Tải bản đầy đủ

Phân tích xu hướng trong cấu trúc nhân cách

Phân tích xu hướng trong cấu trúc nhân cách. Liên hệ trong đời sống
thực tiễn
Trong xã hội việt nam hiện nay mỗi khi đánh giá về một con người
thường chủ yếu nói về nhân cách. Nhân cách là yếu tố quan trọng
quyết định chất lượng mối quan hệ giữa con người với con người từ
những chuyện bình thường, mối quan hệ gia đình, kết giao đến
mối quan hệ xã hội, công tác, kinh doanh. Nhân cách thể hiện qua
cách ứng xử của con người đối với người khác cũng như đối với sự
việc trong cuộc sống, đồng thời nhân cách thể hiện trình độ văn
hóa, nhân tính và nguyên tắc sống của con người. Con người là
một thực thể xã hội, vì vậy chất lượng mối quan hệ xã hội có ảnh
hưởng quyết định đối với chất lượng cuộc sống.
Nhân cách được định hình bởi hệ thống những phẩm giá thể hiện
qua các mối quan hệ của con người xuất phát từ tâm lý, tình cảm,
nhân sinh quan, nhận thức về bản thân và xã hội. Nhân cách là
đặc trưng của từng cá nhân, là bản chất thực của con người. Phía
trước mọi người, trong cuộc đời, luôn có nhiều con đường. Người
thiếu nhân cách sẽ mất phương hướng khi chọn con đường chính
đáng cho mình.Thế nên bạn có biết rằng nhân cách là rất quan
trọng hay không, và chính xu hướng trong cấu trúc của nhân cách
chính là một gia vị không thể thiếu tạo nên nhân cách hoàn chỉnh

và toàn diện của một con người.Để giúp mọi người hiểu rõ hơn về
nhân cách cũng như xu hướng của nhân cách tôi sẽ di tìm hiểu vấn
đề: Phân tích xu hướng trong cấu trúc nhân cách. Liên hệ trong đời
sống thực tiễn.
B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.Các khái niệm cơ bản và một số đánh giá liên quan


1.Khái niệm nhân cách
Nhân cách là tổ hợp các thuộc tính tâm sinh lý của cá nhân thể
hiện bản sắc và giá trị xã hội của cá nhân.
Như vậy có thể thấy rằng: nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc
đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, là nội dung và tính chất bên trong
của mỗi cá nhân. Bởi vậy, nếu cá nhân là khái niệm chỉ sự khác
biệt giữa cá thể với giống loài thì nhân cách là khái niệm chỉ sự
khác biệt giữa các cá nhân. Cá nhân là phương thức biểu hiện của
giống loài, còn nhân cách vừa là nội dung, vừa là cách thức biểu
hiện của mỗi cá nhân riêng biệt.
Nhân cách biểu hiện thế giới cái tôi của mỗi cá nhân, là sự tổng
hợp của các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tạo nên đặc trưng
riêng về di truyền, về sinh lý thần kinh, về hoàn cảnh sống của cá
nhân theo cách riêng của mình. Mỗi cá nhân tiếp thu những giá trị
phổ biến của văn hoá xã hội, từ đó, thông qua sự lọc bỏ, tự tiếp
nhận của bản thân để hình thành các giá trị định hướng của nhân
cách. Các giá trị như lý tưởng, niềm tin, quan hệ lợi ích, nhận thức
và hành động được mỗi cá nhân lựa chọn để xác lập hành vi cụ
thể, hình thành nhân cách trong quan hệ xã hội.
Mặt khác Nhân cách không phải là bẩm sinh, sẵn có mà được hình
thành và phát triển phụ thuộc vào ba yếu tố sau đây:
Thứ nhất, nhân cách phải dựa trên tiền đề sinh học và tư chất di
truyền học, một cá thể sống phát triển cao nhất của giới hữu sinh.


