Tải bản đầy đủ

Quản lý thu bảo hiểm xã hội

Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

MỤC LỤC

1


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT

Kí hiệu viết tắt

Nội dung

1


NLĐ

Người lao động

2

NSDLĐ

Người sử dụng lao động

3

ĐVSDLĐ

Đơn vị sử dụng lao động

4

TLTC

Tiền lương tiền công

5

DN ngoài QD

Doanh nghiệp ngoài quốc
doanh

6

DNNN

Doanh nghiệp nhà nước

7

BHXH


Bảo hiểm xã hội

8

ASXH

An sinh xã hội

9

BHYT

Bảo hiểm y tế

10

CNTT

Công nghệ thông tin

11



Lao động

12

BHXHBB

Bảo hiểm xã hội bắt buộc

13

HCSN

Hành chính sự nghiệp

14

QL

Quỹ lương

15

DN vốn ĐTNN

Doanh nghiệp vốn đầu tư
nước ngoài

2


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

DANH MỤC BẢNG BIỂU

3


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà
MỞ ĐẦU

1.

Lý do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước, thì BHXH ngày một phát
triển và trưởng thành nhanh chóng. BHXH là một trong những bộ phận
cấu thành và đóng vai trò quan trọng trong các chính sách xã hội. Nó là
một bộ phận không thể thiếu và có tính ổn định trong hệ thống an sinh
xã hội. Mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu
của người lao động và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất
thu nhập.Người lao động chiếm tỷ lệ rất lớn trong dân số và do điều kiện
lao động làm việc ngoài rủi ro mang tính tự nhiên, họ cần phải chịu
những rủi ro mang tính nghề nghiệp làm giảm hoặc mất thu nhập ảnh
hưởng đến bản thân người lao động và gia đình họ cũng như xã hội .Vì
vậy Bảo hiểm xã hội giúp san sẻ những rủi ro cũng như hỗ trộ một phân
và làm giảm bớt gánh nặng cho cuộc sống.Tạo ra một lưới an toàn cho
người lao động góp phầni ổn định trật tự xã hội, công bằng cho xã hội,
để quá trình sản xuất diễn ra bình thường và liên tục.
Chính sách BHXH là một chính sách xã hội được nhiều quốc gia
coi trọng nhằm đảm bảo về mặt thu nhập cho người lao động. Chính
sách BHXH cũng có tác dụng động viên công nhân, viên chức, quân
nhân và người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác yên tâm
công tác sản xuất.Thu BHXH đóng vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại
và phát triển của BHXH, chính vì vậy công tác quản lý thu lại càng phải
chú trọng. Nếu quản lý thu tốt thì sẽ tránh thất thoát cho BHXH, đảm
bảo quỹ tăng trưởng, và phát triển, tạo sự công bằng cho người tham
gia, và góp phần vào củng cố hệ thống An sinh xã hội. Để hiểu rõ hơn
về tình hình thực hiện quản lý thu BHXH em đã chọn đề tài “ Công tác
quản lý thu BHXH BB tại BHXH thành phố Nam Định giai đoạn
2013- 2015 ” cho bài viết của mình.
2.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu, đánh giá việc thực hiện công tác thu BHXH bắt buộc
ở thành phố Nam Định tỉnh Nam Định. Trên cơ sở đó đề xuất một số
4


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu BHXH bắt buộc cho
thành phố Nam Định trong thời gian tới.
3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý thu BHXH tại thành phố Nam
Định.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về công tác quản lý thu BHXH bắt
buộc trên địa bàn thành phố Nam Định tỉnh Nam Định trong giai đoạn
2013 – 2015, không đề cập đến thu BHXH tự nguyện, thu BHYT và đối
tượng lực lượng vũ trang.
4.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Một số phương pháp khác như: phân tích, so sánh, tổng hợp số
liệu, phân tích lý luận thực tiễn.
5.
Nội dung nghiên cứu
Nội dung bao gồm ba nội dung chính
Chương I: Một số vấn đề quản lý thu BHXH.
Chương II: Thực trạng quản lý thu BHXH Bắt Buộc tại BHXH thành phố
Nam Định.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản
lý thu BHXH.
Trong quá trình làm bài tiểu luận do hạn chế về nguồn số liệu nên
bài viết không tránh khỏi những thiếu sót,em kính mong nhận được sự
chỉ bảo, góp ý của cô để giúp bài viết của em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

5


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

Chương I: Một số vấn đề quản lý thu BHXH
1.1. Một số khái niệm.
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội.
Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm sự thay thế hoặc bù đắp một phần
thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ
nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm,
thông qua việc hình thành sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp
của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống
của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn
xã hội.
1.1.2. Khái niệm thu bảo hiểm xã hội.
Thu bảo hiểm xã hội là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình
bắt buộc các đối tượng tham gia phải đóng BHXH theo mức phí quy
định. Trên cơ sở đó hình thành, tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung nhằm
mục đích bảo đảm cho việc chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội và hoạt
động của tổ chức sự nghiệp bảo hiểm xã hội.
Thu BHXH thực chất là quá trình phân phối lại một phần thu nhập
của các đối tượng tham gia BHXH, phân phối và phân phối lại một phần
của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nhằm giải quyết hài hòa các mặt lợi
ích kinh tế, góp phần đảm bảo sự công bằng xã hội.
(Nguồn: Giáo trình Quản trị BHXH)
1.1.3. Khái niệm quản lý thu bảo hiểm xã hội.
Quản lý thu BHXH là hoạt động có tổ chức dựa trên cơ sở hệ
thống pháp luật của nhà nước sử dụng biện pháp hành chính tổ chức
kinh tế quản lý hoạt động thu nộp BHXH, xác định việc thực hiện nghĩa
vụ của NLĐ tham gia BHXH và đồng thời việc xác nhận đó là căn cứ để
thực hiện chính sách, chế độ BHXH, đảm bảo quyền lợi đối với đối
tượng tham gia BHXH đúng, đủ, kịp thời đáp ứng mọi yêu cầu, quy định
của pháp luật.
(Nguồn: Giáo trình Quản trị Bảo hiểm xã hội )
1.2. Vai trò của quản lý đối với hoạt động thu BHXH
1.2.1. Tạo sự thống nhất trong thu BHXH:
6


