Tải bản đầy đủ

Thực trạng và một số biện nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần vận tải thuỷ số 4

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp,
ngành nghề kinh tế kĩ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế. Để có thể tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải nắm giữ một lượng vốn nhất định.
Số vốn này thể hiện toàn bộ tài sản và các nguồn lực cua doanh nghiệp trong hoạt
động sản xuát kinh doanh. Vì vậy vốn kinh doanh có vai trò quyết định trong việc
thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.
Trong sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, huy động được vốn mới chỉ là
bước đầu, quan trọng hơn và quyết định hơn là nghệ thuật phân bố, sử dụng vốn với
hiệu quả cao nhất ảnh hưởng tới vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Bởi vậy
mỗi doanh nghiệp cần có chiến lược cụ thể nhằm bảo toàn và sử dụng hiệu quả vốn
kinh doanh.
Công ty Cổ phần vận tải thuỷ số 4 là đơn vị trực thuộc cục đường sông Việt
Nam, kinh doanh nhiều ngành nghề như: Vận tải đường thuỷ, sửa chữa và đóng mới
tàu thuyền, hỗ trợ vận tải, đại lý mua bán kí gửi hàng hoá sản xuất các sản phẩm từ
kim loại, xay dựng công trình giao thông, công nghiệp, dân dụng, thuỷ lợi và san
lấp mặt bằng… Do đó công ty có nhiều hoạt động kinh doanh lớn và đặc biệt trong
nền kinh tế thị trường sôi động có nhiều thuận lợi nhưng không ít rủi ro. Vì vậy việc
sử dụng vốn kinh doanh hiệu quả là một trong những vấn đề cần quan tâm sâu sắc.
Do đó em đã lựa chọn đề tài: “ Thực trạng và một số biện nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn kinh doanh tại công ty Cổ phần vận tải thuỷ số 4” làm đề tài luận văn
tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận chung sử dụng vốn kinh doanh hiệu quả nhằm nâng cao
sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Đồng thời, luận văn
còn nghiên cứu những lợi thế, hạn chế trong việc quản lý và sử dụng vốn kinh
doanh của công ty Cổ phần vận tải thuỷ số 4. Trên cở sở phân tích, đánh giá thực
trạng hoạt động sử dụng vốn kinh doanh của công ty từ đó đề ra một số biện pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty.
1


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: lý luận và thực tiễn sử dụng vốn kinh doanh của công
ty Cổ phần vận tải thủ số 4.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đứng trên góc độ người sử dụng vốn kinh
doanh để nghiên cứu, phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của
công ty Cổ phần vận tải thuỷ số 4. Thời gian nghiên cứu là giai đoạn 2013-2015.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp so sánh
ngang, so sánh dọc, phân tích, tổng hợp để tiến hành phân tích và đánh giá các mặt
hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời em còn sử dụng những chỉ tiêu đánh giá
mang tính định lượng để đánh giá một cách toàn diện hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh của công ty Cổ phần vẩn tải thuỷ số 4.
5. Kết cấu luận văn
Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh.
Chương 2: Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cổ
phần vận tải thuỷ số 4.
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại
công ty Cổ phần vận tải thuỷ số 4.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN KINH DOANH
2


1.1. Khái niệm vốn kinh doanh
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

nói riêng và nền kinh tế nói chung. Do vậy, từ trước đến nay có rất nhiều quan niệm
về vốn, ở mỗi một hoàn cảnh kinh tế khác nhau thì có những quan niệm khác nhau
về vốn.
Theo quan điểm của Mác, dưới góc độ các yếu tố sản suất, Mác cho rằng: Vốn
(tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản suất. Định
nghĩa của Mác về vốn có tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai
trò của vốn. Bản chất của vốn là giá trị, mặc dù nó được thể hiện dưới nhiều hình
thức khác nhau: tài sản cố định, nguyên vật liệu, tiền công... Tuy nhiên, do hạn chế
về trình độ phát triển của nền kinh tế, Mác chỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong khu
vực sản suất vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng
dư cho nền kinh tế. Đây là một hạn chế trong quan niệm về vốn của Mác.
P.A.Samuelson, đại diện tiêu biểu của học thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại,
coi đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hoá chỉ là kết
quả của sản xuất. Vốn bao gồm các loại hàng hoá lâu bền được sản xuất ra và được
sử dụng như các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó. Một số hàng hoá
vốn có thể tồn tại trong vài năm, trong khi đó một số khác có thể tồn tại trong một
thế kỷ hoặc lâu hơn. Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hoá vốn thể hiện ở chỗ chúng
vừa là sản phẩm đầu ra vừa là yếu tố đầu vào trong sản xuất. Về bản chất vốn là
phương pháp sản xuất gián tiếp tốn thời gian.
David Begg, trong cuốn “Kinh tế học” ông đã đưa ra hai định nghĩa về vốn là:
Vốn hiện vật và vốn tài chính cùa doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng
hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác. Vốn tài chính là các giấy tờ có giá
và tiền mặt của doanh nghiệp. Như vậy, đã có sự đồng nhất vốn với tài sản của
doanh nghiệp trong định nghĩa của David Begg.
Theo khái niệm trong giáo trình Tài Chính doanh nghiệp của Trường Đại Học
Kinh Tế Quốc Dân thì khái niệm về vốn là: vốn được quan tâm đến khía cạnh giá trị
nào đó của nó mà thôi, vốn được nhà doanh nghiệp dùng để đầu tư vào tài sản của
mình.
3