Thứ hai, môi trường xã hội là yếu tố quyết định sự hình thành và
phát triển của nhân cách thông qua sự tác động biện chứng của
gia đình, nhà trường và xã hội đối với mỗi cá nhân.
Thứ ba, hạt nhân của nhân cách là thế giới quan cá nhân, bao gồm
toàn bộ các yếu tố như quan điểm, lý luận, niềm tin, định hướng
giá trị...
2. xu hướng

Xu hướng của nhân cách là hệ thống động cơ quy định tính tích
cực và sự lựa chọn thái độ của con người trong quá trình hoạt
động.
Từ khái niệm trên ta có thể đánh giá: Xu hướng của nhân cách
thường được biểu hiện qua: nhu cầu, hứng thú, lý tưởng,
thế giới quan, niềm tin. Có thể nói rằng xu hướng chính là chiều
hướng phát triển của nhân cách con người, các thành phần trong
xu hướng nhân cách như: nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng, lý
tưởng, thế giới quan, niềm tin là các thành phần trong hệ thống
động cơ của nhân cách, chúng là động lực của hành vi, của hoạt
động.
II. Quan điểm về cấu trúc nhân cách và xu hướng trong cấu trúc
nhân cách và mỗi liên hệ thực tiễn cuộc sống.
1.Một số quan điểm về cấu trúc nhân cách
- Quan điểm của Sigmund FreudS.Freud cho rằng, tảng bằng tâm
trí của con người gồm 3 cấp bậc: ý thức, tiền ý thức và vô thức.


Trong 3 cấp độ ấy, 3 thành phần cơ bản của nhân cách là: cái Ấy
(Id), cái Tôi (Ego) và cái Siêu Tôi (Super Ego) tồn tại, đấu tranh và
chế ước lẫn nhau. Nhân cách của một người tùy thuộc vào yếu tố
nào thắng thế trong cuộc đấu tranh giữa 3 yếu tố trên.
- Quan điểm của C.G.Jung và E. Kretschmer: Nhân cách con người
có mối liên hệ mật thiết với các đặc điểm sinh học, thể tạng và đặc
điểm của hệ thần kinh. E. Kretschmer cho rằng, các thành phần
cấu tạo nên cơ thể có mối quan hệ và quy định các thành phần
tâm lý của nhân cách.
- Thuyết siêu đẳng và bù trừ của Alfred AdlerAlferd Adler cho rằng,
mong muốn “siêu đẳng” của con người hướng đến sự “siêu đẳng”
là yếu tố quyết định đến nhân cách của con người. Tuy nhiên,
mong muốn này khó thực hiện được do sự khiếm khuyết về mặt cơ
thể và do điều kiện sống không thuận lợi nên con người có cảm
giác thiếu hoàn thiện. Bù trừ là cách giúp con người vượt qua cảm
giác đó.
- Cấu trúc nhân cách theo các nhà tâm lý học của Nga.
+ Quan điểm của B.G.AnanhievNhân cách bao gồm 4 thành phần:
quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý, thuộc tính tâm lý và sự hình
thành động cơ (bao gồm nhu cầu và tâm thế.
Đó là những quan điểm về cấu trúc của nhân cách, tuy nhiên tôi
thừa nhận cấu trúc của nhân cách theo quan điểm của đa số các
nhà tâm lí học việt Nam đó là: Nhân cách được cấu trúc bao gồm 4
thuộc tính: Xu hướng, năng lực, tính cách và khí chất. Xu hướng
thể hiện chiều hướng phát triển của nhân cách; tính cách biểu hiện


