Tải bản đầy đủ

Ebook công tác bê tông trong điều kiện khí hậu nóng ẩm việt nam phần 2

Chương 6

CHỐNG NÓNG CÔNG TRÌNH

6.1. MỤC ĐÍCH CHỐNG NÓNG
Kgày nay các công trình kiến trúc thường được thiết kế không chỉ theo độ
bền, mà còn theo công năng sử dụng. Nghĩa là; công trình không chỉ an toàn
mà còn phải đáp ứng các công năng khác như; bền môi trường, có khả năng
cách âm, cách nhiệt, chống thấm, chống nắng, và có tính linh hoạt v.v...
nhằm tạo cho người sử dụng những tiện nghi tối đa [16, 27, 42, 60]. Chương
này giới thiệu kỹ thuật để chống nóng cho mái và tường công trình, chủ yếu
là nhà ở, trong vùng khí hậu nóng ẩm nước ta bằng việc sử dụng một số vật
liệu nhẹ (còn gọi là vật liệu cách nhiệt) và kết hợp với các giải pháp kỹ thuật
cấu tạo thích hc;p.
Khái niệm chống nóng dược hiểu là cách nhiệt môi trường (nhiệt bức xạ
mặt trời và nhiệt không khí xung quanh) cho cóng trình trong vùng khí hậu
nóng ẩm, gồm cách nhiệt qua mái và qua tường ngoài của công trình.
Cách nhiệt môi trường nhằm 3 mục đích sau đây:
- Làm mát không gian dưới nhà, tạo một môi trường vi khí hậu trong nhà
thích hợp, đáp ứng tiện nghi cuộc sống. Cụ thể là tạo môi trường cân bằng
âm dương khí trong nhà với sự thông thoáng khí tự nhiên.

- Bảo vệ lớp bê tông mái trước tác động của các yếu tố khí hậu, làm cho
bè tông mái ít biến dạng theo thời tiết, ngăn ngừa các vết nứt mái có thể
xày ra.
- Bảo vệ trang thiết bị sử dụng trong nhà.
6.2 YÊU CẨU CHỐNG NÓNG CÔNG TR ÌN H
6.2.1. Một sô yêu cầu chung
Việc thiết kế chống nóng hay cách nhiệt môi trường cần đáp ứng một số
yêu cầu sau đây;
137


- Giải pháp cách nhiệt công trình phải đảm bảo nhiệt độ môi trườiig bèn
trong công trình phải nhỏ hơn hoặc bằng nhiệt độ môi trường:
t trong phòng < t môi trường.
- Hạn chế tích tụ nhiệt mái và tường: Nhiệt độ môi trường đi \'ào công
trình thông qua diện tích mái và tường (kể cả hệ cửa). Nếu mái và tường
không được cách nhiệt tốt thì khi hấp thụ nhiệt bức xạ mặt trời và nhiệt
không khí xung quanh, nhiệt độ sẽ thấm sâu vào trong kết cấu mái và tường
bao che, khi đó mái và tường trở thành vật phát nhiệt. Theo [67] các vật liệu
như bê tông, vật liệu gốm thường dùng làm mái và tường như ở nước ta hiện
nay có tính ổn định nhiệt cao, độ trễ dao động nhiệt lóín, thường là 8 -10 giờ.
Do đó vào khoảng 2 1 - 2 3 giờ đêm, mái và tường mới nóng nhấl trong khi
đó nhiệt độ ngoài không khí đã xuống thấp. Cho nên nếu không được cách
nhiệt thì mái và tường sẽ tích tụ nhiệt và sau đó sẽ tỏa nhiột vào trong nhà.
Do độ trễ dao động nhiệt lớn nên khi đã hết nắng, nhiệt độ không khí đã
xuống thấp mà bầu không khí trớng nhà vẫn nóng bức, ảnh hưởng trực tiếp
đến giấc ngủ của con người.
- Yêu cầu mái và tường cần thoát nhiệt nhanh: Sau khi đã hết nắng thì
mái và tường phải thoát nhanh lượng nhiệt đã tích tụ trong ngày. Như vậy sẽ
hạn chế lượng nhiệt tiếp tuc đi vào trong nhà vào ban đêm.
- Thiết kế phải thông thoáng: Thông thoáng làm cho nhiệt độ môi trường
bên ngoài dễ cân bằng với nhiệt độ không khí bên trong công trình, và làm
hạn chế tích tụ nhiệt cho mái và tường.
1. M ột số yêu cầu kỹ thuật chống nóng m ái bê tông cốt thép
- Việc chống nóng cho mái bằng hay mái dốc BTCT cần đạt được yêu cầu
cân bằng nhiệt độ trần nhà với nhiệt độ không khí trong ngày. Ban đêm nhiệt
độ không khí trong phòng cân bằng với nhiệt độ không khí ngoài trời.
- Cách nhiệt phải đảm bảo thông thoáng tự nhiên không gian tầng áp mái.
- Hạn chế bề mặt mái hấp thụ bức xạ mật trời vào ban ngày và phải thoát
nhiệt nhanh vào ban đêm.

