Tải bản đầy đủ

Vận dụng marketing mix nhằm phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa của công ty TNHH vận tải D’MAX”

Nền kinh tế Việt Nam đang có những chuyển biến tích cực, chúng ta đang
ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới. Đặc biệt là sau
khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO các dịch vụ về logistics là
lĩnh vực được ưu tiên mở cửa. Điều đó tạo rất nhiều cơ hội cho sự phát triển của
doanh nghiệp vận tải trong thời kì mới nhưng cũng đặt ra không ít thách thức cho
các doanh nghiệp như là đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt và khốc liệt không chỉ
của doanh nghiệp trong nước mà cả doanh nghiệp nước ngoài. Các đơn vị hoạt động
kinh doanh muốn đứng vững và phát triển được trên thị trường cần phải xuất phát từ
nhu cầu thị trường để xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm thoả mãn nhu
cầu của khách hàng một cách tối đa.
Cùng với xu hướng đó, vai trò của hoạt động Marketing ngày càng được
khẳng định trên thị trường. Nó giúp cho các đơn vị định hướng hoạt động kinh
doanh của mình. Từ việc nghiên cứu thị trường, nhu cầu thị trường đến việc thúc
đẩy tiêu thụ tăng doanh số bán và tăng sự thoả mãn khách hàng. Marketing được coi
là một trong những bí quyết tạo nên sự thành công của doanh nghiệp và là công cụ
cạnh tranh có hiệu quả. Chính vì vậy để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp
vận tải cần sử dụng các công cụ của marketing một cách hợp lí nhằm nâng cao khả
năng cạnh tranh cho doanh nghiệp trong điều kiện mới.
Đối với Công ty TNHH Vận Tải D'MAX việc ứng dụng các công cụ
marketing một cách hợp lí sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp từ đó tạo tiền đề cho doanh nghiệp xâm nhập sâu hơn vào thị trường.

Trong thời gian thực tập tại công ty TNHH vận tải D’MAX, em thấy được sự
cần thiết của việc đẩy mạnh vận dụng các biến số marketing-mix để nâng cao khả
năng cạnh tranh cho doanh nghiệp và phát triển, mở rộng hoạt động kinh doanh của
công ty. Vì vậy kết hợp giữa kiến thức được trang bị ở nhà trường và thực tiễn hoạt
động kinh doanh ở doanh nghiệp, em chọn đề tài: “Vận dụng marketing-mix nhằm
phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa của Công ty TNHH
vận tải D’MAX” để nghiên cứu và thực hiện chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn hoạt động kinh doanh tại công ty D’MAX,


đề tài tập trung đánh giá việc ứng dụng marketing-mix trong thực tiễn hoạt động
kinh doanh của Công ty qua đó đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh việc vận dụng các
tham số cơ bản của marketing để nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp,
phát triển hoạt động kinh doanh của Công ty. Hoạt động marketing-mix của công ty
được tập trung phân tích, nghiên cứu trên 5 tham số cơ bản. Đó là: tham số con
người, tham số sản phẩm, tham số giá, tham số phân phối và tham số xúc tiến.
Ngoài phần “Lời mở đầu” và “Kết luận”, bản chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về Công ty TNHH Vận Tải D’Max
Chương 2: Thực trạng vận dụng marketing-mix trong hoạt động kinh doanh
dịch vụ vận tải hàng hóa của Công ty TNHH Vận Tải D’Max
Chương 3: Một số giải pháp vận dụng marketing-mix nhằm phát triển hoạt
động kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa của Công ty TNHH vậ tải D’MAX


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH VẬN TẢI D'MAX
1.1.

Thông tin chung về công ty
Công ty TNHH vận tải D’MAX tên tiếng anh là D’MAX Logistics Company

Limited, viết tắt là D’MAX CO, LTD được thành lập năm 2006 theo giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do sở
kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 07/11/2006. Ngay từ khi mới thành lập,
Ban lãnh đạo công ty đã xác định sứ mệnh cho công ty là cung cấp một cách hiệu
quả nhất các dịch vụ vận tải cho khách hàng, thông qua đội ngũ nhân viên “chuyên
nghiệp từ suy nghĩ đến hành động”. Lĩnh vực hoạt động chính của công ty là cung
cấp dịch vụ logistics tại Việt Nam, trong đó tập trung chủ yếu vào cung cấp dịch vụ
vận tải đường bộ nội địa. Với hơn 5 năm thành lập và không ngừng phát triển, công
ty đã thu được nhiều thành công đáng ghi nhận, doanh thu, lợi nhuận cũng như thị

trường của công ty ngày một tăng.
Sau đây là một số thông tin về công ty:
Tên thành lập:

Công ty TNHH vận tải D’Max

Tên giao dịch quốc tế :

D’Max Logistics

Trụ sở chính:

Số 164 – Khu giãn dân Yên Phúc – Phường Phúc La –

Quận Hà Đông – TP Hà Nội - Việt Nam
Website:
Điện thoại:

www.dmaxlogistics.com
0433545420

Mã số thuế:

Fax:

0433545421

0102066176

Ngành nghề đăng ký kinh doanh:
1

Vận tải hàng hóa

2

Thuê và cho thuê nhà xưởng, kho, bến bãi

3

Vận tải hành khách theo tuyến cố định và theo hợp đồng

4

Dịch vụ cho thuê xe ô tô tự lái

5

Dịch vụ bảo dưỡng sửa chữa ô tô


6

Đại lý mua-bán-ký gửi hàng hóa

7

Mua bán ô tô và xe có động cơ khác

8

Bán phụ tùng và các bộ phận phụ trợ của ô tô và xe có động cơ khác

1.2.

Quá trình hình thành và phát triển
Với hơn 5 năm đi vào hoạt động kinh doanh, công ty TNHH vận tải D’MAX

đã có những điểm mốc đáng chú ý sau:


Đăng ký kinh doanh lần 1 – 07/11/2006 – số vốn điều lệ 50 triệu đồng. Trụ
sở kinh doanh tại số 115 – khu tập thể vật tư thủy lợi – xã Tứ Hiệp – huyện
Thanh Trì – TP Hà Nội với tổng diện tích mặt bằng là 41m2



Đăng ký kinh doanh lần 2 – 10/05/2008 – số vốn điều lệ là 1 tỷ đồng. Công
ty chuyển trụ sở về số 46 – Phùng Hưng – Hà Đông – Hà Nội với tổng diện
tích mặt bằng là 160m2



