Tải bản đầy đủ

Vai trò của sức sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng quốc gia phát triển bền vững

Vai trò của sức sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng
quốc gia phát triển bền vững
Hứa Thanh Bình
Tóm tắt:
Sức mạnh của tư duy, năng lực sáng tạo ngày càng thể hiện rõ ưu thế hơn bao giờ hết
trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế. Trên quan điểm vĩ mô,
trong thời đại của nền kinh tế tri thức, sức sáng tạo quyết định sức mạnh toàn diện và khả năng
cạnh tranh của một quốc gia. Đối với Việt Nam chúng ta phải thừa nhận rằng, sức sáng tạo độc
lập của Việt Nam còn yếu kém, thiếu công nghệ cốt lõi và quyền sở hữu trí tuệ độc lập, điều đó
đã trở thành một “nút cổ chai” hạn chế phát triển kinh tế của Việt Nam. Để đạt được bước phát
triển nhảy vọt, bền vững, Việt Nam không còn con đường nào khác là phát huy vai trò tư duy
sáng tạo, đây là cốt lõi của chiến lược phát triển, là chìa khóa để cải thiện toàn diện sức mạnh
quốc gia nhằm thực hiện con đường đổi mới độc lập, tự chủ. Từ bối cảnh đó, bài viết áp dụng lí
thuyết về phát huy sức sáng tạo của quốc gia, đặc biệt là Trung Quốc - đất nước đã thực hiện
tương đối thành công việc nâng cao sức sáng tạo theo định hướng quốc gia, trên cơ sở tổng hợp
kết quả nghiên cứu, nhằm cung cấp tài liệu tham khảo và một số gợi ý để nâng cao vai trò sức
sáng tạo của doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Đặt vấn đề
Để thoát khỏi tình thế tiến thoái lưỡng nan là lợi nhuận nhỏ trong thị trường cấp thấp, và
nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp, chống lại các khả năng rủi do.

Hiện nay các nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển đều nhận ra tính trọng yếu của
sức sáng tạo độc lập, để từ đó xây dựng chiến lược cải thiện cơ chế để có thể cạnh tranh trên
quy mô quốc gia và cả phạm vi toàn cầu.
Quan niệm về sáng tạo trong bối cảnh hiện nay đã mở rộng, không còn giới hạn với hoạt
động R&D hay xuất bản các bài báo khoa học, mà còn bao gồm những sáng tạo về tổ chức,
quản lý kinh tế xã hội. Trên góc độ phát triển doanh nghiệp, sức sáng tạo có các đặc tính sau:
một là, tính mục đích; hai là, tính biến đổi; ba là, tính mới lạ; bốn là, tính vượt trước; năm là,
tính giá trị. Khái quát lại: sức sáng tạo dùng để chỉ các doanh nghiệp không ngừng tạo ra những
ý tưởng mới, quan niệm niệm mới, và việc sử dụng những ý tưởng, quan niệm mới thông qua

1


tiến bộ khoa học công nghệ nhằm tạo ra hiệu quả kinh doanh, phát triển thị trường, quản lý... và
đạt được một lợi thế cạnh tranh, cuối cùng đạt được mục tiêu chiến lược bền vững.
Đối với Việt Nam cần nâng cao vai trò của sức sáng tạo là do: (1) Khả năng tự chủ sáng
tạo của doanh nghiệp Việt Nam là yếu kém; (2) Do sự cần thiết của chiến lược tiết kiệm nguồn
tài nguyên thiên nhiên và tiến tới tiếp cận nền Kinh tế xanh (Green Economy); (3) Nâng cao
năng lực sáng tạo là con đường cơ bản nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững của
doanh nghiệp. Thuận lợi cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cấu trúc tăng trưởng
kinh tế; (4) Là yêu cầu tối ưu hóa và nâng cấp cơ cấu sản nghiệp, giữ cho nền kinh tế phát triển
bền vững; (5) Là yêu cầu để thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cải thiện khả
năng cạnh tranh quốc tế; (6) Là yêu cầu tất yếu phải tăng cường sự độc lập, tự chủ để hội nhập
kinh tế thế giới.
I. Sức sáng tạo theo định hướng quốc gia ở Trung Quốc – gợi ý đối với Việt Nam.
Sáng tạo theo định hướng quốc gia ở Trung Quốc, đề cập đến sự sáng tạo khoa học và
công nghệ là một chiến lược cơ bản, sự gia tăng đáng kể trong đổi mới công nghệ, sản phẩm,
quản lý... nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh quốc gia trong cộng đồng quốc tế. Trước thực trạng
Trung Quốc phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài hơn 50%, trong khi Hoa Kỳ, Nhật Bản chỉ
khoảng 5%(1). Hội nghị đổi mới công nghệ Quốc gia năm 1999 (do Trung ương Đảng và Quốc
Vụ viện Trung Quốc tổ chức), nhằm tăng cường đổi mới công nghệ, phát triển công nghiệp
công nghệ cao. Trong đó, sự sáng tạo được định nghĩa là: kiến thức doanh nghiệp và ứng dụng
các công nghệ sáng tạo mới, quy trình mới, phương thức mới của chế độ sản xuất và quản lý,
nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển và sản xuất sản phẩm, dịch vụ mới, chiếm lĩnh thị
trường và đạt giá trị thị trường. Việc đề cao sức sáng tạo được cụ thể hóa tại Báo cáo của Đại
hội Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ XVII: nâng cao khả năng sáng tạo độc lập, xây dựng
một đất nước đổi mới, đó là cốt lõi của chiến lược phát triển, để cải thiện sức mạnh quốc gia
toàn diện là các chìa khóa để tuân thủ đường của sự đổi mới độc lập đặc sắc Trung Quốc”(2).
Thực hiện chiến lược này Trung Quốc đã đưa giáo dục đi trước một bước, từ những năm 90
của thế kỷ 20 đến nay, Trung Quốc đã tăng mạnh mẽ chất lượng giáo dục thông qua các dự án

giáo dục sáng tạo, vì vậy tài năng công nghệ cao lớp lớp xuất hiện. Đây là bước đón đầu, đồng
thời là để chuẩn bị trước cho việc bước vào thời đại kinh tế tri thức.
Để cải thiện khả năng sáng tạo, chính phủ Trung Quốc đã xác lập vai trò của doanh
nghiệp, đẩy nhanh xây dựng các dự án nghiên cứu, hệ thống đổi mới công nghệ, nỗ lực để đạt
được công nghệ mới trong lĩnh vực công nghiệp. Trong chiến lược của mình chính phủ đã tạo
(1)

孔样纬-许洪贵,2009 年,企业创新力,企业天地杂志,第 3 期,页 33 一 01

(2)