2. M ột số yêu cầu k ỹ thuật cách nhiệt tường
- Giải pháp cách nhiệt tường cần đảm bảo cách nhiệt hoàn toàn cho tường
hướng Tây. Một khi đã đạt yêu cầu cho tường hướng Tây thì ở các hướng
khác đương nhiên sẽ đạt yêu cầu.
138


- Tường phải đảm bảo cách nhiệt được ban ngày, tỏa nhiệt nhanh vào ban
đêm. Trọng lượng tường càng thấp càng tốt.
- Giải quyết cách nhiệt tường phải đi đối với việc cách nhiệt qua hệ cửa đi
và cửa sổ. Tliông thường, hộ cửa là nơi dẫn nhiệt bức xạ vào nhà. Vì vậy cấu
tạo hệ cửa cần phải đạt được yêu cầu chắn nắng và ngăn bức xạ nhiệt môi
trường vào nhà.
6.2.2. Chông nóng phải đi đôi với chông thấm
Thông thường cần phải thực hiện giải pháp chống thấm trước khi tiến
hành chống nóng công trình.
- Đối với mái; Nếu không đảm bảo khả năng chống thấm tốt thì sẽ có
nguy cơ bị thấm sau khi chống nóng. Như vậy sẽ phải rỡ bỏ lớp chống nóng
để làm lại. Vì vậy, nhất thiết mái BTCT phải đảm bảo đạt được yêu cầu
chống thấm thì mới tiến hành chống nóng.
- Đối với tưcíng: Do việc cách nhiệt tường được đảm bảo bằng việc sử
dụng các vật liệu hợp lý, nên vấn đề chống thấm tường được quan tâm trong
quá trình xây tường bằng các viên xây, hoặc lắp dựng bằng các tấm tường
đúc sẵn.
Trên thực tế lớp chống nóng phía trên rnái sẽ có tác dụng tãng thêm độ
bền chống thấm đã làm.
6.2.3, Chống nóng phải đi đôi với chịu lực cần thiết của kết cấu
Để chống nóng mái và tường công trình, thường sẽ sử dụng các vật liệu
cách nhiệt không có khả năng chịu lực hoặc vật liệu vừa cách nhiệt vừa
chịu lực.
Đối với mái bê tông cốt thép thì thường dùng giải pháp sàn bê tông
mái chịu lực và có khả năng chống thấm tốt. Còn vật liệu cách nhiệt môi
trường thường là loại không chịu lực như: Bê tông khí Ỵ < 500kg/m \ bê
tông polystyrene Ỵ < 400 k g /m \ xỉ hạt, tro nhiệt điện, tấm xốp polystyrene

v.v... Cũng có thể dùng sàn mái vừa chịu lực, vừa có khả năng cách nhiệt
như sàn mái bê tông kêrămzit, sàn mái bê tông xỉ, sàn mái bê tông khí có
y = 700 - 1000 kg/m^ và cường độ Rb = 75 ^ 100 kG/cm^. Hoặc ẹó thể dùng
sàn mái bê tông chịu lực và chống thấm, còn cách nhiệt bằng mái dốc lợp
từ nứa, lá, tôn, mái fibrô ximăng v.v...
139


Đối với tưòfng thì vật liệu cách nhiệt thường là kết hợp luôn khả năng chịu
lực tự tải, được xây chèn trong hệ khung bê tông cốt thép. Yêu cầu vật liệu
này là không bị nứt trong quá trình làm việc của tường dưới tác động của khí
hậu nóng ẩm.
6.2.4, Sử dụng vật liệu cách nhiệt hợp lý và dễ kiếm
Các loại vật liệu nhẹ dùng để cách nhiệt công trình (cách nhiệt cho mái
và tường) có thể là vật liệu rời, vật liệu tấm, các block nhưng cần đáp ứng
những yêu cầu sau đây:
- Nhẹ, có khối lượng thể tích thấp;
- Có hệ sô' dẫn nhiệt thấp, thường không quá 0,15 kcal/m.h.°C;
- Khô, độ ẩm 9 < 12%. [37].
Trên thực tế nhiều giải pháp cách nhiệt môi trường cho tường và mái đã
dùng vật liệu hợp lý, nhưng chiều dày của lớp cách nhiệt chưa đủ nên hiệu
quả cách nhiệt chưa cao.
Theo Định luật Purie lượng nhiệt Q truyền qua kết cấu tại một điểm
tưcfng ứng được xác định theo công thức sau [70]:
Q = -F ,.A T .t
ô

(6.1)

Trong đó;
Q- Dòng nhiệt theo phưcmg vuông góc với mặt phẳng kết cấu;
X- Hệ số dẫn nhiệt của vật liệu kết cấu, kcal/m.h.°C;
ô- Chiều dày lớp vật liệu kết cấu, m;
—- Hê số cản truyền nhiêt;
ô
F^- Diện tích bề mặt kết cấu mà dòng nhiệt đi qua, m^;
AT- Chênh lệch nhiệt độ giữa hai bề mặt đối diện của kết cấu, °C;
t- Thời gian dòng nhiệt truyền qua vật liệu kết cấu, h.
Trong cống thức (6.1) ta thấy khả năng dẫn nhiệt tỷ lệ nghịch với chiều
dày ô lóp vật liệu kết cấu, và tỷ lệ nghịch với hệ số dẫn nhiệt Ằ. Do đó tùy
theo từng vật liệu sử dụng cụ thể mà có yêu cầu về chiều dày cách nhiệt cần
thiết. Khi chưa đủ chiều dày thì hiệu quả cách nhiệt chưa cao. Khi vật liệu
có hệ số dẫn nhiệt cao thì chiều dày cách nhiệt phải càng lớn. Vì vậy ta
thường chọn các vật liệu có hệ số dẫn nhiệt thấp để hạn chế chiều dày ô.
140


Hệ số dẫn nhiệt của một số vật liệu được cho trong Bảng 6.1 [16, 68 , 69].
Bảng 6.1. Hệ sô dẫn nhiệt của một sô vật liệu thông dụng
K hối lượng
Loại vật liệu

