Tải bản đầy đủ

NGHIÊN CỨU VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
  

TRẦN NGUYỄN NHƯ ANH

NGHIÊN CỨU
VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
MÃ SỐ: 60310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM KHÁNH NAM


TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015

MỤC LỤC


TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI ........................................................................................................ 1

1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................ 1
1.2. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.................................................................... 2
1.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ........................................................................... 2
1.3.1. Mục tiêu tổng quát ....................................................................... 2
1.3.2. Mục tiêu cụ thể: ........................................................................... 3
1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU .................................................... 3
1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................................... 3
1.6. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI............................................................................... 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ................................................................................................................ 5

2.1 AN TOÀN NGƯỜI BỆNH ............................................................................. 5
2.2. VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH ............................................................ 9
2.3.1 Định nghĩa ..................................................................................... 9
2.3.2 Lược khảo các nghiên cứu về Khảo sát văn hóa an toàn người
bệnh sử dụng bộ câu hỏi HSOPSC ....................................................... 11
2.4. MỐI LIÊN HỆ GIỮA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH VÀ NHỮNG THIỆT HẠI VỀ
NGƯỜI VÀ KINH TẾ DO SAI SÓT Y KHOA VÀ LỖI HỆ THỐNG ...................... 12


CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............................................................................................15

3.1. KHUNG PHÂN TÍCH.................................................................................15
3.2. THANG ĐO NGHIÊN CỨU.........................................................................16
3.3. MÔ HÌNH KIỂM ĐỊNH SỰ KHÁC BIỆT CỦA CÁC THÀNH PHẦN VĂN HÓA AN
TOÀN NGƯỜI BỆNH THEO CÁC ĐẶC ĐIỂM CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP, CHỨC
VỤ, THỜI GIAN CÔNG TÁC TẠI BỆNH VIỆN VÀ THU NHẬP ..........................16
3.4. DỮ LIỆU .........................................................................................................................................21

3.4.1 Các định nghĩa về dữ liệu .............................................................21

3.4.2 Số mẫu ..........................................................................................22
3.4.3 Phương pháp tiến hành ................................................................22
CHƯƠNG 4 : TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH TẠI
BỆNH VIỆN TỪ DŨ ............................................................................................. 24
4.1 Giới thiệu Bệnh viện Từ Dũ................................................................... 24
4.2 HOẠT ĐỘNG AN TOÀN NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ ...................26
CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN .................................................................................31

5.1 MÔ TẢ MẪU: ...........................................................................................31
5.2. ĐÁNH GIÁ THANG ĐO VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH BẰNG PHƯƠNG
PHÁP PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ (EFA) VÀ KIỂM ĐỊNH ĐỘ TIN CẬY
BẰNG PHÉP KIỂM CRONBACH’S ALPHA ....................................................36

5.3 THỐNG KÊ MÔ TẢ XÁC ĐỊNH VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH CỦA BỆNH
VIỆN ..........................................................................................................42

5.4. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỒI QUI .................................................................53
5.5. TÓM TẮT CHƯƠNG 5 ..............................................................................58
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH ........................................................................................60

6.1. TÓM LƯỢC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................60
6.2. CÁC KHÁM PHÁ CHÍNH CỦA NGHIÊN CỨU ..............................................60
6.3. HÀM Ý CHÍNH SÁCH ...............................................................................61
6.4. HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG MỞ RỘNG .................................62


TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Nội dung

AHRQ

Agency for Healthcare Research and Quality

ATNB

An toàn người bệnh

BN

Bệnh nhân

BV

Bệnh viện

DNA

Deoxyribo Nucleic Axit

EFA

Exploratory Factor Analyses

HPV

Human Papilloma Virus

HSOPSC

Hospital Survey on Patient Safety Culture

IOM

Institute of Medicine

ISBAR

Kỹ thuật truyền tải thông tin quan trọng bao gồm
Introduction
Situation
Background
Assessment
Reccomendation

MLR

Multi Linear Regression

MRI

Magnetic Resonance Imaging

SUR

Seemingly Unrelated Regression

SYT

Sở Y Tế

TP. HCM

Thành phố Hồ Chí Minh


1

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.5.1 Tỉ lệ tai biến tại các nước phát triển .............................................................................. 13
Bảng 3.3 Mô tả các biến trong mô hình Hồi qui dường như không liên quan ................................ 18
Bảng 5.1 Số lượng nhân viên theo khối ........................................................................................... 32
Bảng 5.2 Chức danh nghề nghiệp .................................................................................................... 32
Bảng 5.3 Thời gian công tác tại Bệnh viện ...................................................................................... 33
Bảng 5.4 Thời gian công tác tại Khoa/Phhòng ................................................................................ 34
Bảng 5.5 Công việc trực tiếp tiếp xúc với người bệnh..................................................................... 34
Bảng 5.6 Chức vụ tại khoa/phòng .................................................................................................... 31
Bảng 5.7 Thu nhập ........................................................................................................................... 35
Bảng 5.8 Đánh giá thang đo............................................................................................ ...36
Bảng 5.9 Phân độ An toàn người bệnh ............................................................................................ 41
Bảng 5.10 Quan điểm tổng quát về An toàn người bệnh ................................................................ 41
Bảng 5.11 Tần suất ghi nhận sự cố/sai sót/lỗi .................................................................................. 42
Bảng 5.12 Tần suất sự cố/sai sót/lỗi được báo cáo .......................................................................... 43
Bảng 5.13 Quan điểm và hành động về an toàn người bệnh của người quản lý .............................. 44
Bảng 5.14 Tính cải tiến liên tục và học tập một cách hệ thống........................................................ 45
Bảng 5.15 Làm việc theo ê kíp trong Khoa/phòng ......................................................................... 45
Bảng 5.16 Trao đổi cởi mở .............................................................................................................. 46
Bảng 5.17 Phản hồi và trao đổi về sai sót/lỗi ................................................................................... 47
Bảng 5.18 Không trừng phạt khi có sai sót/lỗi…………………………………………….48
Bảng 5.19 Nhân sự ........................................................................................................................... 50
Bảng 5.20 Hỗ trợ về quản lý cho An toàn người bệnh..................................................................... 50
Bảng 5.21 Làm việc theo ê kíp giữa các Khoa/phòng ..................................................................... 51
Bảng 5.22 Bàn giao và chuyển tiếp................................................................................................. 52
Bảng 5.23 Kết quả phân tích hồi qui ................................................................................................ 54


