt Nam xuất phát
từ sự hoạt động kém hiệu quả của hệ thống các tổng công ty Nhà nước, không
phù hợp với cơ chế thị trường và quá phụ thuộc vào các mệnh lệnh hành
chính. Chính vì thế tập đoan kinh tế ở Việt Nam là kết quả của quá trình tập
trung, cạnh tranh và liên kết.
- Quyết định số 91/TTG của chính phủ ban hành năm 1994 chính thức
đưa ra ý tưởng phát triển các tổng công ty lớn thành các tập đoàn kinh tế. 5
tổng công ty lớn được lựa chọn để thực hiện mô hình này là: tổng công ty
bưu chính viễn thông, than khoáng sản, công nghiệp tàu thủy, dệt may và tài
chính bảo hiểm Bảo Việt.
Mặc dù tinh thần của quyết định 91 là thành lập các tập đoàn kinh doanh
nhưng thời điểm năm 1994 mô hình tập đoàn ở Việt Nam vẫn còn rất mới
mẻ. Vì thế các doanh nghiệp được thành lập theo hình thức nói trên không
gọi là các tập đoàn ngay mà gọi là các tổng công ty 91. Cho đến năm 2006 thì
các tổng công ty 91 mới bắt đầu chuyển thành những tập đoàn thực sự.
- Theo quyết định số 91 mỗi tập đoàn kinh tế ở Việt Nam phải có một ban
quản trị gồm từ 7-9 thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, và phải có
vốn pháp định tối thiểu là 1000 tỷ đồng.
Một tổng công ty 91 có thể hoạt động đa ngành nhưng vẫn phải có một ngành
đóng vai trò chủ đạo. Mục đích thành lập các tổng công ty 91 là để phát huy
vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế theo định hướng XHCN.
- Danh sách các tổng công ty 91:
+ Tổng công ty dệt may Việt Nam hiện nay đã chuyển thành Tập đoàn dệt
may Việt Nam.
+ Tổng công ty điện lực Việt Nam hiện nay đã chuyển đổi thành Tập đoàn
điện lực Việt Nam.
+ Tổng công ty dầu khí Việt Nam hiện nay đã chuyển đổi thành Tập đoàn
dầu khí quốc gia Việt Nam.
+ Tổng công ty than Việt Nam và tổng công ty khoáng sản Việt Nam đã
biên nhập vào với nhau hiện nay chuyển thành Tập đoàn công nghiệp thankhoáng sản Việt Nam.
+ Tổng công ty cao su Việt Nam hiện nay đã chuyển thành Tập đoàn cao
su Việt Nam.
+ Tổng công ty buu chính viễn thông Việt Nam hiện nay đã chuyển đổi
thành Tập đoàn buu chính viễn thông Việt Nam.
+ Tổng công ty hóa chất Việt Nam hiện đang xin Chính phủ phê duyệt để
chuyển đổi thanh Tập đoàn hóa chất Việt Nam vào năm 2008.