孔样纬-许洪贵,2009 年,企业创新力,企业天地杂志,第 3 期,页 33 一 03

2


ra môi trường và chính sánh tốt nhất thúc đẩy sức sáng tạo, cụ thể như: (1) Chính phủ tăng đầu
tư vào khoa học, đặc biệt là khoa học cơ bản và công nghệ cao; (2) Chính phủ hỗ trợ doanh
nghiệp có quyền sở hữu trí tuệ và khả năng sáng tạo độc lập, doanh nghiệp trọng điểm của các
thương hiệu toàn cầu; (3) Chính phủ mua sắm hay trực tiếp tham gia chuyển giao công nghệ để
hình thành quyền sở hữu trí tuệ độc lập quốc gia; (4) Tăng cường hệ thống pháp luật để bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp; (5) Xây dựng chính sách đãi ngộ cán bộ khoa học, thu
hút nhân tài; (6) Cho ưu đãi thuế đối với các doanh nghiệp đổi mới độc lập; (7) Cùng với các
công ty mũi nhọn thiết lập viện nghiên cứu đặc biệt và quỹ phát triển sáng tạo. Hỗ trợ cho
doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm công nghệ cao; (8) Thay đổi hệ thống thi cử theo định hướng
giáo dục sáng tạo, phát huy mạnh mẽ sự sáng tạo của những người trẻ tuổi.
Kế hoạch dài hạn Chương trình Quốc gia phát triển công nghệ (2006 – 2020) là thúc
đẩy nghiên cứu, hợp tác đổi mới để tăng cường khả năng sáng tạo độc lập. Đồng thời khẳng
định các doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học là lực lượng cơ bản trong đổi mới
khoa học và công nghệ, có vai trò trọng yếu trong hệ thống sáng tạo quốc gia. Để thực hiện
chiến lược, Trung Quốc đã xây dựng hệ thống các khu vực có đặc trưng và ưu thế riêng như
Zhongguancun - Bắc Kinh, Donghu - Vũ Hán, Zhangjiang - Thượng Hải, Hợp Phì...trở thành
khu vực kiểu mẫu nâng cao sức sáng tạo, tiến tới nhân rộng mô hình toàn quốc gia. Dưới sự
định hướng chiến lược quốc gia, một số doanh nghiệp đã từng bước được hình thành và phát
triển các công nghệ cốt lõi của mình, một số kĩ thuật, công nghệ ở Trung Quốc đã vượt biên
giới quốc gia và đứng đầu thế giới. Trước suy thoái kinh tế toàn cầu làm tổn thương ngành
công nghiệp xuất khẩu của Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã khuyến khích các
công ty địa phương và các công ty nước ngoài thiết lập các nhà máy ở Trung Quốc để cải thiện
khả năng sáng tạo. Điển hình như trong các ứng dụng bằng sáng chế mới, nhà sản xuất các thiết
bị viễn thông Huawei Technologies(3) đã trở thành một nhà thương hiệu toàn cầu; nhà sản xuất
thiết bị viễn thông ZTE cũng đã vươn lên đứng thứ sáu thế giới trong lĩnh vực cung cấp điện
thoại di động; Lenovo, Haier, TCL trong thời gian ngắn cũng đã trở thành một thương hiệu
quốc tế nổi tiếng. Thành tựu đổi mới độc lập đó đã khẳng định các doanh nghiệp là trụ cột của
sự đổi mới công nghệ, nếu năm 2001 trong danh sách xếp hạng 500 siêu máy tính mạnh nhất
thế giới không có hãng nào của Trung Quốc, thế nhưng chỉ gần một thập kỷ sau Trung Quốc đã
có 61 trong tổng số 500 siêu máy tính, và hai trong số này đứng trong top 5 các siêu máy tính
mạnh nhất thế giới(4). Theo báo cáo của UNESCO năm 2007, Trung Quốc có 1.423 triệu nhà
nghiên cứu chiếm 19,7% số nhà nghiên cứu trên thế giới.

(3)

20 năm trước, Huawei chỉ là một công ty nhỏ, với sự tăng cường đầu tư cho R & D, và văn hóa độc đáo của sự đổi mới,
Huawei đã phá vỡ sự độc quyền của các hãng thiết bị truyền thông khổng lồ nước ngoài tại thị trường Trung Quốc.
(4)
Professor Winter Nie, 2011, CHINESE INNOVATION Lessons from the East, Innovation management, No.September, 5th,
p.01.

3


Năm 2009, doanh nghiệp dẫn dắt hoặc tham gia trong chương trình hỗ trợ Quốc gia
khoa học và công nghệ là 95%, chiếm hơn 60% trong tổng số 863 dự án lớn. Các doanh nghiệp
Trung ương đều thành lập cơ chế dài hạn để đảm bảo tăng trưởng ổn định đầu tư vào khoa học
và công nghệ, R & D. Cũng trong năm 2009, Boston Consulting Group phát hành khảo sát báo
cáo mang tên "30 quốc gia sáng tạo nhất của thế giới", xếp hạng đổi mới toàn cầu của các nước
Trung Quốc xếp hạng 27. Viện Nghiên cứu Chiến lược Phát triển Công nghệ Trung Quốc trong
năm 2011 phát hành "Chỉ số Đổi mới Quốc gia 2010" cho thấy chỉ số đổi mới của Trung Quốc
57,9, xếp hạng 21 trong 40 quốc gia lớn trên thế giới. Trung Quốc chiếm tỷ lệ 12,3% trong
tổng chi phí R & D trên thế giới trong năm 2010, chỉ sau Hoa Kỳ. Trung Quốc phát minh, ứng
dụng, bằng sáng chế trong năm 2008 đạt 20,3 triệu USD, đứng thứ ba sau Mỹ và Nhật. Trong
nghiên cứu của giáo sư Winter(5) , giáo sư đã rút ra bốn nét đặc trưng về cách thức người Trung
Quốc đổi mới: đổi mới tại chỗ; đổi mới để giảm chi phí; đổi mới phù hợp; và đổi mới sản phẩm
nhanh chóng. Nhìn chung, các doanh nghiệp Trung Quốc trên bề mặt sức sáng tạo thực sự đã
đạt được những tiến bộ đáng kể, và một số thậm chí đạt mức độ tiên tiến trên thế giới. Tuy
nhiên, theo thông báo tổng điều tra kinh tế của Trung Quốc trên quy mô tổng số doanh nghiệp,
chỉ có 11,9% hoạt động khoa học và công nghệ, trong đó chỉ có 38,4% các doanh nghiệp lớn và
vừa để phát triển khoa học và công nghệ; chi tiêu nghiên cứu doanh nghiệp R & D tài trợ là chỉ
có 0,71% các doanh thu bán hàng(6). Nhiều nhà nghiên cứu cho dù tham gia vào công tác
nghiên cứu và phát triển, nhưng cũng chủ yếu hướng vào nghiên cứu lý luận cơ bản, vì vậy vẫn
chưa gắn liền với doanh nghiệp và thị trường.
Trung Quốc coi vấn đề cốt lõi là nỗ lực cải thiện khả năng sáng tạo công nghệ, thừa
nhận sức sáng tạo không chỉ bao gồm vật chất mà bao gồm cả các yếu tố phi vật thể như: văn
hóa doanh nghiệp, cơ chế ra quyết định, phân cấp doanh nghiệp... coi đó là điều kiện để các
doanh nghiệp tồn tại và phát triển, đây là yếu tố quyết định và cách duy nhất.
II. Sức sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam: một số suy nghĩ và đề xuất.
1. Hiện trạng năng lực sáng tạo của các doanh nghiệp Việt Nam.
Hiện nay Việt Nam có khoảng 400.000 DN đang hoạt động, trong đó hơn 90% là doanh
nghiệp vừa và nhỏ, nhiều ngành sản xuất chủ yếu vẫn là gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng
không cao. Nhưng cốt lõi vấn đề là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều đang sử dụng loại công
nghệ lạc hậu từ 3-4 thế hệ so với công nghệ mới hiện nay. Bộ Khoa học và Công nghệ đã thẳng
thắn thừa nhận, Việt Nam đang tụt hậu rất xa so với các nước. Theo báo cáo của Bộ Khoa học
(5)