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

Nguồn thu của quỹ BHXH bao gồm: nguồn đóng BHXH của người
tham gia và chủ sử dụng lao động, tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư tăng
trưởng quỹ, nguồn hỗ trợ của Nhà nước, các nguồn khác như: viện trợ,
quà biếu, quà tặng… của các tổ chức trong và ngoài nước.
Hoạt động thu BHXH có tính chất đặc thù khác với các hoạt động
khác, đó là: Đối tượng thu BHXH rất đa dạng và phức tạp do đối tượng
tham gia BHXH bao gồm ở tất cả các ngành nghề khác với nhiều độ tuổi
khác, mức thu nhập khác.. thêm nữa họ lại rất khác về địa lý, vùng miền
cho nên nếu không có sự chỉ đạo thống nhất thì hoạt động thu BHXH sẽ
không thể đạt kết quả cao.
Để nắm chắc được các nguồn thu trên phải tăng cường công tác
quản lý chặt chẽ các nguồn thu. Đối với từng nguồn khác nhau phải có
phương pháp quản lý thích hợp.
1.2.2. Tăng thu, bảo đảm cân đối quỹ BHXH
Thu BHXH có vai trò rất lớn trong việc cân đối quỹ. Hơn thế nữa
thu BHXH quyết định đến sự tồn tại và phát triển của hệ thống BHXH.
Để tăng thu có một số biện pháp chính sau:
+ Tăng số người tham gia đóng BHXH. Đây là biện pháp có tính
chất quyết định. Trong điều kiện kinh tế nước ta chưa phát triển, chúng
ta chưa thể tăng nhanh mức đóng BHXH, mà phải tăng từ từ. Từ thực tế
đó việc tăng số người tham gia đóng BHXH có ý nghĩa thực tế và có tính
quyết định trong việc cân đối quỹ BHXH.
+ Thu đúng đối tượng, thu đủ số lượng và đảm bảo đúng thời gian
quy định.
Nội dung này chỉ có thể đạt được trên cơ sở tăng cường các biện
pháp quản lý hành chính, tổ chức thu khoa học kết hợp với các biện
pháp kinh tế.
Thu đúng đối tượng là phải căn cứ vào những quy định về đối
tượng tham gia BHXH trong văn bản pháp luật về BHXH.
7


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

Thu đủ số lượng và đúng hạn quy định cũng phụ thuộc vào công
tác quản lý thu BHXH. Trên thực tế có rất nhiều đơn vị nộp BHXH không
đủ theo số lượng quy định. Tình trạng trốn đóng BHXH hiện còn xảy ra
ở rất nhiều đơn vị. Vì vậy phải bằng phương pháp quản lý thu khoa học,
kết hợp với các biện pháp hành chính, kinh tế cứng rắn đối với các hành
vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH. Có như vậy công tác quản lý thu
mới đem lại hiệu quả.
1.2.3. Bảo đảm quyền lợi người tham gia BHXH:
Thứ nhất, bảo vệ quyền lợi của người tham gia BHXH. Đây là
quyền lợi chính đáng và hợp pháp của người lao động. Nhưng nếu
người tham gia không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng góp BHXH thì
trước hết bản thân người tham gia không đủ điều kiện quy định của
pháp luật để hưởng các quyền lợi theo quy định, mặt khác không có
nguồn thu để bảo đảm chi trả các chế độ cho người tham gia khi các sự
kiện bảo hiểm xảy ra, bởi lẽ chính sách BHXH trong cơ chế thị trường
được xây dựng trên nguyên tắc “có đóng có hưởng”. Nếu tăng cường
công tác quản lý thu, phát hiện các trường hợp trốn đóng, đóng thiếu và
có biện pháp xử lý đúng đắn là cơ sở tiền đề để đảm bảo quyền lợi
người tham gia.
Thứ hai, khi quỹ BHXH được cân đối, điều đó có nghĩa là quỹ luôn
luôn có đủ nguồn lực để chi trả các chế độ cho người tham gia. Khi
người tham gia BHXH gặp rủi ro theo quy định của pháp luật thì bản
thân và gia đình họ được tổ chức bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp đầy đủ,
kịp thời.
1.2.4. Kiểm tra, đánh giá hoạt động thu BHXH
Thu BHXH là 1 nội dung của tài chính BHXH, mà thông thường
bất kỳ hoạt động nào liên quan đến tài đều rất dễ mắc phải tình trạng
gây thất thoát, vô ý hoặc cố ý làm sai. Vì vậy, với nhiệm vụ mà người
quản lý phải đảm bảo đó là: kiểm tra, hoạt động thu BHXH đã được
đánh giá hoạt động 1 cách kịp thời và toàn diện. Nhờ có hoạt động quản
lý sát sao mà công tác kiểm tra, đánh giá luôn được sát thực tiễn với
8


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

quá trình thu, hoạt động thu sẽ được điều chỉnh kịp thời sau khi có sự
đánh giá.
1.3. Nội dung quản lý thu BHXH
1.3.1.
Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội.
* Người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân
Việt Nam bao gồm:
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về
cán bộ, công chức, viên chức.
- Người làm việc theo hợp đồng có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên
và hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo quy định của pháp
luật về lao động.
- Người lao động, xã viên, kể cả cán bộ quản lý làm việc và hưởng
tiền công theo HĐLĐ từ đủ 3 tháng trở lên trong hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã thành lập, hoạt động theo luật hợp tác xã.
- Công nhân quốc phòng, công nhân công an làm việc trong các
doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang.
- Người lao động theo quy định nói trên được cử đi học, thực tập,
công tác trong và ngoài nước mà vẫn hưởng tiền lương hoặc tiền công ở
trong nước.
- Người lao động đã tham gia BHXHBB mà chưa nhận BHXH một
lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo quy định của
pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng cụ thể.
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan,
hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an
nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân
đội nhân dân, công an nhân dân.
- Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ
công an nhân dân phục vụ có thời hạn.
* Người sử dụng lao động tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc bao
gồm: cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hộinghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức
9