+ Tổng công ty giấy Việt Nam + Tổng công ty
thép Việt Nam + Tổng công ty thuốc lá Việt
Nam + Tổng công ty hàng không Việt Nam +
Tổng công ty công nghiệp xi mãng Việt Nam’
+ Tổng công ty luơng thực miền Bắc và tổng công ty luơng thực miền
Nam đang có kế hoạch xác nhập làm một.
+ Tổng công ty cà phê Việt Nam +
Tổng công ty đuờng sắt Việt Nam
+ Tổng công ty hàng hải Việt Nam đang thực hiện chuyển đổi thành tập
đoàn hàng hải Việt Nam vào năm 2010.
- Bên cạnh các tập đoàn kinh tế quốc doanh và các tổng công ty 90,91 còn
một loạt các tập đoàn tu nhân mới đuợc thành lập. Các tập đoàn này cùng với
các tập đoàn kinh tế quốc doanh đang dần chi phối nền kinh tế đất nuớc trên
tất cả các lĩnh vực. Một loạt các tập đoàn kinh tế tu nhân tiêu biểu nhu FPT,
Đồng Tâm, Kinh Đô, Hòa Phát, Hoàng Anh, Gia Lai, Vincom, Trung
Nguyên... Các tập đoàn này đều có vốn góp, cổ phần chi phối lẫn nhau ở các
công ty con, công ty liên kết,ngân hàng ,đối tác chiến luợc trong và ngoài
nuớc với hàng ngàn cổ đông. Các mô hình tập đoàn này đều có điểm chung
nhu sau:
+ Hầu hết đuợc hình thành trong 10 năm trở lại đây.
+ Hầu hết các mô hình đều có điểm xuất phát là mô hình công ty gia đình
hoặc nhóm nhà đầu tu thân cận.
+ Các mô hình tập đoàn này đều có xu huớng muốn mở rộng mô hình,ngành
nghề,tăng cuờng liên kết ,sáp nhập,đẩy nhanh cổ phần hóa ,chuyên nghiệp
hóa...
4.1.2 Thực trạng tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay:
4.1.2.1 Đóng góp của các tập đoàn đổi với sự phát triển kỉnh tế của Việt
Nam:
- Theo công bố báo chí cả nước hiện nay có 8 tập đoàn kinh tế quốc
doanh (thuộc sở hữu Nhà nước), cả nước có 18 tổng công ty 91 và 73 tổng
công ty 90 mang dáng dấp tập đoàn kinh tế quốc doanh hoặc công ty mẹcông ty con. Toàn bộ các đơn vị kinh tế này chiếm khoảng 54% về vốn, 62%
doanh thu và 73% tiền nộp ngân sách trong tổng số 5.970 doanh nghiệp Nhà
nước hiện nay (khu vực kinh tế quốc doanh)
- Hiện nay nước ta đang có xu hướng đôn lên hoặc sáp nhập, hoặc tổ chức
lai các tổng công ty 90&91 để thành lập các tập đoàn kinh tế quốc doanh.
Theo xu thế này nếu gộp các công ty 90, 91 và các tập đoàn kinh tế quốc
doanh vào một nhóm thì nhóm này chiếm khoảng 25 đến 30% vốn kinh


doanh của cả nền kinh tế (chưa kể tài sản cố định), khoảng 30% vốn đầu tư
của toàn xã hội, đóng góp khoảng 14% vào thu ngân sách Nhà nước.
- Vãn kiện đại hội IX, phần nói về chiến lược phát triển kinh tế xã hội
2001-2010 có ghi: “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nước để thực
hiện tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế... Doanh nghiệp nhà nước giữ vững
những vị trí then chốt trong nền kinh tế; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và
công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế và xã hội và
chấp hành pháp luật”. Tuy nhiên, nếu bám sát những điều dù còn chung
chung và chưa đầy đủ như vậy đã được ghi vào nghị quyết, có thể nói nghị
quyết chưa được thực hiện nghiêm túc.
Hiện nay các tập đoàn của Việt Nam mà ví dụ là EVN hay Tập
đoàncông nghiệp và khoáng sản Việt Nam có xu hướng đầu tư vào những
ngành không thuộc chuyên môn của mình, số vốn đầu tư đã lên tới 117.000 tỉ
đồng, gần một nửa trong số 70 tổng công ty 90&91 đã và đang đầu tư vào
những lĩnh vực “nóng” như: chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản
mà giá trị lên tới 27000 tỉ đồng.
Các tập đoàn kinh tế tư nhân cũng nổi lên như một hạt nhân kinh tế
,trong 5 năm trỏ lại đây khu vực này đạt tốc độ tăng trưởng trên 10% (cao
hơn 8% so với cả nền kinh tế), đặc biệt có rất nhiều công ty tư nhân có mức
tăng trưởng về doanh thu lên tới trên 50%/năm
4.1.2.2 Những bất cập trong mô hình tập đoàn kỉnh tế ở Việt Nam:
- Các tập đoàn kinh tế quốc doanh ở các nước phát triển được thành lập vào
những năm 1830. Các tập đoàn này được hình thành với để thực hiện những
chức năng hết sức quan trọng mà chức năng thứ nhất trong số đó là chống
độc quyền để phòng ngừa sự phát triển thiên lệch và thúc đẩy kinh tế phát
triển trong khi đó ở nước ta loại tập đoàn này lại nắm các độc quyền về kinh
tế và chính trị, không giải phóng được các nguồn lực cần thiết cho sự phát
triển. Chức năng thứ hai ở các nước phát triển đó là nâng cao khả năng cạnh
tranh của cả nền kinh tế ,ở nước ta chưa thể nói rằng các tập đoàn kinh tế
quốc doanh đã làm được điều này. Chức năng thứ ba ở các nước phát triển đó
là bảo đảm an ninh chính trị và quốc phòng, ở nước ta lĩnh vực này cần
nghiên cứu kỹ lưỡng để có những đánh giá chính xác.
- Việc thành lập các tập đoàn kinh tế quốc doanh kể cả trong thời kì cao
điểm cũng huy động chưa đến 10% tổng lực của nền kinh tế và chỉ tập trung
vào một số sản phẩm nhưng các tập đoàn kinh tế quốc doanh đã thực hiện rất
tốt vai trò của nó. Trong khi ở Việt Nam các tập đoàn kinh tế quốc doanh và
các tổng công ty 90,91 chiếm tới hơn một nửa nguồn lực của cả nước nhưng