Professor Winter Nie is Professor of Operations and Service Management at IMD. She teaches on
Orchestrating Winning Performance and Managing the Global Supply Chain.
孔样纬; 许洪贵 - 企业创新力〔中图分类号」F273.1[文献标识码 IA[文章编号 11003 一 1154(2009)03 一加 33 一
03.
(6)

4


và Công nghệ trình Chính phủ: năng suất công nghiệp phần mềm của Việt Nam khoảng
10.000USD/người/năm, ở Trung Quốc vào khoảng 14-18.000USD và ở Mỹ, là
140.000USD/người/năm, đủ thấy sự tụt hậu của Việt Nam sau các nước đến cỡ nào. Trong
công nghiệp chế tạo, tỷ trọng nhóm sản phẩm công nghệ thấp chiếm 60%, công nghệ cao chỉ
chiếm trên 20%; đóng góp GDP của nhóm sản phẩm công nghệ cao chỉ bằng 5,73% GDP và
của dịch vụ công nghệ cao ở Việt Nam chỉ bằng 2,12%(7). Nguồn cung ứng công nghệ cho Việt
Nam chủ yếu là nhập ngoại, mỗi năm Việt Nam bỏ ra trên 10-15 tỷ USD mua máy móc, thiết,
trong khi đó, mức đầu tư, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam rất thấp, chỉ chiếm
khoảng 0,2- 0,3% doanh thu của doanh nghiệp. Tỷ lệ này ở Ấn Độ là khoảng 5%, Hàn Quốc là
10%.
Ở các nước phát triển, cộng đồng doanh nghiệp là nhà đầu tư lớn nhất cho hoạt động
khoa học, công nghệ, đặc biệt là công tác nghiên cứu và thương mại hóa kết quả. Ở Việt Nam
lại khác, khoảng 70% kinh phí cho hoạt động khoa học, công nghệ vẫn là từ ngân sách quốc gia.
Điều tra của Tổng cục Thống kê thực hiện trong giai đoạn 2007-2010 cho thấy thực trạng là chỉ
có 0,2% doanh nghiệp trả lời về tình hình đầu tư cho khoa học, công nghệ. Trong số
509/290.767 DN trả lời trong năm 2010 thì chi phí bình quân của mỗi đơn vị dành cho khoa
học, công nghệ là khoảng 5 tỷ đồng, chiếm 2,8% nguồn vốn của doanh nghiệp. Khoản ngân
sách 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho khoa học, công nghệ được cho là sử dụng
kém hiệu quả. Ngay cả bản thân các doanh nghiệp FDI cũng thường là doanh nghiệp sản xuất
gia công, lắp ráp và dựa trên thiết kế sản phẩm đã có, công nghệ phổ biến. Đáng chú ý là, rất
hiếm có doanh nghiệp FDI nào lại đặt tổ chức nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam. Tài sản
mềm mang giá trị quan trọng nhất trong lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế tương lai, đó là tài
sản con người; thương hiệu quốc gia; vị thế trên thị trường; văn hóa doanh nghiệp; phải nói
chúng ta hầu như chưa có gì, ví dụ như tài sản con người: hai yếu tố tạo mũi nhọn cho đội ngũ
nhân lực là sáng tạo và năng động, mặc dù chúng ta tự hào về số lượng nguồn nhân lực, dẫn
đầu ASEAN về tiềm lực con người, nhưng còn chất lượng? Công ty Intel đã không tìm ra đủ
180 nhân viên cho nhà máy 1 tỷ đô la ở Thủ Đức và phải nhập khẩu từ Malaysia và Philippines
về. Nếu như năm 2011 trên Bảng chỉ số đổi mới/sáng tạo toàn cầu (Global Innovation
Index )Việt Nam đứng trên mức trung bình - đứng thứ 51 trong 125 nước. Thì năm 2012 lại tụt
xuống thứ 76 trên 141 nước!
Bảng: thứ bậc, điểm đánh giá chỉ số đổi mới /sáng tạo
Điểm Việt Nam
Malaysia
Singapore
Thailand
Số
cao
Năm nước nhất Điểm Bậc Điểm Bậc Điểm Bậc Điểm Bậc
(7)

(Phạm Huyền, 2011, kinh tế sáng tạo-Việt Nam có gì? Vef.vn/2011-03-22)

5


2008 153

5.8

2.38

65

3.47

26

4.1

7

3.01

34

2009 130

5.28

2.97

64

4.06

25

4.81

5

3.4

44

2010 132

4.86

2.95

71

3.77

28

4.65

7

3.06

60

2011 125

74.1

36.71

51

44.05 31

43.33

48

2012 141

68.2

33.9

76

45.9

36.9

57

74.11 1

64.8 64.8

3

(nguồn: Bộ Khoa học Công nghệ - Báo Tia sáng)