TT

thể tích y,
kg/m^

H ệ số d ẫn nhiệt
kcal/m .h.°C

1

Bê tông khí

800

0,29

2

Bê tông kêrãm zit

1800

0,95

3

Bê tông polystyrene

700

0,275

4

Bê tông polystyrene

400

0,095

5

Tường gạch thông thường xây với vữa nặng

1800

0,7

6

Tường gạch thông thường xây với vữa nhẹ

1700

0,65

7

G ạch rỗng xây với vữa nhẹ

1300

0,5

8

T hảm bông khoáng

250

0,065

9

T ấm cách nhiệt xi m ăng- amiãng

300

0,08

10

Bê tông nặng

2400

1 - 1,35

11

K hông khí khô

12

Nước

1000

0,50

13

T hép

7850

50

14

Đ á granit

2500 - 2700

2,4- 2,5

0,02

Khả năng cách nhiệt của vật liệu không chỉ phụ thuộc vào độ rỗng mà
còn phụ thuộc vào đặc tính của lỗ rỗng, sự phân bố, kích thước và mức độ
kín của chúng. Không khí khô ở trạng thái tĩnh có hệ số dẫn nhiệt rất nhỏ
(ở 20°c - 0,02 kcal/m.h°C ). Vì vậy để tăng khả năng cách nhiệt, trong
công nghệ vật liệu cách nhiệt người ta cố gắng tạo rỗng cho vật liệu ở dạng
tổ ong nhỏ và kín. Tính cách nhiệt của vật liệu còn phụ thuộc vào tỷ lệ giữa
thể tích không khí trong các lỗ rỗng đóng kín và thể tích chất rắn trong một
đơn vị thể tích của vật liệu. Lớp chất rắn bọc các túi khí càng mỏng, tính
cách nhiệt càng tốt. ở những vật liệu xốp có khối lượng thể tích nhỏ, thể
tích khí trong vật liệu khá lớn. Do đó khả năng cách nhiệt của nó lớn, và
vai trò của chất rắn trong sự truyền nhiệt trở thành không đáng kể. Tuy
141


nhiên khi các lỗ rống này bị nhiễm ẩm, không khí trong lỗ rỗng trở thành
không khí ẩ m thì h ệ s ố dẫn nhiệt c ủ a không k h í ẩ m sẽ tăng lê n nhiều lần so
với không khí khó. Do không khí ở nước ta có độ ẩm thường trên 70%, có
khi bão hoà, nên không khí trong các lỗ hổng lớn của gạch lỗ rống lớn có
hệ số dẫn nhiệt cao, không còn khả nãng cách nhiệt nữa. Chúng trở thành
không khí dẫn nhiệt. Điều đó giải thích vì sao việc chống nóng mái nhà
bằng gạch lỗ rỗng lớn thường cho hiệu quả không cao. Do đó không nên
gọi loại gạch này là “Gạch chống nóng” .
Vật liệu cách nhiệt được phân thành vật liệu vô cơ và vật liệu hữu cơ. Để
đảm bảo độ bền môi trường, việc cách nhiệt cho mái và tường công trình ở
nước ta nên chọn dùng vật liệu vô cơ và một vài loại hữu cơ bền nước. Các
vật liệu cách nhiệt dễ kiếm trên thị trường Việt Nam hiện nay có thể là: Các
vật liệu hạt dạng xốp nhẹ, bê tông nhẹ, tấm xốp polystyrene v.v...
6.2.5. Dễ thi công
Các giải pháp cấu tạo mái, tường cách nhiệt môi trường cần phải đảm bảo
tính đơn giản và dễ thi công. Có thể thi công cho mọi hình dạng kết cấu
công trình bằng công nghệ thi công đơn giản và ít tốn kém.
6.2.6. Dễ sửa chữa
Mỗi giải pháp đều có cấu tạo cụ thể, có thể thay thế được một hay nhiều
lớp nếu có hư hỏng xảy ra. Liên kết các lớp không quá phức tạp, không mất
nhiều công sức cả khi lắp đặt cũng như sửa chữa. Khi cần sửa chữa thì cũng
hạn chế được mức độ phá rỡ để không gây quá tốn kém.
6.2.7. Bền trong môi trường
Các vật liệu dùng để cách nhiệt mái và tường công trình cần được xem xét
cụ thể để đảm bảo độ bền môi trường. Không dùng vật liệu cách nhiệt dễ bị
phong hóa mục nát, dễ bị các vi sinh vật phá hoại. Thông thường trong 'điều
kiện khí hậu nóng ẩm nước ta các vật liệu cách nhiệt sử dụng thường bị phá
hoại bởi độ ẩm, nấm mốc và bức xạ mặt Irời. Thí dụ vật liệu hữu cơ polymer
thường dễ phong hóa bởi bức xạ mặt trời. Vật liệu nứa lá thường dễ bị phong
hóa bởi độ ẩm và nấm mốc. Bê tông nhẹ thường dễ bị nứt do biến động của
thời tiết v.v... Do đó giải phấp chống nóng luôn phải đi đôi với biện pháp bảo
vệ vật liệu cách nhiệt trước tác động của các yếu tố khí hậu nóng ẩm.

142


6.3. M Ộ T SỐ VẬT LIỆU NHẸ THÔNG DỤNG DÙNG Đ Ể C H Ố N G
NÓNG CÔNG TRÌN H
Nói chung để chống nóng công trình chỉ nên dùng vật liệu nhẹ cách nhiệt
loại vô cơ, hạn chế dùng vật liệu hữu cơ. Có thể dùng vật liệu rời hoặc vật
liệu dạng tấm hoăc blôc chế sẵn từ vật liệu nhẹ.
6.3.1. Vật liệu rời
Vật liệu rời cách nhiệt thông dụng ớ nước ta hiện nay là xỉ hạt và tro nhiệt
điện. Sỏi kêrămzit cũng là vật liệu cách nhiệt tốt, nhưng hiện còn chưa phổ
biến ở nước ta. Các vật liệu này có thể dùng để làm lớp cách nhiệt cho mái
nhà với một độ dày nhất định.
1. X ỉ hạt
Xỉ hạt là vật liệu nhẹ có cấu trúc rỗng dưới dạng hạt, có

= 10 - 20mm.