Qua các khái niệm trên cho thấy, doanh nghiệp dù hoạt động trong bất cứ lĩnh
vực nào cũng cần có một lượng vốn nhất định. Lượng vốn đó dùng để thực hiện các
khoản đầu tư cần thiết như chi phí thành lập doanh nghiệp, chí phí mua sắm tài sản
cố định, nguyên vật liệu... Vốn đưa vào sản xuất kinh doanh có nhiều hình thái vật
chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu thị trường. Số
tiền mà doanh nghiệp thu về sau khâu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ phải bù đắp được
các chi phí bỏ ra, đồng thời phải có lãi. Quá trình này diễn ra liên tục đảm bảo cho
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Hiện nay khái niệm vốn kinh doanh được sử dụng phổ biến là: “ Vốn kinh
doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản và các nguồn
lực mà doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động kinh doanh”.
1.2 Vai trò và ý nghĩa của vốn kinh doanh
1.2.1 Vai trò
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Vốn là một yếu tố đầu vào quan trọng của các doanh nghiệp, nó tham gia vào
tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh và suốt thời gian tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp.
Về pháp luật: Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên
doanh nghiệp đó phải có một lượng vốn nhất định (lượng vốn tối thiểu mà pháp luật
quy định cho từng loại doanh nghiệp). Vốn có thể được xem là một cơ sở quan
trọng nhất để đảm bảo cho sự tồn tại tư cách pháp luật của doanh nghiệp trước pháp
luật.
Về kinh tế : bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tăng trưởng và phát triển đều
cần có vốn. Vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển của
doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp. Một doanh
nghiệp muốn đứng vững trên thị trường thì doanh nghiệp đó phải có một lượng vốn
nhất định, lượng vốn đó không những đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp diễn ra liên tục mà còn phải dùng để cải tiến máy móc thiết bị,
hiện đại hoá công nghệ. Mục đích cuối cùng của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi
4


nhuận. Lợi nhuận là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí doanh nghiệp
bỏ ra để đạt được thu nhập đó từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó đưa lại.
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp không chỉ tồn tại đơn thuần mà còn
có sự cạnh tranh gay gắt với nhau. Nếu thiếu vốn sẽ dẫn đến năng xuất lao động
thấp, thu nhập thấp, doanh nghiệp sẽ càng tụt lùi vì vòng quay của vốn càng ngắn
lại thì quy mô của doanh nghiệp càng co lại.
Như vậy, vốn là một yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Có
vốn các doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm các trang thiết
bị hay triển khai các kế hoạch khác trong tương lai. Vậy yêu cầu đặt ra đối với các
doanh nghiệp là họ cần phải sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất nhằm bảo toàn
và phát triển vốn, đảm bảo cho các doanh nghiệp ngày càng phát triển và vững
mạnh.
1.2.2 Ý nghĩa của vốn kinh doanh
- Vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp là một loại quỹ tiền tệ đặc biệt. Mục tiêu
của quỹ là để phục vụ cho sản xuất - kinh doanh tức là mục đích tích luỹ, không
phải là mục đích tiêu dùng như một vài quỹ khác trong doanh nghiệp.
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có trước khi diễn ra hoạt động sản xuất - kinh
doanh.
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp sau khi ứng ra, được sử dụng vào kinh doanh
và sau mỗi chu kỳ hoạt động phải được thu về để ứng tiếp cho kỳ hoạt động sau.
- Vốn kinh doanh không thể mất đi. Mất vốn đối với doanh nghiệp đồng nghĩa với
nguy cơ phá sản.
1.3 Phân loại vốn kinh doanh
Có rất nhiều cách phân loại vốn kinh doanh, tuỳ theo những góc độ khác nhau:
1.3.1 Căn cứ vào phạm vi tài trợ
+ Nguồn vốn bên trong: chủ yếu trích lập từ lợi nhuận có được từ kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
+ Nguồn vốn bên ngoài: bao gồm nguồn vốn liên doanh liên kết, phát hành cổ
phiếu, trái phiếu, …
5


1.3.2 Căn cứ vào thời gian tài trợ
+ Nguồn vốn tài trợ ngắn hạn: bao gồm tín dụng thương mại, các khoản chiếm dụng
tạm thời, …
+ Nguồn vốn tài trợ dài hạn: bao gồm tín dụng nân hàng dài hạn, phát hành trái
phiếu, bổ sung vốn từ lợi nhuận, …
1.3.3 Căn cứ vào tính pháp lý
+ Vốn pháp định: là vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp do pháp luật
quy định đối với từng ngành nghề và từng loại hình sở hữu doanh nghiệp. Dưới
mức vốn pháp định thì không đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp.
+ Vốn điều lệ: là số vốn do các thành viên đóng góp và ghi vào điều lệ của doanh
nghiệp. Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp, theo từng ngành nghề, vốn điều lệ
không được thấp hơn vốn pháp định.
1.3.4 Căn cứ vào nguồn hình thành vốn
+ Vốn đầu tư ban đầu: Là số vốn phải có từ khi hình thành doanh nghiệp.
+ Vốn bổ xung: Là số vốn tăng thêm do bổ xung từ lợi nhuận, do nhà nước cấp bổ
xung bằng phân phối lại nguồn vốn, do sự đóng góp của các thành viên, do bán trái
phiếu.
+ Vốn liên doanh: Là vốn do các bên cùng cam kết liên doanh với nhau để hoạt
động.
+ Vốn đi vay: Trong hoạt động kinh doanh, ngoài số vốn tự có và coi như tự có,
doanh nghiệp còn phải sử dụng một khoản đi vay khá lớn của ngân hàng. Ngoài ra
còn có khoản vốn chiếm dụng lẫn nhau giữa các đơn vị nguồn hàng, khách hàng và
bạn hàng.
1.3.5 Căn cứ vào góc độ chu chuyển vốn
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một quá trình, các chu
kỳ được lặp đi lặp lại, mỗi chu kỳ được chia làm các giai đoạn: chuẩn bị sản xuất sản xuất – tiêu thụ. Trong mỗi giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn được
luân chuyển và tuần hoàn không ngừng. Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển của từng
loại vốn trong giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh, người ta chia vốn sản xuất
6