Đăng ký kinh doanh lần 3 – 19/06/2009 – số vốn điều lệ là 2 tỷ đồng



Ngày 18/02/2011 công ty đã chuyển trụ sở về địa chỉ số 164 – khu giãn dân
Yên Phúc – Phường Phúc La – Hà Đông – Hà Nội với tổng diện tích mặt
bằng 258m2
Trong quá trình kinh doanh của mình, D’MAX luôn coi khách hàng là

những cá thể riêng biệt, có nhu cầu được lắng nghe, chia sẻ, được đáp ứng, phục vụ
một cách tốt nhất và được đối xử công bằng. Bởi vậy, D’MAX luôn nỗ lực ở mức
cao nhất để mỗi nhu cầu của khách hàng đều được đáp ứng nhanh nhất, hiệu quả
nhất và chuyên nghiệp nhất. Sự hài lòng và tin cậy của khách hàng chính là khởi
nguồn cho sự thịnh vượng và phát triển bền vững của công ty. Sau 5 năm đi vào
hoạt động D’MAX đã nhận được rất nhiều sự tin tưởng và sự hài lòng của khách
hàng cho những dịch vụ mà công ty cung cấp. Doanh thu, lợi nhuận, tài sản và
nguồn vốn của công ty tăng nhanh theo từng năm. Lợi nhuận trước thuế của công ty
tăng từ 8,6 trăm triệu năm 2007 lên 3,7 tỷ đồng năm 2010, số lượng nhân viên năm


2007 là 10 nhân viên đến nay công ty đã có hơn 100 nhân viên được đào tạo và làm
việc hiệu quả. Trong tương lai gần, D’MAX sẽ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh
để phục vụ nhu cầu của khách hàng ngày một tốt hơn. Kim chỉ nam cho mọi hoạt
động kinh doanh của công ty là “Chuyên nghiệp từ suy nghĩ đến hành động” và
“khách hàng luôn luôn đúng, nếu khách hàng sai xem lại chính mình” nhằm thỏa
mãn tối đa nhu cầu riêng biệt của mỗi khách hàng.

Hồi Đồng Thành Viên

Giám đốc

Phó giám đốc

1.3.

Sơ đồ 1.1: Quá trình phát triển của Công ty

Phó giám đốc

Nguồn: Công ty D’MAX

Cơ cấu tổ chức của công ty
Công ty TNHH vận tải D’MAX là công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên

P. Kế hoạch và Marketing

P. Điều hành

P. Hành chính Tổng hợp

P. Tài chính kế toán

do ông Đoàn Định Luận và ông Bùi Duy Tấn Đạt góp vốn thành lập và tiến hành
các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong đó ông Đoàn Đình Luận là chủ tịch hội
đồng thành viên kiêm giám đốc công ty, đồng thời là người đại diện theo pháp luật
của công ty.

BP Kế hoạch BP Marketing

Đội xe

BP BDSC

BPsự
Tổng hợp bảo hiểm
BP tài chính BP kế toán
BP hành chính nhân

Thủ quỹ


Sơ đồ 1.2: Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty
Nguồn: Phòng hành chính tổng hợp
Vai trò của các bộ phận trong công ty:
- Hội đồng thành viên: bao gồm hai thành viên sáng lập, đây là cơ quan có
toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích,
quyền lợi và nghĩa vụ của công ty. Hội đồng thành viên có trách nhiệm định hướng
chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty thông qua việc
hoạch định các chính sách, ra nghị quyết hành động cho từng thời kỳ phù hợp với tình
hình sản xuất kinh doanh của công ty. Ngoài ra, hội đồng thành viên và các thành viên
trong hội đồng cũng có quyền và trách nhiệm khác theo quy định của điều lệ công ty và


điều 47 Luật Doanh nghiệp 2005.
- Ban Giám đốc: là người điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hàng
ngày của công ty, có quyền quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng
ngày và chịu trách nhiệm trước hội đồng thành viên về việc thực hiện các quyền và
nhiệm vụ của mình.
- Phòng hành chính tổng hợp: Trợ giúp cho Hội đồng thành viên và Giám
đốc công ty quản lý và hoạch định các chính sách phát triển nguồn nhân lực, cũng
như đảm bảo tốt môi trường làm việc và đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ
cán bộ công nhân viên và người lao động.
- Phòng tài chính kế toán: Là phòng chức năng giúp việc cho Hội đồng thành
viên và giám đốc công ty trong việc tổ chức, chỉ đạo công tác Tài chính - Kế toán
theo đúng quy chế tài chính và điều lệ công ty. Phòng tài chính kế toán bám sát và
hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao bao gồm: Kiểm soát chi phí sản xuất
kinh doanh, phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh, phục vụ nhu cầu chi tiêu kịp
thời và đầy đủ, báo cáo kịp thời chính xác các chứng từ hợp đồng kinh tế, lập và gửi
báo cáo thống kê, báo cáo tài chính hàng quý và cuối niên độ kế toán để gửi lên Hội
đồng thành viên và Ban giám đốc công ty. Ngoài ra Phòng tài chính kế toán còn đảm
bảo hoàn thành tốt công tác lên kế hoạch tài chính, lập các báo cáo đột xuất phát sinh.
- Phòng điều hành (phòng kinh doanh): chịu trách nhiệm lên phương án điều xe,
thông báo kế hoạch điều xe cho đội xe và cán bộ điều hành tại nhà máy. Quản lý, lưu
giữ chứng từ, sổ sách nhập – xuất – kiểm kê kho, biên bản bàn giao hàng hóa và
định kỳ lập các báo cáo theo yêu cầu quản lý. Tổ chức triển khai giao hàng trong
nội tỉnh và làm thủ tục vận chuyển hàng hóa nội ngoại tỉnh.
- Phòng Kế hoạch - Marketing: lập kế hoạch vận chuyển và lưu kho hàng
hóa và thông báo cho phòng điều hành của D’MAX về kế hoạch thu gom, phân
phối đến các đại lý. Bên cạnh đó lên kế hoạch xúc tiến thương hiệu cho công ty.
Trong nội tại công ty, đôi khi các bộ phận chức năng có lợi ích riêng không thống
nhất với nhau. Đây là một trong những nguyên nhân từ bên trong dẫn đến sự thất bại của
nhiều doanh nghiệp hiện nay. Do đó ban lãnh đạo công ty cần phải đảm bảo tính hệ


thống trong liên kết nội tại này, làm cho các bộ phận thống nhất lợi ích để cùng hướng
tới mục đích chung của công ty.
1.4.