liệu rằng các tập đoàn này đã phát huy được vai trò của nó, đãc biệt trong
điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay tình trạng lạm phát đã lên tới hai con
số ( kể từ quý IV năm 2007). Một tác nhân quan trọng như vậy không thể
đứng ngoài tiến trình nguy hiểm này được.
- Sự luân chuyển về vốn của trong các tập đoàn kinh tế quốc doanh vẫn còn
tòn tại nhiều bất cập. Sự lưu chuyển hàng năm các dòng vốn khác nhau từ
ngân sách Nhà nước và từ mọi nguồn khác rót vào hoặc bị hút về các tập
đoàn, các tổng công ty 90,91 rồi lại từ kênh này chuyển vào các công ty con
hay các công ty mẹ &con mà trên thực tế dù mang tên gọi gì thì chúng cũng
thuộc sở hữu tư nhân hoặc là do các công ty tư nhân chi phối hoàn toàn. Điều
này đã làm nảy sinh suy nghĩ cho rằng liệu mô hình tập đoàn kinh doanh như
hiện nay đang thai nghén ra những đứa con mới của chủ nghĩa tư bản thân
hữu. Cho nên sự lưu chuyển về vốn của các tập đoàn cần được làm rõ để tiếp
tục thực hiện mục tiêu kinh tê thị trường theo định hướng XHCN.
- Chưa có khung pháp lí hoàn chỉnh cho mô hình tập đoàn kinh tế:
+ Đối với các tập đoàn kinh tế quốc doanh: sự quan lí còn nhiêu kẽ hở không
cho phép tài chính được thực hiện một cách minh bạch, sự chi phối ngày càng
nghiêm trọng theo lợi ích “nhóm” thể hiện qua 2 hiện tượng: Thứ nhất là sự
cho phép một số tập đoàn hình thành ra các ngân hàng riêng của mình- đây là
một trong những điều tối lị trong kinh tế, đi ngược lại với một trong những
tiêu chí hoạt động của các tập đoàn kinh tế quốc doanh trên thế giới. Thứ hai
là phong trào kinh doanh những nghề không thuộc chuyên môn của( mà
nguời ta thuờng goi là “nghề tay trái” đã và đang xuất hiện trong các tập đoàn
kinh tế và các tổng công ty 90,91.
+ Đối với các tập đoàn tu nhân: hiện nay ở Việt Nam có nhiều tập đoàn kinh
tế tu nhân đuợc thành lập ,đó là các tổ hợp các công ty có tu cách pháp nhân
độc lập nhung bản thân tập đoàn lại chua đuợc coi là có tu cách pháp nhân
độc lập. Trên thực tế các nhóm doanh nghiệp mạnh, tích hợp, liên kết các thế
mạnh của nhau để hoạt động duới bộ máy chung ,một thuơng hiệu chung để
tạo ra sức cạnh tranh lớn trên thị truờng,liên kết này hình thành nên tập đoàn
kinh tế tu nhân. Khó khăn lớn nhất với các doanh nghiệp tu nhân non trẻ này
là họ vẫn chua đuợc pháp luật thừa nhận một cách đầy đủ. Các tập đoàn phải
mang một cái tên không chính danh nhu “công ty cổ phần tập đoàn” hay công
ty TNHH tập đoàn. Việc thừa nhận các tập đoàn kinh tế này vẫn chỉ dừng lại
ở mức chủ truơng ,hệ thống quy định vẫn chua đáp ứng đuợc nhu cầu phát
triển của các tập đoàn.