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ
kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn,
sử dụng và trả công cho người lao động.
1.3.2.
Quản lý tiền lương làm căn cứ đóng BHXH
Đối tượng tham gia BHXH rất đa dạng, phong phú với nhiều
ngành nghề và mức thu nhập khác nhau. Để quản lý tiền lương - tiền
công làm căn cứ đóng BHXH thì trước tiên BHXH phải đưa ra được tiêu
thức để quản lý và tiêu thức đó là:
- Đối với lao động làm việc do Nhà Nước quy định tiền lương thì
tiền lương tiền công làm căn cứ đóng BHXH là mức tiền lương, tiền
công theo ngạch, bậc của thang bảng lương theo quy định của Nhà
Nước.
- Đối với lao động làm việc do người sử dụng lao động quy định
tiền lương thì mức tiền lương - tiền công làm căn cứ đóng BHXH là mức
tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động.
- Đối với người sử dụng lao động thì tiền lương - tiền công làm
căn cứ đóng BHXH là tổng quỹ tiền lương của doanh nghiệp.
Sau khi xác định được mức tiền lương - tiền công làm căn cứ
đóng của các đối tượng thì cơ quan BHXH cần phải quản lý, theo dõi
chặt chẽ diễn biến thu nhập của từng cá nhân NLĐ trong từng đơn vị sử
dụng lao động. Đặc biệt là theo dõi diễn biến tiền lương của các đối
tượng do người NSDLĐ quy định tiền lương. thường xuyên kiểm soát
đối chiếu quỹ tiền lương của đơn vị. Trên cơ sở đó tính số tiền phải
đóng vào quỹ BHXH của các đơn vị sao cho đúng, đủ…
Quản lý phương thức và mức đóng BHXH
Mức đóng BHXH của mỗi nước chịu sự chi phối của rất nhiều yếu
tố khác nhau như: đặc điểm dân số, điều kiện kinh tế- xã hội, sự văn
minh của người dân, căn cứ đóng và tỉ lệ hưởng của người tham gia,...
Do đó người quản lý phải nắm vững những yếu tố cơ bản này để đưa ra
mức đóng phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong
từng thời kỳ. Như vậy, để quản lý được mức đóng, trước hết cơ quan
quản lý Nhà nước về BHXH phải xây dựng được mức đóng phù hợp với
1.3.3.

10


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

cả NSDLĐ và NLĐ. Tương quan tỷ lệ đóng trong NSDLĐ và NLĐ không
được chênh lệch. Bên cạnh đó mức đóng phải được xây dựng trên cơ
sở khiến NSDLĐ không muốn trốn tránh, không thể trốn tránh trách
nhiệm tham gia BHXH bắt buộc cho NLĐ.
Theo Điều 92 Luật BHXH 2006 quy định Mức đóng và phương
thức đóng của người sử dụng lao động.
1. Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương,
tiền công đóng bảo hiểm xã hội của người lao động quy định tại các
điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật này như sau:
a) 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; trong đó người sử dụng lao động giữ
lại 2% để trả kịp thời cho người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ quy
định tại Mục 1 và Mục 2 Chương III của Luật này và thực hiện quyết
toán hằng quý với tổ chức bảo hiểm xã hội;
b) 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
c) 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một
lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%.
2. Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng trên mức lương tối
thiểu chung đối với mỗi người lao động quy định tại điểm đ khoản 1 Điều
2 của Luật này như sau:
a) 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
b) 16% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một
lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%.
3. Người sử dụng lao động thuộc các doanh nghiệp nông nghiệp,
lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo chu kỳ sản xuất,
kinh doanh thì mức đóng hằng tháng theo quy định tại khoản 1 Điều
này; phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, hằng quý hoặc sáu
tháng một lần.
Mức đóng các khoản BHXH, BHYT, BHTN được áp dụng từ ngày
01, tháng 01, năm 2016 được thực hiện theo quyết định 959/QĐ-BHXH:
+ Mức đóng BHXH: 26%, trong đó NLĐ đóng 8%, ĐVSDLĐ đóng
18%.
+ Mức đóng BHYT: 4,5%, trong đó NLĐ đóng 1,5%, ĐVSDLĐ
đóng 3%.

11


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

+ Mức đóng BHTN: 2%, trong đó NLĐ đóng 1%, ĐVSDLĐ đóng
1%.
Do đặc thù công tác thu BHXH là phải thu nhiều đối tượng bằng
nhiều hình thức khác nhau như trực tiếp hoặc gián tiếp (tiền mặt,
chuyển khoản...) nên với mỗi hình thức chuyển tiền đều phải quản lý
chặt chẽ để tránh nhầm lẫn, thất thoát.
Các hệ thống BHXH sử dụng nhiều phương thức thu, nộp khác
nhau:
+ Đóng hằng tháng
Hằng tháng, chậm nhất đến ngày cuối cùng của tháng, đơn vị trích
tiền đóng BHXH bắt buộc trên quỹ tiền lương tháng của những người
lao động tham gia BHXH bắt buộc, đồng thời trích từ tiền lương tháng
đóng BHXH bắt buộc của từng người lao động theo mức quy định,
chuyển cùng một lúc vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở
tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước.
+ Đóng 3 tháng hoặc 6 tháng một lần
Đơn vị là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp
tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm
nghiệp trả lương theo sản phẩm, theo khoán thì đóng theo phương thức
hằng tháng hoặc 3 tháng, 6 tháng một lần. Chậm nhất đến ngày cuối
cùng của kỳ đóng, đơn vị phải chuyển đủ tiền vào quỹ BHXH.
+ Đóng theo địa bàn
* Đơn vị đóng trụ sở chính ở địa bàn tỉnh nào thì đăng ký tham gia
đóng BHXH tại địa bàn tỉnh đó theo phân cấp của cơ quan BHXH tỉnh.
* Chi nhánh của doanh nghiệp đóng BHXH tại địa bàn nơi cấp giấy
phép kinh doanh cho chi nhánh.
+ Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng:
Phương thức đóng là 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng một lần hoặc đóng
trước một lần theo thời hạn ghi trong hợp đồng đưa người lao động đi
làm việc ở nước ngoài. Người lao động đóng trực tiếp cho cơ quan
BHXH trước khi đi làm việc ở nước ngoài hoặc đóng qua doanh nghiệp,
tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