đạo đức, cốt cách làm người; năng lực thể hiện khả năng của con
người và khí chất thể hiện hành vi của con người.
- Khí chất: Khí chất (tính khí) là thuộc tính tâm lý của cá nhân quy
định cường độ, tốc độ, nhịp độ của các hoạt động và thể hiện qua
sắc thái hành vi của cá nhân.
Khí chất chỉ là biểu hiện độc đáo bề ngoài của các hoạt động tâm
lý của cá nhân chứ không quyết định đến nội dung của các hoạt
động tâm lý
- Năng lực: Năng lực là hệ thống các đặc điểm tâm sinh lý của cá
nhân phù hợp với yêu cầu củamột hoạt động cụ thể, đảm bảo cho
hoạt động đó mang lại hiệu quả.Năng lực bao gồm năng lực chung
và năng lực riêng. Năng lực chung có ở tất cảmọi người như: năng
lực quan sát, cảm giác, tri giác, tư duy…Năng lực riêng là năng
lựcchỉ có ở một số người. Năng lực chuyên môn cũng là một loại
năng lực riêng.
- Tính cách: Tính cách là hệ thống thái độ của cá nhân đối với hiện
thực xung quanh và đối vớibản thân mình được thể hiện trong
hành vi, cử chỉ. Tính cách bao gồm nhiều nét tínhcách. Trong đời
sống, những nét tính cách tốt thường được gọi là “nết”, “lòng”,
“tinh thần”, những nét tính cách xấu được gọi là “thói”, “tật.
2. Xu hướng trong cấu trúc nhân cách và mỗi liên hệ với thực tiễn
cuộc sống
Các yếu tố cấu thành xu hướng bao gồm: nhu cầu, hứng thú, lý
tưởng, thế giới quan, niềm tin.


*Nhu cầu: Nhu cầu là sự thể hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân
đối với hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần được
thỏa mãn để tồn tại và phát triển.
Đặc điểm của nhu cầu:
+ Thứ 1 : Nhu cầu rất phong phú và đa dạng: Tại một thời điểm có
rất nhiều nhu cầu tác động đến con người. Tuy nhiên, có những
nhu cầu mang tính cấp bách, cần phải được thỏa mãn trước được
gọi là nhu cầu nổi trội. Con người có khuynh hướng thỏa mãn
những nhu cầu nổi trội trước.
+ Thứ 2: Nhu cầu của con người bao giờ cũng có đối tượng: Khi cá
nhân xuất hiện trạng thái thiếu thiếu hụt thì nhu cầu được nảy
sinh. Nhu cầu khiến cá nhân tìm kiếm, hướng đến những đối tượng
có thể thỏa mãn được nhu cầu cho bản thân mình. Nhu cầu gặp
đúng đối tượng thì nảy sinh động cơ. Động cơ là yếu tố thúc đẩy cá
nhân tác động vào đối tượng để thỏa mãn nhu cầu.
+ Thứ 3: - Nhu cầu có tính chu kỳ và cường độ tăng dần: Chu kỳ
của nhu cầu bắt đầu từ trạng thái thiếu hụt làm nảy sinh nhu cầu,
nhu cầu gặp đúng đối tượng nảy sinh động cơ thúc đẩy chủ thể tác
động vào đối tượng để thỏa mãn nhu cầu. Sau khi thỏa mãn được
nhu cầu thì chu kỳ của một loại nhu cầu kết thúc nhưng lại nảy
sinh những nhu cầu khác với cường độ cao hơn chu kỳ trước đó.
+ Thứ 4: Nhu cầu của con người chịu sự chi phối của ý thức và có
bản chất xã hội: Nhu cầu của con người khác nhu cầu con vật. Khi
có nhu cầu, con vật tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu mà không