4.2 Đối chiếu giữa mô hình tập đoàn kinh tế của Việt Nam với mô hình
Chaebol của Hàn Quốc:
4.2.1 Những khác biệt giữa mô hình tập đoàn kỉnh tế của Việt Nam và mô
hình Chaeboỉ của Hàn Quốc:
Theo Viện truởng viện nghiên cứu quản lí kinh tế Trung uơng cho biết thời
điểm năm 1994 khi Thủ tuớng Chính phủ lí quyết định 91 thành lập 18 tổng
công ty là đã có ý tuởng muốn phát triển mô hình tập đoàn của Việt Nam
giống nhu mô hình tập đoàn kinh tế Chaebol của Hàn Quốc. Nhung lúc đó xét
về quy mô, vốn, tổ chức thì chua cho phép phát triển lên mô hình tập đoàn.
Đen nay có những ý kiến cho rằng Việt Nam không thể áp dụng mô hình
Chaebol của Hàn Quốc ,nguyên nhân có thể xuất phát từ những sự khác biệt
đuợc trình bày duới đây:
- về điều kiện lịch sử: các Chaebol của Hàn Quốc đuợc hình thành từ những
năm 1950 sau khi Hàn Quốc thoát khỏi sự chiếm đóng cảu Nhật Bản. Các
doanh nhân Hàn khi đó đã nhanh chóng nắm bắt những cơ sơ vật chất mà
Nhật Bản để lại và bắt đầu có ý tuởng phát triển mô hình tập đoàn. Đây có thể
coi là một nguồn lực không thực sự lớn nhung lại có ý nghĩa vô cùng quan
trọng.
- Các Chaebol đuợc hình thành vào thời điểm mà chính phủ Hàn Quốc đang
mong muốn có một đầu tàu kinh tế thực sự để kéo cả nền kinh tế đi lên. Sự
bắt tay giữa Chaebol và chính phủ đã dẫn tới hiệu ứng sau đó là sự phát triển
thần kì của nền kinh tế Hàn Quốc và sự phát triển của các Chaebol cũng đuợc
đua tới đỉnh cao. Nhà nuớc Hàn Quốc đã trao cho Chaebol cơ chế độc quyền
và các uu đãi đặc biệt để các Chaebol có thể thực hiện tốt vai trò kinh tế của
mình.
Còn với Việt Nam các doanh nghiệp nhà nuớc(DNNN) chỉ đóng vai trò nhu
một động lực của kinh tế, Việt Nam không nên trao cơ chế độc quyền hay
những uu đãi đặc biệt của Chính phủ cho các DNNN. Chính phủ nên để cho
họ có cơ hội phát triển và cạnh tranh giống nhu các doanh nghiệp tu nhân hay
các doanh nghiệp FDI.
- Hàn Quốc gia nhập WTO vào năm 2005 khi đó các Chaebol đã phát triển
mạnh, đã trở thành những trụ cột kinh tế. Rời bỏ sự kiểm soát của Nhà nuớc
với các Chaebol không chỉ là yêu cầu mà nó cũng xuất phát từ mong muốn
của chính các Chaebol. Còn trong điều kiện Việt Nam hiện nay đã gia nhập
WTO, việc áp dụng mô hình Chaebol lúc đầu đòi hỏi sự can thiệp quá sâu của
Chính phủ là hoàn toàn không phù hợp trong bối cảnh hiện nay.