12


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

* Trường hợp đóng qua doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa
người lao động đi làm việc ở nước ngoài thì doanh nghiệp, tổ chức sự
nghiệp thu, nộp BHXH cho người lao động và đăng ký phương thức
đóng cho cơ quan BHXH
* Trường hợp người lao động được gia hạn hợp đồng hoặc ký
HĐLĐ mới ngay tại nước tiếp nhận lao động thì thực hiện đóng BHXH
theo phương thức quy định tại Điều này hoặc truy nộp cho cơ quan
BHXH sau khi về nước.
+Người hưởng chế độ phu nhân hoặc phu quân tại cơ quan đại
diện Việt Nam ở nước ngoài
Thực hiện theo Văn bản quy định của Chính phủ và hướng dẫn
của BHXH Việt Nam.
+ Đối với trường hợp đóng cho thời gian còn thiếu không quá 6
tháng (hưởng lương hưu)
* Người lao động đóng một lần cho số tháng còn thiếu thông qua
đơn vị trước khi nghỉ việc.
* Thân nhân của người lao động chết đóng một lần cho số tháng
còn thiếu cho cơ quan BHXH huyện.
1.3.4.
Quản lý quy trình tổ chức thu:
Quy trình quản lý thu BHXH được xác định như sau:
a, Phân cấp quản lý thu trong hệ thống BHXH Việt Nam:
BHXH Việt Nam: Chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra tình hình thực
hiện công tác quản lý thu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT trong toàn ngành
bao gồm cả BHXH Bộ Quốc Phòng Bộ Công An và Ban cơ yếu Chính
Phủ. Xác định mức lãi suất bình quân trong năm của hoạt động đầu tư
quỹ BHXH và thông báo cho BHXH tỉnh.
BHXH tỉnh:
- Căn cứ tình hình thực tế của địa phương để phân cấp quản lý thu
BHXH, BHYT cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ.
- Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu liên quan đến NLĐ tham gia BHXH,
BHYT trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng kế hoạch và hướng dẫn, kiểm tra tình hình thực hiện công tác
thu, cấp sổ BHXH, BHYT theo phân cấp quản lý và quyết toán số tiền
thu BHXH đối với BHXH huyện theo định kì quý, 6 tháng, năm và lập
13


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

“Biên bản thẩm định số liệu thu BHXH, BHYT bắt buộc” (Mẫu số 12TBH).

-

-

BHXH huyện: Tổ chức, hướng dẫn thực hiện thu BHXH,BHYT,
cấp sổ BHXH, thẻ BHYT đối với NSDLĐ và NLĐ theo phân cấp quản lý.
b, Lập và giao kế hoạch hàng năm:
BHXH huyện: Căn cứ tình hình thực hiện năm trước và khả năng
mở rộng NLĐ tham gia BHXH trên địa bàn, lập 02 bản “Kế hoạch thu
BHXH bắt buộc” năm sau (Mẫu số 13-TBH), gửi 01 bản đến BHXH tỉnh
trước ngày 05/11 hàng năm.
BHXH tỉnh:
Lập 02 bản dự toán thu BHXH đối với NSDLĐ do tỉnh quản lý, đồng thời
tổng hợp toàn tỉnh, lập 02 bản “Kế hoạch thu BHXH bắt buộc” năm sau
(Mẫu số 13-TBH) gửi BHXH Việt Nam 01 bản trước 5/11 hàng năm.
Căn cứ dự toán thu của BHXH Việt Nam, tiến hành phân bổ dự toán thu
BHXH cho các đơn vị trực thuộc BHXH tỉnh và BHXH huyện trước ngày
20/01 hàng năm.
BHXH Việt Nam: Căn cứ tình hình thực hiện kế hoạch năm trước và
khả năng phát triển lao động năm sau của các địa phương, tổng hợp,
lập giao dự toán thu BHXH cho BHXH tỉnh và BHXH bộ Quốc phòng, Bộ
Công An, ban cơ yếu Chính phủ trước ngày 10/01 hàng năm.
c, Quản lý tiền thu
BHXH tỉnh và BHXH huyện không được sử dụng tiền thu BHXH
cho bất cứ mục đích gì (trừ trường hợp đặc biệt phải được Tổng giám
đốc BHXH Việt Nam chấp thuận bằng văn bản).
Hàng quý, BHXH tỉnh (Phòng Kế hoạch – Tài chính) và BHXH
huyện có trách nhiệm quyết toán số tiền 2% đơn vị được giữ lại, xác
định số tiền chênh lệch thừa, thiếu; đồng thời gửi thông báo quyết toán
cho Phòng thu hoặc bộ phận Thu để thực hiện thu kịp thời số tiền
NSDLĐ chưa chi hết vào tháng đầu của quý sau.
BHXH Việt Nam thẩm định số thu BHXH định kỳ 6 tháng hoặc
hàng năm đối với BHXH tỉnh, BHXH thuộc Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An,
Ban cơ yếu chính phủ.
d, Thông tin báo cáo thu
14