cần quan tâm đến đối tượng đó là ai (kể cả cha, mẹ, anh, chị,
em…). Với con người thì khác, khi thỏa mãn nhu cầu con người
cũng phải tuân theo những nguyên tắc của cá nhân và những
chuẩn mực đạo đức của xã hội. Con người biết những đối tượng
nào có thể tác động để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, đối tượng
nào không thể tác động và đối tượng nào không được phép tác
động. Con người nhận thức được hệ quả của việc thỏa mãn nhu
cầu, biết sắp xếp, tiết chế nhu cầu cho phù hợp với bản thân, phù
hợp với điều kiện, hoàn cảnh và phù hợp với yêu cầu của xã hội.
+ Thứ 5: Nhu cầu có mối liên hệ mật thiết với cảm xúc: Nhu cầu
được thỏa mãn hay không thỏa mãn cũng đều nảy sinh cảm xúc.
Nhu cầu được thỏa mãn sẽ nảy sinh cảm xúctích cực (dương tính),
ngược lại nhu cầu không được thỏa mãn sẽ nảy sinh cảm xúc tiêu
cực (âm tính).
+ Thứ 6: Nhu cầu chi phối đời sống tâm lý của con người: Nhu cầu
là cơ sở, là tiền đề, là nguyên nhân nảy sinh phần lớn các hiện
tượng tâm lý người. Nhu cầu là một trong những nội dung được
nhiều nhà tâm lý học quan tâm, nghiên cứu. Vì thế, việc phân loại
nhu cầu cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Theo cách phân chia
thông thường thì nhu cầu có 2 loại: nhu cầu về vật chất và nhu cầu
về tinh thần. Abraham Masslow-nhà tâm lý học nhân văn của Mỹ
cho rằng, nhu cầu của con người bao gồm 5 thứ bậc khác nhau
giống như một chiếc thang. Vì thế, muốn đi lên đỉnh chiếc thang
thì phải bắt đầu từ chân thang, muốn thỏa mãn nhu cầu bậc cao
thì trước hết phải thỏa mãn được những nhu cầu ở bậc thấp.
+ Thứ 7: Nội dung của nhu cầu: phụ thuộc vào trạng thái thiếu
hụt, điều kiện và phương pháp thỏa mãn nhu cầu.


Tóm lại Nhu cầu không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với cá nhân
mà còn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Ở
cấp độ cá nhân, việc nhận biết nhu cầu của con người có thể tạo
điều kiện thuận lợi để hiện thực hóa những nhu cầu chính đáng. Ở
cấp độ xã hội, chúng ta cần nhận biết những nhu cầu đã, đang và
sắp bảo hòa, những nhu cầu nào đang và sắp nảy sinh để tạo điều
kiện cho việc sản xuất, trao đổi và lưu thông hàng hóa.
Liên hệ thực tế nhu cầu tâm lí của con người ví dụ thực tế ngành y.
- Con người thích nghi với môi trường thông qua các ứng xử để
thoả mãn nhu cầu nhiều mặt của mình.
- Nhu cầu cơ bản đó rất đa dạng, đại cương có thể thuộc 3 loại:
+ Nhu cầu vật chất.
+ Nhu cầu tình cảm.
+ Nhu cầu xã hội.
- 3 loại nhu cầu trên được thoả mãn một cách thích đáng, làm cho
con người hài lòng, đưa đến những ứng xử thích hợp, lành mạnh,
làm cho con người có sức khoẻ cơ thể và tâm thần. Trái lại, có thể
đưa đến không hài lòng, bất mãn đưa đến những ứng xử không
thích hợp, ốm yếu, không thích ứng hoặc bị rối nhiễu.
Nhu cầu vật chất: của con người liên quan chặt chẽ với hoạt động
của cơ thể để sống, còn gọi là nhu cầu sơ đẳng hay sinh lý, bẩm
sinh, ăn uống, nuôi dưỡng kể cả nhu cầu nước, ôxy bài tiết: nhu
cầu mặc, nhu cầu có nhà ở, một chỗ núp để cơ thể được ấm áp,
được bảo vệ; nhu cầu hoạt động và nghỉ ngơi và hoạt động tình
dục...