Bên cạnh những hạn chế chưa khắc phục được, cũng cần thừa nhận rằng từ khi thực hiện
đổi mới đến nay, nhất là giai đoạn sau hội nhập WTO sức sáng tạo của Việt Nam tăng lên rõ rệt,
dần khẳng định thương hiệu của mình, đi đầu là lĩnh vực công nghệ thông tin với chiến lược
nhằm tạo năng lực công nghệ đủ mạnh để đảm bảo tính cạnh tranh của các sản phẩm chủ lực.
Ví dụ, như Viettel được đánh giá là mạng di động có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới,
đứng thứ 24/746 nhà khai thác dịch vụ di động toàn thế giới về thuê bao và thứ 4 trong số 51
nhà khai thác lớn nhất ở Đông Nam Á năm 2009(8); Công ty Naiscorp làm chủ công nghệ lõi về
tìm kiếm tiếng Việt; Bkis, phần mềm Bkav đã chiếm lĩnh được thị trường nội địa; công ty robot
TOSY đã xuất khẩu đồ chơi đĩa bay sang Nhật, Mỹ, và châu Âu dựa trên sáng chế riêng của
mình...Thực hiện Nghị định số 80/2007/NĐ-CP, ngày 19/5/2007 của Chính phủ về doanh
nghiệp khoa học và công nghệ, đến nay số lượng các tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu
trách nhiệm đã chiếm hơn 80%, số lượng doanh nghiệp đủ điều kiện để công nhận là doanh
nghiệp khoa học công nghệ khoảng 2000, trong đó số doanh nghiệp khởi nguồn từ các viện
nghiên cứu, trường đại học chiếm 15%(9), đó là bước tăng cường tính trách nhiệm để chủ động
sáng tạo của các tổ chức khoa học công nghệ. Ở thể chế đổi mới chúng ta có ưu thế, chế độ
XHCN có lợi thế về ổn định chính trị tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội nhập của các lực
lượng và nguồn lực để thúc đẩy hệ thống sáng tạo. Hơn nữa thực tiễn gần 30 năm cải cách thể
chế tiến bộ, ổn định, đã tạo nên “quán tính” tiến về phía trước. Nhưng thông tin tốt nhất là từ
Trung ương đến địa phương, người dân đã và đang tập trung nâng cao sức sáng tạo của quốc
gia, điều đó làm sâu sắc thêm sự đồng thuận của tiến trình đổi mới - sáng tạo.
2. Những nguyên nhân chủ yếu.
2.1. Thiếu đầu tư cho R&D
Hoạt động R&D ở Việt Nam hiện chủ yếu tập trung trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
Mặc dù R & D chi phí tăng năm theo năm, nhưng nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các doanh
nghiệp chịu tác động hạn chế của cơ chế cũ, các doanh nghiệp chưa trở thành chủ thể đầu tư
(8)

Minh Tuấn, 2012, Thành công nhờ năng động sáng tạo, Tạp chí Xây dựng Đảng số 1+2, p.85
Đặng Phương Nga, 2012, Để phát triển nguồn nhân lực của các viện nghiên cứu hoạt động theo mô hình doanh nghiệp,
Tạp chí Cộng sản, số 64, p.38)
(9)

6


hoàn toàn của R&D, vẫn chủ yếu tồn tại bằng tái sản xuất mở rộng, do vậy thường không đi
kèm cách thức nâng cao sức sáng tạo sản phẩm mới, công nghệ tự chủ mới. Cộng đồng doanh
nghiệp quốc tế nói chung tin rằng chi phí R & D đạt hơn 5% của thu nhập bán hàng thì các
doanh nghiệp có đủ sức cạnh tranh, nếu chỉ 2% thì chỉ đủ sức duy trì, trong khi ít hơn 1% thì
doanh nghiệp sẽ khó mà tồn tại. Năm 2007, Nhật Bản đầu tư cho R&D là 3,4% GDP, Hàn
Quốc là 3,3%. Trong khi đó Mỹ 2,5 %, Đức 2,4% Singapore 1,1%. Trung Quốc đầu tư vào
R&D mới chỉ chiếm 1,54% GDP năm 2008 và hiện nay đã phấn đấu tăng lên 2,2% GDP.
Nhưng ở Việt Nam, khoản đầu tư cho lĩnh vực này quá khiêm tốn, chiếm 0,1- 0,2% GDP.
Các doanh nghiệp Việt Nam (nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ) chưa coi vấn đề R&D
cùng với vấn đề thương hiệu, quyền sở hữu trí tuệ là trở ngại lớn cho sự phát triển bền vững
của mình. Chương trình hỗ trợ hỗ trợ đầu tư trực tiếp R&D cho doanh nghiệp còn ít, mà hầu
hết kinh phí R&D từ ngân sách nhà nước chủ yếu vẫn hướng sự hỗ trợ tới các trường học, viện
nghiên cứu. Hay chính sách hỗ trợ doanh nghiệp làm R&D bằng cách cho phép giữ lại 10% thu
nhập trước thuế để đầu tư cho hoạt động R&D nhưng thực tế chưa hiệu quả. Ví dụ như TP Hồ
Chí Minh, theo báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố thì đến nay cũng chỉ có 31
doanh nghiệp lập được quỹ này. Một thực tế là 95% doanh nghiệp Việt Nam thuộc diện nhỏ và
siêu nhỏ, do vậy 10% lợi nhuận là quá nhỏ không đủ cho đầu tư đổi mới công nghệ, nói gì đến
hoạt động R&D.
2.2. Ý thức tự chủ sáng tạo của doanh nghiệp không cao.
Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp sau cổ phần hóa tồn tại phổ biến quyền sở
hữu không rõ ràng, không thể thích ứng với hiện trạng hoàn cảnh thay đổi không ngừng, do vậy
trong quản lý kinh doanh xảy ra hiện tượng “gặp sao hay vậy”. Song song với nó là việc chạy
theo lợi ích ngắn hạn, càng kích thích thêm hành vi trục lợi trong doanh nghiệp. Thành quả của
doanh nghiệp có quyền sở hữu trí tuệ độc lập của R & D không nhiều, do đó hạn chế niềm đam
mê, sự nhiệt tình ngay từ trong tư tưởng để nuôi dưỡng sự sáng tạo của cả nhà quản lý cũng
như nhân viên. Ngoài ra, rất nhiều giám đốc điều hành công ty, đặc biệt là quản lý cấp cao,
thiếu lý thuyết và kinh nghiệm quản lý kinh doanh, nhất là trong môi trường kinh doanh quốc
tế nên không có một ý thức mạnh mẽ chấp nhận rủi ro, đồng thời đánh giá thấp sự sáng tạo, do
vậy không thể thiết lập và nuôi cấy ý thức tự chủ sáng tạo trong tập thể doanh nghiệp.
2.3. Thiếu tài năng sáng tạo.
Đại đa số nguồn tài năng sáng tạo nằm trong các viện, trường đại học, nhưng việc liên
kết viện, trường và doanh nghiệp vẫn còn hố rất sâu ngăn cách. Việc thiếu các chuyên gia công
nghệ của doanh nghiệp là một trở ngại nghiêm trọng cho sự đổi mới công nghệ của các doanh
nghiệp Việt Nam. Hầu hết các doanh nghiệp vẫn chưa hoàn thiện chiến lược phát triển nguồn