Tiểu luận QL thu BHXH

-

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

BHXH tỉnh, huyện: Mở sổ chi tiết thu BHXH (Mẫu số 07-TBH);
thực hiện ghi sổ BHXH theo hướng dẫn sử dụng biểu mẫu.
BHXH tỉnh, huyện: Thực hiện chế độ báo cáo tình hình thu BHXH
bắt buộc (Mẫu số 09, 10, 11-TBH) định kỳ tháng, quý, năm như sau:
BHXH huyện: Báo cáo tháng trước ngày 22 hàng tháng báo cáo quý
trước ngày 20 tháng đầu quý sau.
BHXH tỉnh: Báo cáo tháng trước ngày 25 hàng tháng; báo cáo quý trước
ngày 20 tháng đầu của quý sau.

e, Quản lý hồ sơ, tài liệu thu
BHXH tỉnh huyện: Cập nhật thông tin, dữ liệu của người tham gia
BHXH để phục vụ kip thời cho công tác nghiệp vụ và quản lý.
BHXH tỉnh: Xây dựng hệ thống mã số đơn vị tham gia BHXH áp
dụng trong địa bàn tỉnh theo hướng dẫn của BHXH Việt Nam. Mã số
tham gia BHXH cấp cho đợn vị để đăng ký tham gia BHXH được sử
dụng thống nhất trên hồ sơ, giấy tờ sổ sách và báo cáo nghiệp vụ.
BHXH các cấp: Tổ chức phân loại, lưu trữ và bảo quản hồ sơ, tài
liệu thu BHXH đảm bảo khoa học để thuận tiện khai thác, sử dụng. Thực
hiện ứng dựng công nghệ thông tin để quản lý người tham gia BHXH,
cấp sổ BHXH cho người tham gia BHXH bắt buộc.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu BHXH
1.4.1.
Sự phát triển kinh tế xã hội.
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội đời sống của con gn]ời
được cả thiện. Những lao động ở ngoài khu vực nhà nước có điều kiện
tiếp xúc với những chính sách BHXH hiểu được quyền và nghĩa vụ tham
gia của mình dẫn đến việc gia bảo hiểm sẽ đông hơn, nguồn thu sẽ lớn
hơn. Ngoài ra kinh tế phát triển cũng là cho mức lương của lao động
cao hơn mức đóng bảo hiểm sẽ cao hơn.
1.4.2.
Sự ảnh hưởng của các chính sách pháp luật.
- Chính sách tiền lương: giữa chính sách tiền lương và chính sách
BHXH nói chung và công tác thu BHXH nói riêng có mối quan hệ rất
chặt chẽ với nhau.
Chính sách tiền lương là tiền đề và cơ sở cho việc thực hiện chính
sách BHXH, bởi vì cơ sở để tính toán mức đóng và hưởng BHXH của
15


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

chúng ta hiện nay là phụ thuộc vào tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy
định. Như vậy khi Nhà nước nâng lương tối thiểu, điều đó đồng nghĩa
với việc tăng mức đóng BHXH và đương nhiên số thu BHXH cũng tăng
lên.
- Thêm vào đó đối với các lao động đóng BHXH theo thang bảng
lương Nhà nước quy định, mức đóng còn phụ thuộc vào hệ số lương, vì
thế khi Nhà nước điều chỉnh lại thang bảng lương thì mức đóng BHXH
cũng tăng lên. Nguồn lực lao động Người lao động là đối tượng tham
gia BHXH, đang trong độ tuổi lao động, trực tiếp tạo ra của cải cho xã
hội.
- Chính sách về BHXH: việc quy định tăng mức đóng làm cho mức
đóng tăng lên cơ quan bảo hiểm xã hội phải điều chỉnh mức đóng hiện
tại của người lao động.
- Các chính sách pháp luật khác.
1.4.3.
Nhận thức của người tham gia.
Nhận thức của người tham gia tốt là nhân tố thiết yếu để công tác
quản lý đối tượng tham gia BHXH đạt kết quả cao. Chính sách ra đời chỉ
là sự hướng dẫn chung nhất, nhưng để chính sách đi vào thực tế, nhất
định phải có sự chấp hành tốt chính sách đó. Ý thức tham gia BHXH
của các đối tượng thuộc diện tham gia, bao gồm người lao động và chủ
SDLĐ từ lâu đã trở thành mối quan tâm hàng đầu trong công tác quản lý
đối tượng tham gia BHXH.
Các chủ SDLĐ thường vì lợi nhuận mà không muốn tham gia
BHXH cho người lao động của mình. Phần lớn họ đều mới chỉ nhận
thấy lợi ích trước mắt mà chưa nghĩ đến hậu quả lâu dài khi rủi ro không
may xảy đến với người lao động của họ. Còn với người lao động, do
hiểu biết kém, thu nhập không cho phép, hoặc lo sợ bị mất việc làm
khiến họ không dám lên tiếng đòi quyền lợi. Khi ý thức của các đối
tượng tham gia thấp, tức là không có sự hợp tác từ phía các đối tượng
tham gia, chắc chắn công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH sẽ gặp
nhiều khó khăn. Ở những nước dân trí phát triển, công tác quản lý đối
16