4.2.2 Những bài học kỉnh nghiệm cho Việt Nam từ mô hình Chaebol Hàn
Quốc:
Rõ ràng mô hình Chaebol Hàn Quốc trong bản thân nó còn tồn tại nhiều
nhuợc điểm nhung đánh giá chung lại mô hình này vẫn có những uu điểm mà
ta có thể học tập để phát triển mô hình tập đoàn ở Việt Nam:
-Vồ mô hình: Mô hình tập đoàn kinh tế Chaebol hiện nay đã trở thành đặc
trung của Hàn Quốc. Sở dĩ nó đạt đuợc những thành công đáng ghi nhận bởi
thời điểm nó ra đời xuất phát từ yêu cầu thực tế của nền kinh tế. Đua ra một
mô hình với những mục tiêu rõ ràng ,chính sách thực hiện sát sao đã đua nó
đến thành công. Cho nên bài học đối với Việt Nam truớc hết là phải xác định
mô hình tập đoàn rõ ràng và có những biện pháp cụ thể để áp dụng mô hình
đó trong thực tiễn.
- Thực tế từ các tập đoàn kinh tế trên thế giới và các Chaebol của Hàn Quốc
cho thấy xu thế các tập đoàn kinh tế Nhà nuớc đang dần bị xóa bỏ bởi lẽ khả
năng cạnh tranh các tập đoan kinh tế thuộc sở hữu Nhà nuớc ngày càng giảm
sút so với khu vực kinh tế tu nhân, bên cạnh đó sự phát triển năng động của
công nghệ và dịch vụ trong thời kì nền kinh tế tri thức và toàn cầu hóa cho
phép ngày càng nhiều sản phẩm và dịch vụ vào khu vực tu nhân. Trong điều
kiện đó có nên chăng khi chúng ta tiếp tục phát triển mạnh các tập đoàn kinh
tế quốc doanh.
- về nguồn lực: Các Chaebol Hàn Quốc phát triển thành công bên cạnh việc
đuợc huởng những uu đãi của Chính phủ giành cho họ còn nhờ vào nguồn
vốn và công nghệ nuớc ngoài mà tự bản thân các Chaebol tìm kiếm đuợc.
Điều này đã thể hiện đuợc sự năng động của các tập đoàn kinh tế Hàn Quốc
trong nỗ lực tìm kiếm nguồn lực phát triển. Đây cũng là mặt mà các tập đoàn
của Việt Nam còn kém, còn thụ động quá trông chờ vào Chính phủ.
- về cơ cấu quản lí:Cơ cấu quản lí trong các Chaebol hiện nay vẫn là cơ cấu
mệnh lệnh thống nhất quyền uy, chính cơ chế này đã dẫn đến tình trạng kém
năng động trong hoạt động quản lí và kìm hãm sự phát triển. Ở Việt Nam
hiện nay trong các tập đoàn kinh tế quốc doanh vẫn còn tình trạng này do ảnh
huởng của cơ chế quan liêu bao cấp. Nhìn vào những thất bại của mô hình
Chaebol trong cách quản lí mà chúng ta nên từng buớc xóa bỏ cơ cấu quản lí
này.
- Ngay từ khi mới thành lập giữa các Chaebol và chính phủ đã có sự liên kết
vô cùng chặt chẽ. Chính sự liên kết này vô hình chung đã dẫn đến tình trạng
tham nhũng của chủ tịch tập đoàn cũng nhu của quan chức Chính phủ-vốn là


vấn đề đau đầu của Hàn Quốc trong thời gian gần đây. Ở Việt Nam sự lũng
đoạn quá mạnh của các tập đoàn kinh tế quốc doanh trên tất cả các lĩnh vực
cộng thêm sự can thiệp quá sâu của Chính phủ vào hoạt động của tập đoàn
hiện nay sẽ dẫn đến những tiềm ẩn của nguy cơ này mà ta cần nắm đuợc và
đua ra những biện pháp ngăn chặn phù hợp.
- về nhân lực: hầu hết các Chaebol lớn ở Hàn Quốc đều thành lập các truờng
để đào tạo nguồn nhân lực chất luợng cao. Bên cạnh đó Chaebol còn thực
hiện tài trợ cho các truờng đại học để thu hút đội ngũ sinh viên giỏi sau khi
tốt nghiệp tham gia làm việc ở các tập đoàn. Chính vì cách thức nhu vậy nên
hàng năm các Chaebol không chỉ tự đào tạo đuợc đội ngũ nhân lực cho mình
mà còn thu hút đuợc nhân tài từ các truờng đại học lớn. Họ không chỉ là
những nguời giỏi tay nghề, tinh thần cầu tiến mà còn đuợc giáo dục cả lòng
trung thành.
- Các Chaebol ở Hàn Quốc giành đuợc sự quan tâm từ dân chúng không chỉ
bởi tầm ảnh huởng rộng lớn của nó trong đời sống kinh tế của đất nuớc mà
còn do ảnh huởng của những kênh thông tin từ phía tập đoàn đua ra qua báo
chí, truyền hình về tình hình hoạt động của tập đoàn, những sự kiện nổi bật.
Điều này cũng góp phần nhỏ trong mong muốn minh bạch trong hoạt động
của tập đoàn.
4.3 Chính sách phát triển mô hình tập đoàn ở Việt Nam trong điểu kiện
hội nhập kinh tế quốc tế:
Hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay đã trở thành đặc trưng và xu hướng
chung của thế giới. Mọi quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đều đang tích
cực tham gia vào tiến trình chung đó mà Việt Nam chúng ta không phải là
ngoại lệ. Chủ động hội nhập sâu vào thị trường thế giới đồng nghĩa với việc
chúng ta phải đối mặt với những thử thách ,với nguy cơ cạnh tranh quyết liệt
với các nước trên thế giới. Việc mở cửa thị trường trong nước đã dẫn tới sự
xâm nhập của hàng loạt các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới. Tăng cường
năng lực cạnh tranh để giành lấy thị trường nội địa đồng thời mở rộng hoạt
động ra thị trường thế giới quả thực là một thách thức vô cùng to lớn với bản
thân các tập đoàn kinh tế cũng như với Chính phủ Việt Nam. Vậy chúng ta
phải có những giải pháp gì để phát triển mô hình tập đoàn kinh tế trong bối
cảnh đó?
4.3.1 Giải pháp từ phía Chỉnh phủ:
- Trước hết cần phải khẳng định việc Chính phủ đưa ra quyết định thành
lập các TĐKT trong thời gian qua là hết sức cần thiết nhằm thúc đẩy
phát triển các TĐKT thuộc các lĩnh vực và các ngành trọng yếu của nền
kinh tế. Nhưng cần có một khoáng thời gian nhất định để đánh giá lại về