2

DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Khung phân tích ................................................................................................................ 15
Hình 4.1. Sơ đồ hoạt động Ban An toàn người bệnh........................................................................ 28
Hình 5.4 Khung phân tích – Mô hình sau hiệu chỉnh ....................................................................... 53


1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1. Đặt vấn đề
Hàng năm có khoảng 44.000 đến 98.000 trường hợp tử vong và một triệu
thương tổn liên quan đến sai sót y khoa, cao hơn hẳn so với số tử vong do tai nạn
giao thông (43.458), ung thư vú (42.297), và bệnh AIDS (16.516) (IOM, 1999).
Dựa trên các báo cáo thống kê của các nước, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã tổng
kết, trong 10 người bệnh nhập viện thì có một bệnh nhân gặp phải sự cố y khoa, và
trong 300 sự cố có một sự cố đặc biệt nghiêm trọng dẫn đến tử vong (Nieva, 2003).
So sánh với nguy cơ tử vong do tai nạn máy bay thì tỉ lệ chỉ là 1/10.000.000 hành
khách, do vậy người bệnh khi nhập viện phải chấp nhận khả năng rủi ro cao hơn
gấp nhiều lần so với chọn lựa đi lại bằng đường hàng không. Cox (1999) nhận định
“Nằm viện nguy hiểm hơn nhiều so với đi máy bay”.
Bên cạnh đó, hậu quả của các sự cố y khoa không mong muốn làm cho người
bệnh phải nằm viện kéo dài và tăng phí tổn điều trị như ở Anh tổn thất 800.000.000
bảng Anh hàng năm; Mỹ 19,5 tỷ USD/năm và Châu Âu từ 13 đến 24 tỷ Euro/năm
(Famolaro, 2012). Tình hình này tại các nước đang phát triển thì sao? Dù chưa có
những dữ liệu thống kê công bố nhưng dựa trên những khó khăn về hạ tầng, trang
thiết bị, nhân lực, hoặc chất lượng thuốc. Tổ chức Y tế thế giới cũng dự báo chắc
chắn rằng chúng ta không tránh khỏi những con số biết nói nêu trên, thậm chí là có
thể tỉ lệ này cao hơn hẳn. Tuy nhiên, qua việc tổng hợp dữ liệu từ các công trình
nghiên cứu về sai sót – sự cố y khoa, cũng như tai biến điều trị tại các bệnh viện
thuộc các nước phát triển cho thấy tỉ lệ tai biến điều trị tính trên tổng số bệnh nhân
nhập viện dao động từ 3,2 đến 16,6

trong đó hơn 50

các sự cố là có thể ngăn

ngừa được.
Trước tình hình đó, WHO (2001) đã đưa ra quan điểm an toàn người bệnh
nhằm phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hại cho người bệnh trong quá trình
điều trị và chăm sóc. Họ cũng đưa ra các khuyến cáo cũng như các giải pháp an
toàn người bệnh nhưng các giải pháp này vẫn chưa mang lại hiệu quả mong muốn.


2

Thách thức lớn nhất để hướng đến một hệ thống y tế an toàn chính là sự thay
đổi từ nền văn hóa trừng phạt cá nhân phạm lỗi thành nền văn hóa an toàn; trong đó
lỗi không được xem là thất bại của cá nhân mà là cơ hội để cải tiến hệ thống và
phòng ngừa hậu quả (IOM, 1999). Văn hóa an toàn của một tổ chức là sản phẩm giá
trị của cá nhân và nhóm – là thái độ, nhận thức, năng lực, và hành vi quyết định sự
cam kết, định hình phong cách và trình độ quản lý tổ chức y tế. Tổ chức nào có nền
văn hóa an toàn thì ở đó thông tin liên lạc được xây dựng trên sự tin tưởng, mọi
người nhận thức về tầm quan trọng của an toàn, và độ tin cậy tính hiệu quả của các
biện pháp phòng ngừa (AHRQ, 2004). Do vậy, việc thiết lập văn hóa an toàn người
bệnh trong thực hành y khoa được xem là bước ngoặc quan trọng trong cải thiện
môi trường chuyên môn và nâng cao chất lượng chăm sóc điều trị.
Vậy liệu tại Bệnh viện Từ Dũ là bệnh viện chuyên khoa hạng nhất trực
thuộc Sở Y Tế Thành phố Hồ Chí Minh, được Bộ Y Tế giao trọng trách chỉ đạo
tuyến cho 32 tỉnh và thành phố phía Nam, với lịch sử hơn 90 năm xây dựng và phát
triển với qui mô 1.700 giường, hơn 2.400 nhân viên thì văn hóa an toàn người bệnh
đã được thực hiện như thế nào? Yếu tố nào tác động đến văn hóa an toàn người
bệnh để từ đó có cơ sở đề xuất giải pháp cải tiến. Xuất phát từ nhu cầu này, tác giả
tiến hành nghiên cứu “Văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Từ Dũ”.

1.2. Tính cấp thiết của đề tài
Đề tài sẽ phác thảo bức tranh toàn cảnh về văn hóa an toàn người bệnh tại
Bệnh viện, và lý giải các yếu tố tác động đến văn hóa an toàn người bệnh nhằm
giúp nâng cao văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế công tác tại Bệnh viện
Từ Dũ.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1. Mục tiêu tổng quát
Phân tích văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Từ Dũ từ tháng 10/2014
đến tháng 3/2015.