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

tượng tham gia BHXH gặp ít trở ngại hơn bởi người dân rất tự giác
chấp hành tốt chính sách.
1.4.4.
Công tác thông tin tuyên truyền về chế độ, chính sách BHXH.
Thông tin tuyền truyền là nội dung quan trọng trong bất cứ lĩnh
vực hoạt động nào. Với BHXH, là chính sách tác động đến một lượng
người tham gia rộng khắp, công tác thông tin tuyên truyền chính là nhân
tố tác động trực tiếp đến hiệu quả của công tác quản lý đối tượng tham
gia. Cụ thể, công tác thông tin tuyên truyền giúp cho đối tượng tham gia
hiểu rõ về chế độ, chính sách BHXH theo quy định của luật pháp, làm
thay đổi thái độ đối với công tác BHXH theo hướng tích cực, phù hợp
với pháp luật. Ngoài ra, tuyên truyền BHXH còn có tác dụng cổ vũ động
viên người lao động cùng các đơn vị SDLĐ tự giác, tích cực thực hiện
đúng quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia BHXH theo đúng quy định của
pháp luật, đấu tranh loại bỏ những hành vi gian lận, trái pháp luật nhằm
mục đích trục lợi Bảo hiểm. Ý thức tham gia của các đối tượng kém xuất
phát từ sự ít hiểu biết về lợi ích của chính sách BHXH. Bởi vậy, tuyên
truyền giúp cho các đối tượng hiểu được lợi ích từ chính sách này sẽ
khuyến khích các đối tượng tham gia nhiều hơn, chấp hành đúng các
thủ tục hơn trong quy trình tham gia, giúp việc quản lý đối tượng tham
gia được thực hiện tốt hơn.
1.4.5.
Về chính sách tiền lương.
Giữa chính sách tiền lương và chính sách BHXH nói chung và
công tác thu BHXH nói riêng có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau,
chính sách tiền lương là tiền đề và cơ sở cho việc thực hiện chính sách
BHXH, bởi vì cơ sở tính toán mức đóng và mức hưởng BHXH của
chúng ta hiện nay là phụ thuộc vào mức lương tối thiểu do nhà nước
quy định, như vậy khi nhà nước nâng mức lương tối thiểu lên đồng
nghĩa với việc mức BHXH cũng phải tăng lên. Nhưng hầu hết các doanh
nghiệp đều nộp BHXH theo mức lương tối thiểu chứ không nộp theo
mức thu nhập thực tế của NLĐ. Việc các doanh nghiệp không lấy mức
17


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

thu nhập thực tế của NLĐ làm cơ sở tính phần trăm nộp BHXH đã
không chỉ làm thiệt thòi về quyền lợi cho NLĐ mà còn gây thất thu quỹ
BHXH.
1.4.6.

Trình độ đội ngũ cán bộ bảo hiểm xã hội.
Các cán bộ bảo hiểm xã hội cần phải có những hiểu biết về các

chính sách bảo hiểm xã hội để thu đúng thu đủ,các văn bản pháp luật
được cập nhật thường xuyên, liên tục đòi hỏi người cán bộ phải chuyên
tâm nghiên cứu, cần cù, trách nhiệm với công việc đồng thời phải có
một trình độ nhất định về toán học, kế toán cũng như sự hiểu biết về hệ
thống máy tính và công nghệ thông tin. Cần cập nhập các chính sách
bảo hiểm xã hội, và các chính sách liên quan để kịp thời điều chỉnh mức
đóng cho người lao động.

18


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

Chương 2: Thực trạng quản lí thu BHXH Bắt buộc tại thành phố
Nam Định
2.1 .Giới thiệu chung về tỉnh Nam Định và cơ quan bảo hiểm xã hội.
2.1.1.Giới thiệu chung về tỉnh Nam Định.
Nam Định là một tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ, Việt
Nam. Theo quy hoạch năm 2008 thì Nam Định thuộc vùng duyên hải
Bắc Bộ.Nam Định tiếp giáp với tỉnh Thái Bình ở phía bắc, tỉnh Ninh Bình
ở phía nam, tỉnh Hà Nam ở phía tây bắc, giáp biển (vịnh Bắc Bộ) ở phía
đông, có diện tích 96,4 km². Dân số 431.900 người.Thành phố Nam
Định hiện nay gồm có 20 phường: Bà Triệu, Quang Trung, Nguyễn Du,
Trần Hưng Đạo, Ngô Quyền, Cửa Bắc, Vị Xuyên, Vị Hoàng, Hạ Long,
Trần Tế Xương, Trần Đăng Ninh, Cửa Bắc, Năng Tĩnh, Văn Miếu, Phan
Đình Phùng, Trường Thi, Trần Quang Khải, Thống Nhất, Lộc Hạ, Lộc
Vượng (phía Bắc Sông Đào), Cửa Nam (phía Nam Sông Đào), và 5 xã
ngoại thành Lộc Hòa, Lộc An, Mỹ Xá (phía Bắc Sông Đào), Nam Phong,
Nam Vân (phía Nam Sông Đào). Một phần công tác quản trị thành phố
đã được Hiệp hội Đô thị Việt Nam và Liên hiệp Đô thị Canađa khởi
xướng thông qua đầu tư của thành phố nhằm quản lý địa chính và quy
hoạch phát triển.
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của BHXH thành phố Nam Định.
 Về chức năng:BHXH tp Nam Định là cơ quan trực thuộc BHXH Tỉnh
Nam Định nằm trong hệ thống tổ chức BHXH Việt Nam có chức năng
giúp giám đốc BHXH tỉnh và chịu sự quản lý hành chính trên địa bàn
lãnh thổ của UBND huyện Xuân Trường.
 Về nhiệm vụ: BHXH tp Nam Định có những nhiệm vụ sau:
- Xây dựng chương trình, kế hoạch năm trình giám đốc BHXH Tỉnh phê
dyệt và tổ chức thực hiện.
- Hướng dẫn đơn vị sử dụng lao động lập kế hoạch danh sách tham gia
BHXH,đôn đốc theo dõi việc thu nộp BHXH của các đơn vị trên địa bàn
huyện hoặc trực thu BHXH theo phân cấp của BHXH tỉnh và BHXH Việt
Nam
- Tiếp nhận hồ sơ danh sách giải quyết các chế độ BHXH, tổ chức chi trả
cho các đối tượng hưởng các chế độ BHXH do BHXH tinh chuyển đến
theo phân cấp .Theo dõi việc thay đổi địa chỉ , danh sách tăng giảm đối
tượng hưởng chế độ trong quá trình chi trả.
- Tiếp nhận đơn thư khiếu nại , tố cáo về chế độ chính sách BHXH để giải
quyết theo thẩm quyền hoặc báo cáo với BHXH tính để xem xét giải
quyết.
- Tổ chức cấp sổ BHXH cho các đối tượng tham theo phân cấp.
- Tổ chức thực hiện chương trình kế hoạch cải cách theo chỉ đạo của
BHXH Tỉnh tiếp nhận và kết quả giải quyết theo cơ chế 1 cửa.
19


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

Tổ chức ký hợp đồng trách nhiệm và quản lý mạng lưới đại lý chi trả
BHXH ở cấp xã , thị trấn.
Thực hiện công tác thông tin tuyên truyền , giải thích chính sách , chế
độ pháp luật về BHXH cho người lao động trên địa bàn.