Một số đặc điểm kinh tế kỹ thuật ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh

của Công ty
1.4.1. Yếu tố khách quan
1.4.1.1. Môi trường kinh tế
Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 nền kinh tế đã phục hồi kéo theo
sự vực dậy của các ngành kinh tế nước nhà. Theo đó ngành vận tải có những bước
phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của sản xuất và tiêu dùng. Năm 2008 nền
kinh tế Việt Nam đã trải qua những bước biến động mạnh mẽ với tốc độ tăng
trưởng kinh tế chỉ khoảng 6,7% thấp hơn tốc độ 8,48% của năm 2007, lạm phát ở
mức 22,9 % cao nhất kể từ năm 1992 trở lại đây, GDP bình quân đầu người theo giá
thực tế năm 2008 đạt khoảng 17.328.227 VNĐ. Năm 2009 và 2010 nền kinh tế Việt
Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình 7.3%/năm. Điều này góp phần nâng
cao mức chi tiêu cũng như tăng mức nhu cầu giao lưu, đi lại của người dân trong
đời sống hiện đại hóa như ngày nay. Như vậy đây là cơ hội tốt để doanh nghiệp tận
dụng và tiến hành hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải.
Bảng 1.3: Khối lượng hàng hóa vận chuyển theo phương thức vận tải của Việt Nam
giai đoạn 2007-2010
Đơn vị: Nghìn tấn
Năm

Tổng

Đường Sắt Đường Bộ

2007
513 575,1
9 153,2
2008
569 534,8
9 098,2
2009
614 354,5
10 007,2
2010
670 645,8
10 907,7
Nguồn: Tổng Cục Thông Kế

338 623,3
369 776,9
404 744,5
442 170,3

Đường

Đường

Hàng

Sông
122 984,4
139 324,4
140 256,4
152 879,6

Biển
42 693,4
51 205,2
56 324,5
61 393,1

Không
120,8
130,4
213,9
324,1

Trong suốt 20 năm đổi mới, chỉ số GDP của Việt Nam đã tăng liên tục.
Thể hiện qua các giai đoạn: GDP tăng trưởng đã đạt nức 8,2% từ năm 1991-1995. Ở
giai đoạn tiếp theo 1996-2000 tốc độ tăng GDP của Việt Nam đạt 7,5% thấp hơn


nửa đầu thập niên 1990 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á. Từ
năm 2001 tới nay tốc độ tăng GDP của nước ta dần dần phục hồi và tăng dần qua
các năm đạt 7.76%/năm. Hơn nữa tốc độ công nghiệp hóa, mở rộng hội nhập kinh
tế với khu vực và thế giới ngày càng nhanh chóng. Các loại hàng hóa ngày càng
được sản xuất ra nhiều hơn về số lượng cũng như về chủng loại, mức sống của
người dân ngày càng tăng. Việc đó đồng nghĩa với sự tăng lên của số lượng hàng
hóa được phân phối, nghĩa là ngành vận tải ngày càng phát triển.
Cùng với tốc độ tăng cao của GDP, các thành phần kinh phần kinh tế cũng
được chuyển dịch theo hướng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận
động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước trong đó kinh tế tư nhân
được phát triển không hạn chế về qui mô và địa bàn hoạt động trong những ngành
nghề hoạt động mà pháp luật không cấm. Điều này cho thấy trong tương lai, môi
trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành nghề của nền kinh tế nói
chung, doanh nghiệp trong lĩnh vực vận tải nói riêng sẽ trở nên gay gắt. Điều này
cũng có nghĩa trong điều kiện hội nhập của đất nước như hiện nay, D’MAX sẽ phải
cạnh tranh với nhiều doanh nghiệp nội địa cũng như doanh nghiệp của nước ngoài,
doanh nghiệp lớn trên thế giới.
Một yếu tố đóng một vai trò rất quan trọng trong tổng chi phí của ngành vận
tải đó là chi phí cho xăng dầu. Vì vậy giá xăng dầu có ảnh hưởng vô cùng đặc biệt
đến hoạt động kinh doanh của công ty. Nếu giá xăng dầu tăng đột biến sẽ làm tăng
chi phí kinh doanh và doanh nghiệp không kịp phản ứng để có thể điều chỉnh ngay
giá cước vận chuyển, gây thiệt hại cho công ty.
Trong xu thế toàn cầu hóa, nền kinh tế của Việt Nam cũng đang hội nhập
sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Xu thế này sẽ tạo điều kiện bổ sung nguồn vốn,
chuyển giao công nghệ và phương thức kinh doanh hiện đại đồng thời khai thác
tiềm năng của đất nước. Như vậy các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải như
D’MAX sẽ được thừa hưởng những thành quả về khoa học công nghệ, hệ thống cơ
sở vật chất của đất nước ngày càng hiện đại và thuận lợi.
1.4.1.2. Yếu tố Chính trị - Xã hội


Hiện nay Việt Nam được đánh giá là một trong những môi trường đầu tư an
toàn nhất với tình hình chính trị ổn định. Chính phủ có nhiều nỗ lực cải thiện môi
trường kinh doanh. Đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO với lộ trình giảm thuế
cam kết sẽ tạo ra những cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp trong và ngoài
nước. Đặc biệt đối với lĩnh vực logistics là lĩnh vực được chính phủ chú trọng và có
sự mở cửa lớn theo quy định của WTO sẽ tạo ra những cơ hội kinh doanh lớn cũng
như sự cạnh tranh khốc liệt cho các doanh nghiệp vận tải. Tuy nhiên hệ thống pháp
luật chưa đồng bộ, chưa theo kịp với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động giám
sát còn lỏng lẻo và chưa có qui định rõ ràng đối với việc kinh doanh dịch vụ vận tải
gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Một yếu tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp vận tải Việt
Nam hiện nay là khuôn khổ chính sách của chính phủ như: tính tự chủ trong quyết
định giá cước, các điều kiện gia nhập thị trường và đặc biệt là, các điều kiện hoạt
động kinh doanh, như tốc độ chạy xe, quy định về trọng tải, điều kiện lái xe....Hoạt
động dịch vụ vận tải là ngành hàng đòi hỏi tính liên kết rất cao. Tuy nhiên, trên thị
trường hiện nay các DN vận tải của Việt Nam rất nhỏ, hoạt động theo hướng tách
ra. Chủ yếu các doanh nghiệp vận tải Việt Nam đều chủ động đưa ra những biện
pháp để tăng năng suất, hiệu quả hoạt động bằng cách tăng giá cước, chở quá tải,
khoán gọn cho lái xe, đổi mới phương tiện và “làm luật”.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống của xã hội ngày càng được
tăng cao, nhu cầu của người dân cũng có sự thay đổi nhanh chóng. Việc ứng dụng
khoa học công nghệ tạo nên một bước tiến mạnh mẽ nâng cao hiệu quả công việc,
đẩy mạnh chất lượng cuộc sống của con người. Cùng với sự gia tăng của thu nhập,
nhu cầu của con người ngày càng phát triển một cách phong phú
1.4.1.3. Môi trường khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ là lĩnh vực phát triển với tốc độ chóng mặt trong vài
thập niên trở lại đây chính vì vậy sản phẩm công nghệ thông tin thay đổi về các tính
năng, công dụng cũng như mẫu mã, kiểu dáng một cách nhanh chóng. Các sản phẩm