kinh doanh thành 2 loại vốn cố định và vốn lưu động.
1.3.5.1 Vốn cố định
Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà
đặc điểm của nó được luân chuyển từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hình
thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng.
Đặc điểm của vốn cố định:
Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, điều này do đặc điểm của
tài sản cố định được sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kỳ sản xuất quyết định.
Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất.
khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận vốn cố định được luân chuyển và
cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức chi phí khấu hao) tương ứng
với phần giá trị hao mòn của tài sản cố định.
Sau nhiều chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân
chuyển.
Trong các doanh nghiệp vốn cố định là một bộ phận của vốn kinh doanh.
Việc quản lý sử dụng vốn cố định được coi là một vấn đề quan trọng của công tác
tài chính doanh nghiệp.
Để quản lý, sử dụng vốn cố định một cách có hiệu quả thì phải sử dụng tài
sản cố định sao cho hiệu quả. Thông thường một tư liệu lao động được coi là tài sản
cố định phải đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn cơ bản:
+ Phải có thời gian sử dụng tối thiểu, thường từ một năm trở lên.
+ Phải đạt giá trị tối thiểu ở một mức quy định (hiện nay có quy định từ 30
triệu đồng trở lên).
Tiêu chuẩn này được quy định riêng đối với từng nước và có thể được điều
chỉnh cho phù hợp với mức giá cả của từng thời kỳ.
Đối với những tư liệu lao động riêng biệt, có thể không đủ những điều kiện
về giá trị và thời gian, nhưng chúng được tập hợp theo từng tổ hợp sử dụng đồng bộ
thì tổ hợp này cũng được coi là tài sản cố định.
Để quản lý tốt tài sản cố định trong doanh nghiệp, người ta chia tài sản cố
7


định thành các loại sau:
- Căn cứ vào hình thái biểu hiện tài sản cố định được chia thành:
+ Tài sản cố định hữu hình: Tài sản cố định hữu hình bao gồm:
• Nhà cửa, vật kiến trúc, đường xá, cầu cảng.
• Máy móc, thiết bị.
• Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn.
• Thiết bị, dụng cụ quản lý.
• Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm.
• Các loại tài sản cố định khác.
+ Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản cố định không có hình thái vật chất, nó
thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kì
kinh doanh của doanh nghiệp như: chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí nghiên
cứu, chi phí mua bằng phát minh sáng chế…
Trong nền kinh tế thị trường do sự tác động của các quy luật kinh tế và để nâng
cao khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp phải đầu tư những khoản chi phí lớn cho
phần tài sản vô hình. Những chí phí này cần phải được quản lý và thu hồi dần dần
như những chi phí mua sắm tài sản cố định khác.
- Căn cứ vào mục đích sử dụng tài sản cố định:
+ Tài sản cố định phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh.
+ Tài sản cố định phục vụ lợi ích công cộng, an ninh quốc phòng.
+ Tài sản cố định bảo quản, giữ hộ.
- Căn cứ vào tình hình sử dụng:
+ Tài sản cố định đang dùng.
+ Tài sản cố định chưa sử dụng.
+ Tài sản cố định không cần dùng, chờ thanh lý.
- Căn cứ vào quyền sở hữu:
+ Tài sản cố định tự có.
8


+ Tài sản cố định đi thuê.
Vậy với mỗi cách phân loại trên đây cho phép ta đánh giá, xem xét kết cấu tài
sản cố định của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Đối với mỗi doanh
nghiệp, việc phân loại và phân tích kết cấu tài sản cố định là việc làm cần thiết giúp
donh nghiệp chủ động biến đổi kết cấu của tài sản cố định sao cho có lợi nhất cho
việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Ngày nay sự phát triển và mở rộng quan hệ hàng hoá, tiền tệ cũng như sự
phát triển của khoa học – kĩ thuật, do tính đặc thù về đầu tư nên đã làm xuất hiện
một số khoản chi phí đầu tư mà tính chất luân chuyển của nó giống như đặc điểm
luân chuyển vốn cố định.
1.3.5.2 Vốn lưu động
Vốn lưu động của doanh nghiệp là một khoản tiền ứng trước về tài sản lưu
động, nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện
một cách thường xuyên, liên tục, hay vốn lưu động của doanh nghiệp được biểu
hiện bằng tiền giá trị của các tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có thời
gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển trong vòng một năm hay một kỳ kinh doanh.
Vốn lưu động được chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, tiến hành liên
tục và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất. Vốn lưu động là
điều kiện vật chất không thể thiếu của quá trình tái sản xuất. Nếu doanh nghiệp
không đủ vốn thì việc tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp nhiều khó khăn, do vậy quá trình
sản xuất bị trở ngại hay gián đoạn.
Vốn lưu động thường xuyên vận động, luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện
qua các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu
chuyển sang vốn đầu tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất cuối cùng trở về hình thái
vốn tiền tệ ban đầu.
Một doanh nghiệp được đánh giá là sử dụngvốn lưu động tốt, có hiệu quả khi
doanh nghiệp biết phân phối vốn một cách hợp lý cho các quyết định đầu tư của
mình và qua đó thì nó sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp. Muốn sử
dụng vốn lưu động hiệu quả thì doanh nghiệp phải có sự nhận biết các bộ phận cấu
thành của vốn lưu động, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp với
9