3

1.3.2. Mục tiêu cụ thể:
Mục tiêu cụ thểt thứ nhất là đánh giá văn hóa an toàn người bệnh bằng bộ
câu hỏi khảo sát văn hóa an toàn người bệnh với phiên bản dùng tại bệnh viện có
tên là Hospital Survey on Patient Safety Culture (HSOPSC) của Cơ quan chất lượng
và nghiên cứu sức khỏe Hoa Kỳ (AHRQ) tại bệnh viện Từ Dũ.
Mục tiêu cụ thể thứ hai là kiểm định sự khác biệt về văn hóa an toàn người
bệnh tại Bệnh viện Từ Dũ theo các yếu tố chức danh nghề nghiệp, chức vụ, thâm
niên công tác tại Bệnh viện và mức thu nhập của nhân viên bệnh viện gồm Bác sĩ,
nữ hộ sinh/điều dưỡng, dược sĩ, kỹ thuật viên, hộ lý, hoặc nhân viên hành chính.

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng khảo sát là nhân viên đang công tác tại Bệnh viện Từ Dũ từ 6
tháng trở lên và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu khảo sát
12 thành phần văn hóa an toàn người bệnh. Dữ liệu nghiên cứu lấy từ bản câu hỏi
được khảo sát trực tiếp từ nhân viên bệnh viện.
Thời gian nghiên cứu từ 10/2014 đến 03/2015.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng qua kết quả khảo sát
2.118 nhân viên bệnh viện bằng cách phỏng vấn bộ câu hỏi HSOPSC. Phương pháp
thống kê mô tả nhằm xác định thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện
Từ Dũ, từ đó làm nền tảng giúp hỗ trợ cho kết quả của phương pháp định lượng.
Qua đó tác giả xây dựng hàm hồi qui dường như không liên quan (Seemingly
Unrelated Regression – SUR) với biến phụ thuộc là văn hóa an toàn người bệnh, các
biến độc lập (biến giải thích) là các yếu tố chức danh nghề nghiệp, chức vụ, thời
gian công tác tại bệnh viện và mức thu nhập. Tác giả sử dụng phương pháp phân
tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analyses - EFA) và phép kiểm
Cronbach’s Alpha để kiểm định giá trị, độ tin cậy của bộ câu hỏi, và xây dựng biến
số văn hóa an toàn người bệnh; phân tích số liệu với phần mềm xử lý thống kê
Stata12.


4

1.6. Kết cấu của đề tài
Đề tài nghiên cứu được tác giả trình bày gồm 6 chương. Chương 1 trình bày
tổng quan về đề tài. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết. Chương 3 trình bày về
phương pháp nghiên cứu. Chương 4 tổng quan về văn hóa An toàn người bệnh tại
Bệnh viện Từ Dũ. Chương 5 trình bày về kết quả nghiên cứu và bàn luận. Cuối
cùng là Chương 6 trình bày kết luận nghiên cứu, đề xuất giải pháp, hướng mở rộng
nghiên cứu và những hạn chế của đề tài.


5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này, tác giả trình bày các khái niệm về an toàn người bệnh, văn hóa
an toàn người bệnh, và tầm quan trọng của an toàn người bệnh với những mối liên
hệ mật thiết với con người và hệ thống. Phần lược khảo các nghiên cứu liên quan sẽ
được trình bày lồng ghép vào các phần trên.
2.1. An toàn người bệnh
Tai biến (Adverse event) là sự cố gây nguy hại cho bệnh nhân ngoài ý muốn,
xảy ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh chứ không phải do
bệnh lý hoặc cơ địa bệnh nhân gây ra. Tai biến điều trị được phân thành 3 mức độ
như sau: thứ nhất là nhóm tai biến nặng đòi hỏi người bệnh phải được cấp cứu hoặc
phải can thiệp sâu về điều trị nội khoa/ngoại khoa, gây mất chức năng vĩnh viễn
hoặc gây tử vong cho người bệnh; thứ hai là nhóm tai biến trung bình đòi hỏi can
thiệp điều trị, kéo dài thời gian nằm viện, và ảnh hưởng đến chức năng lâu dài, và
cuối cùng là nhóm tai biến nhẹ, người bệnh tự hồi phục, chỉ cần điều trị tối thiểu
hoặc không cần điều trị.
Sự cố suýt xảy ra (Near miss) là sự cố có khả năng gây nguy hại cho người
bệnh nhưng đã không xảy ra do may mắn có hành động sữa chữa hoặc can thiệp kịp
thời. Sai sót là thất bại trong việc thực hiện một hành động đã được lập kế hoạch dự
kiến hoặc áp dụng kế hoạch sai hay có sự khác biệt giữa những gì làm được trong
thực tế và những gì lẽ ra phải ra làm được (Runciman B, 2007). Sai sót cũng được
phân loại như sau, bao gồm sai sót chủ động (active error) là sai sót xảy ra trong quá
trình trực tiếp chăm sóc bệnh nhân; sai sót tiềm ẩn (latent error) liên quan đến các
yếu tố của môi trường chăm sóc tạo điều kiện thuận lợi cho sai sót chủ động dễ xảy
ra.
Sức khỏe là trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không
chỉ là không mắc bệnh hoặc ốm yếu. Chăm sóc sức khỏe là các dịch vụ mà cá nhân
và cộng đồng nhận được để nâng cao, duy trì, giám sát hoặc phục hồi sức khỏe.