PC, laptop, điện thoại di động ngày càng trở nên phổ biến đối với người dân. Các sản phẩm
về phần mềm cũng được nâng cao về tính năng để tương thích với chức năng của sản phẩm
chính. Đặc biệt những năm gần đây Việt Nam được đánh giá là thị trường tiềm năng của
khu vực Đông Nam Á nói riêng khu vực châu Á nói chung. Năm 2008 cùng với Philippines
và Indonesia, Việt Nam là các nước trong khu vực có tỷ lệ tăng trưởng chi tiêu công nghệ
thông tin trên 10%. Năm 2009, trong tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng tăng
trưởng của Việt Nam vẫn dương ( hơn 1%). Như vậy có thể thấy sự phát triển của khoa học
công nghệ tác động tới toàn bộ các khía cạnh của nền kinh tế xã hội. Đặc biệt là với các
doanh nghiệp kinh dịch vụ vận tải thì cơ sở hạ tầng, kỹ thuật công nghệ của nền kinh tế như:
hệ thống đường giao thông, hệ thống thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc…ảnh hưởng lớn
đến việc tăng giảm các chi phí về nhiên liệu, sữa chữa , chi phí về thời gian vận chuyển của
công ty.
Việt Nam đang có xu hướng vận chuyển hàng hóa trong container thay vì
bằng xe tải. Hệ thống đường bộ đã được nâng cấp và vận chuyển hàng hóa đóng
container được cho là phương thức tiết kiệm hơn nhiều. Thị trường vận tải Việt
Nam đang trong giai đoạn phát triển, nhiều biến động; vì vậy để giữ vững và mở
rộng thị phần vận tải, chiến lược kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp vận tải là
không tập trung vào việc thay đổi sản phẩm, mà quan tâm nhiều hơn đến cảm nhận
của khách hàng. Các công ty vận tải đều thiết lập các Website, cập nhật các chiến
lược kinh doanh, quảng cáo các dịch vụ và giá cả dịch vụ, hướng dẫn trực tuyến, sử
dụng phần mềm quản lý khách hàng, nhận và phản hồi các phàn nàn của khách
hàng
1.4.1.4. Đặc điểm của đối thủ cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh luôn là vấn đề diễn ra sôi động, cấp
bách và gay gắt. Bất cứ một doanh nghiệp nào để tồn tại trước tiên phải có vốn,
nguồn lao động và kỹ thuật nhưng phải biết sử dụng và quản lý một cách có hiệu
quả. Bên cạnh đó các doanh nghiệp luôn phải có các công cụ và phương pháp cạnh
tranh thì mới có thể đứng vững và phát triển. Khi đóng vai trò là yếu tố tích cực
cạnh tranh chính là bước tạo đà, là động lực để các doanh nghiệp vươn lên phát


triển, theo kịp với xu thế phát triển kinh tế thế giới, đem lại hiệu quả cao cho hoạt
động kinh doanh, đóng góp vào ngân sách nhà nước, đem lại cuộc sống ấm no cho
người lao động. Cạnh tranh được coi là yếu tố tiêu cực khi nó gây ra áp lực, dẫn đến
đường lối làm ăn vi phạm chuẩn mực xã hội. Cạnh tranh là biểu hiện của tính hai
mặt đối lập nhau tuy nhiên nó không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường.
Thông thường khi xuất hiện đối thủ cạnh tranh thì việc đẩy mạnh marketing,
định vị thương hiệu của doanh nghiệp sẽ phải được chú trọng và thực hiện một cách
hiệu quả hơn. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải tạo cho mình
một chỗ đứng trong thị trường, có thị trường và uy tín. Nếu doanh nghiệp không
nắm bắt được thị trường, không nắm bắt được xu hướng phát triển thì sẽ bị bỏ rơi và
có thể bị khách hàng lãng quên.
Cạnh tranh trong ngành vận tải đang rất căng thẳng. Sự di chuyển, vận động
của dòng hàng hóa và con người diễn ra một cách nhanh chóng kéo theo nó là sự
bủng nổ của hệ thống các hình thức, phương thức vận tải ra đời. Sự xuất hiện ngày
càng nhiều số lượng các công ty, tập đoàn vận tải đang tạo một sức ép cạnh tranh to
lớn lên các doanh nghiệp. Điều này khiến cho việc đẩy mạnh ứng dụng marketing –
Mix vào hoạt động của các doanh nghiệp vận tải ngày càng quan trọng
1.4.2.

Yếu tố chủ quan

1.4.2.1. Đặc điểm sản phẩm dịch vụ vận tải
Có nhiều khái niệm khác nhau về vận tải nhưng khái niệm được đánh giá là chung
nhất “Vận tải là quá trình di chuyển con người, hàng hóa từ địa điểm này đến địa điểm
khác nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người". Kinh doanh vận tải là lấy hoạt
động vận tải làm mục đích kinh doanh và thu lợi nhuận từ hoạt động này.
Từ khi nền kinh tế hàng hóa ra đời cho đến nay, vận tải hàng hóa luôn đóng vai
trò là một mắt xích trọng yếu của quá trình sản xuất, đảm trách khâu phân phối và lưu
thông hàng hóa. Các nhà kinh tế đã ví rằng “Nếu nền kinh tế là một cơ thể sống, trong đó
hệ thống giao thông là các tuyến huyết mạch thì vận tải là quá trình đưa các chất dinh
dưỡng đến nuôi các tế bào của cơ thể sống đó”. Vận tải là một ngành dịch vụ, tham gia vào


việc cung ứng vật tư kỹ thuật, nguyên liệu, năng lượng cho các cơ sở sản xuất và đưa sản
phẩm đến thị trường tiêu thụ giúp cho quá trình sản xuất xã hội diễn ra liên tục và bình
thường. Giao thông vận tải phục vụ nhu cầu đi lại của người dân giúp cho các hoạt động
sinh hoạt được diễn ra thuận tiện.
Sản phẩm vận tải là một loại sản phẩm dịch vụ, có các đặc trưng cơ bản khác
với sản phẩm hữu hình khác, như tính vô hình, tính không thể tách rời khỏi nguồn
gốc, tính không ổn định về chất lượng, tính không lưu giữ được. Trong hầu hết các
ngành kỹ nghệ sản xuất, sản phẩm được bao gói và chuyên chở qua các trung gian,
các đại lý, đến những người bán buôn, các cửa hàng bán lẻ rồi đến tay người tiêu
dùng cuối cùng. Đối với dịch vụ vận tải đường bộ, người tiêu dùng có thể phải đến
nơi mà ở đó dịch vụ được tạo ra. Nghĩa là, dịch vụ vận tải đường bộ được bán hay
cung cấp cho khách hàng trước khi họ cảm nhận được lợi ích thực sự của nó. Chính
điều này làm cho khách hàng cảm thấy liều lĩnh khi mua những dịch vụ được cung
cấp, do vậy để mua một dịch vụ hay một sản phẩm kèm theo dịch vụ vận tải, khách
hàng phải được thông tin đầy đủ những gì mà họ sẽ có trong toàn bộ các giai đoạn
của quá trình mua và sử dụng sản phẩm hay dịch vụ. Dịch vụ vận tải về cơ bản là
không cụ thể, do vậy nó rất dễ bắt chước. Điều này làm cho việc cạnh tranh trở nên
gay gắt hơn và đó cũng chính là thách thức chủ yếu của marketing trong hoạt động
kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ mà D’MAX đang thực hiện.
Một dịch vụ có thể do nhiều tổ chức cung ứng, do đó các giải pháp
marketing-mix cũng chịu tác động bởi các chính sách của các tổ chức mà doanh
nghiệp liên kết để cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Một đặc trưng rất cơ bản của
dịch vụ là tính không tách rời được. Trong đa số các trường hợp, dịch vụ được sản
xuất và tiêu dùng đồng thời, và chỉ được hoàn thành cùng với sự hoàn thành tiêu
dùng của khách hàng. Nếu chưa có khách hàng, chưa có hệ thống tạo ra dịch vụ. Do
dịch vụ vận tải được thực hiện bởi những người cung cấp khác nhau, ở những thời
gian và địa điểm khác nhau và có cả sự can thiệp của khách hàng trong quá trình tạo
ra dịch vụ đã tạo ra tính không ổn định của dịch vụ. Vì thế khó có thể kiểm tra trước
chất lượng dịch vụ và điều này gây khó khăn trong quản lý chất lượng của dịch vụ.