- Con người sống trong xã hội, nên nhu cầu vật chất được thoả
mãn thông qua tác động với người khác chủ yếu là những người có
ý nghĩa (ở đứa bé, được mẹ cho ăn, tắm rửa, bế bồng, vuốt ve ôm
ấp). Nhu cầu vật chất được thoả mãn như thế nào, ảnh hưởng
mạnh mẽ đến tương lai của bé. Nếu nhu cầu của bé được đáp ứng
nhất quán với sự tôn trọng, bé hài lòng, trẻ sẽ phát triển ý thức tôn
trọng bản thân, tôn trọng người khác và thế giới trong đó nó sống.
Đó là trẻ đã học tập được cách ứng xử thông qua việc được mẹ
thoả mãn nhu cầu ăn. Trái lại nếu không khí bữa ăn căng thẳng,
thiếu đầm ấm làm cho trẻ trải nghiệm các cảm giác bất an, không
thích thú, không hài lòng có thể đưa đến về sau phát triển thói
quen nuốt chửng mau để mau chấm dứt cảm giác khó chịu hoặc
phản ứng lại thành ợ, nôn, trớ...
- Nhu cầu tình cảm. Phổ biến nhất là nhu cầu được yêu, và được
yêu người khác, được tán thành, được thừa nhận, được coi trọng và
kính trọng: nhu cầu thấy mình là xứng đáng, được người khác
muốn, cần, nhu cầu được làm việc, sáng tạo.
Cũng như đối với nhu cầu vật chất các nhu cầu trên, ngay từ bé
được thoả mãn thông qua mối tương tác quan hệ giữa mẹ và con.
Nếu bé được bố mẹ thương yêu thoải mái, thẳng thắn, bé phát
triển cảm giác mình thật sự có giá trị, có phẩm giá, tự tôn đi đến
yêu thương người khác. Nếu bé cảm thấy mình được đối xử như
một người quan trọng đi đến coi trọng quyền lợi người khác. Nếu
bé được giúp đỡ để giải quyết các vấn đề trong môi trường sẽ phát
triển cảm giác sức mạnh và an toàn. Nếu khả năng làm việc được
thừa nhận, khuyến khích, phát triển cảm giác đầy đủ, toàn vẹn.


Mỗi chúng ta đều có nhu cầu làm việc, biểu hiện năng lực, năng
suất và sự sáng tạo của chúng ta. Nhu cầu này bắt đầu từ lúc bé
kém hứng thú trong hoạt động chỉ để vui chơi mà muốn dùng một
dụng thật sự có hiệu quả. Lớn dần lên, trẻ học đua tranh để thành
một người lớn có đóng góp. Nếu không tìm thấy hài lòng trong việc
làm, có thể trải nghiệm cảm giác hèn kém, thất vọng rồi bỏ cuộc.
Vậy ngay từ bé, người lớn trong gia đình, nhất là người mẹ không
lỡ cơ hội để động viên giúp đỡ khuyến khích, có khi ban thưởng
các việc làm thành công của trẻ sự hài lòng, có hứng thú đầu tư
sức lực và tâm tư vào công việc.
Các nhu cầu xã hội:
- Nảy sinh từ trong nền văn hoá, trong xã hội mà người đó là thành
viên. Phổ biến là nhu cầu đồng nhất hoá, theo hình ảnh của bố mẹ
và các thành viên trong gia đình, đồng nhất hoá với bạn cùng lứa ở
tuổi thanh thiếu niên, thuộc về một đoàn thể, một nhóm nào, chấp
nhận một số giá trị từ cách mặc quần áo, đầu tóc, nói năng... nếu
không, có thể bị cách biệt, xa lánh trong quan hệ. Từ lúc còn rất
bé, người mẹ trong khi thoả mãn nhu cầu vật chất, ăn uống, vệ
sinh, bế bồng, cũng là người thầy dạy cho bé phong tục tập quán
quan trọng trong gia đình, họ hàng, trong xã hội, hành trang đi vào
cuộc sống lao động của người lớn. Được khuyến khích sống trong
xã hội, con người có nhu cầu được học tập, giáo dục để chuẩn bị,
ban thưởng vì thành tích học tập làm cho bé cảm thấy an toàn,
hứng thú để phát triển mở rộng nhu cầu học tập, nắm thêm kiến
thức, càng cảm thấy vững vàng hơn. Nếu thường xuyên bị chế
diễu, bị mắng trong học tập dẫn đến mất can đảm, có thể có quan
niệm sai về kiến thức, giáo dục, đi đến sợ hãi, khinh hoặc ghen tỵ
với những người kkhác thành công hơn mình…..