-

2.1.3.

Cơ cấu tổ chức bộ máy
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC

P. Chế
độ bảo
hiểm
xã hội

P.
Giám
định
bảo
hiểm y
tế

P. Thu

PHÓ GIÁM ĐỐC

P. Kế
hoạch Tài
chính

P. Tổ
chức Hành
chính

P.
Kiểm
tra

P. C
ông
nghệ
thông
tin

P. Cấp
sổ,thẻ

P. Tiếp
nhận
-Quản
lý hồ


Thực trạng công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH
thành phố Nam Định giai đoạn 2013- 2015
Quản lí đối tượng tham gia BHXH

2.2.
2.2.1

Trong những năm qua, cùng với việc mở rộng đối tượng tham gia
BHXH bắt buộc của luật BHXH, BHXH thành phố Nam Định luôn cố
gắng thực hiện tốt và đạt kế hoạch được giao. Công tác quản lý thu
BHXH bắt buộc giai đoạn 2013 – 2015 tại BHXH thành phố Nam Định
đạt được những thành tựu nhưng vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục.
chi tiết tình hình thực hiện công tác quản lý thu của BHXH thành phố
Nam Định được thể hiện qua các thực trạng dưới đây.
*,Quản lý số đơn vị sử dụng lao động tham gia
Người sử dụng lao động là một trong hai đối tượng quan trọng
nhất góp phần hình thành quỹ BHXH. NSDLĐ có trách nhiệm tham gia
BHXH cho người lao động theo quy định của Luật BHXH khi ký hợp
đồng lao động, trong năm qua, cùng với tốc độ phát triển đô thị hóa, số
doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Nam Định ngày càng tăng, đòi hỏi
công tác quản lý thu cần được thực hiện một cách hiệu quả.
Bảng 1: Số đơn vị tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH thành phố
Nam Định giai đoạn 2013- 2015

20


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà
Lượng tăng

Năm
2013
2014
2015

NSDLĐ

(giảm)

363
367
395

tuyệt đối
4
28

Tốc độ tăng
(giảm)
1,10%
7,63%

(Nguồn BHXH Tp Nam Định)
Theo bảng số liệu thì số đơn vị SDLĐ trên TP.Nam Định giai đoạn
2013 - 2015 có xu hướng tăng. Nếu năm 2013 có 703 đơn vị thì tới năm
2015 con số này đã tăng lên 745 đơn vị. Trong đó năm 2015 là năm có
tình hình biến chuyển tăng lao động mạnh nhất thê 38 NLĐ, tăng 42 lao
động so với năm 2013.
Sở dĩ có điều này vì sau khi VN vượt qua khủng hoảng kinh tế năm
2008, thì tới 2013 - 2015, nền kinh tế đã ổn định và hoàn thiện hội nhập
quốc tế, dẫn tới các đơn vị ngoài quốc doanh ngày càng tăng lên. Đây
cũng là 1 nguồn thu đáng kể cho quỹ BHXH. Điều này được thể hiện
qua bảng sau :
Bảng 2. Số đơn vị tham gia BHXH BB tại BHXH Thành phố Nam
Định giai đoạn 2013-2015.

2013

Loại
hình

Số
đơ
n
vị

Tỷ
lệ
Lượn
phá
g
t
tăng
sin
giảm
h
(%)

2014
Số
đơ
n
vị

Tỷ
Lượn
lệ
g
phát
tăng
sinh
giảm
(%)
21

2015
Số
đơ
n
vị

Tỷ
Lượn
lệ
g
phát
tăng
sinh
giảm
(%)


Tiểu luận QL thu BHXH
Khối
DNNN
Khối
DN
ngoài
QD
Khối
HS
Đảng,
Đoàn
Khối
ngoài
công
lập
Hợp
tác xã
Phườn
g, xã,
thị trấn
Hộ
SXKD
Tổng

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

15

-

-

16

1

6.67

16

0

0

10
3

-

-

110 7

2,17

12
5

15

13,6
4

89

-

-

91

2

2,25

10
0

9

9,89

5

-

-

4

(1)

20

5

1

25

11

-

-

8

(3)

10

2

25

115 -

-

115 0

27,2
7
0

115 0

0

25

-

-

23

(2)

8

24

1

4,35

36
3

-

-

36
7

4

1,10

39
5

28

7,63

(Nguồn BHXH Tp Nam Định)
Qua bảng biểu trên cho thấy số đơn vị thuộc diện tham gia BHXH
bắt buộc có sự thay đổi qua các năm. Số đơn vị tham gia BHXH BB tại
BHXH Thành phố Nam Định chủ yếu thuộc khối doanh nghiệp ngoài
quốc doanh; khối HS Đảng, Đoàn và khối có số đơn vị tham gia ít nhất
thuộc khối ngoài công lập. Sự biến động về số đơn vị tham gia qua các
năm theo từng khối doanh nghiệp như sau:
Khối DN ngoài quốc doanh và khối HS Đảng, Đoàn: là 2 khối có
lượng đơn vị SDLĐ đong nhất. Với lượng lao động tăng rõ rệt dần đều
và biến động cao nhất qua các năm từ năm 2013-2015
Khối DNNN; khối ngoài công lập; khối hợp tác xã; khối phường,
xã, thị trấn; hộ SXKD: Số đơn vị tham gia BHXH của các khối này khá
ổn định và chiếm tỷ trọng nhỏ qua các năm.Do khu vực này chủ yếu
hoạt động với quy mô nhỏ.
*,Quản lý số người lao động tham gia.