Dịch vụ vận tải đường bộ bao gồm:
* Bốc xếp và sắp đặt hàng.
* Giao nhận vận tải hàng trọn gói.
* Vận tải hàng siêu trường, siêu trọng, hàng rời và hàng đặc biệt.
* Vận chuyển hàng đồ dùng gia đình và tài sản cá nhân.
* Vận chuyển hàng quá cảnh.
* Vận chuyển hàng tạm nhập-tái xuất và tạm xuất-tái nhập.
* Lưu kho và phân phối hàng hoá
Việc phối hợp các dịch vụ này với nhau ở những mức độ và kết cấu khác
nhau sẽ hình thành nên những phối thức dịch vụ khác nhau. D’MAX đã biết khéo
léo kết hợp các loại dịch vụ khác nhau đó để tạo ra cho mình một tập hợp dịch vụ
vận tải nội địa tương đối hoàn chỉnh phù hợp với những thế mạnh của mình, đồng
thời đáp ứng tốt nhất nhu cầu có tính đặc thù của thị trường vận tải mà doanh
nghiệp đã lựa chọn. Tuy nhiên, do thị trường luôn thay đổi, đòi hỏi D’MAX phải
luôn có những điều chỉnh linh hoạt theo sự thay đổi nhu cầu và thị hiếu của khách
hàng để tránh lãng phí.
1.4.2.2.

Cơ sở vật chất của công ty
Riêng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải thì

phương tiện vận tải chiếm phần lớn tổng tài sản của doanh nghiệp. Phương tiện vận
tải chính là công cụ lao động. Nó là thành phần trực tiếp tạo ra doanh thu vận tải,
khi nào xe lăn bánh vận chuyển thì doanh nghiệp có doanh thu. Hơn thế nữa
phương tiện cũng là một phương tiện quảng cáo hữu hiệu và có tính chất tác động
mạnh mẽ đến khách hàng. Khi khách hàng tìm đến với doanh nghiệp thì cái mà
khách hàng bi thuyết phục đầu tiên chưa chắc đã là hệ thống văn phòng hiện đại,
sang trọng của doanh nghiệp mà chính là hệ thống xe mà doanh nghiệp có.
Bên cạnh đó, trang thiết bị cứu hỏa, khả năng phản ứng đối với những thay
đổi bất ngờ của điều kiện tự nhiên và các tai nạn bất ngờ xảy ra không chỉ góp phần
thu hút khách hàng, tạo ra sự tín nhiệm của khách hàng mà còn là yếu tố làm giảm
chi phí nhiên liệu, giảm chi phí sửa chữa bảo dưỡng, hạn chế tai nạn. Yếu tố quan


trong của ngành vận tải là chịu nhiều tác động của điều kiện thời tiết, do vậy
phương tiện vận tải cần được trang bị các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại,
hoạt động nhanh chóng để đảm bảo hàng hóa vận chuyển không bị tổn thất.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp vận tải không chỉ là phương tiện
vận tải mà bên cạnh đó còn là hệ thống máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty. Cơ sở vận chất kỹ thuật này góp phần tăng giá trị phần
dịch vụ cung ứng ra thị trường của doanh nghiệp. Nếu hệ thống này hoạt động hiệu
quả thì chúng đóng góp một phần không nhỏ vào đầu vào của doanh nghiệp và tạo
được sự nhanh chóng trong thanh toán cho khách hàng, làm giảm chi phí đi lại và
giảm thiểu cả nhân công lao động. Một ứng dụng quá trình trong ngành vận tải hiện
nay là hệ thống vi tính và thông tin phục vụ hoạt động giao nhận sao cho thuận tiện
và cũng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng tốt hơn.
Bảng 1.4. Cơ cấu tài sản của Công ty D’MAX
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ
tiêu
Tổng
TS
TS cố
định
TS lưu
động

2007
Giá trị
4.867

Tỷ lệ
100

2008
Giá trị
8.429

Tỷ lệ
100

2009
Giá trị
18.317

2.563

50

2.304

50

Tỷ lệ
100

2010
Giá trị
24.531

Tỷ lệ
100

4.774

56

12.682

67

17.513

71

3.655

44

5.634

33

7.018

29

Nguồn: Phòng tài chính kế toán
Tuy nhiên, đổi mới và nâng cao chất lượng phương tiện vận tải cũng cần
phải cân nhắc so sánh giữa chi phí bỏ ra để mua những phương tiện này và các
khoản chi phí tiết kiệm lâu dài có được. Trị giá của một phương tiện vận tải là rất
lớn và để có được một phương tiện vận tải với hệ thống trang thiết bị hiện đại đòi
hỏi một chi phí còn cao hơn nữa.. Bên cạnh đó là đòi hỏi một đội ngũ kỹ sư có trình
độ chuyên môn cao để có thể điều hành phát triển. Nói chung để đạt được mong
muốn đổi mới cả hệ thống thì buộc doanh nghiệp phải có khách hàng lâu dài và chu
đáo.