từng loại
- Căn cứ vào vai trò của từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh
doanh vốn lưu động bao gồm:
+ Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: là bộ phận vốn dùng để mua
nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế dự trữ và chuẩn bị dùng cho hoạt động sản xuất.
+ Vốn lưu động trong khâu sản xuất: là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho
quá trình sản xuất như sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ, bán thành phẩm tự
gia công chế biến.
+ Vốn lưu động dùng trong quá trình lưu thông: là bộ phận dùng trong quá
trình lưu thông như thành phẩm, vốn tiền mặt….
- Căn cứ vào hình thái biểu hiện, vốn lưu động gồm:
+ Vốn vật tư hàng hoá: là các khoản vốn có hình thái biểu hiện bằng hiện vật
cụ thể như nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, bán thành phẩm…
+ Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi
ngân hàng, các khoản thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn.
Các doanh nghiệp dù hoạt động theo quy mô nào, lớn hay nhỏ thì vốn là một
nhu cầu không thể thiếu đối với doanh nghiệp. Nó là tiền đề cho quá trình phát triển
của doanh nghiệp.

1.4 Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử
dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa nhằm đến mục đích
cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận.
Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hoá thông qua hệ thống các chỉ tiêu, nó còn
phản ánh giữa quan hệ đầu ra và quan hệ đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh
thông qua thước đo tiền tệ hay đây chính là mối quan hệ tương quan giữa kết quả
lợi nhuận thu được và chi phí bỏ ra để thực hiện sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận thu
được càng cao so với chi phí vốn bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao.

10


Kết quả lợi ích tạo ra từ sử dụng vốn phải thoả mãn yêu cầu: đáp ứng được lợi
ích của doanh nghiệp, lợi ích của nhà đầu tư ở mức độ mong muốn cao nhất đồng
thời nâng cao lợi ích của nền kinh tế xã hội. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay,
bất kì một doanh nghiệp nào hoạt động kinh doanh mang lại lợi ích cho mình,
nhưng làm tổn hại đến lợi ích chung của nền kinh tế xã hội sẽ không được phép
hoạt động. Ngược lại nếu doanh nghiệp hoạt động mang lại lợi ích cho nền kinh tế,
còn bản thân thì thua lỗ thì sẽ làm cho doanh nghiệp phá sản. Như vậy kết quả tạo
ra do việc sử dụng vốn phải kết hợp với lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của nền
kinh tế xã hội.
Vậy hiệu quả sử dụng vốn là chỉ tiêu biểu hiện một mặt về hiệu quả kinh
doanh, một mặt là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử
dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi ích và tối
thiểu hoá chi phí.
* Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là một trong những nguyên nhân
trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận,đến quyền lợi đến mục đích cao nhất của doanh
nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng có nghĩa là nâng cao lợi nhuận, chẳng
có một lý do nào để doanh nghiệp có thể từ chối việc làm đó. Như vậy ta có thể
nhận thấy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là một việc làm thiết
yếu của bất kỳ một doanh nghiệp nào, người ta không thể từ chối thu một khoản lợi
nhuận hay doanh thu nhiều hơn trên một đồng vốn bỏ ra mà ngược lại họ muốn thu
ngày càng nhiều từ việc bỏ ra một cùng một lượng vốn ban đầu của mình hay với
cùng một lượng tiền thu về từ hoạt động sản xuất kinh doanh như năm trước nhưng
năm nay doanh nghiệp phải bỏ ra cho nó một lượng chi phí ít hơn. Có thể tổng quát
một số lý do cơ bản, cụ thể làm nên sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp như sau:
Thứ nhất: Do sự tác động của cơ chế mới, cơ chế thị trường có sự điều tiết của
nhà nước. Kinh tế thị trường theo đuổi một mục đích lớn và cốt yếu là lợi nhuận và
lợi nhuận ngày càng cao. Tiền đề của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong
các doanh nghiệp là vốn, đồng vốn sản xuất kinh doanh phải có khả năng sinh lời
11


mới là vấn đề cốt lõi liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp bởi thiếu vốn thì mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị
“chết”, bị ngưng trệ bởi bây giờ không còn có sự cứu trợ của Ngân sách Nhà nước.
Thứ hai: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh có ý nghĩa hết
sức quan trọng đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Giờ đây người định đoạt số phận của doanh nghiệp chính là thị trường mà không
phải là ai khác, song nhà nước cũng có vai trò nhất định của nó. Nếu sử dụng đồng
vốn hiệu quả thì việc đáp ứng nhu cầu thị trường là điều không khó khăn đối với
doanh nghiệp nữa.
Thứ ba: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng là một nội dung cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp, trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt hiện nay thì điều này càng
được khẳng định chắc chắn hơn. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì
điều kiện tiên quyết không thể thiếu được là doanh nghiệp phải xem xét vấn đề chất
lượng sản phẩm, mẫu mã sản phẩm và phải quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh, hiệu quả sử dụng vốn. Vấn đề này quyết định lớn đến khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Thứ tư: Tình hình chung trong các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh
doanh ở nước ta thì hiệu qủa sử dụng vốn sản xuất kinh doanh còn chưa cao. Thậm
chí ngày càng giảm. Do đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là
một yêu cầu chung đối với các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay. Việc sử dụng
vốn có hiệu quả trở thành một yêu cầu khách quan của cơ chế hạch toán đó là: kinh
doanh tiết kiệm, có hiệu quả trên cơ sở tự chủ về mặt tài chính.
Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một tất yếu trong cơ chế thị
trường cạnh tranh gay gắt. Nó góp phần nâng cao khả năng hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất, tăng nhanh tốc độ
hoạt động của doanh nghiệp nhằm đem lại cho doanh nghiệp lợi nhuận và lợi nhuận
ngày càng cao, góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội.
1.5 Nguồn vốn kinh doanh của công ty