22


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

Cùng với sự tăng lên của doanh nghiệp thì việc thuê lao động lại trở
thành nhu cầu tất yếu. Hiển nhiên là số NLĐ thuộc diện đóng BHXH
ngày càng tăng. Thể hiện qua bảng sau.
Bảng 3: Số lượng lao động tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH
thành phố Nam Định giai đoạn 2013- 2015
Lượng tăng
Năm

Số lao động

(giảm) tuyệt

6.237
6.456
6.681

đối
219
225

2013
2014
2015

Tốc độ
tăng
3,51%
3,49%

(Nguồn BHXH Tp Nam Định)
Số NLĐ giai đoạn này tăng không ngừng. Nếu năm 2013 có 6237
NLĐ, thì năm 2015 con số này đã lên tới 6681 NLĐ.Nguyên nhân dẫn
đến số lượng lao động tăng lên là do có sự nhận thức của NLĐ cũng
như NSDLĐ về vấn đề tham gia BHXH được nâng cao.
Đặc biệt ở 3 khu vực : khối DN ngoài công lập, khối hợp tác xã và
khối DN ngoài QD có tỷ lệ phát sinh lao động cao nhất. Cụ thể qua bảng
sau :
Bảng 4. Số lao động tham gia BHXH BB tại BHXH Thành phố
Nam Định giai đoạn 2013-2015
Loại
hình

2014
2015
2013
Lượn Tỷ lệ
Lượn Tỷ lệ
NLĐ
NLĐ
(ngườ
g
phát
g
phát
(người
(ngườ
i)
tăng sinh
tăng
sinh
)
i)
giảm
(%)
giảm
(%)
956
1.032
76
7,95 1.214 182
17,64

Khối
DNNN
Khối DN 1.245
ngoài
quốc
doanh
Khối HS 867
Đảng,

1.113

(132)

(10,6
)

1.242

129

11,59

932

65

7,5

1021

89

9,55

23


Tiểu luận QL thu BHXH
Đoàn
Khối
ngoài
công lập
Hợp tác

Phường,
xã,
thị
trấn
Hộ
SXKD
Tổng

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

60

75

15

25

81

60

(21)

1.923

2.094

1105
6.237

109

34

45,33

25,93 85

25

41,67

171

8,9

1994

(100)

(4,78)

1150

45

4,07

1016

(134)

6.456

219

3,51

6.681

225

(11,65
)
3,49

(Nguồn BHXH Tp Nam Định)
Qua bảng số liệu ta thấy: Mặc dù số lao động tăng qua các năm,
nhưng cơ cấu lao động của từng khối có sự biến động khác nhau. Cụ
thể như các khối DNNN, khối SXKD và khối HS Đảng, Đoàn cá thể
giảm. Các khối còn lại có tăng nhưng lượng tăng không nhiều.
Ở các khu vực kinh tế khác thì người lao động cũng ngày càng
tăng dần lên do hàng năm có tăng thêm số lượng lao động tuyển vào
các đơn vị trong từng lĩnh vực riêng. NLĐ và ĐVSDLĐ thuộc diện tham
gia BHXH trong thành phố được BHXH thành phố phối hợp với BHXH
tỉnh và sở LĐTBXH tỉnh kiểm soát ở mức độ tương đối. Dù kết quả còn
hạn chế nhưng cũng có sự tiến bộ nỗ lực trong những năm vừa qua.
Như vậy, xét một cách toàn diện thì số người đã tham gia BHXH
so với tổng số người trong độ tuổi lao động của toàn thành phố là chưa
cao. Vì vậy cần chú trọng tới vấn đề này để có thể khai thác thêm mới
được số lao động tham gia BHXH trong những năm tới.
Quản lý tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng

2.2.2

Tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH là tiền lương, tiền
công theo ngạch, bậc hoặc lương theo cấp bậc, chức vụ, lương hợp
đồng.

24


Tiểu luận QL thu BHXH

Giảng viên: Bùi Thị Thu Hà

NLĐ hưởng lương theo chế độ tiền lương thuộc hệ thống thang
bảng lương do Nhà Nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHXH là
tiền lương theo ngạch bậc, cấp bậc quân hàm và khoản phụ cấp chức
vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề(nếu có).
Tiền lương này được tính trên cơ sở mức tiền lương tối thiểu.
Tiền lương hàng tháng làm căn cứ đóng BHXH của NLĐ làm việc
theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quy định thì tiền lương,tiền công
tháng đong BHXH là mức tiền lương, tiền công ghi trong HĐLĐ nhưng
không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà Nước quy định và cao nhất
không được cao hơn 20 tháng tiền lương tối thiểu chung.
Qũy tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH được quản lý theo
từng đơn vị sử dụng lao động. Việc quản lý tốt quỹ tiền lương, tiền công
là cơ sở để mọi hoạt động khác diễn ra ổn định: công tác thu, chi, quản
lý quỹ… Hàng tháng cơ quan BHXH yêu cầu các đơn vị sử dụng lao
động đóng BHXH, BHYT, BHTN cho NLĐ đồng thời cũng phải tuân theo
các quy định của pháp luật về quản lý tiền lương, tiền công làm căn cứ
đóng.
Bảng 5 : Tổng quỹ lương làm căn cứ đóng BHXH
Năm
Số đơn vị( ĐV) Số lao động Quỹ tiền lương
(người)
(triệu đồng)
2013
363
6.237
60.635
2014
367
6,456
71.740
2015
395
6.681
83.820
(Nguôn: BHXH thành phố Nam Định)
Nhận xét: qua bảng thống kê ta thấy:
Tổng quỹ lương của đơn vị tăng qua các năm, nguyên nhân là do:
-

Số lao động hàng năm của doanh nghiệp tăng, bản thân tiền lương của

-

NLĐ cũng tăng lên.
Các doanh nghiệp đã có những biện pháp thích hợp để không ngừng
nâng cao hiệu quả lao động.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×