7


nhân lực và cơ chế quản lý. Vì lý do lịch sử và thực tế, phần lớn các nhà lãnh đạo kinh doanh
và khả năng sáng tạo của nhân viên nói chung là thấp, sự thiếu hụt nghiêm trọng của nhân viên
quản lý có trình độ đổi mới... quan niệm lỗi thời, thiếu nhận thức về tinh thần sáng tạo, cơ chế
dòng chảy tài năng và cơ chế khuyến khích chưa hoàn hảo. Báo cáo của UNESCO cho thấy
trong thời gian 2000 - 2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng sáng chế,
tức mỗi năm trung bình chỉ 2 bằng sáng chế. Trong khi đó Nhật Bản đứng đầu với 46139 bằng
sáng chế, kế đến là Hàn Quốc với 12262 bằng sáng chế, Trung Quốc được xếp thứ 8 với 3174
bằng sáng chế; Trong khu vực Đông Nam Á, Singapore với 4.8 triệu dân có 647 bằng sáng chế
Đứng thứ hai là Malaysia với 161 bằng sáng chế. Trong khi đó, Việt Nam không có bằng sáng
chế nào đăng kí ở Mỹ trong năm 2011(10).
2.4. Năng lực đổi mới công nghệ yếu.
Không thể phủ nhận thực tế là công nghệ của Việt Nam rất lạc hậu, các thiết bị trọng
điểm trong các doanh nghiệp đạt hoặc gần cấp độ quốc tế chỉ khoảng 10%, điều này cũng một
phần do cơ chế kế hoạch hóa và chịu sự cấm vận lâu dài. Do vậy, thiếu các điều kiện cần thiết
cho sự đổi mới và theo kịp tiến bộ công nghệ hiện đại. Ngoài ra, việc thực hiện các chính sách
có liên quan không được đầy đủ và đúng chỗ, hoàn cảnh thị trường không đạt tiêu chuẩn hóa
dẫn đến nguy cơ rủi ro của các kênh đầu tư cao; cơ cấu, tổ chức nghiên cứu tách rời doanh
nghiệp nên tính ứng dụng rất thấp; các doanh nghiệp thiếu các tổ chức nghiên cứu đổi mới, các
cơ chế trung gian không thể cung cấp dịch vụ tốt cho việc chuyển giao...Theo nghiên cứu của
Trường Quản lý Khoa học-Công nghệ, các doanh nghiệp Việt Nam mới dành 0,2-0,3% doanh
thu cho đầu tư đổi mới công nghệ, trong khi chỉ số này ở Ấn Độ là 5% , Hàn Quốc là 10%.
Trong ba giai đoạn của chu trình phát triển công nghệ, doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ ở giai
đoạn đầu là tiếp thu công nghệ, chưa đạt được mục tiêu làm chủ và sáng tạo công nghệ. Đáng
lưu ý là có đến 57,7% doanh nghiệp Việt Nam không muốn mua công nghệ trong nước, tạo sự
kìm hãm thúc đẩy sáng tạo công nghệ trong nước.
3. Những nhân tố tác động đến năng lực sáng tạo tự chủ của doanh nghiệp.
Từ những năm 50 của thế kỷ 20, cùng với việc không ngừng đẩy mạnh nghiên cứu đổi
mới cả lý thuyết và thực hành, các học giả thế giới cũng bắt bắt đầu nghiên cứu và phân tích
các yếu tố tác động, dẫn đến đến sự thành công hay thất bại của sự sáng tạo. Rothwell (11) bắt
đầu từ các dự án ở cấp độ doanh nghiệp, thông qua phân tích, thực nghiệm, ông tổng kết đề
xuất thành 4 yếu tố xác định sự thành công hay thất bại của sức sáng tạo doanh nghiệp, bao
gồm: văn hóa khuyến khích sự sáng tạo; khai thông các vấn đề của dự án; định hướng thị
(10)

Văn phòng thương hiệu và bằng sáng chế Mỹ (USPTO).
William J. Rothwell, Tiến sĩ, Chuyên gia nhân sự, là Chủ tịch của Rothwell & Associates, Inc. Ngoài ra, ông còn là giáo
sư về phát triển nguồn nhân lực của Đại học Pennsylvania State, Hoa Kỳ.)
(11)

8


trường mạnh mẽ; sự linh hoạt trong tổ chức. Các điều tra, phân tích hoạt động nâng cao sức
sáng tạo của doanh nghiệp Trung Quốc chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: yếu tố nội
bộ như, các bộ phận R & D, bộ phận marketing, hợp tác sản xuất, khả năng của các nhà quản lý,
nhân viên, văn hóa doanh nghiệp...; Các yếu tố bên ngoài là, bối cảnh thị trường; người tiêu
dùng; nhà cung cấp hợp tác, hợp tác với các trường đại học; dịch vụ tư vấn...Do vậy, thực sự có
rất nhiều yếu tố ảnh hưởng, nhưng trong bối Việt Nam có thể khái quát bao gồm:
3.1. Tri thức.
Nâng cao khả năng sáng tạo của doanh nghiệp là một quá trình tích lũy kiến thức, Do đó,
tính chuyên dụng của kiến thức liên quan chặt chẽ đến hoàn cảnh môi trường cụ thể, có tác
động rất lớn vào việc đổi mới doanh nghiệp. Sử dụng nguồn tài nguyên tri thức của doanh
nghiệp nó mang tính nguyên tắc hướng dẫn hành vi tổ chức, quy trình công nghệ, kỹ
xảo...nguồn tài nguyên tri thức bổ sung nguồn lực thông qua sự tích hợp vai trò của các bộ
phận trong doanh nghiệp, hình thành khả năng thực thi nhiệm vụ đổi mới sản xuất. Vì vậy đồng
thời với việc mở rộng đầu tư sản xuất thì trình độ tri thức của doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên, và
qua đó doanh nghiệp có thể tối ưu hóa mục đích. Tài nguyên kiến thức thông qua thiết kế công
việc, luân chuyển nhiệm vụ trong nội bộ doanh nghiệp nó có tác dụng hữu hiệu trong việc
truyền tải chính xác thông tin, do đó sẽ tối đa hóa việc tiếp cận với kiến thức mới, qua đó tăng
nhanh vận xuất đổi mới. Cạnh đó, nó cũng cho phép tăng cường tích lũy kiến thức trong toàn
bộ doanh nghiệp, tăng cơ hội học hỏi lẫn nhau giữa các thành viên, tăng sự phản hồi thông tin
tích cực, để có thể tăng tốc độ cải tiến công nghệ, tạo thành quá trình sáng tạo liên tục, toàn
diện. Do vậy, việc sở hữu tri thức là then chốt để hình thành và đề cao sức sáng tạo của doanh
nghiệp.
3.2. Kỹ thuật, công nghệ.
Công nghệ là phương tiện cơ bản của đổi mới sản xuất, kinh doanh, quá trình sáng tạo là
quá trình thay đổi công nghệ và thực hiện công nghệ mới, các yếu tố cộng nghệ chủ yếu biểu
hiện ở hai khía cạnh: tổng thể trình độ công nghệ của doanh nghiệp và cơ cấu công nghệ. Tổng
thể trình độ công nghệ bao gồm cả công nghệ vật chất và cơ cấu tổ chức và quản lý công nghệ.
Nó sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình đổi mới kinh doanh. Năng lực xử lý thông tin
nhanh chóng của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp tìm thấy cơ hội sáng tạo kịp thời và chính
xác. Bố trí lực lượng và kết cấu công nghệ hợp lý mới cho phép doanh nghiệp phát huy sáng
tạo; Tóm lại, trình độ công nghệ tổng thể, kết cấu công nghệ đều ảnh hưởng trực tiếp đến sức
sáng tạo của doanh nghiệp. Chỉ có khai thác đầy đủ và không ngừng nâng cao tiềm lực công
nghệ, thông qua kết cấu hợp lý, phát huy các phương diện tích cực sáng tạo của nhân viên mới
có thể bảo đảm cung cấp công nghệ cho sức sáng tạo của doanh nghiệp.