1.4.2.3. Trình độ nhân sự của công ty
Lao động là một trong những yếu tố đóng góp lớn vào sự thành công của
doanh nghiệp. Hiện tại lực lượng lao động của công ty đều là những người có kĩ
năng, có kiến thức cũng như có trình độ tay nghề và khả năng ứng dụng công nghệ
cao. Về trình độ chuyên môn, lao động làm việc tại công ty đều được tuyển chọn kĩ
càng, họ đều là những kĩ sư, chuyên gia về một lĩnh vực nhất định để đáp ứng yêu
cầu công việc.
Nhằm thu hút được những nhân tài, doanh nghiệp cũng đưa ra chính sách
để trọng dụng những người giỏi và giữ chân những người tài. Cụ thể như xây dựng
và hoàn thiện cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu công việc của người lao động, cung
cấp hệ thống máy tính cá nhân hiện đại phục vụ yêu cầu công việc, hỗ trợ đi lại
cũng như bãi gửi xe cho nhân viên và một số điều kiện vật chất khác. Bên cạnh đó
chế độ lương thưởng gắn liền với lợi ích của nhân viên cũng được ban lãnh đạo cân
nhắc thường xuyên và đưa ra mức hợp lí với sự đóng góp của nhân viên. Không
những thế, trung tâm cũng xây dựng đặc trưng môi trường văn hóa kinh doanh tạo
ra môi trường làm việc nhanh, chuyên nghiệp, hiệu quả và sự kết nối chặt chẽ giữa
nhân viên từ đó tạo động lực làm việc cho nhân viên.
Yếu tố kinh nghiệm và kỹ năng quản lý trong kinh doanh được coi là một
trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Nguồn lực của
doanh nghiệp dù có dồi dào đến đâu nhưng không có cách quản lý đúng đắn, không
có kinh nghiệm trong điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì cuối cùng những
nguồn lực ấy cũng không thể phát huy hết tác dụng. Nó tạo ra sự lãng phí nguồn lực
và lãng phí trong cả chi phí cho lượng lao động không được làm đúng và chậm lại
công việc của công ty.
Quản lý là một phạm trù khoa học và nghệ thuật do chính con người sáng
tạo qua thực tế kinh doanh được đúc kết lại. Người quản lý đòi hỏi phải là người
vừa thấu hiểu nghiệp vụ đồng thời vừa phải là người có nghệ thuật đối xử xã hội và
phải có tầm nhìn, biết sản xuất bố trí chức vụ công việc phù hợp cho nhân viên của
mình. Do vậy, doanh nghiệp phải biết áp dụng những biện pháp quản lý thích hợp


cho từng tình huống, từng giai đoạn cụ thể để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất
cho doanh nghiệp,
Trình độ quản lý còn hiểu là phương pháp quản lý của đội ngũ lãnh đạo và
trình độ quản lý của chính đội ngũ cán bộ của công ty. Một phương pháp quản lý
khoa học sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể vận hành tốt từ đây mang lại hiệu quả cao
cho doanh nghiệp. Nếu như trình độ quản lý cũng như cơ chế quản lý không tốt sẽ
dẫn đến việc cán bộ cấp dưới bê trễ làm việc thiếu tinh thần, kìm giảm năng suất lao
động làm việc không được hoàn thành đúng kế hoạch. Hơn thế nữa nếu phương
pháp quản lý không tốt có thể dẫn đến tình trạng không đồng nhất từ trên xuống
dưới, những thông tin truyền đạt từ cấp cao xuống các bộ phận có thể thiếu chính
xác tạo nhầm lẫn trong thông tin. Đây là một vấn đề rất nguy hiểm sẽ là nguy cơ
cho sự tồn tại của công ty nếu nó xảy ra. Nếu có sự quản lý sát sao về công việc của
từng người và có những tổ chức định mức cụ thể để dễ dàng kiểm tra về hao phí,
tốc độ hoàn thành công việc thì khả năng lãng phí các nguồn lực doanh nghiệp sẽ
giảm đi, giá thành của sản phẩm dịch vụ sẽ được hạ thấp từ đó nâng cao sức cạnh
tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VẬN DỤNG MARKETING-MIX
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNG HÓA
CỦA CÔNG TY TNHH VẬN TẢI D'MAX

2.1. Khái quát thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty trong những năm
gần đây
Khi mới thành lập điều kiện kinh doanh của công ty là vô cùng khó khăn,
trang thiết bị thô sơ, nhân lực thiếu thốn. Tuy nhiên, ban lãnh đạo công ty luôn có
những chiến lược kinh doanh đúng đắn dẫn dắt công ty vượt lên khó khăn, ngày
càng khẳng định tên tuổi trên thị trường. Từ năm 2007 đến nay công ty luôn duy trì
được mức tăng trưởng cao.
Doanh thu và lợi nhuận là hai chỉ tiêu quan trọng để đánh giá kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty. Trong những năm vừa qua với sự cố gắng
của ban giám đốc và tập thể những người lao động, công ty đã đạt được những kết
quả lạc quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ bảng trên ta có thể thấy tình
hình hoạt động của D’MAX là rất ổn định, tăng trưởng trong những năm 2007-2010
luôn đạt cao khoảng 70% mỗi năm.
Về doanh thu: Doanh thu của công ty đã tăng qua các năm từ năm 2007 đến
năm 2010. Năm 2007, giá trị doanh thu đạt 10.234 triệu đồng. Đến năm 2008, giá
trị doanh thu đạt 19.721 triệu đồng tăng 9.487 triệu tương ứng với 92,7%. Năm 2009
giá trị doanh thu tăng với tốc độ vượt bậc đạt 40.234 triệu đồng tăng 20.513 triệu so
với năm 2008 tương ứng với 104%. Giá trị doanh thu năm 2010 đạt 53.064 triệu tăng
12.830 triệu tương ứng 31,9%.
Về lợi nhuận: Năm 2007, mức lợi nhuận đạt 869 triệu đồng. Cũng như doanh
thu, năm 2009 so với năm 2008 công ty đạt được mức tăng và tốc độ tăng lợi nhuận
cao nhất trong vòng 4 năm (1.047 triệu, 99,3%). Lợi nhuận năm 2008 đạt 1.417
triệu đồng tăng 548 triệu so với năm 2007 tương ứng với 63,1%. Đến năm 2010
mức lợi nhuận tăng 31,7% so với năm 2009 và đạt 3.720 triệu đồng, tăng 896 triệu.


Diễn biến về mức tăng và tốc độ tăng lợi nhuận có mối quan hệ tương quan với
doanh thu.
Bảng 2.5: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty qua các năm 2007-2010
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
2007
1.Doanh thu bán hàng
9,234
và cung cấp dịch vụ
2. Giá vốn hàng bán
7,719
3. Doanh thu hoạt
0
động tài chính
4. Chi phí tài chính
263
Trong đó: Chi phí lãi
263
vay
5. Chi phí quản lý kinh
383
doanh
6. Lợi nhuận thuần từ
868
hoạt động kinh doanh
7. Thu nhập khác
1
8. Tổng lợi nhuận kế
869
toán trước thuế
9. Chi phí thuế thu
243
nhập doanh nghiệp
10. Lợi nhuận sau thuế
626
thu nhập doanh nghiệp

2008

2009

2010

14,721

30,234

38,064

12,954

25,548

32,354

0

0

8

207

663

710

207

663

705

144

1,209

1,294

1,414

2,813

3,713

2

10

7

1,42

2,82

3,72

354

790

930

1,062

2,033

2,790

Nguồn: Phòng kế toán tổng hợp
Nguyên nhân của kết quả này là do năm 2007 công ty mới đi vào tiến hành
các hoạt động sản xuất, máy móc thiết bị chưa đạt được công suất cao, tay nghề của
người lao động còn non kém nên hiệu quả sản xuất kinh doanh đạt được còn thấp.
Những năm sau đó, công suất của máy móc thiết bị tăng dần và dần đạt tới công
suất tối đa, tay nghề của người lao động được nâng cao đồng thời công ty cũng tìm
ra và áp dụng những biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí kinh doanh. Do đó sau 1 năm
có mức tăng và tốc độ tăng doanh thu cao. Tuy nhiên tốc độ tăng giữa các năm
không đều. Năm 2008, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và