Có thể là xỉ hạt đập từ các quặng xốp thiên nhiên như: Túp đá vôi, túp bazan,
pemza, diatomit. Trên thực tế, hiện nay loại vật liệu này chưa có trên thị
trường xây dựng ở nước ta. Vì vậy xỉ hạt sử dụng chủ yếu vẫn là xỉ lò cao
hoặc xỉ hạt nhiệt điện, thí dụ như xỉ gang thép Thái Nguyên, hay xỉ thải từ
các lò đốt than đá hay lò luyện ihan ihành khí đốt. Tải trọng lên mái của lớp
xỉ hạt cách nhiệt dày 25cm đạt khoảng 20Ọkg/m^

2. Tro nhiệt điện
Tro nhiệt điện phổ biến hiện nay là tro của nhà máy nhiệt điện Phả Lại.
Đày là loại iro được nghiền từ xỉ thải của lò đốt than đá. x ỉ này được làm
lạnh bằng nước và được bom ra ngoài bãi thải. Tải trọng của loại tro này lên
mái cũng tương tự như xỉ hạt.
3. Sỏi keramzit
Sỏi keramzit là các hạt đất sét được nung cho nở phồng trong lò nung.
Đất sét nở được vê viên trên máy thành các hạt sỏi. Các hạt này được nung
trong lò nung để nở phồng thành các viên sỏi có độ rỗng cao. sỏi keramzit
có tính cách nhiệt tốt và bền môi trường nhờ đã được sành hoá. Tải trọng
cách nhiệt của loại sỏi này lên mái thấp hcfn xỉ hạt và tro nhiệt điện.
6.3.2. Bê tông nhẹ
Bê tông nhẹ có tính năng cách nhiệt thường được dùng ở nước ta là bê
tông tổ ong, bê tông polystyrene, bê tông xỉ, bê tông keramzit.
143


1. Bê tông tổ ong
Là loại bê tông nhẹ có cấu trúc rỗng kín dạng tổ ong. Có 2 loại bê tông tỏ
ong là; Bê tông bọt và bê tông khí.
Bê tông bọt được chế tạo bằng cách trộn hỗn hợp ximăng + nước + chất
độn mịn với hỗn hợp bọt khí đã chế tạo trước từ một loại chất tạo bọt. Chất
tạo bọt có thể là alumosunfonaften, anbumin thủy phân, nhựa saponin, keo
nhựa thông và các chất tạo bọt tổng hợp. Thủy tinh lỏng, suníat sắt được
chọn làm ổn định bọt. Còn ximãng và vôi là chất khoáng hóa.
Bê tông khí được chế tạo bằng việc trộn hỗn hợp ximăng + nước + chất
độn mm cùng với bột nhũ nhôm và phụ gia. Phản ứng nhôm AI với kiềna
Ca(OH )2 trong dung dịch đã giải phóng khí hydro H 2 bay ra, tạo thành râi
nhiều lỗ rỗng kín trong bê tông.

Hình 6.1. C h ế tạo viên xảy làm tường từ bê tông khí,
và san p hẩm blôc bê tông polystyrene đ ể cách nhiệt m ái [16]

144


Bê tông tổ ong có khối lượng thể tích dưới 500 kg/m'' thường dùng để
cách nhiệt mái nhà. Còn bê tông có khối lượng thể tích 700- 1100 kg/m^
thường dùng cho tường nhà có nhu cầu cách nhiệt. Bê tống tổ ong dùng cho
cách nhiệt mái hay tường thườna được chế tạo sẵn thành các tấm hay blôc để
tién sử dụng (Hình 6.1). Cũng có thể đúc thành tấm lớn dùng cho xây dựng
bằng lắp ghép tường ngoài nhà.
2. Bê tông polystyrene
Là loại bê tông được chế tạo bằng việc trộn hồ ximăng với các hạt
polystyrene nở phồng. Cũng có thê có thêm phụ gia. Loại bê tòng này có
khối lượng thể tích 400 - 700 ke/m^ hoặc hơn tuỳ theo yêu cầu sử dụng.
Cũng như bê tông bọt, bê tông loại này được đúc sẵn thành tấm để lát cách
nhiệt cho mái, hoặc thành các blôc viên xây để xây tường. Thường bê tông
có khối lUOTg thể tích dưới 500 kg/m^ được dùng để cách nhiệt mái. Loại
nặng hơn (500-700 kg/m ’ trớ lên) dùng để xây tường. Khi dùiig để cách
nhiệt mái thì có thể đổ bê tỏng tại chỗ, trực liếp lên mặt bê tông sàn mái theo
một chiều dày đã định.
3. Bé tông keram iit
Là bê tòng dùng sỏi keramzit thay Ihế đá dăm. sỏi keramzit được vê
viên từ loại đất sét có khả năng nở phồng thành các hạt sỏi. Chúng được
nung trong lò và trương nở thành một loại sỏi rỗng nhẹ. Bê tông keramzit
thông dựng có khối lượng thể tích khoảng 900-1400 k g /m \ cường độ 520MPa. Chúng được dùng làm tường ngoài có nhu cầu cách nhiệt, hoặc đổ
trực tiếp làm sàn mái vừa chịu lực vừa cách nhiệt môi trường. Bê tông
keramzit hiện chưa phát triển ở nước ta. Nhưng trong tương lai loại bê tông
này sẽ phát triển mạnh, nhất là ở khu vực phía Nam, nơi đá dăm ngày càng
trở lên khan hiếm.
4. Bê tông cốt liệu x ỉ
Đây là loại bê tông được sử dụng cốt liệu xỉ hạt (xỉ nhiệt điện, xỉ lò cao)
thay thế cho đá dăm và sỏi. Loại bê tông này thường được chế tạo mác 35250. khối lượng thể tích 1400-1800 kg/m^ để làm kết cấu dầm, sàn, làm
cấu kiện sàn lắp ghép tấm nhỏ, làm tấm mái cỡ lớn, hoặc chế tạo thành các
blôc viên xây lỗ rỗng lớn. Ngoài ra còn chế tạo bê tông xỉ cấu trúc rỗng
thiếu cát. Các blôc viên xây được đúc từ loại bê tông này có các lỗ rỗng
145