6

An toàn người bệnh là sự phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hại cho
người bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc (WHO, 2001). An toàn người bệnh
là một chuyên ngành trong lĩnh vực y tế, áp dụng các phương pháp an toàn nhằm
hướng đến mục đích xây dựng một hệ thống cung ứng dịch vụ y tế đáng tin cậy
(AHRQ, 2004). An toàn người bệnh còn là một thuộc tính của ngành y tế, nó tối
thiểu hóa các sự cố và tối đa hóa sự phục hồi từ các sự cố. An toàn người bệnh ngày
nay được xem là một môn học trong khoa học quản lý bao gồm các nguyên lý chính
về an toàn người bệnh như sau, cách tiếp cận hệ thống, văn hóa không buộc tội, tư
duy yếu tố con người vào môi trường làm việc tạo nên một hệ thống khó mắc lỗi và
văn hóa an toàn người bệnh.
Nguyên lý tiếp cận hệ thống, hệ thống là một thuật ngữ được dùng để mô tả
bất kỳ tập hợp nào gồm hai hoặc nhiều thành phần tương tác với nhau, hoặc “một
nhóm sự vật/thành phần độc lập tạo thành một thể thống nhất (WHO, 2011). Công
tác chăm sóc sức khỏe là một hệ thống phức tạp, vì chăm sóc y tế hiếm khi do một
cá nhân thực hiện mà nó phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhân viên y tế (Washington,
2005). Chăm sóc người bệnh an toàn và hiệu quả phụ thuộc không chỉ vào kiến
thức, kỹ năng và hành vi của các nhân viên y tế trực tiếp điều trị cho bệnh nhân, mà
cả vào cách thức các nhân viên đó hợp tác và liên lạc với nhau trong môi trường
làm việc. Nói cách khác, bệnh nhân phụ thuộc vào việc nhiều người làm đúng việc
và đúng thời điểm. Tức là họ phụ thuộc vào hệ thống chăm sóc.
Không những vậy, chăm sóc y tế còn là hoạt động rất phức tạp do sự đa
dạng của các nhiệm vụ liên quan đến cung ứng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân,
sự đa dạng về bệnh nhân, bác sĩ, nữ hộ sinh, điều dưỡng và các nhân viên khác; rồi
còn vô số các mối quan hệ giữa bệnh nhân, thân nhân người bệnh, nhân viên y tế,
các nhà quản lý, và cộng đồng; cũng như những khác biệt trong cách bố trí các
khoa/phòng, hay tạo dựng các qui định chồng chéo, không thống nhất hoặc không
có qui định cũng tạo nên vô số rắc rối, phức tạp trong vận hành hệ thống... Hay như
chưa kể đến một hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị, vật tư tiêu hao, công nghệ
kỹ thuật mới đa dạng và phức tạp. Điều đó cũng tạo nên nhiều cơ hội mắc lỗi và
nhiều sai sót hơn (Runciman, 2007). Do vậy, tất cả nhân viên trong cơ sở y tế cần


7

hiểu bản chất phức tạp trong hệ thống y tế để tránh đổ lỗi cho những cá nhân trực
tiếp liên quan đến tai biến, sự cố, sai sót mà không nhận ra rằng luôn có nhiều yếu
tố khác góp phần và qua đó giúp phân tích, đề xuất giải pháp phòng ngừa biến cố
bất lợi tránh lặp lại lỗi tương tự về sau.
Tóm lại, cách tiếp cận hệ thống buộc chúng ta phải từ bỏ văn hóa đổ lỗi,
buộc tội để hướng tới cách tiếp cận hệ thống. Ví như khi phân tích nguyên nhân của
tai biến điều trị đòi hỏi phải đi tìm các sai sót của cả một hệ thống chứ không chỉ
dừng ở sai sót cá nhân hay nói cách khác là phải tìm cho ra những lỗi tiềm ẩn trong
hệ thống bên cạnh lỗi chủ động đã được phát hiện.
Văn hóa buộc tội là cách tiếp cận truyền thống khi có sự cố, tai biến, sai sót
xảy ra. Văn hóa đổ lỗi, văn hóa buộc tội là một cách tiếp cận con người rất mạnh
mẽ và cũng rất tự nhiên (Reason, 1990). Mỗi khi xảy ra tai biến, câu hỏi đầu tiên
thường gặp là “Ai? Ai làm sai?” (Who’s wrong ?), và thường có khuynh hướng qui
trách nhiệm liên quan đến cá nhân, người trực tiếp chăm sóc người bệnh ở thời
điểm gây ra tai biến. Với cách tiếp cận này, thường sẽ tạo ra tâm lý che giấu sai sót
và ngại báo cáo. Hậu quả là các sai sót có thể lặp đi lặp lại ở các cá nhân khác hoặc
ở khoa khác do bệnh viện không biết và đương nhiên chưa có giải pháp chủ động
phòng ngừa. Bên cạnh đó, xét đến khía cạnh tâm lý của cá nhân liên quan, dù người
bị quy trách nhiệm có vai trò gì trong quá trình dẫn đến sự cố đi chăng nữa, có rất ít
khả năng là hành động của người đó là cố ý gây tổn hại người bệnh mà phần lớn họ
thường rất buồn vì nghĩ rằng hành động của họ hoặc việc họ không hành động đã có
thể góp phần gây ra sự cố. Và điều họ không cần đến nhất là bị trừng phạt.
Theo cách tiếp cận hệ thống nêu trên, để có thể nhận diện hết những sai sót
liên quan đến tai biến bao gồm sai sót chủ động và sai sót tiềm ẩn, tốt nhất tìm hiểu
xem chuyện gì đã xảy ra và vì sao lại xảy ra? Giúp nhận diện những nguyên nhân
hoặc yếu tố có liên quan, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục. Với cách tiếp cận
như vậy, không những làm giảm sự e ngại khi báo cáo sai sót mà còn giúp bệnh
viện chủ động phòng ngừa các sai sót lặp đi lặp lại.