ảnh hưởng của lạm phát cao tại Việt Nam khiến cho nhu cầu của người dân giảm,
ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Công ty. Đánh giá được tình hình khó
khăn, D’MAX đã cố gắng nỗ lực, tập trung vào hoạt động kinh doanh, huy động
nguồn lực phát triển khách hàng và đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến, công ty đã thu
được kết quả đáng khen ngợi. Đặc biệt năm 2009, do việc đầu tư thêm nguồn vốn
kinh doanh, cơ sở hạ tầng cùng với nền tảng kinh doanh sau hơn 2 năm đi vào hoạt
động chuyên nghiệp, với việc tổ chức tốt các hoạt động xúc tiến thương mại nên
Công ty có mức tăng doanh thu vượt trội 140,2% so với năm 2008. Năm 2010, công
ty đã đi vào hoạt động ngày càng ổn định cùng với lượng khách hàng và nhu cầu
vận chuyển của khách hàng được lên kế hoạch và mang tính đều đặn, công ty đạt
mức tăng trưởng 31,9% doanh thu là mức tăng trưởng cao và mang tính ổn định, là
xu thế tất yếu để D’MAX có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị
trường hiện nay.
Bảng 2.6: Tốc độ tăng trưởng doanh thu của Công ty giai đoạn 2007 – 2010
Chỉ tiêu
DT
LN

2008/2007
Tr.đ
%
9.487
63,4
548
63,1

2009/2008
2010/2009
Tr.đ
%
Tr.đ
%
20.513
140,2
12.830
31,9
1.407
99,3
896
31,7
Nguồn: Tính toán của tác giả từ bảng 2.5

Tóm lại trong 4 năm từ năm 2007 đến năm 2010 kết quả hoạt động kinh
doanh của công ty là rất tốt. Năm 2009 công ty đạt được mức tăng và tốc độ tăng
cao nhất cả về doanh thu và lợi nhuận là một thành công quan trọng để công ty đi
vào ổn định, trình độ sản xuất của công ty ngày càng tốt và dần được hoàn thiện.

Bảng 2.7: Cơ cấu doanh thu của công ty D’MAX
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Vận tải xe máy
Vận tải sữa, đồ uống
Vận tải hàng linh kiện, hàng bán lẻ
Tổng

2007
7.675
1.024
1.535
10.234

2008
13.804
2.959
2.958
19.721

2009
26.152
8.047
6.035
40.234

2010
34.491
10.614
7.959
53.064


Nguồn: Phòng kinh doanh
Doanh thu cung cấp dịch vụ vận chuyển cho các hãng sản xuất xe máy qua
các năm tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn, là yếu tố quan trọng làm tăng trưởng
doanh thu và lợi nhuân chung của công ty. Năm 2007 doanh thu từ vận tải xe máy
đạt 7.675 triệu đồng, năm 2008 doanh thu từ hoạt động này tăng 79,8% so với 2007.
Năm 2009 mức tăng trưởng doanh thu vận tải sữa và đồ uống tăng 172% đạt 8.047
triệu đồng, tạo ra một sự thay đổi không nhỏ trong cơ cấu doanh thu. Nếu xét chỉ số
doanh thu dịch vụ vận tải xe máy trên tổng doanh thu của cả công ty thì doanh thu
từ hoạt động này chiếm tỷ trọng trên 60%, doanh thu từ vận tải sữa và đồ uống là
25%, còn lại 15% là doanh thu từ vận tải hàng linh kiện và hàng bán lẻ. Có được kết
quả trên là do ngay từ khi mới thành lập D’MAX đã tập trung nguồn lực vào ngách
thị trường này và cho đến nay đã có được một lượng khách hàng quen lớn, có uy tín
và được định vị trên phân đoạn thị trường này. Đây cũng sẽ là nền tảng để D’MAX
phát triển hoạt động kinh doanh của công ty sang các phân đoạn thị trường khác
2.2. Thực trạng vận dụng marketing – mix trong hoạt động kinh doanh dịch
vụ vận tải hàng hóa của công ty trong những năm gần đây
2.2.1. Tham số con người
Lao động luôn là yếu tố quyết định đến khả năng kinh doanh của doanh
nghiệp. Do kinh doanh trong lĩnh vực vận tải nên trong cơ cấu lao động của Công ty
D’MAX, tỷ trọng lao động nam luôn chiếm lớn hơn tỷ trọng lao động nữ, vì đặc thù
của lực lượng lao động trong lĩnh vực kinh doanh này chủ yếu là nhân viên lái xe,
nhân viên lái phụ xe, nhân viên kỹ thuật, điều hành hiện trường. Cơ cấu lao động có
sự chuyển hướng tích cực, thể hiện ở tỷ lệ lao động có trình độ đại học tăng đều qua
các năm. Điều đó chứng tỏ Công ty đã chú trọng nhiều đến công tác tổ chức nhân
sự và có kế hoạch tuyển dụng những cán bộ trẻ có trình độ cao, năng động, góp
phần phát triển Công ty ngày một lớn mạnh.
Số lượng lao động của Công ty phân chia theo các tiêu thức thể hiện qua
bảng dưới đây:


Bảng 2.8: Lực lượng lao động của Công ty qua các năm
Đơn vị: Lao động
Chỉ tiêu
Tổng số lao động
Phân theo giới tính
Nam
Nữ
Phân theo trình độ
Đại học, Cao đẳng
Trung cấp,LĐPT