lớn, dùng để xây các kết cấu tường có chức năng hút âm, hoặc các :ưởng
có nhu cầu làm nhẹ.
6.3.3. Tấm xốp polystyrene
Tấm xốp polystyrene là loại vật liệu cách nhiệt rất nhẹ, được đúc hầnh
khối lớn bằng phưofng pháp ép gia nhiệt các hạt polystyrene nở phồng, :sau
đó cắt thành tấm theo kích thước đã định. Tấm xốp này được dùng rất có
hiệu quả để cách nhiệt mái nhà, nhất là cho mái sửa chữa, vì nó vừa nhẹ 'vừa
các tính cách nhiệt cao. Tải trọng lên mái của lớp xốp dày 6 cm C.IỈ có
khoảng dưới 2 kg/m^
Tấm xốp lát cách nhiệt cho mái nhà đòi hỏi 2 yêu cầu sau đây:
- Phải đủ cứng để có thể đi lại, kê đồ, đặt chậu cây cảnh trên lớp láí m ái.
Thường loại này cần có khối lượng thể tích không dưới 30kg/m \
- Tấm xốp là vật liệu kỵ nước nên không dính kết với vữa lát phía trêi. Để
có thể bám dính với vữa lát và với nền bê tông mái thành một khối, bé rnặt
các tấm xốp này cần được quét một lớp SOÌI gắn kết, chế tạo từ hỗn hợpdiang
dịch nhũ tương polyme + 5-10% ximăng. Nhũ tương polyme là một duing
dịch huyền phù polyme nước, được chế tạo từ gốc. Loại dung dịch niy có
bán trong can trên thị trường.
- Tấm xốp cũng có thể dùng để cách nhiệt cho các tưòfng nhà hướng Tầy,
là nơi chịu bức xạ mặt trời với cường độ mạnh nung nóng tường trong ngà y.
6.4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT TRUYỀN THỐNG ĐỂ CHỐrVG
NÓNG MÁI BÊ TÔNG CỐT THÉP
Hiện nay ngành xây dụng đang áp dụng một số phương pháp chống aó>ng
mái truyền thống sau đây:
6.4.1. Dùng gạch có lỗ rỗng lớn
Gạch lỗ rỗng lớn được lát lên trên mái BTCT (Hình 6.2). Gạch lỗ rỗng llớn
có thể là gạch đất sét nung hay gạch blôc có lỗ rỗng lớn như gạch xi măing
cát. Các loại gạch này có 2 thành phần sau đây:
- Phần xưcmg gạch; Có thể là đất sét nung hay xi măng cát. Đây là aiũtng
vật liệu dẫn nhiệt, không phải là vật liệu cách nhiệt.
- Phần lỗ rỗng: Đây là các lỗ rỗng khí. Trong vùng khí hậu nóng ẩm nutớc
ta, không khí trong các lỗ rống này luôn có độ ẩm (p > 70%, có khi bão hioà
146


hơi nước. Như vậy không khí ẩm ở đây là một chất khí dẫn nhiệt, vì hệ số
dẫn nhiệt của nước rất lớn so với không khí khô (xem Bảng 6 . 1 ). Khi lát
gạch lên mái, các lỗ rỗng khí lại không có khả nãng đối lưu để thoát nhiệt.




— Lớp lát

p
1

1 1 1 1n 1 II
1 1 1 1u 1 II

1n 1 1
1n 1 1

— Lớp lát

— Lớp lất gạch lỗ rỗng đất sét nung

■ Lớp lát gạch block có lỗ rỗng lớn

- Vữa lát xi mămg cát chống thấm

- Vữa lát xi mămg cát chống thấm

- Bè tông sàn mái

— Bê tông sàn mái

Hỉnh 6.2. Sơ đồ chống nóng mái BTCT bằng gạch có ỉỗ rống lớn
Như vậy gạch lỗ rỗng lớn thực chất là một sản phẩm dẫn nhiệt, không
có khả nãng cách nhiệt. Vậy không thể gọi loại gạch này là “gạch chống
nóng” được.
Do đó giải pháp này không cách nhiệt được cho mái BTCT, ngược lại mái
ljị tích tụ nhiệt ban ngày, và khó nguội về ban đêm. Kết quả là không khí
trong tầng áp mái của nhà thường xuyên bị nóng vế mùa hè. Trong nhà luôn
quiá nhiều dương khí. Cuộc sống con người trở nên nặng nề. Giải pháp này
còm có nhược điểm là tải trọng lên mái lớn, đạt 180- 200 kg/m^.
Những phân tích trên cho thấy không nên thực hiện chống nóng mái bằng
phiương pháp này.
6.4.2. Dùng xỉ hạt hoặc tro nhiệt điện
Xỉ hạt hoặc tro nhiệt điện được đổ lên mái, đầm chặt (Hình 6.3). Đây là
cá(c vật liệu cách nhiệt tôt nếu chúng được giữ khô, có độ ẩm dưới 12%. Tuy
ahiién thực tế cho thấy giải pháp này trong nhân dân không có hiệu quả cao
vì 2 nguyên nhân sau đây:
-

Không đủ chiều dày cách nhiệt: Các vật liệu này đòi hỏi chiều dày cách

nhiệt không nhỏ hơn 25cm (Bảng 6.2). Nhưng các nhà đã làm thường chỉ đạt
đệ) cày không quá 15cm.
147


-

Có độ ẩm cao: Có thể là xỉ hoặc tro chưa được phơi khô đến mưc độ ẩm

cp < 12%. Cũng có thể chúng bị nhiễm ấm do trời mưa trong quá trình sư dụng.