9


3.3. Thông tin.
Người tiêu dùng là lực lượng góp phần quyết định đến sự hình thành sức sáng tạo của
doanh nghiệp, lợi nhuận của doanh nghiệp là từ việc người tiêu dùng chấp nhận các sản phẩm
hoặc dịch vụ của họ cung cấp. Vì vậy, làm thế nào để nắm bắt được thông tin người tiêu dùng,
hiểu và đáp ứng nhu cầu của người sử dụng đã trở thành mục tiêu của sự đổi mới cũng như
mục đích theo đuổi của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiểu biết chính xác về nhu cầu của người sử
dụng không phải là dễ dàng, do mâu thuẫn giữa người sử dụng (khách hàng) nắm giữ thông tin
về nhu cầu của các sản phẩm và dịch vụ với các giải pháp kiểm soát doanh nghiệp (làm thế nào
để đáp ứng), vả lại nhu cầu thường rất phức tạp, tinh tế và thay đổi nhanh chóng. Do vậy, các
công ty phải luôn thông qua các kênh khác nhau để tìm cách thu thập thông tin về nhu cầu
người sử dụng. Quá trình sáng tạo sản phẩm là một quá trình thử-sai, người sử dụng trở thành
nguồn thông tin để giảm bớt mâu thuẫn nói trên, do đó giảm bớt chi phí thực nghiệm, để đạt
được tình huống cả hai đều có lợi (win-win) giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp. Từ ý nghĩa
này thì năng lực sáng tạo của doanh nghiệp thực sự gắn liền với khả năng thu thập thông tin từ
người tiêu dùng.
3.4. Tổ chức.
Các nhân tố tổ chức như: cơ cấu bộ máy; chất lượng của đội ngũ nhân viên; văn hóa
doanh nghiệp; khả năng ra quyết sách...trong đó các doanh nhân là chủ thể cốt lõi của quá trình
sáng tạo. Từ ý thức đổi mới của bản thân, ý nghĩa riêng của nó là khả năng để tạo bầu không
khí sáng tạo, ra quyết định, và cường độ của việc giám sát, đôn đốc có ảnh hưởng quan trọng
vào thành công đổi mới hay không. Trong suốt quá trình đổi mới, tổ chức của doanh nghiệp
cần phải không ngừng hoàn thiện, Để đảm bảo rằng các thành viên làm công việc của mình trên
cơ sở hiểu biết lẫn nhau, hòa hợp, và phát huy sự nhiệt tình, tính tích cực của sự sáng tạo cá
nhân trong môi trường cạnh tranh và lợi ích bình đẳng. Chỉ có thiết lập việc đánh giá sáng tạo
một cách hợp lý, mới có thể phát huy hết sức tính sáng tạo của mỗi cá nhân. Vì vậy, yêu cầu cơ
bản nhất là cải thiện môi trường tổ chức nội bộ cùng hệ thống khuyến khích sáng tạo, đồng thời
nắm bắt lượng thông tin cơ bản để có thể ra quyết định hợp lý.
3.5. Cơ chế và yếu tố hoàn cảnh bên ngoài.
Môi trường, hoàn cảnh bên ngoài bao gồm cả môi trường thể chế, chính sách, pháp lý,
thị trường, dịch vụ thông tin, môi trường nghiên cứu ứng dụng ...Nó không chỉ cung cấp các
nguyên tắc hoạt động, mà quan trọng hơn là nó quyết định các phương thức hoạt động cụ thể,
ảnh hưởng đến quyết định chính sách phân phối lợi ích cụ thể của doanh nghiệp với quốc gia
và doanh nghiệp với người lao động. Như chính sách phân phối nó trực tiếp tác động khích
thích hay hạn chế hành vi của người lao động; Xây dựng cơ cấu đầu tư chuyên biệt, các ưu đãi

10


trong các dự án công nghệ cao, hay việc giảm thuế cho các doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm để
hạn chế rủi ro… việc mở rộng chính sách để cho các doanh nghiệp có môi trường hoạt động tự
chủ, đó chính là tạo điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo và sản nghiệp hóa, đảm bảo cho doanh
nghiệp và nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững. Yếu tố này nó là vườn ươm để nâng cao
sức sáng tạo.
3.6. Giáo dục, đào tạo.
Các nước phát triển và các nước đang phát triển về kinh tế, xã hội có sự khác biệt rất lớn,
nhưng có một điều phổ biến là sự tăng trưởng nhanh chóng trong nhu cầu nghiên cứu công
nghệ và phát triển nhân tài. Từ những năm 1990, cùng với sự điều chỉnh cơ cấu công nghiệp
của các nước phát triển, một số lượng lớn công nghệ của các ngành công nghiệp truyền thống
và hiện đại đã chuyển giao sang các nước đang phát triển, nhưng làm thế nào để tiếp thu các
công nghệ? các nước đang phát triển như Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề này. Do vậy,
việc đào tạo nhân viên nghiên cứu đạt trình độ để có thể tiếp thu được công nghệ hiện đại là
vấn đề rất cấp thiết để hướng tới sự sáng tạo tự chủ. Đối với hệ thống đổi mới quốc gia nói
chung, đây là yếu tố cơ bản phục vụ cho quá trình nghiên cứu và ứng dụng. Đối với doanh
nghiệp nó là yếu tố trọng yếu để cung cấp kiến thức khoa học mới nhất để đổi mới công nghệ
và giúp doanh nghiệp thực hiện R&D.
Tóm lại, hình thành khả năng sáng tạo không chỉ là một quá trình tạo ra công nghệ, sản
phẩm mới của doanh nghiệp. Ngoài yếu tố nội tại, thì yếu tố bên ngoài cũng rất quan trọng để
đảm bảo sự thành công. Vì vậy, trong quá trình đổi mới, sáng tạo các doanh nghiệp phải luôn
quan tâm đến các yếu tố tác động tới nó để có được những nguồn lực cần thiết để thiết lập
mạng lưới chính thức hoặc không chính thức của các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, để
tăng cường lực lượng sáng tạo, nuôi trồng lợi thế cạnh tranh.
4. Một số gợi ý và đề xuất nhằm nâng cao sức sáng tạo để phát triển bền vững.
Nguồn lực vật chất có hạn của nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, phát triển
chưa cho phép Đảng, Nhà nước có thể tập trung đầu tư phát triển nhanh, toàn diện hạ tầng kinh
tế, xã hội để đáp ứng đầy đủ nhu cầu đầu tư phát triển. Trong xu hướng quốc tế hóa, đặc biệt là
sau khi đất nước gia nhập WTO, các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với khả năng quản
lý tiên tiến, nghệ thuật sáng tạo và nguồn lực vốn hùng hậu của các tập đoàn đa quốc gia – đây
là thách thức mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó, để phát huy vai trò sức sáng tạo của hệ thống doanh
nghiệp – “bộ xương” của nền kinh tế cần:
4.1. Nâng cao vai trò của nhà nước
Các doanh nghiệp là hệ thống tế bào của nền kinh tế quốc dân, không thể đổi mới mà
không có sự hỗ trợ của chính sách quốc gia và các hoạt động có liên quan. Khả năng sáng tạo