2007
10

2008
30

2009
45

2010
70

Tháng05/2011
130

7
3

25
5

37
8

60
10

115
15

5
5

10
20

15
30

20
50

32
98

Nguồn: Phòng Hành chính – Nhân sự
Năm 2007, Công ty bắt đầu hoạt động kinh doanh với 10 thành viên, các
thành viên đều có sự hiểu biết về hoạt động kinh doanh vận tải, Ban lãnh đạo hiểu
rõ về năng lực của nhân viên, công ty hoạt động một cách hiểu quả, sớm có được
lượng khách hàng, doanh thu lớn. Cùng với sự mở rộng mạng lưới kinh doanh, nhu
cầu về nhân sự của công ty tăng trung bình 65%/năm. Với hơn năm năm kinh
nghiệm hoạt động trong lĩnh vực vận tải, D’MAX đã tạo dựng được một đội ngũ
nhân viên tận tâm, năng động, chuyên nghiệp, am hiểu nghiệp vụ để quản lý, điều
hành hệ thống cơ sở vật chất, phương tiện vận tải, kho bãi cũng như luồng lưu
chuyển hàng hóa. Tổng số lao động tại D’MAX hiện nay là 130 nhân viện, trong đó
do đặc thù của lĩnh vực hoạt động đòi hỏi nhân viên phải có sức khỏe tốt, thường
xuyên đi xa nên trong công ty chủ yếu là nhân viên nam (115 nhân viên) - chiếm
88%, nhân viên nữ là 15 – chiếm 12%. Nhân viên là lái xe và phụ xe là 65 chiếm
50%, bộ phận điều hành và kỹ thuật là 36 – chiếm 28% còn lại 22% là quản lý,
nhân viên hành chính, kế toán.
D’MAX là một công ty trẻ, đội ngũ nhân viên tuổi bình quân khoảng 30,
đối với đội ngũ lái xe độ tuổi bình quân là 37, đã có nhiều năm kinh nghiệm và hiểu
rõ từng tuyến đường. Nhận thức rõ được tầm quan trọng của nguồn nhân lực có vai
trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của công ty nên công ty luôn có những
chính sách đề cao sự sáng tạo, tự nguyện và trung thành của từng cá nhân.


Nhân sự của công ty có trình độ đại học và trên đại học chiếm khoảng
25%. Đây là đội ngũ lao động có chất lượng cao trong công ty vận tải, hầu hết đảm
nhiệm các vị trí quan trọng trong hệ thống: các vị trí trong ban giám đốc, trưởng các
bộ phận. Các vị trí trưởng phòng kinh doanh, phòng marketing, kế toán tài chính …
đều được các cử nhân kinh tế đảm nhiệm. Chuyên ngành kỹ thuật được đảm nhận
nhiệm vụ liên quan đến các phòng kỹ thuật ở các bộ phận điều hành, phòng kế
hoạch… Tại các vị trí liên quan đến chuyên ngành luật có 2 nhân viên đảm nhiệm
như phòng nhân sự, hành chính.
Tỷ trọng lao động trình độ phổ thông trong doanh nghiệp chiếm lớn nhất
khoảng 55%. Lực lượng lao động này mặc dù có trình độ không cao nhưng là một
lực lượng không thể thiếu trong công ty vận tải. Vì đặc điểm các vị trí trong bộ
phận lái xe,bảo dưỡng sửa chữa, vận chuyển hàng hóa… không yêu cầu cao về trình
độ nên người lao động được tuyển dụng vào sẽ trải qua một khóa ngắn hạn đào tạo
nghiệp vụ để hoàn thành công việc của mình.
Kết quả đáng ghi nhận nhất là thu nhập bình quân đầu người của cán bộ công
nhân viên trong toàn doanh nghiệp tăng đều qua các năm, từ 2,5 triệu
đồng/người/tháng năm 2007 lên tới 5 triệu đồng/người/tháng năm 2011, trung bình
mức thu nhập của cán bộ nhân viên công ty tăng 30%/năm. Điều này thể hiện sự
tăng trưởng bền vững của công ty, tăng trưởng gắn liền với điều kiện làm việc, điều
kiện sống của cán bộ nhân viên cũng không ngừng tăng lên. Chế độ đãi ngộ, khen
thưởng hợp lý là động lực để thúc đẩy tập thể nhân viên trong công ty nỗ lực phấn
đấu hơn vì sự tồn tại và phát triển của công ty.
2.2.2. Tham số sản phẩm
Công ty D’MAX được thành lập trên quan điểm đi trực tiếp vào những quan
ngại, lo lắng của khách hàng, lắng nghe họ để có những dịch vụ xuất sắc và đột phá, phát
triển những sản phẩm chào bán có thể thực sự đáp ứng nhu cầu thực sự của khách hàng.
Nắm bắt được tâm lý khách hàng quan tâm nhất đến sự giao hàng tin cậy, đúng hạn với chi
phí cạnh tranh nhất, thậm chí ngay cả khi điều kiện thời thiết rất tệ; hai là nhu cầu cần thấy
được sự vận động liên tục của quá trình cung cấp dịch vụ, để đáp ứng điều này thì thách


thức lớn nhất chính là công nghệ thông tin; ba là nhu cầu dịch vụ vận tải trọn gói, muốn
một nhà cung cấp duy nhất chịu trách nhiệm cuối cùng về kết quả dịch vụ, cho dù nhà cung
cấp ấy có cộng tác với ai đi chăng nữa.
Nắm bắt được nhu cầu của thị trường D’MAX đã đưa ra sản phẩm dịch vụ vận
tải của mình bao gồm cả dịch vụ tư vấn và quản trị chuỗi cung ứng dựa trên nền tảng công
nghệ thông tin, năng lực theo dõi và kiểm soát hàng và chứng từ, tự động hóa đặt hàng, và
có những đầu tư to lớn vào công nghệ thông tin như là phương tiện tích hợp quy trình kinh
doanh và đồng bộ hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, hệ thống tài sản an toàn và luôn sẵn sàngthậm chí trong thời kỳ cao điểm.

Sơ đồ 2.9:

Các bước thực hiện dịch vụ vận tải của D’MAX

Nguồn: Công ty D’MAX
D’MAX đưa ra 5 yếu tố quan trọng nhất đánh giá chất lượng sản phẩm dịch
vụ mình cung cấp bao gồm:


1

Tin cậy: Khả năng thực hiện cam kết với khách hàng một cách đáng tin cậy
và chính xác.

2

Đáp ứng: Sự sẵng lòng giúp đỡ khách hàng và cung cấp dịch vụ nhanh
chóng.

3

Sự đảm bảo: Kiến thức và sự nhã nhặn của nhân viên cùng khả năng truyền
đạt sự tín nhiệm và tin cậy.

4

Sự thông cảm: Sự quan tâm, chú ý tới từng khách hàng.

5

Các phương tiện hữu hình: Vẻ bề ngoài của các cơ sở vật chất, trang thiết
bị, nhân viên và các phương tiện truyền đạt thông tin.
Trong kinh doanh thời gian là vô cùng quan trọng quyết định tới lựa chọn

của khách hàng đối với dịch vụ. Chính vì thế công ty luôn quan tâm tới việc rút
ngắn thời gian thực hiện các công việc để thực hiện dịch vụ sớm nhất, thỏa mãn nhu
cầu khách hàng một cách nhanh nhất. Năm 2007 thời gian vận chuyển từ Hà Nội tới
TP HCM phải mất 70 tiếng đồng hồ, song đến năm 2010 thời gian này giảm xuống
còn 60 giờ, tiết kiệm thời gian cho cả công ty cũng như khách hàng.
Một yếu tố khác tạo nên chất lượng của sản phẩm dịch vụ vận tải hàng hóa
mà công ty cung cấp là các quy trình nghiệp vụ phát sinh như: quy trình quản lý các
chứng từ vân tải, quy trình giải quyết tai nạn bất ngờ xảy ra... Công ty D'MAX thực
hiện các hoạt động này trên nguyên tắc nhanh, gọn, chi tiết, dứt điểm.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×