12


Nguồn vốn kinh doanh là nguồn gốc của vốn, là toàn bộ vốn để đảm bảo nhu
cầu tài sản cho doanh nghiệp, giúp quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục và
có hiệu quả.
1.5.1 Nợ phải trả
Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ giao dịch và sự
kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình. Nợ phải
trả xác định nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp khi doanh nghiệp nhận về một tài
sản, tham gia cam kết hoặc phát sinh nghĩa vụ pháp lý.
Nợ phải trả bao gồm các khoản vay ngắn hạn, dài hạn, các khoản phải trả phải
nộp khác nhưng chưa đến kì hạn trả như: phải trả người bán, phải trả công nhân
viên, phải trả khách hàng…
1.5.2 Nguồn vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn chủ sở hữu biểu hiện quyền sở hữu của các chủ thể về các tài sản
hiện có của doanh nghiệp. Vốn chủa sở hữu được tạo nên từ các nguồn vốn sau:
- Số vốn đóng góp của nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp.
- Lợi nhuận chưa phân phối: số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
Ngoài hai nguồn vốn trên, vốn chủ sở hữu còn bao gồm chênh lệch đánh giá lại
tài sản, chênh lệch tỷ giá…
1.6 Chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng vốn kinh doanh
1.6.1 Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
Tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh rõ nét chất lượng
công tác tài chính. Nếu hoạt động tài chính tốt, doanh nghiệp sẽ ít công nợ, khả
năng thanh toán dồi dào, ít bị chiếm dụng vốn cũng như ít đi chiếm dụng vốn.
Ngược lại nếu hoạt động tài chính kém thì sẽ dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn lẫn
nhau, các khoản công nợ phải thu, phải trả sẽ dây dưa, kéo dài.
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp chỉ tập trung vào thanh toán khoản vay
nợ mà doanh nghiệp cần phải thanh toán trong năm. Do vậy doanh nghiệp phải
13


dùng toàn bộ tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để thanh toán nợ tới
hạn. Nếu khả năng thanh toán yếu, doanh nghiệp phải chịu lãi suất đồng thời làm
ảnh hưởng đến các mối quan hệ kinh tế trong kinh doanh. Vì vậy khi xét đến khả
năng thanh toán người ta chỉ xét đến khả năng thanh toán nợ ngắn hạn.
- Hệ số thanh toán tổng quát:
Tổng tài sản

Hệ số thanh toán tổng quát =

Tổng nợ phải trả
Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa tổng tài sản hiện nay mà doanh nghiệp
đang quản lý sử dụng với tổng số nợ phải trả ( nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, ... ). Nó cho
biết một đồng vốn vay được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản.
Nếu hệ số này nhỏ hơn một là báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, vốn chủ
sở hữu bị mất toàn bộ, tổng số tài sản hiện có (tài sản lưu động, tài sản cố định)
không đủ trả số nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán.
- Hệ số thanh toán nhanh:

Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho

Hệ số thanh toán nhanh =

Nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu
đồng tài sản ngắn hạn có khả năng thanh toán nhanh. Việc phân tích và tính toán
các hệ số khả năng thanh toán nhanh giúp cho doanh nghiệp biết được thực trạng
các khoản cần thanh toán nhanh để có kế hoạch dự trữ nhằm đáp ứng kịp thời các
nhu cầu thanh toán.
- Hệ số thanh toán hiện hành:

Tài sản ngắn hạn

Hệ số thanh toán hiện hành =

Nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu
đồng tài sản ngắn hạn.

14


- Hệ số thanh toán tức thời:

Tiền và các khoản tương đương tiền

Hệ số thanh toán tức thời =

Nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu
đồng tài sản có khả năng thanh toán tức thời.
1.6.2 Chỉ tiêu đánh giá khả năng cân đối vốn kinh doanh
- Hệ số nợ:

Tổng nợ phải trả
Hệ số nợ =

Tổng nguồn vốn

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ nợ trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Nếu
tỉ số này tăng lên, mức độ đơn vị cần được thanh toán tăng điều này gây ảnh hưởng
đến khả năng thanh toán của doanh nghiêp. Hệ số nợ càng thấp thì khả năng thanh
toán nợ cho các công ty sau khi phá sản càng cao.
- Hệ số tự tài trợ:
Hệ số tự tài trợ =

VCSH
Tổng nguồn vốn

Chỉ tiêu này cho biết khả năng tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp. Tỷ
suất tự tài trợ càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, có tính độc lập
cao với các chủ nợ, do đó không bị ràng buộc hoặc bị sức ép của các khoản vay.
Các chủ nợ thường thích tỷ suất tự tài trợ càng cao càng tốt. Chủ nợ nhìn vào tỷ số
này để tin tưởng một sự đảm bảo cho các món nợ vay được hoàn trả đúng hạn.
- Hệ số khả năng thanh toán lãi vay:

LNTT và lãi vay

Hệ số khả năng thanh toán lãi vay =

Lãi vay phải trả

Cho biết khả năng đáp ứng trả nợ lãi của công ty đến đâu. Nếu tỷ số >1 công
ty hoàn toàn có khả năng trả lãi vay. Nói cách khác, hệ số thanh toán lãi vay cho
15


chúng ta biết được số vốn đi vay đã sử dụng tốt tới mức độ nào và đem lại một
khoản lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả hay không.
1.6.3 Chỉ tiêu đánh giá về khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh
- Vòng quay các khoản phải thu:

DTT

Vòng các khoản phải thu =

Các khoản phải thu bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh số lần các khoản phải thu luân chuyển được trong một
trong kỳ.
- Kì thu tiền bình quân:
Kì thu tiền bình quân =

360
Vòng quay các khoản phải thu

Chỉ tiêu này cho biết khoảng thời gian trung bình cần thiết để công ty thu hồi
các khoản thu là bao nhiêu ngày.
- Vòng quay dự trữ:
Vòng quay dự trữ =

DTT
Hàng tồn kho bình quân

Chỉ tiêu này cho biết số lần hàng tồn kho luân chuyển trong kỳ kinh doanh.
1.6.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định cần phải đánh giá hiệu quả sử dụng
tài sản cố định qua các chỉ tiêu sau:
a. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ
- Hiệu suất sử dụng TSCĐ:
DTT
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =

Nguyên giá TSCĐ bình quân

Chỉ tiêu này cho biết một đồng nguyên giá bình quân TSCĐ đem lại mấy đồng
doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy TSCĐ được sử dụng càng có hiệu
quả.
16


- Suất hao phí TSCĐ:

Suất hao phí TSCĐ =

Nguyên giá TSCĐ bình quân
DTT

Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì phải bỏ ra bao
nhiêu đồng nguyên giá bình quân TSCĐ. Và hệ số này càng nhỏ thì chứng tỏ tài sản
cố định sử dụng có hiệu quả.
- Sức sinh lời của TSCĐ:

LNST
Sức sinh lời TSCĐ =

Nguyên giá TSCĐ bình quân

×100%

Chỉ tiêu này cho biết 100 đồng nguyên giá TSCĐ đem lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận thuần, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ việc sử dụng TSCĐ có hiệu quả.
b. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ
Ngoài ra để đánh giá trực tiếp hiệu quả sử dụng vốn cố định, doanh nghiệp sử
dụng ba chỉ tiêu sau:
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định:
DTT
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =

VCĐ bình quân

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn cố định bình quân sẽ mang về bao
nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ rằng vốn cố định sử
dụng có hiệu quả.
- Mức đảm nhiệm vốn cố định:

VCĐ bình quân

Mức đảm nhiệm vốn cố định =

DTT

17


Cho biết cứ một đồng doanh thu thuần sẽ được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng
vốn cố định sử dụng bình quân. Chỉ tiêu này càng thấp thì càng cho thấy vốn cố
định sử dụng hiệu quả.
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định:
LNST
Tỷ suất lợi nhuận/vốn cố định =

× 100%

VCĐ bình quân

Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng vốn cố định sử dụng bình quân sẽ sinh ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Đây là chỉ tiêu cốt lõi và là chỉ tiêu quan trọng
đối với việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định, và chỉ tiêu này càng cao thì cho
thấy vốn cố định càng được sử dụng hiệu quả.
1.6.5 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Để đánh giá hiệu suất vốn lưu động của doanh nghiệp ta dùng các chỉ tiêu sau:
- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động:

Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động =

VLĐ bình quân
DTT

Chỉ tiêu này phản ánh tạo ra một đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng
vốn lưu động. Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng
cao, số vốn tiết kiệm được càng nhiều và ngược lại.
- Số vòng quay vốn lưu động:
DTT
Số vòng quay vốn lưu động =

VLĐ bình quân

Cho biết tốc độ luân chuyển vốn lưu động trong kì ( thường là một năm), số
vòng quay vốn lưu động càng cao thì càng tốt.
- Kỳ luân chuyển vốn lưu động:
360
18

Số vòng quay VLĐ


Kỳ luân chuyển vốn lưu động =

Cho biết số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động thực hiện được một vòng
quay trong kì. Kì luân chuyển càng rút ngắn càng chứng tỏ vốn lưu động được sử
dụng có hiệu quả.
- Mức doanh lợi vốn lưu động:
LNTT
Mức doanh lợi vốn lưu động=

VLĐ bình quân

×100%

Cho biết 100 đồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiệu đồng lợi nhuận trước
thuế hoặc sau thuế. Đây là chỉ tiêu cốt lõi để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu
động bình quân.

1.6.6 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn. Đó là
nhân tố quyết định cho sự tồn tại và tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp một cách
chung nhất người ta thường dùng một số chỉ tiêu tổng quát như: vòng quay tổng tài
sản (tổng vốn), ROA, ROE. Trong đó:
- Số vòng quay toàn bộ vốn:

Số vòng quay toàn bộ vốn =

DTT
Vốn bình quân

Chỉ tiêu này cho thấy hiệu suất sử dụng vốn của doanh nghiệp, nghĩa là vốn
quay bao nhiêu vòng trong năm. Hệ số này càng cao cho thấy doanh nghiệp sử dụng
vốn hiệu quả. Mặt khác chỉ tiêu này còn cho biết một đồng vốn cố định sử dụng
bình quân sẽ cho ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
19


- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế/vốn kinh doanh (ROA)
LNST
ROA=

Vốn bình quân

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn sử dụng bình quân sẽ cho ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ rằng vốn sử dụng càng có
hiệu quả cao.
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên VCSH (ROE)