Lớp lát gạch lá nem



Lởpxỉhạt
Lớp chống thấm



Bê tông sàn mái

H in h 6.3, Sơ đồ chống nóng m ái bằĩìg x ỉ liat

6.4.3. Dùng bê tông tổ ong
Bê tông khí hay bê tông bọt đều đều là vật liệu cách nhiệt tốt. Chúng
được đúc thành các tấm blôc để xếp ken trên mặt bê tòng mái theo một chiều
dày đã định theo sơ đồ giống như Hình 6.2. Đối với bê tông bọt thì còn có
thể đổ tại chỗ. Có 2 điều kiện sử dụng để đảm bảo cách nhiệt cho mái; Một
là phải xếp ken chặt lớp bê tông khí với đủ chiều dày cách nhiệt; Hai là phải
giữ cho chúng không bị nhiễm ẩm khi sử dụng. Cần có giải pháp đề phòng
sao cho khi bị nhiễm ẩm nước mưa thì lớp bê tông cách nhiệt cũng sẽ lự
thoát ẩm được.
6.4.4. Dùng táng đệm không khí
Một số nhà dân đã chống nóng mái bằng cách xây nghiêng gạch tạo
thành các rãnh khí rồi lát gạch lá nem bắc qua (Hình 6.4). Phưofng pháp này
có nhược điểm là chiều cao tầng đệm không khí nhỏ, và lại không có khả
năng đối lưu không khí bên trong các rãnh. Kết quả là không có tác dụng
cách nhiệt môi trường cho mái nhà. Mật trời nung nóng lớp gạch lá nem phía
148


trên, truyền nhiệt dần xuống bê tông sàn mái qua tầng đệm không khí (đây
là không khí ẩm) làm cho sàn mái bị nóng lên. Do đó không khí trong nhà
luôn bị nóng. Hàng ngàv bê tông sàn mái bị biến dạng nở về ban ngày và co
về ban đêm. Sau một thời gian sử dụng sẽ xuất hiện vết nứt nơi tiếp giáp giữa
sàn bê tông mái với tường gạch. Như vậy giải pháp này không những không
giải quyết được vấn đề cách nhiệt mòi trường cho mái, mà còn dẫn đến bệnh
nứt cổ trần (xem Hình 4.24), gáy thấm góc trần.

\
0 -

H ỉn h 6.4. Sơ đổ chống nóng mái ỈĨTCT hăng xáy gạch nghiêng.

Giải pháp dùng tầng đệm không khí chỉ có hiệu quả khi đáp ứng được
2 yèu cáu cơ bán sau đây:
- Tầng đệm không khí phải có đủ chiều cao cần thiết.
- Phải có đối lưu không khí trong tầng đệm để thoát nhiệt tích tụ trong ngày.
6.4.5. Dùng mái dốc trên bê tông mái
Đây thực chất cũng là giải pháp dùng tầng đệm không khí để cách
nhiệt cho mái. Một mái dốc chắn nắng phía trên mái BTCT ở độ cao khoảng
2,5- 3rri, không có tường bao xung quanh, sẽ đáp ứng được yêu cầu chắn
nắng cho mái và thoát nhiệt tích tụ trong ngày. Do đó giải pháp này có hiệu
quả tốt.
149


6.5. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CÓ HIỆU QUẢ ĐỂ CHỐNG NÓNG MÁI
BẰNG BÊ TÔNG CỐT THÉP
6.5.1. Chống nóng bằng vật liệu nhẹ cách nhiệt
1. Giải pháp thiết k ế
Vật liệu nhẹ cách nhiệt có thể là vật liệu rời như xỉ hạt, tro nhiệt điện, sỏi
keramzit, hoặc vật liệu tấm như bê tông khí, bê tông polystyrene, tấm xốp
polystyrene.
Phương pháp đơn giản là đặt trên mặt bê tông mái (mái bằng) một lớp vật
liệu nhẹ cách nhiệt nêu trên với đủ chiều dày cần thiết. Sau đó che phủ bên
trên một lớp lát để bảo vệ. Sơ đồ cấu tạo mái được chống nóng bằng vật liệu
nhẹ xem Hình 6.5 và 6 .6 . Trong các hình này cần chú ý các vấn đề sau đây:
Lớp vật liệu cách nhiệt cần có độ dày cách nhiệt cần thiết ghi tron^
Bảng 6.2 [16, 37].
Bảng 6.2. Chiều dày vật liệu cách nhiệt cần thiết cho mái nhà
TT

Tên vật liệu

Chiều dày yêu cầu
không dưới, cm

1

Xỉ hạt

25

2

Tro nhiệt điện

25

3

Sỏi keramzit

20

4

Bê tông khí y < 500 kg/m’

20

5

Bê tông polystyrene 7 = 400 kg/m’

12

6

Tấm xốp polystyrene Y > 30kg/m’

6-7

7

Tầng đệm không khí (gió thổi 2 chiều)

30

-

Độ ẩm vật liệu cách nhiệt không lớn hơn 12%. Cần có giải pháp để giữ

cho vật liệu cách nhiệt không bị nhiễm ẩm trong quá trình sử dụng. Nếu có
bị làm ẩm (thí dụ bị thấm nước mưa) trong quá trình sử dụng thì cũng sẽ tự
thoát ẩm được.
Có lóp giấy cách nước để tránh nhiễm ẩm nước mưa cho vật liệu cách
nhiệt rời.
Lớp chống thấm nên dùng là lớp láng vữa xi măng cát mác 80 đánh màu
kỹ. Khi được bảo vệ khỏi tác động trực tiếp của các yếu tố khí hậu nóng ẩm
thì lớp láng vữa này có độ bền cao.
150