8

Yếu tố con người trong văn hóa an toàn người bệnh. Ủy ban về an toàn và
chất lượng chăm sóc sức khoẻ của Úc (2005), yếu tố con người công nhận bản chất
của con người là có thể mắc sai lầm. Ngành hàng không là một ví dụ tốt về ngành
công nghiệp đã ứng dụng nghiên cứu về yếu tố con người như một cách tiếp cận để
nâng cao an toàn. Từ giữa thập niên 1980, ngành hàng không đã chấp nhận khả
năng phạm lỗi của con người là điều không thể tránh khỏi và thay vì đòi hỏi con
người phải luôn hoàn thiện, và có biện pháp trừng phạt sai sót một cách công khai,
thì ngành công nghiệp này đã thiết kế các hệ thống để giảm thiểu tác động của sai
sót do con người gây ra. Kỷ lục về an toàn của ngành hàng không ngày nay là minh
chứng cho cách tiếp cận đó, mặc dù mỗi năm trung bình có 10 triệu lượt máy bay
cất cánh và hạ cánh, nhưng từ năm 1965 đến nay trên toàn thế giới mỗi năm trung
bình chỉ xảy ra chưa đến 10 vụ máy bay rơi và thường xảy ra ở các nước đang phát
triển theo một báo cáo của Hiệp hội An toàn và chất lượng cơ sở y tế của Úc (2006).
Hoạt động chăm sóc y tế cũng phải học hỏi kinh nghiệm từ các ngành công
nghiệp khác vì con người không phải là những cỗ máy, con người dễ bị mất tập
trung. Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh có mối liên quan mạnh mẽ giữa sự mệt
mỏi và áp lực với mức độ thực hiện công việc kém của con người, một yếu tố nguy
cơ trong an toàn người bệnh (Pilcher, 1996; Weinger, 2002; Flin, 2008). Cũng như
làm việc kéo dài nhiều giờ liền có ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng hoạt động của
con người tương đương như tác động của nồng độ cồn trong máu 0,05 mmol/l, là
mức qui định không được phép lái xe ở nhiều nước (Dawson, 1997).
Chúng ta không thể loại bỏ bản chất có thể mắc lỗi của con người (Kohn,
1999), song chúng ta có thể hành động để giảm bớt và hạn chế nguy cơ. Điều quan
trọng đối với tất cả nhân viên y tế là phải nhận diện được các tình huống làm tăng
khả năng xảy ra sai sót (Vincent, 2001). Vì vậy, việc tạo dựng môi trường làm việc,
một hệ thống khó mắc lỗi giúp hạn chế khả năng gây sai sót của con người như sau.
Tạo dựng môi trường làm việc tránh dựa vào trí nhớ như xây dựng phần mềm kê
toa điện tử hoặc hình ảnh/sơ đồ hóa các bước trong qui trình; giúp làm mọi việc trở
nên rõ ràng hơn như sử dụng hình vẽ và hướng dẫn về các bước vận hành trang
thiết bị; hay như đơn giản hóa các bước trong qui trình, càng đơn giản càng tốt, vì


9

quá phức tạp là công thức cho sai sót xảy ra. Ví dụ giới hạn các loại thuốc sẵn có để
kê đơn; hay giới hạn số liều của các loại thuốc sẵn có; và giữ bản kiểm kê các loại
thuốc thường được dùng cho bệnh nhân hay như đơn giản hóa qui trình thông tin
liên lạc bằng cách nhắc lại hai lần, hoặc ISBAR (Vlayen, 2012). Chuẩn hoá các qui
trình và thủ tục, vì tại bệnh viện hoặc tại các cơ sở y tế rất dễ dàng quan sát thấy
mỗi Khoa/phòng, mỗi nhân viên thực hiện cùng một công việc với những cách khác
nhau. Điều đó có nghĩa là họ phải học lại cách thực hiện công việc mỗi khi chuyển
sang một lĩnh vực mới. Với phương pháp làm việc tiêu chuẩn hóa các qui trình và
thủ tục sẽ giúp nhân viên đỡ phải dựa vào trí nhớ, hạn chế sai sót, sự cố và giúp
tăng hiệu suất làm việc và tiết kiệm thời gian. Sử dụng bảng kiểm, một công cụ đơn
giản nhưng hiệu quả nếu được tuân thủ nghiêm túc, ví như bảng kiểm an toàn phẫu
thuật của Tổ chức Y tế thế giới (Eiras, 2014). Và hạn chế phụ thuộc vào khả năng
tập trung của con người vì họ dễ bị mất tập trung và cảm thấy chán khi họ tham gia
những hoạt động kéo dài và lặp đi lặp lại.

2.2. Văn hóa An toàn người bệnh
2.2.1 Định nghĩa
Hiệp hội An toàn người bệnh quốc gia tại Mỹ (2001), văn hóa an toàn người
bệnh là văn hóa thể hiện năm thuộc tính ở mức cao mà nhân viên y tế nỗ lực đưa
vào thao tác thông qua việc triển khai thực hiện các hệ thống quản lý an toàn mạnh
mẽ; (1) văn hóa trong đó mọi nhân viên y tế (gồm những người trực tiếp điều trị cho
người bệnh, và cán bộ quản lý điều hành) đứng ra chịu trách nhiệm về an toàn của
bản thân, của đồng nghiệp, bệnh nhân, thân nhân người bệnh và khách đến thăm;
(2) văn hóa ưu tiên đặt an toàn lên trước mục tiêu về tài chính và tổ chức; (3) văn
hóa khuyến khích và khen thưởng nỗ lực phát hiện, thông báo và giải quyết các vấn
đề an toàn; (4) văn hóa trong đó tổ chức có cơ hội rút kinh nghiệm từ sự cố/tai biến;
(5) văn hóa cung cấp nguồn lực, cơ cấu và trách nhiệm giải trình phù hợp để duy trì
hiệu quả các hệ thống đảm bảo an toàn.