hoạt động của các TĐKT. Ở các nước phát triển các tập đoàn kinh tế
quốc doanh khi đi vào hoạt động luôn theo 3 chức năng và 4 tiêu chí do
Chính phủ đặt ra rất rõ ràng. Trong khi ở nước ta các TĐKT lại chỉ
được xác định một chức năng chung là đóng vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế, và nhiệm vụ riêng là quả đấm thép. Việc xác định chức năng
chung chung như vậy rất khó cho các TĐKT trong việc đưa ra chính
sách phát triển cụ thể. Cho nên truớc hết phải xác định cụ thể chức năng
của TĐKT trong nền kinh tế từ đó mới có thể đưa ra phương hướng
phát triển cụ thể cho TĐKT.
- Xuất phát từ yêu cầu thực tế đang đòi hỏi khung pháp lí đầy đủ, đúng
đắn cho sự hình thành và phát triển của TĐKT nói chung và TĐKT
quốc doanh nói riêng. Nhà nước nên sớm ban hành các quy định về tính
pháp lý, các mô hình và nguyên tắc hình thành các tập đoàn kinh tế.
Neu là tập đoàn kinh tế thì phải đáp ứng được những yêu cầu và tiêu chí
thế nào như: quy mô tổ chức, phương pháp tổ chức, các hệ thống quản
lý, đội ngũ số cán bộ, số vốn pháp định, các chỉ tiêu kinh tế tối thiểu...
Song song với khung khổ cơ bản nhất về pháp lý, Nhà nước cũng nên
có những quy định rõ ràng hơn trong cơ chế hoạt động và mối quan hệ
bên trong mỗi tập đoàn liên quan đến kinh doanh, đầu tư,
tài chính, thông tin, nhân sự, tài sản, trách nhiệm... Quan trọng nhất là
phải xác định và phân biệt một cách rõ ràng hơn nữa vai trò của quản lý
nhà nuớc và quản lý của chủ sở hữu.
- Nhà nuớc chỉ nên đóng vai trò hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi bằng các cơ
chế chính sách chứ không nên can thiệp bằng các biện pháp hành chính
vào quá trình hình thành các TĐKT nhu hiện nay.
- Nhà nuớc cần có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế đầu tu đan xen với nhau nhằm phát huy thế mạnh, chia sẻ rủi
ro và tăng cuờng khả năng cạnh tranh của các TĐKT trong nuớc với các
TĐKT nuớc ngoài trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng
vào nền kinh tế thế giới.
- Xây dựng các chuơng trình đào tạo đội ngũ cán bộ quản trị, điều hành cho
các TĐKT. Có thể nói rằng cho đến nay, đào tạo về quản trị điều hành
doanh nghiệp nói chung và quản trị TĐKT nói riêng vẫn chua đáp ứng
đuợc nhu cầu thực tế.
4.3.2