Cần có đặt hệ thống ống thoát nước mưa cho lóp vưa láng chống thấm để
đề phòng khi nước mưa xuống thì sẽ thoát đi ngay.
Khe co giãn nhiệt ẩm 3x3 m

Lát gạch iá nem
bằng vữa ximãng cát vàng mác 50
hoảc tam hợp mác 25
Khe co giãn nhiệt ẩm 3x3 m
Giấy cách nuớc


Lớp xỉ hạt lò cao hoặc tro nhiêt điện
dày 25 cm độ ẩm cp < 12%
Lớp chống thấm



Bè tông sản mái bằng

Hinh 6.5, Sơ đồ cách ỉìhiệt múi nrCT bằng vậí liệu rời
Khe co giãn nhiệt âm 3x3 m
NướcJT1Ị^__ _ _ _
Ống thoát



nước mưa



Lát gạch !á nem
bằng vữa ximãng cát vàng n á c 50
hoặc vữa tam hợp mác 25,
khe co giãn nhiệt ẩm 3x3 m



Lớp block bêtông cách nhiệt jươc
xếp ken chặt
“ Lớp chống thấm
‘ Bè tòng sản mái bằng

Hình 6.6. Sơ đồ chống nóììg mái BI'CT bằng vật liệu cách nhiệt tấm
151


2. Biện pháp thi công
Các bước thi công được tiến hành theo thứ tự như sau:
- Đổ bê tông sàn mái, có đầm lại để tăng khả nãng chống thấm (xem mục
3.3 về đầm lại bê tông).
- Láng vữa xi măng cát chống thấm mác 80 dày 2cm, đánh màu ướt thật
kỹ (không đánh màu khô). Chú ý kiểm tra kỹ chất lượng những chỗ giáp lai
giữa khu vực láng trước và sau. Bảo dưỡng ẩm không ít hơn 3 ngày đêm.
Lóp chống thấm này này cũng là lóp tạo dốc cho mái.
- Đặt hệ ống thoát nước mưa cho lớp láng vữa chống thấm. Hệ ống thoát
nước mưa này chỉ có ý nghĩa đề phòng, để khi có nước mưa xuống thì sẽ
thoát đi ngay. Còn nước mưa chủ yếu phải được thoát từ trên lớp lát gạch lá
nem ở phía trên.
- Đổ lớp vật liệu cách nhiệt rời lên mái đầm chặt cho đủ chiều dày.
Xong phủ giấy cách nước theo nguyên tắc lợp ngói để tránh có thể nước
mưa sẽ làm ướt vật liệu cách nhiệt. Đối với vật liệu cách nhiệt tấm như
các tấm bê tống khí, bê tông polystyrene thì xếp ken chặt cho đủ chiều
dày, và không cần lớp giấy cách nước. Giấy cách nước có thể là giấy dầu,
nilon, giấy cao su v.v...
Lát gạch lá nem bằng vữ;' xi măng cát mác 50 hoặc vữa tam hợp xi
măng vôi cát mác 25. Khuyến khích dùng vữa tam hợp hơn là vữa xi
lĩiãng cát, vì vữa tam hợp ít bị nứt dưới tác động của khí hậu. Mặt khác vì
có vôi nên cường độ sẽ ngày càng phái triển theo cơ chế hình thành
hydrosilicat canxi, là chất cho cường độ, trong quá trình phản ứng dài
ngày giữa cát với vôi. Lớp lát này cần có đặt khe giãn với khoảng cách 2
chiều 3x3m. Chiều rộng khe giãn khoảng l,5cm , chiều sâu xuống hết lớp
vữa. Chú ý phải có khe giãn chạy xung quanh tường chắn mái. Tại lớp lát
này cũng tạo rãnh thoát nước mưa. Có thể lát 1 hoặc 2 lớp gạch tuỳ theo
yêu cầu sử dụng. Bảo dưỡng ẩm cho lớp lát bằng các tưới nhẹ nước trong
3 ngày. Chú ý không tưới quá nhiều nước, vì sẽ có nguy cơ nước sẽ thấm
sâu làm ẩm vật liệu cách nhiệt.
Xảm matit khe giãn. Matit xảm khe phải là loại có tính bám dính tốt và
tính đàn hồi cao. Matit xảm khe có thể được đóng trong thùng hoặc trong
ống, và được thi công theo chỉ dẫn của nhà sản xuất.
152


6.5.2. Chống nóng mái bằng tấm xốp polystyrene
1.Giải pháp thiết kê
Sơ đồ cấu tạo mái xem Hình 6.7.
Bản chất của giải pháp là dùng một lớp xốp polystyrene (xem mục 6.3.3)
để cách nhiệt cho mái BTCT. Phía trên lát gạch lá nem để bảo vệ. Có 2 yêu
cầu kỹ thuật cần chú ý đối với tấm xốp. Đó là:
- Phải có khối lượng thể tích không dưới 30kg/m’; chiểu dày ghi ở Bảng 6.2.
- Phải dùng sơn polyme để gắn kết tấm xốp với nền bê tông sàn mái phía
dưới và với lớp vữa lát phía trên. Có như vậy thì lớp chống nóng mới tạo
thành một khối thống nhất để tãng độ bền, tránh nứt gãy lớp lát phía trên.
- Có thể thay thế lớp vữa láng chống thấm bằng lớp sofn chống thấm.
Khe Giàn