10

Một tổ chức được xem là có văn hoá an toàn khi mỗi thành viên của tổ chức
đó, bất chấp ở cương vị nào, đều thể hiện vai trò chủ động trong phòng ngừa sai sót,
và vai trò của từng cá nhân nhân này được sự hỗ trợ của tổ chức (AHRQ, 2004).
Nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh, các tác giả đã đút kết bảy yếu tố cấu
thành văn hóa an toàn người bệnh trong bệnh viện, (1) Lãnh đạo xem an toàn người
bệnh là ưu tiên hàng đầu trong mọi hoạt động của bệnh viện, (2) các hoạt động
trong bệnh viện được tổ chức làm việc theo đội/nhóm một cách hiệu quả, (3) thực
hành dựa vào chứng cớ như phác đồ điều trị của bệnh viện phải dựa trên cơ sở y
học chứng cớ, và thực hành lâm sàng tuân thủ phác đồ điều trị, (4) mọi người được
quyền nói và chỉ ra những nguy cơ, sai sót trong khoa mình, được tham gia sáng
kiến cải tiến về an toàn người bệnh, (5) cách thức bệnh viện tổ chức học hỏi từ sai
sót, và cải tiến từ sai sót; (6) đảm bảo công bằng, xem xét lỗi hệ thống trước khi kết
luận lỗi cá nhân và nguyên tắc thứ 7 rất quan trọng và xuyên suốt hoạt động công
tác của bất cứ một tổ chức y tế nào chính là “lấy người bệnh làm trung tâm”.
Cơ quan chất lượng và nghiên cứu sức khỏe Hoa Kỳ đã xây dựng bộ công cụ
khảo sát văn hóa an toàn người bệnh trong các môi trường khác nhau, trong đó
phiên bản dùng tại bệnh viện có tên là Hospital Survey on Patient Safety Culture
(HSOPSC). Hiện bộ câu hỏi đã được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu và được
chứng minh là có giá trị trong phản ánh văn hóa an toàn người bệnh (Singer, 2007).
Ngoài ra, thông qua việc lượng giá, bộ câu hỏi khảo sát văn hóa an toàn người bệnh
(HSOPSC) còn được xem là công cụ có tính can thiệp lên hệ thống để cải thiện tình
trạng văn hóa an toàn người bệnh (Jones, 2008; Adams, 2008). Mục đích của khảo
sát nhằm cung cấp một chỉ số hữu hình về thực trạng hoạt động an toàn người bệnh
của từng bệnh viện, từ đó làm cơ sở chính để tiến hành đánh giá hiệu quả của những
cải tiến trong hoạt động an toàn người bệnh.
Bộ câu hỏi khảo sát văn hóa an toàn người bệnh dùng cho bệnh viện của cơ
quan chất lượng và nghiên cứu sức khỏe Hoa Kỳ bao gồm 42 câu hỏi, đánh giá 12
lĩnh vực như sau, (1) Làm việc theo ê kíp trong cùng một Khoa/phòng, (2) Quan
điểm và hành động về an toàn người bệnh của người quản lý, (3) Tính cải tiến liên
tục và học tập một cách hệ thống, (4) Hỗ trợ về quản lý cho an toàn người bệnh, (5)


11

Quan điểm tổng quát về an toàn người bệnh, (6) Phản hồi và trao đổi về sai sót/lỗi,
(7) Trao đổi cởi mở, (8) Tần suất ghi nhận sự cố/sai sót/lỗi, (9) Làm việc theo ê kíp
giữa các Khoa/phòng, (10) Nhân sự, (11) Bàn giao và chuyển tiếp, và cuối cùng là
Không trừng phạt khi có sai sót/lỗi.
2.2.2 Lược khảo các nghiên cứu về Khảo sát văn hóa an toàn người bệnh
sử dụng bộ câu hỏi HSOPSC
Bộ câu hỏi khảo sát văn hóa an toàn người bệnh được dịch thành 16 thứ tiếng
và được nhiều nơi trên thế giới áp dụng (Nie, 2013; Occelli, 2013; Brborovic, 2014;
Reis, 2012; Gama, 2013). Tại Bỉ một cuộc khảo sát 3.940 nhân viên y tế, kết quả
cho thấy phần nội dung thấp điểm nhất thuộc về các nhóm sự hỗ trợ của lãnh đạo
(35 ), văn hóa không trừng phạt (36 ), chuyển bệnh và bàn giao trong tổ chức
(36 ) và làm việc nhóm giữa các đơn vị trong tổ chức (40 ) (Vlayen, 2012). Một
khảo sát tương tự tại 13 bệnh viện đa khoa của thành phố Riyadh - Ả rập Saudi, kết
quả lại thấy các vấn đề nổi bật cần phải cải tiến vẫn là báo cáo sự cố, văn hóa không
trừng phạt, nhân sự và làm việc nhóm giữa các đơn vị trong tổ chức (Najjar, 2013).
Khảo sát tại Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy vấn đề an toàn người bệnh được đánh giá cao
nhất là làm việc nhóm trong từng đơn vị, trong khi đó vấn đề cấp bách cần phải cải
tiến là báo cáo sự cố (15 ) (Van Vegten, 2011). Một nghiên cứu khác tại Đài Loan
cho thấy phản ứng tích cực nhất trong nhóm - làm việc theo nhóm trong các đơn vị,
vấn đề có phản ứng tích cực thấp nhất là vấn đề về nguồn nhân lực. Tiếp đến, một
điều tra với qui mô 68 bệnh viện với 6.807 nhân viên tại Li Băng cho thấy lĩnh vực
được đánh giá tích cực nhất là làm việc theo đội nhóm trong từng đơn vị, sự hỗ trợ
của lãnh đạo trong cải tiến chất lượng, trong khi các lĩnh vực nhân sự và văn hóa
không trừng phạt được đánh giá tích cực thấp (Robida, 2013). Và các nghiên cứu
khác tại các quốc gia Châu Âu như Hà Lan, Tây Ban Nha và Nhật đều cho thấy cần
cải thiện làm việc đội nhóm của các đơn vị trong tổ chức, học hỏi từ sai sót và văn
hóa không trừng phạt (Ito, 2011).
Tại Việt Nam, Bệnh viện Nhi đồng 1 Thành phố Hồ Chí Minh khảo sát thực
trạng và văn hóa an toàn người bệnh trong phạm vi toàn bệnh viện và tại các khoa


12

theo 12 lĩnh vực liên quan đến chăm sóc người bệnh, tỉ lệ trả lời tích cực cao tập
trung ở các lĩnh vực làm việc nhóm trong khoa, hỗ trợ của bệnh viện trong việc
khuyến khích an toàn người bệnh, thông tin phản hồi và học tập cải tiến liên quan
đến an toàn người bệnh. Trong khi đó, có nhiều phản hồi không tích cực ở các lĩnh
vực như sự phối hợp giữa các khoa/phòng, phối hợp giữa các khoa trong bàn giao
chuyển bệnh, thiếu nhân sự, cởi mở trong thông tin về sai sót, tần suất báo cáo sự cố
và nhất là “hành xử không buộc tội khi có sai sót”.
2.3. Mối liên hệ giữa An toàn người bệnh và những thiệt hại về người và
kinh tế do sai sót y khoa và lỗi hệ thống
Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay trong công tác chăm sóc sức
khỏe là làm sao để công tác này an toàn hơn nữa trong môi trường y tế vô cùng
phức tạp, đầy áp lực và thay đổi nhanh chóng (WHO, 2001). Thách thức này được
minh chứng một cách rõ nét từ cuối thập niên 1990, từ hai bản Báo cáo có tầm ảnh
hưởng lớn - Nhân vô thập toàn, do Viện Y khoa Mỹ xuất bản năm 1999 và Một tổ
chức của chính phủ Vương quốc Anh công bố năm 2000. Cả hai Báo cáo đều thừa
nhận sai sót là chuyện thường gặp trong quá trình cung cấp dịch vụ chăm sóc sức
khỏe và xảy ra đối với khoảng 10% trường hợp nhập viện điều trị. Trong một số
trường hợp, tác hại của sai sót rất nghiêm trọng, thậm chí làm chết người. An toàn
người bệnh trở thành một quan ngại ở tất cả các nước phát triển cũng như không
phát triển.
Từ đó mở ra nhiều nghiên cứu xem xét số liệu về kết quả điều trị bệnh nhân
cho thấy có nhiều biến cố bất lợi có thể ngăn ngừa được (Dubois, 1988; Bedell,
1991; Leape, 1993). Trong một nghiên cứu của Leape và cộng sự (1993) đã thực
hiện, ghi nhận hơn 2/3 số biến cố bất lợi trong số mẫu mà họ thu thập được có thể
ngăn ngừa được, 28