* Hứng thú: Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối
tượng nào đó vừa có ý nghĩa trong đời sống vừa có khả năng mang
lại khoái cảm.
Như vậy có thể kết luận:
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng có ý
nghĩa quan trọng
với cá nhân và mang lại những rung cảm tích cực cho cá nhân
trong quá trình hoạt động. Cũng như nhu cầu, hứng thú cũng là
yếu tố thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân hành động. Cá nhân có
hứng thú đồng nghĩa với cá nhân đó có thể tập trung chú ý, vui vẻ,
say mê và sáng tạo trong hoạt động
Vai trò của hứng thú
- Hứng thú đem lại cảm giác khoan khoái, dễ chịu hay thoải mái
khi hoạt động lao động.
- Hứng thú làm tăng hiệu quả hoạt động nhận thức, hoạt động trí
tuệ;
- Hứng thú làm tăng sức làm việc;
- Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động sáng
tạo


Liên hệ thực tiễn: Tầm quan trọng của hứng thú đối với các hoạt
động sống và hoạt động học. Sự hứng thú thể hiện trước hết ở sự
tập trung chú ý cao độ, sự say mê của chủ thể hoạt động. Sự hứng
thú gắn liền với tình cảm của con người, nó là động cơ thúc đẩy
con người tham gia tích cực vào hoạt động đó. Trong bất cứ công
việc gì, nếu có hứng thú làm việc con người sẽ có cảm giác dễ chịu
với hoạt động, nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực
và sáng tạo hơn vào hành động đó. Ngược lại nếu không có hứng
thú, dù là hành động gì cũng sẽ không đem lại kết quả cao. Đối với
các hoạt động nhận thức, sáng tạo, hoạt động học tập, khi không
có hứng thú sẽ làm mất đi động cơ học, kết quả học tập sẽ không
cao, thậm chí xuất hiện cảm xúc tiêu cực.
* Lý tưởng: Lý tưởng là một mục tiêu cao đẹp, một hình ảnh mẫu
mực, tương đối hoàn chỉnh, có sức lôi cuốn con người vươn tới nó.
- Lý tưởng là biểu hiện và biểu hiện tập trung nhất của xu hướng
cá nhân, vì lý tưởng xác định mục đích sống của cá nhân, mục tiêu
và chiều hướng phát triển của cá nhân.
- Lý tưởng là động lực thúc đẩy, điều khiển toàn bộ hoạt động của
con người.
- Lý tưởng được xây dựng từ nhận thức đầy đủ cộng với tình cảm,
cộng với ý chí mạnh mẽ do đó tạo cho con người có một sức mạnh
phi thường vượt qua mọi khó khă trở ngại, thậm chí không sợ hy
sinh để đạt tới mục đích.
- Thực tiễn cuộc sống cho thấy: Lý tưởng trực tiếp chi phối sự hình
thành, phát triển tâm lý của cá nhân.Lý tưởng là biểu hiện tập


trung nhất của xu hướng, có chức năng xác định mục tiêu, chiều
hướng phát triển của cá nhân. Khi xác định được lý tưởng, con
người chủ động hơn, ý chí kiên cường hơn, dám xả thân, hi sinh vì
lý tưởng mình đã chọn. Con người sống không có lý tưởng đồng
nghĩa với việc chưa xác định được mục tiêu của cuộc đời nên dễ
gục ngã khi đối diện với khó khăn, dễ thay đổi khi ngoại cảnh tác
động và dễ mất phương hướng khi phải lựa chọn.
* Thế giới quan: Thế giới quan là hệ thống quan điểm của cá nhân
về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình trong thế giới. Thế giới
quan xác định phương hướng hành động của con người và tạo
động lực cho con người.
Thực tiễn thế giới quan trong cuộc sống: Thế giới quan đóng vai trò
nhân tố sống động của ý thức cá nhân, giữ vai trò chỉ dẫn cách
thức tư duy và hành động của cá nhân. Nó đồng thời cũng thể hiện
lý luận và khái quát hóa các quan điểm và hoạt động của nhóm xã
hội. Mỗi cá nhân cũng luôn mong muốn tiếp nhận những thế giới
quan khác, làm phong phú thế giới quan cho mình, góp phần điều
chỉnh định hướng cuộc sống.
Xuất phát từ lập trường, biện giải thế giới quan đúng đắn, con
người có thể có được những cách giải quyết vấn đề đúng đắn do
cuộc sống đặt ra. Ngược lại, xuất phát từ lập trường sai lầm, con
người khó có thể tránh khỏi hành động sai lầm.
Khi giải quyết những vấn đề cụ thể của thực tiễn, sớm muộn người
ta vấp phải những vấn đề chung, cần đến sự đóng góp của thế giới
quan làm cơ sở định hướng giải quyết vấn đề cụ thể. “Một tập hợp
những sự kiện mới càng rối rắm bao nhiêu, các tư tưởng mới càng