ROE=

LNST
VCSH bình quân

Chỉ tiêu này cho thấy cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ mang về
bao nhiêu đồng thời lợi nhuận nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy vốn
sử dụng có hiệu quả.
1.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn:
1.7.1 Các nhân tố chủ quan
* Đặc điểm sản phẩm và chu kỳ sản xuất:
Đặc điểm của sản phẩm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Vị thế của sản phẩm trên thị trường, tính cạnh tranh, sự ưa chuộng
của khách hàng đối với sản phẩm quyết định rất lớn đến số lượng hàng hoá tiêu thụ
được và giá cả của sản phẩm. Qua đó ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu và lợi nhuận
của doanh nghiệp, đồng thời ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp. Mỗi loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất khác nhau, nếu chu kỳ sản xuất dài,
vốn bị ứ đọng, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, làm giảm hiệu quả
sử dụng vốn. Nếu chu kỳ sản xuất ngắn, thời gian luân chuyển vốn nhanh, hiệu quả
sử dụng vốn tăng lên. Do ảnh hưởng quan trọng của sản phẩm đến hiệu quả sử dụng
vốn nên ta cần nghiên cứu kỹ thị trường và chu kỳ sống của sản phẩm. Đồng thời
không ngừng đổi mới công nghệ sản xuất rút ngắn chu kỳ sản xuất sản phẩm.
* Trình độ công nghệ sản xuất:
20


Công nghệ sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn. Các
doanh nghiệp phải lựa chọn công nghệ sản xuất phù hợp với điều kiện của mình. Do
sự phát triển của công nghệ các máy móc thiết bị nhanh chóng bị lạc hậu, đòi hỏi
doanh nghiệp phải khấu hao nhanh tài sản cố định để đổi mới thiết bị. Chu kỳ luân
chuyển vốn cố định tăng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn. Mặt khác, do khấu
hao nhanh nên chi phí khấu hao cao điều đó làm ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm
làm giá thành của sản phẩm tăng từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
* Các yếu tố về vốn của doanh nghiêp:
- Cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp ở các ngành khác nhau, thậm chí các doanh nghiệp trong
cùng ngành cũng có cơ cấu vốn khác nhau. Cơ cấu vốn hợp lý phản ánh sự kết hợp
hài hoà giữa nợ phải trả với vốn chủ sở hữu trong điều kiện nhất định. Cơ cấu vốn
thường biến động trong các chu kỳ kinh doanh và ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất
kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Vì vậy, phải tạo sự cân đối
của nguồn vốn kinh doanh từ đó mới phát huy hết hiệu quả của nguồn vốn, hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp sẽ được nâng cao.
- Nhu cầu vốn:
Nhu cầu vốn của doanh nghiệp tại bất cứ thời điểm nào cũng chính bằng
tổng tài sản mà doanh nghiệp cần phải có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh
doanh. Việc xây dựng nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp là hết sức quan
trọng, nếu thiếu hụt sẽ gây gián đoạn sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng xấu đến kế
hoạch tiêu thụ sản phẩm, đến hợp đồng với khách hàng, làm mất uy tín của doanh
nghiệp. Ngược lại, nếu xác định vốn quá cao, vượt qua nhu cầu thực sẽ gây lãng phí
vốn. Tóm lại các doanh nghiệp phải xác định chính xác nhu cầu về vốn mới có thể
nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Nguồn tài trợ:
Khi doanh nghiệp có nhu cầu về vốn doanh nghiệp phải tìm nguồn tài trợ.
Nguồn tài trợ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Nó tạo
cho doanh nghiệp khả năng độc lập về tài chính song nó cũng gây cho doanh nghiệp
21


những khó khăn quyền kiểm soát doanh nghiệp bị pha loãng và chi phí vốn lớn hơn.
Sử dụng các nguồn vốn bên ngoài (chủ yếu là vốn vay) phải trả chi phí vốn đó
chính là lãi suất vay nợ. Vì vậy doanh nghiệp phải xác định được nguồn tài trợ hợp
lý trong các thời điểm khác nhau để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
* Trình độ tổ chức quản lý doanh nghiêp:
Trình độ tổ chức quản lý có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Nếu quản lý
nhân sự tốt, doanh nghiệp sẽ phát huy được năng lực của người lao động, tránh lãng
phí, năng suất lao động tăng, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nếu quản lý tốt về mặt
tài chính, doanh nghiệp sẽ xác định đúng các nhu cầu về vốn phát sinh, từ đó tìm
nguồn tài trợ hợp lý. Tổ chức tiêu thụ sản phẩm cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp vì tiêu thụ sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến
doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.
* Mối quan hệ với khách hàng:
Mối quan hệ này được thực hiện trên hai phương diện là quan hệ giữa doanh
nghiệp với khách hàng và với nhà cung ứng. Điều này rất quan trọng vì nó ảnh
hưởng đến nhịp độ sản xuất, khả năng phân phối sản phẩm, chất lượng hàng tiêu
thụ…. là những vấn đề trực tiếp tác động tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu
doanh nghiệp có mối quan hệ tốt với khách hàng và nhà cung ứng sẽ đảm bảo tương
lai lâu dài cho doanh nghiệp bởi đầu vào được đảm bảo đầy đủ và sản phẩm đầu ra
được tiêu thụ hết. Do đó doanh nghiệp phải có các chính sách lâu dài với khách
hàng cũng như nhà cung ứng như: đổi mới quá trình thanh toán, áp dụng các chính
sách chiết khấu giảm giá, mở rộng mạng bán hàng và thu mua nguyên vật liệu, tăng
cường lượng bán…..
1.7.2 Các nhân tố khách quan
* Các chính sách của Đảng và Nhà nước:
Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật và các chính sách kinh tế vĩ
mô. Do vậy bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải tiến hành sản xuất kinh doanh trên
cơ sở pháp luật và các chính sách kinh tế vĩ mô hiện hành của Nhà nước. Với bất cứ
22