Giải pháp từ phía tập đoàn:


- Với những "nhóm công ty" đang hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế
thì cần chú trọng đảm bảo các yếu tố cơ bản nhu "thống nhất trong đa
dạng", tập trung các nỗ lực tạo ra nội hàm của tập đoàn kinh tế (hình ảnh
chung, thuơng hiệu chung, chiến luợc chung...) và chính những yếu tố đó
sẽ tạo ra chỗ đứng bền vững thay cho việc công nhận hay đãng ký trở
thành các tập đoàn kinh tế.
- Việc thành lập các TĐKT để nhằm tối uu hóa việc sử dụng các nguồn lực
cũng nhu phát huy các lợi thế của doanh nghiệp chứ không phải là tạo ra
một vỏ bọc bên ngoài “hào nhoáng”. Việc quản trị TĐKT đối với các nhà
quản trị doanh nghiệp đang là một thách thức đòi hỏi họ cần có sự chuẩn
bị đầy đủ về kiến thức cũng nhu bản lĩnh kinh doanh để đảm đuơng đuợc
vai trò của mình.

Kết luân

Từ thập niên 70 Chaebol đã trở thành đặc sản của nền kinh tế Hàn Quốc.
Với vai trò đầu tàu Chaebol đã kéo cả nền kinh tế thành công , góp công lớn
trong sự phát triển kì diệu của Hàn Quốc mà nguời ta gọi là “thần kì sông
Hàn”. Không thể phủ nhận những uu điểm của mô hình này cộng với những
thuận lợi vào thời điểm mô hình áp dụng đã đua kinh tế Hàn Quốc buớc sang
một thời kì mới. Nhung không có mô hình nào là hoàn hảo, Chaebol cũng
vậy. Bản thân nó còn tồn tại nhiều nhuợc điểm đòi hỏi phải có thời gian và
biện pháp phù hợp. Nguời ta đã từng đặt câu hỏi có nên xóa bỏ hẳn Chaebol
trong đời sống kinh tế của Hàn Quốc, câu trả lời là không thể vì vai trò và
ảnh huởng quá quan trọng của nó trong nền kinh tế và trong chính nhận thức
của nguời dân Hàn. Nguời ta chỉ có thể tìm ra những biện pháp khắc phục
những điểm yếu của nó và hạn chế những căn bệnh đuợc coi là cố hữu của
mô hình này.
Qua phân tích nghiên cứu ta có thể thấy rằng Việt Nam có thể học tập
nhiều điều từ mô hình Chaebol Hàn Quốc. Nhung do điều kiện của hai nuớc
khác nhau và thời gian phát triển mô hình tập đoàn cũng khác nhau nên
chúng ta không thể máy móc làm theo mô hình này. Quan trọng là chúng ta
tìm ra những điểm mạnh để học tập và những bất cập nên tránh của mô hình
Chaebol từ đó có biện pháp phù hợp để phát triển với mục tiêu không xa là
xây dựng đuợc mô hình tập đoàn mang đặc sắc Việt Nam.


Tài liêu
tham khảo

1) Directed Research in Economics ,University of Northern Iowa“Failure of
the Miracle: Why South Korea's Managed Economy Is Dying”.
2) Phil Sang Lee- Dean, school of business administration, Korea University,
“Economic Crisis and Chaebol Reform in Korea”.
3) Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005.
4) Thayer Watkins, Silicon Valey & Tornado Alley USA, “Chaebol of South
Korea”.
5) Tiến sĩ Vũ Phuơng Thảo “Khuynh huớng đa dạng hóa trong các Chaebol
của Hàn Quốc”, tạp chí nghiên cứu Châu Á- Thái Bình Duơng, số 4 năm
2005.
6) “Vài suy nghĩ về tập đoàn kinh tế quốc doanh”, tác giả Nguyễn Trung
đãng trên www.viet-studies.info
Trang web:

*) www.atimes.com *)
WWW.country-data.com *)
www.exneriencefestival.com *)
www.hvundaicom.co.kr *)
www.lge.co.kr *)
www.massogroun.com *)
www.samsung.kr


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×