nhiều hình nhiều vẻ bao nhiêu thì nhu cầu phải có một thế giới
quan liên kết lại càng cảm thấy trở nên bức thiết bấy nhiêu” (M.
Plank).
*Niềm tin:
Niềm tin là một phẩm chất của thế giới quan, là kết tinh của hệ
thống quan điểm, tri thức, rung cảm, ý chí của cá nhân. Niềm tin
sẽ hình thành chân lý của cá nhân. Cá nhân hành động theo niềm
tin, vì niềm tin cá nhân có thể làm mọi việc, khắc phục mọi trở
ngại.Niềm tin là một phẩm chất của thế giới quan, là kết tinh của
hệ thống quan điểm, tri thức, rung cảm, ý chí của cá nhân. Niềm
tin sẽ hình thành chân lý của cá nhân. Cuộc sống của mỗi chúng ta
luôn cần đến niềm tin và lòng tốt. Một trong những điều nguy hiểm
nhất ở con người là đánh mất niềm tin nơi con người và cuộc sống,
mất niềm tin nơi những giá trị đạo đức tốt đẹp của cuộc sống. Khi
mất niềm tin vào cuộc sống, chúng ta sẽ bị giảm sút ít nhiều nghị
lực vươn lên trong cuộc sống, đánh mất ý nghĩa cuộc sống của
chính bản thân mình.
C.KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Nhân cách con người là thứ quý giá nhất,vì thế mỗi chung ta phải
tự biết hoàn thiện nhân cách sao cho phù hợp. Nhân cách con
người được cấu trúc bởi nhiều bộ phận như: năng lực, tính cách,khí
chất và một thứ gia vị không thể thiếu đó là xu hướng.Chính xu
hướng là cái bản sắc, và độc đáo nhất tạo nên một chiều hướng
phát triển của nhân cách muốn thay đổi nhân cách thì trước tiên
phải thay đổi xu hướng, đó là thứ gia vị đâm đà nhất mà trong thực
tiễn cuộc sống không thể bỏ qua.Vậy nên mỗi chúng ta nên đổi


mới xu hướng hay chính là nhân cách theo sự phát triển của thời
đại và những chuẩn mực xã hội, hãy tự đánh giá chính mình.
Hoàn thiện nhân cách con người là một tiến trình lâu dài, đòi hỏi ý
chí phấn đấu mãnh liệt và bền bỉ. Trong cuộc đấu tranh với chính
mình để lọai bỏ thói hư, tật xấu và tập cho mình có những đức tính
tốt việc đầu tiên cần làm là bảng đánh giá chính mình. Ta đã hài
lòng với tư cách của mình chưa?
+ Điều gì khiến ta thấy ta chưa tốt? Lên danh sách, chọn cái nổi
cộm và hạ quyế tâm để sừa sai
+ Hãy chọn cho mình một bảng giá trị để mình yêu quí. Một nhân
vật mẫu để noi theo.
+ Hàng ngày chọn một giờ nhất định để xem mình tiến hay lùi tới
đâu trong cuộc chiến này
+ Vận dụng người thân, bạn bè tin tưởng yểm trợ tâm lý cho bạn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×