trong số đó là do sự xao lãng của nhân viên y tế và 42

do

các yếu tố khác. Họ kết luận rằng nhiều bệnh nhân bị thương do hậu quả của quản
lý y khoa yếu kém và chăm sóc không đến nơi đến chốn. Ngoài ra, một nghiên cứu
khác của Bates và cộng sự (1995) cho thấy các sự cố bất lợi liên quan đến dược
cũng rất phổ biến và sự cố bất lợi nghiêm trọng liên quan đến thuốc cũng có thể


13

ngăn ngừa được. Họ còn thấy rằng trong 100 bệnh nhân nhập viện tại các bệnh viện
thực hành lớn ở Mỹ có khoảng 6,5 bệnh nhân được cho sử dụng các loại thuốc gây
hại. Không dừng lại ở đó, nhiều nghiên cứu khẳng định sai sót y khoa là chuyện
thường nhật trong hệ thống y tế, và chi phí liên quan đến sai sót y khoa là rất lớn. Ở
Úc, 18.000 trường hợp tử vong và hơn 50.000 bệnh nhân bị tàn tật do sai sót y khoa
(Weingart, 2000). Tại Mỹ, ước tính mỗi năm có khoảng 44.000 đến 98.000 bệnh
nhân chết, và hơn một triệu người bị tàn tật do sai sót y khoa (Kohn, 1999).
Một số công bố các nghiên cứu quốc tế được liệt kê trong bảng dưới đây cho
thấy những con số choáng ngợp về số ca tai biến điều trị, với tỉ lệ dao động trong
khoảng 3,2

đến 16,6

(Runciman, 2007).

Nghiên cứu

Năm

Số ca
nhập viện

Số tai
biến

Tỉ lệ tai
biến (%)

Mỹ (New York) (Nghiên cứu
thực hành y khoa - Harvard)

1984

30.195

1.133

3,8

Mỹ (Utah-Colorado) (UTCOS)

1992

14.565

475

3,2

Mỹ (UTCOS)

1992

14.565

787

5,4

Úc (QAHCS)

1992

14.179

2.353

16,6

Úc (QAHCS)

1992

14.179

1.499

10,6

1999 - 2000

1.014

119

11,7

Đan Mạch

1998

1.097

176

9,0

New Zealand

1998

6.579

849

12,9

Canada

2001

3.720

279

7,5

Anh

Bàng 2.5.1 Tỉ lệ tai biến tại các nước phát triển
Qua việc hồi cứu 15.548 hồ sơ của 26 bệnh viện thuộc 8 nước Châu Phi
(Egypt, Jordan, Kenya, Morocco, Tunisia, Sudan, South Africa and Yemen ) vào


14

năm 2005, cho thấy tỉ lệ tai biến điều trị dao động từ 2,5 đến 18,4
bệnh nhân nhập viện (BMJ, 2012). Trong đó, 83
phòng ngừa được, trong khi có đến 30

trong tổng số

các tai biến thuộc nhóm có thể

tai biến dẫn đến tử vong, và khoảng 34

tai biến do sai sót điều trị trong bệnh cảnh không phức tạp (Vlayen, 2012).
Tình hình này ở các nước đang phát triển nói chung, và tại Việt Nam nói
riêng hiện chưa có số liệu công bố chính thức về tai biến điều trị. Tuy nhiên tỉ lệ tai
biến điều trị tại các nước này chắc chắn sẽ cao hơn nhiều do những khó khăn về cơ
sở hạ tầng, trang thiết bị yếu kém, cung ứng và chất lượng thuốc không đáng tin
cậy, yếu kém trong công tác kiểm soát nhiễm khuẩn, cũng như nguồn nhân lực chưa
đáp ứng được mong đợi do thiếu kỹ năng làm việc và tạo động lực thấp (WHO,
2009). Riêng nhiễm khuẩn bệnh viện, Tổ chức y tế thế giới (2009) ước tính tại các
nước đang phát triển cao gấp 20 lần so với các nước đã phát triển.
Những quan ngại về an toàn người bệnh không chỉ gây tổn hại và đau đớn về
thể chất và tinh thần cho người bệnh và gia đình của họ, mà còn gây ra những gánh
nặng về mặt kinh tế với chi phí y tế do sai sót y khoa gây ra ở một số nước là từ 6 tỷ
đến 29 tỷ đô la Mỹ hàng năm do thời gian nằm viện điều trị kéo dài, chi phí kiện
tụng, khiếu nại, nhiễm khuẩn bệnh viện, mất thu nhập, tàn phế (Kohn, 1999).


15

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương 3, tác giả trình bày khung phân tích, cách xây dựng thang đo
nghiên cứu, giới thiệu mô hình phân tích các yếu tố tác động đến văn hóa An toàn
người bệnh và trình bày về cách thức thu thập bộ dữ liệu.