11


của doanh nghiệp là phần quan trọng nhất của năng lực sáng tạo quốc gia. Do đó, Nhà nước cần
đẩy mạnh thành lập và phát triển có hiệu quả các cơ chế hỗ trợ đa dạng như: hỗ trợ tài chính
(đồng tài trợ); hỗ trợ chuyên môn, tư vấn; xác định các đối tác thích hợp cho quá trình R&D,
chuyển giao công nghệ...Xác định vai trò nhà nước chỉ mang tính hỗ trợ, tạo điều kiện, xúc tác,
tránh kiểm soát dễ làm kìm hãm, bóp nghẹt sáng tạo. Nhà nước cần có chính sách ưu đãi đặc
biệt để đẩy nhanh sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Đồng thời chỉ nên thực hiện sự bảo hộ và ưu đãi đối với những ngành, bộ phận giá trị trong
những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, nhưng sự bảo hộ, ưu đãi chỉ mang tính tạm thời, có
chọn lọc gắn với lộ trình hội nhập; hoàn thiện chính sách bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí
tuệ; cần đẩy mạnh đầu tư ưu tiên phát triển hai trung tâm quốc gia về công nghệ cao ở Hà Nội
và TP.Hồ Chí Minh, hướng nó trở thành hình mẫu, đầu tàu phát triển khoa học, công nghệ của
cả nước.
4.2. Đổi mới công nghệ.
Trong sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, công nghệ cao luôn được coi là chìa
khóa thành công. Đổi mới công nghệ là nguồn gốc của sự phát triển doanh nghiệp, nâng sức
cạnh tranh cơ bản và qua đó tạo ra một lợi thế thị trường. Vì, đổi mới công nghệ mới nhanh
chóng tạo ra lực lượng sản xuất mới, các loại công nghệ mới sẽ tạo ra liên tiếp các dòng sản
phẩm mới, các ngành công nghiệp mới xuất hiện và phát triển để dẫn dắt sự phát các ngành
triển kinh tế mới và nâng cấp các ngành công nghiệp truyền thống, thúc đẩy thay đổi cơ cấu
công nghiệp, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và quá trình toàn cầu hóa. Do vậy, đổi mới
công nghệ cần thực hiện hướng vào cả hai phương diện: thứ nhất, triển khai hoạt động đổi mới
cấu thành của công nghệ; thứ hai, thực hiện bố trí lực lượng công nghệ trong hoạt động sáng
tạo. Các doanh nghiệp nên ý thức rõ: 1. Doanh nghiệp là trụ cột của đổi mới công nghệ; 2. Đổi
mới công nghệ là một sáng tạo mới, giới thiệu công nghệ mới; 3. Có sự đổi mới kỹ thuật "phần
cứng", và cả sự đổi mới của các "phần mềm"; 4. kết quả của đổi mới công nghệ là để tăng hiệu
quả hoặc tăng thị phần.
4.3. Đổi mới tổ chức, thể chế quản lý của doanh nghiệp.
Trong xã hội không có phương pháp quản lý nào tốt nhất mang tính “nhất thành bất
biến”, mà nó luôn thường xuyên thay đổi, nhất là trong quản lý kinh doanh. Các doanh nghiệp
Việt Nam cần thực hiện trên cả ba phương diện: Thứ nhất, đổi mới cơ cấu tổ chức, như tái phân
chia hoặc hợp nhất các bộ phận, chuyển đổi quá trình tổ chức, thay đổi vị trí và trách nhiệm
công việc, điều chỉnh phạm vi quản lý...Ví dụ như kinh nghiệm của Viettel quy định mỗi người
phải được luân chuyển ngang – lên – xuống, không được ở vị trí công tác quá ba năm-(12). Thứ
(12)

Minh Tuấn, 2012, Thành công nhờ năng động sáng tạo, Tạp chí Xây dựng Đảng số 1+2, p.52)

12


hai, đổi mới tổ chức, thể chế hướng về con người, qua đó làm thay đổi nhận thức và thái độ của
nhân viên, hành vi cá nhân và hành vi của toàn bộ nhóm... Thứ ba, xác định cơ chế, nhiệm vụ
trọng điểm đổi mới, để đạt mục đích là tập hợp, phân phối và cập nhật tri thức, thông tin, công
nghệ, ...
4.4. Đổi mới marketing.
Sự sáng tạo trong marketing của doanh nghiệp là sự đổi mới chiến lược các dịch vụ liên
quan đến tiếp thị doanh nghiệp, như các kênh, phương pháp thu thập thông tin; chiến lược sản
phẩm, thương hiệu; và nhu cầu dịch vụ tiên tiến khác. Dựa theo chiến lược của doanh nghiệp,
doanh nghiệp cần đổi mới tiếp thị bắt đầu từ khả năng điều khiển nâng cao mục tiêu của thị
trường, giúp các doanh nghiệp thiết kế để xây dựng mô hình kinh doanh mới, thiết lập một ý
thức đổi mới, mà nay còn gọi là văn hóa của ý thức sáng tạo. Trong đó ước vọng và ý tưởng là
điểm khởi đầu và sức mạnh vốn có của hoạt động đổi mới tiếp thị sáng tạo(13). Các doanh
nghiệp nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam đang thiếu hay bỏ vấn đề này. Vì
tiếp thị thường đi đầu trong việc giới thiệu các sản phẩm hoặc dịch vụ mới, qua đó cơ hội nắm
bắt thị trường tốt hơn, do đó doanh nghiệp cần thể chế hóa sự đổi mới tiếp thị. Các biện pháp
như: nâng cao trình độ của quá trình quản lý tiếp thị; xây dựng đội ngũ tiêp thị xuất sắc; các kỹ
thuật tiếp thị mới; lập kế hoạch và hoạt động phát triển thị trường mới...Doanh nghiệp cần ý
thức được rằng nhân viên tiếp thị là người có sẵn sự nhạy bén để nhìn rõ thị trường, nhanh
chóng nắm bắt thông tin thị trường, là người khám phá các cơ hội sáng tạo do thị trường đem
lại.
4.5. Xây dựng văn hóa sáng tạo.
Văn hóa sáng tạo của doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự đổi mới
và thay đổi trong nội bộ, trong doanh nghiệp nó "chất keo" tập hợp các thành viên trở thành
khối thống nhất. Văn hóa trợ giúp sáng tạo cần theo định hướng mở chứ không phải là văn hóa
khép kín, nó tạo cho mỗi cá nhân và tập thể sự linh hoạt hơn, thích ứng với sự biến đổi kinh
doanh hơn. Tốt nhất để có thể thúc đẩy văn hóa sáng tạo là tạo dựng môi trường làm việc văn
hóa, xây dựng niềm tin, các chuẩn mực về hành vi ứng xử trong nghiên cứu, kinh doanh; nhấn
mạnh xu hướng việc theo nhóm, lấy khách hàng là trung tâm, đối xử công bằng với người lao
động để kích thích những sáng kiến và các ý tưởng mới. Cần thực hiện trên cả hai mặt: một mặt,
để tạo ra bầu không khí ủng hộ sự sáng tạo trong doanh nghiệp, để định hình một nền văn hóa
của sự đổi mới, để mỗi nhân viên để trở thành một nguồn của sự sáng tạo; mặt khác, thất bại
trong sự sáng tạo nên được xem xét dưới thái độ rộng lượng và khoan dung để nuôi dưỡng văn
(13)