sự thay đổi nhỏ nào trong chế độ chính sách hiện hành đều trực tiếp hoặc gián tiếp
chi phối các mảng hoạt động của doanh nghiệp. Chẳng hạn như Nhà nước tăng thuế
giá trị gia tăng sẽ làm giảm doanh thu của doanh nghiệp (VAT tăng làm sức mua
của người dân giảm). Đối với hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thì các văn
bản pháp luật về tài chính, kế toán thống kê và các quy chế đầu tư gây ảnh hưởng
lớn trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là các quy định
về trích khấu hao, về tỷ lệ lập các quỹ…
* Thị trường cạnh tranh:
Các yếu tố thị trường tác động không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Thị trường chính là nơi quyết định cuối cùng đến khả năng kinh
doanh của doanh nghiệp. Sản phẩm của doanh nghiệp được thị trường chấp nhận thì
sản phẩm đó sẽ tiêu thụ được từ đó doanh nghiệp sẽ thu được doanh thu và lợi
nhuận. Mặt khác, do thị trường luôn luôn thay đổi nên doanh nghiệp cũng phải
thường xuyên đổi mới để thoả mãn nhu cầu của thị trường. Điều này cũng ảnh
hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Cạnh tranh là vấn đề tất yếu trong nền kinh tế thị trường, do vậy doanh
nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm. Có như vậy
doanh nghiệp mới thắng được trong cạnh tranh, bảo vệ và mở rộng thị trường, nhất
là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có môi trường cạnh tranh cao như
điện tử, viễn thông, tin học…..
* Các nhân tố khác:
Đó là các nhân tố mà người ta gọi là nhân tố bất khả kháng như thiên tai,
dịch hoạ…. Có tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Mức
độ tổn hại về lâu dài hay tức thời hoàn toàn không thể biết trước mà chỉ có thể dự
phòng, giảm nhẹ thiệt hại.

23


CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI THUỶ SỐ 4
2.1 Giới thiệu khái quát về công ty
2.1.1 Quá trình ra đời và phát triển của công ty Cổ phần vận tải thuỷ số 4
2.1.1.1 Căn cứ pháp lý hình thành doanh nghiệp
- Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI THUỶ SỐ 4
- Tên viết bằng tiếng nước ngoài: WATERWAY TRANSPORT JOINT STOCK
COMPANY N04
- Tên viết tắt: WATRANCO N4
- Địa chỉ: Số 436 đường Hùng Vương, phường Hùng Vương, quận Hồng Bàng,
thành phố Hải Phòng.
- Điện thoại: 031 850 454

Fax: ( 031) 850164

- Mã số thuế: 0203001951
- Hình thức pháp lý: Công ty cổ phần
- Quyết định thành lập: Công ty Cổ phần Vận tải thuỷ số 4 được thành lập theo
quyết định số 926/QĐ-BGTVT ngày 06/04/2005 của Bộ giao thông vận tải.
- Quy mô công ty:
Vốn điều lệ: 28.720.190.000 đồng
Tổng số cán bộ công nhân viên: 156 người
2.1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của công ty cổ phần vận tải thuỷ số 4
* Chức năng
24


Công ty cổ phần vận tải thủy số 4 là doanh nghiệp kinh doanh nhiều ngành
nghề khác nhau như:
- Vận tải đường thuỷ.
- Sửa chữa và đóng mới tàu thuyền.
- Xây dựng công trình giao thông, công nghiệp, dân dụng, thuỷ lợi và san lấp mặt
bằng.
- Mua bán nhiên liệu động cơ, kim loại, vật liệu xây dựng, máy móc-thiết bị-phụ
tùng thay thế, nguyên nhiên vật liệu phi nông nghiệp, phế liệu, đồ phế thải.
- Đại lý mua bán, kí gửi hàng hoá, sản xuất các sản phẩm từ kim loại.
- Dịch vụ bảo dưỡng, sủa chữa xe có động cơ.
- Hỗ trợ vận tải.
- Tái chế phế liệu, phế thải kim loại.
* Nhiệm vụ
Công ty có nhiệm vụ tổ chức bộ máy, tổ chức sản xuất kinh doanh nhằm khai
thác hết tiềm năng của doanh nghiệp.
Đảm bảo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động. Không ngừng cải
tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng theo yêu cầu của khách
hàng. Kinh doanh có hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
với ngân sách nhà nước, BHXH, chịu trách nhiệm với cấp trên về kết quả kinh
doanh của mình, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
2.1.1.3 Sơ lược quá trình phát triển của công ty từ khi thành lập cho đến nay
Công ty vận tải thủy số 4 trước đó là công ty vận tải đường sông số 4 được
tách ra từ Xí nghiệp Vận tải sông Bạch Đằng trực thuộc liên hiệp các xí nghiệp
đường sông. Được thành lập ngày 28/2/1982 theo quyết định số 2163/QĐ của bộ
trưởng bộ GTVT.
Cùng với quyết định số 1354/QĐ-TCCB-LĐ ngày 5/7/1993 của bộ trưởng bộ
GTVT về việc thành lập lại Doanh nghiệp nhà nước Công ty vận tải Thủy số 4 –
trực thuộc cục đường sông Việt Nam.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×