3.1. Khung phân tích
Hình 3.1 Khung phân tích văn hóa an toàn người bệnh
Văn hóa An toàn người bệnh

Khung phân tích tác giả sử dụng mô hình hồi qui dường như không liên quan
(Seemingly Unrelated Regression – SUR) nhằm mục đích phân tích sự khác biệt của
từng thành phần văn hóa an toàn người bệnh giữa các yếu tố chức danh nghề


16

nghiệp, chức vụ, thời gian công tác tại bệnh viện và mức thu nhập khác nhau. Và
trong kiểm định thống kê này, với giả định các biến phụ thuộc không có quan hệ với
nhau, mô hình SUR bây giờ thực chất là một tập hợp các mô hình hồi qui đơn lẻ.
3.2. Thang đo nghiên cứu
Văn hóa an toàn người bệnh được khảo sát xuyên suốt qua 42 câu hỏi gồm
12 thành phần như (1) Làm việc theo ê kíp trong cùng một Khoa/phòng, (2) Quan
điểm và hành động về an toàn người bệnh của người quản lý, (3) Tính cải tiến liên
tục và học tập một cách hệ thống, (4) Hỗ trợ về quản lý cho an toàn người bệnh, (5)
Quan điểm tổng quát về an toàn người bệnh, (6) Phản hồi và trao đổi về sai sót/lỗi,
(7) Trao đổi cởi mở, (8) Tần suất ghi nhận sự cố/sai sót/lỗi, (9) Làm việc theo ê kíp
giữa các Khoa/phòng, (10) Nhân sự, (11) Bàn giao và chuyển tiếp, và cuối cùng
(12) là Không trừng phạt khi có sai sót/lỗi với thang đo Likert 5 giá trị do Cơ quan
chất lượng và nghiên cứu sức khỏe Hoa Kỳ (AHRQ) xây dựng, và đã được triển
khai tại 16 quốc gia trên thế giới như Mỹ, Ả rập Saudi, Bỉ, Thổ Nhĩ Kỳ, Hà Lan,
Tây Ban Nha, Đài Loan, Libăng, …, vì đề tài nghiên cứu không những mang tính
đa chiều, đa thành phần mà còn là dạng xác định ý kiến hoặc thái độ của đối tượng
nghiên cứu. Bên cạnh đó, văn hóa an toàn người bệnh không chỉ dựa vào một biến
hay một chỉ tiêu mà được tính trên tổng số điểm của rất nhiều tiêu chí.

3.3. Mô hình kiểm định sự khác biệt của các thành phần văn hóa An
toàn người bệnh theo các đặc điểm chức danh nghề nghiệp, chức vụ, thời gian
công tác tại bệnh viện và thu nhập
Mô hình hồi qui dường như không liên quan (Seemingly Unrelated
Regression – SUR) được sử dụng nhằm phân tích các yếu tố tác động đến văn hóa
an toàn người bệnh; văn hóa an toàn người bệnh được định nghĩa là một biến và
được gọi là biến phụ thuộc với tên biến là Y. Biến phụ thuộc Y được mã hóa (số
hóa) bao gồm các giá trị là từ 1 đến 12 tương ứng với (1) Làm việc theo ê kíp trong
cùng một Khoa/phòng, (2) Quan điểm và hành động về an toàn người bệnh của
người quản lý, (3) Tính cải tiến liên tục và học tập một cách hệ thống, (4) Hỗ trợ về


17

quản lý cho an toàn người bệnh, (5) Quan điểm tổng quát về an toàn người bệnh, (6)
Phản hồi và trao đổi về sai sót/lỗi, (7) Trao đổi cởi mở, (8) Tần suất ghi nhận sự
cố/sai sót/lỗi, (9) Làm việc theo ê kíp giữa các Khoa/phòng, (10) Nhân sự, (11) Bàn
giao và chuyển tiếp, và cuối cùng (12) là Không trừng phạt khi có sai sót/lỗi. Các
yếu tố tác động đến văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Từ Dũ bao gồm chức
danh nghề nghiệp, chức vụ, thời gian công tác tại bệnh viện và thu nhập được gọi là
các biến độc lập hay còn gọi là biến giải thích trong mô hình kinh tế lượng.


18

Bảng 3.3: Mô tả các biến trong mô hình Hồi qui
Tên biến

Ký hiệu

Định nghĩa

Thang đo

Biến phụ thuộc

Văn hóa ATNB

Yi
(i=1, 2, …, 12)

Rất không đồng ý
(1) Làm việc theo ê kíp trong cùng một Khoa/phòng
Không đồng ý
(2) Quan điểm và hành động về an toàn người bệnh của người quản Không biết
Rất đồng ý

Đồng ý
(3) Tính cải tiến liên tục và học tập một cách hệ thống
(4) Hỗ trợ về quản lý cho an toàn người bệnh
(5) Quan điểm tổng quát về an toàn người bệnh
Không bao giờ
(6) Phản hồi và trao đổi về sai sót/lỗi
Hiếm khi
(7) Trao đổi cởi mở
Đôi khi
(8) Tần suất ghi nhận sự cố/sai sót/lỗi
Thường xuyên
(9) Làm việc theo ê kíp giữa các Khoa/phòng
Luôn luôn
(10) Nhân sự
(11) Bàn giao và chuyển tiếp
(12) Không trừng phạt khi có sai sót/lỗi

Biến độc lập
Chức
danh
nghiệp

nghề

X1

Là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ Bác sĩ
trong từng lĩnh vực ngành nghề hoạt động của viên chức
Nữ hộ sinh/điều dưỡng
Dược sĩ
Kỹ thuật viên
Hộ lý
Khác


19

Chức vụ

X2

Thời gian công tác tại
Bệnh viện

X3

Thu nhập

X4

Là sự đảm nhiệm một vai trò, địa vị nào đó trong một tổ chức, một Trưởng khoa/phòng
tập thể
Phó khoa/phòng
Nhân viên
Số năm làm việc tại bệnh viện
Dưới 1 năm
Từ 1 đến 5 năm
6 đến 10 năm
11 đến 15 năm
16 đến 20 năm
Trên 20 năm
Thu nhập bình quân hàng tháng của cá nhân
Từ 3 đến dưới 5 triệu
5 đến dưới 8 triệu
8 đến 12 triệu
Trên 12 triệu


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×