李永鑫, 2010, 提升中小企业营销创新能力的研究, 企业管理, 第 09 期,页 36)

13


hóa sáng tạo. Văn hóa cùng với giáo dục còn nhằm để bảo đảm sự xuất hiện liên tục một dòng
ổn định các tài năng sáng tạo, để phát huy nhân tố con người thực sự là nhân tố "dẫn dắt tương
lai".
4.6. Nâng cao phong cách lãnh đạo và năng lực nhân viên.
Người quản lý, lãnh đạo là “thuyền trưởng”, là người trực tiếp trong việc xác định chiến
lược và tổ chức thực hiện chiến lược. Do vậy hơn bao giờ hết, người lãnh đạo doanh nghiệp
cần coi tư duy sáng tạo là một mục tiêu ưu tiên trong chiến lược kinh doanh. Nhà lãnh đạo hiệu
quả phải là người thường xuyên cung cấp hướng đổi mới, luôn trau dồi tạo cho bản thân khả
năng và tầm nhìn sâu rộng về hướng phát triển lâu dài, thiết lập văn hóa tổ chức và bầu không
khí thuận lợi để đổi mới, nhằm khuyến khích mức độ cao của sáng kiến cá nhân, thực hiện sự
hợp tác có hiệu quả đội ngũ đa chức năng trong công ty.
Quá trình tìm tòi, học hỏi của nhân viên là nền tảng của sự đổi mới trong doanh nghiệp.
Doanh nghiệp phải xây dựng chiến lược thu hút người tài, giữ chân người giỏi, tạo sự cạnh
tranh để sàng lọc, xây dựng chính sách trả lương xứng đáng cho người có năng lực. Ví dụ: việc
thu hút nhân viên giỏi của Tập đoàn Viettel, hiện trả lương cho 25 tiến sỹ được đào tạo tại Mỹ
với mức lương 6000 USD/tháng(14). Cần đưa nhân viên tham gia với mức độ ngày càng sâu
rộng, qua đó nâng cao kỹ năng để tập trung vào trí tưởng tượng, trực giác, để nảy sinh ý tưởng
sáng tạo. Khuyến khích và thúc đẩy cạnh tranh công việc trong môi trường công bằng, để tạo
động lực cho sức sáng tạo, nhà lãnh đạo, quản lý cần phải quyết đoán trong việc cất nhắc, sử
dụng nhân tài đúng người, đúng chỗ.
Kết luận
Chiến lược Phát triển kinh tế, xã hội 2011 - 2020 đã nêu quan điểm “Phát triển bền vững
là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước” và khẳng định giải pháp “Nâng cao
vai trò, trách nhiệm và tăng cường sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp... trong thực hiện
phát triển bền vững”(15). Thực hiện được chiến lược đó, ngoài việc phát huy nỗ lực toàn dân tộc
thì trước hết phải phát triển bền vững hệ thống các doanh nghiệp, trong đó cốt lõi nhất là nâng
cao vai trò của sức sáng tạo. Vì đây là con đường dẫn đến thành công cho doanh nghiệp cũng
như toàn bộ nền kinh tế. Thực tiễn Việt Nam hiện nay đó là con đường để thoát ra khỏi vị thế
kẻ làm thuê gia công, lắp ráp và xuất khẩu thô trong các chuỗi công nghiệp, và để tham gia
ngày càng sâu trong chuỗi giá trị gia tăng của sản phẩm toàn cầu; Là cứu cánh để tồn tại trên
con đường tái cơ cấu kinh tế và tìm kiếm mô hình phát triển. Việt Nam có nguồn nhân lực, một
thị trường nội địa 100 triệu dân, có chỉ số IQ và khả năng sáng tạo được thừa nhận. Vấn đề
(14)

Minh Tuấn, 2012, Thành công nhờ năng động sáng tạo, Tạp chí Xây dựng Đảng số 1+2, p.49
Thủ tướng chính phủ, Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, Quyết định Số:
432/QĐ-TTg ngày 12 tháng 4 năm 2012, trang 1, 13)
(15)

14


khẩn thiết nhất hiện nay là kích hoạt những tiềm lực để tạo bước nhảy vọt, nhanh chóng đưa
chúng trở thành lực lượng sản xuất tiên tiến, nuôi dưỡng và tăng cường sức sáng tạo quốc gia./.

Tài liệu tham khảo:
[1] Đặng Phương Nga, 2012, Để phát triển nguồn nhân lực của các viện nghiên cứu hoạt động theo mô hình doanh nghiệp,
Tạp chí Cộng sản, số 64.
[2] ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011.
Minh Tuấn, 2012, Thành công nhờ năng động sáng tạo, Tạp chí Xây dựng Đảng số 1+2
[3] Thủ tướng Chính phủ, 2012, Phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020, Quyết định
số 418/QĐ-TTg ngày 14 tháng 4 năm 2012.
[4] Thủ tướng Chính phủ, 2012, Quyết định Phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 201 – 2020,
QĐ-TTg ngày 11 tháng 4 năm 2012
[5] Trần Xuân Hoài, 2012, Thứ bậc Việt Nam trên bảng xếp hạng trí tuệ toàn cầu: Báo động đỏ, Bộ Khoa học Công nghệ,
Báo Tia sáng.
[6] 董雪彦-刘力扬, 2011, 项目给力 营销创新, 中国邮政报,第 1585 期.
[7] Professor Winter Nie, 2011, CHINESE INNOVATION Lessons from the East, Innovation management, No.September,
5th.
[8] Phạm Huyền, 2011, kinh tế sáng tạo-Việt Nam có gì? Vef.vn/2011-03-22
[9] 李永鑫, 2010, 提升中小企业营销创新能力的研究, 企业管理, 第 09 期.
[10] 孔样纬-许洪贵, 2009, 论企业创新力, 企业天地, 第 3 期.

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×