— Lớp gạch la nem
— Vữa lát - khe giãn 3x3m
Sơn polỵme





Lớp xốp cách nhiệt
Sơn polyiTie
Lớp chống thấm (nếu cấn)
Bê tông sàn mái

H in h 6.7, Cấu tạo lớp chống nóng m ái bằng tấm x ố p polystyrene

153


2.Biện pháp thi công
Công việc được tiến hành thứ tự như sau:
- Đổ bê tông mái có đầm lại để tãng khả năng chống thấm.
- Chế tạo son polyme: Nhũ tương polyme + (5 - 10%) xi măng kiuấy đều,
tạo độ sệt có thể quét bằng chổi đót.
- Dùng chổi đót quét 1 nước scfn polyme lên một mặt của tấm ;ốp trước
ngày lát ít nhất 1 ngày.
- Quét một nước sơn polyme lên mặt bê tông sẽ lát tấm xốp. Dặt ngay
tấm xốp vào vị trị đã quét sơn sao cho mặt đã quét scfn nằm ở trên, l ế n hành
lát gạch lá nem trên tấm xốp. Lớp vữa lát sẽ gắn kết rất chặt với tấư xốp nhờ
có lớp sơn polyme đã quét hôm trước. Tấm xốp sẽ gắn chặt với nểi bê tông
sàn mái nhờ lớp sơn vừa mới quét xong. Như vậy chỉ ngày hôm au thì bê
tông sàn mái, lớp xốp cách nhiệt và lớp lát gạch lá nem sẽ gắn kết tiành một
khối thống nhất, rất bền vững.
- Lát gạch lá nem: Việc lát gạch lá nem và xảm khe giãn được iến hành
giống như mục 6.5.1.2.
Giải pháp chống nóng bằng tấm xốp cách nhiệt có ưu điểm là cich nhiệt
tuyệt đối và có tải trọng rất nhỏ, rất thích họỉp cho một mái sửa (hữa. Xét
Hình 6.8 ta thấy, trong khi nhiệt độ bề mặt lớp gạch lát mái t| vàt lúc 13h
trong ngày nắng hè tại Hà Nội đạt tới 6 5°c, thì nhiệt độ trần Ỉ2 ch h ó 38°c,
thấp hơn nhiệt độ không khí
Nhiệt độ,°c

khi đó là 4 0 °c .
\

/

Hình 6.8. Biến thiên nhiệt độ mái BTCT được cách nhiệt bâng tấm xốp pdystyrene
154


6.5.3. Chỏng nóng bằng tầng đệm không khí
/. Giải pháp thiết k ế
Bản chất của giải pháp là dùng tầng đệm không khí có đối lưu để cách
nhiệt cho mái BTCT. Phía trên tầng đệm là sân có thể sử dụng, được lát gạch
trang trí (Hình 6.9).
ị - Lớp lát gạch trang trí
- Lớp lát tấiĩi đan
-T ắ n g không khí đối luu

Trụ xây gạch 50x50cm

-Lớ p chống thấm nuớc
- Bêtông sàn mải

L_______ J
[1

[=—
\
\

> 1
1

-> G ió

Giố

H ìn h 6.9. Sơ đồ chống nóng mái hằng tầng đệm không khí

Tầng đệm không khí được tạo bằng cách xây các trụ gạch 11 X 22cm,

cách đều 2 chiều 50 X 50cm, cao bằng chiều cao tầng đệm không khí đã

định. Các tấm đan BTCT được chế sẵn có kích thước 49x49cm rồi gác lên
các trụ gạch đã xây.
Có 2 yêu cầu kỹ thuật cần được đảm bảo cho giải pháp này, đó là;
- Tầng đệm không khí có chiều cao không dưới 30cm (Bảng 6.2);
- Tầng đệm không khí phải có gió thổi 2 chiều để thoát nhiệt tích tụ trong
ngày. Khi không đảm bảo cho gió thổi 2 chiều thì tầng đệm không khí sẽ
mất tác dụng cách nhiệt. Vì vậy giải pháp này thường chỉ dùng cho các mái
có chống nóng nhưng không sử dụng sân thượng.
2.Biện pháp thi công
Các bước tiến hành gồm có:
155


- Đổ bê tông sàn mái BTCT có đầm lại để tăng khả năng chống thấm;
- Chế tạo các tấm đan BTCT;
- Láng vữa xi măng cát chống thấm dày 2cm có đánh dốc, đánh ư.àu kỹ
(xem mục 6.5.1.2). Có hệ thống thoát nước mưa từ lớp láng này. Cũng có thể
dùng sơn chống thấm thay lóp vữa láng chống thấm;
-

Xây các trụ gạch 11

X

22cm cách đều tim 50

X

50cm bằng vữa xi măng

cát mác 50.
- Lát các tấm đan bê tông cốt thép lên đầu các trụ gạch bằng vữa xi măng
cát mác 50;
Nếu có nhu cầu trang trí sân thì lát thêm lớp gạch lá nem trang trí. Kỹ
thuật lát, đặt khe giãn và xảm khe xem mục 6 .5. 1 .2 .
6.5.4. C hống nóng mái bằng cách lợp m ái dốc
1. Giải pháp thiết k ế
Bản chất của giải pháp là dùng một mái dốc đặt trên sàn mái BTCT để
ngăn bức xạ mặt trời (Hình 6.10). Mái dốc dùng để cách nhiệt có thể là
mái lá, mái ngói, mái tốn, mái íibroxim ăng. Tất cả các loại mái đều có
yêu cầu độ cao h > l,5m . Đối với mái ngói, mái íibroxim ăng và mái tôn
còn có yêu cầu tạo thoát nhiệt tự nhiên. Ngôi nhà trong ảnh ở Hình 6.10
có cấu tạo cửa thoát nhiệt trên đỉnh mái và khe hở thu khí giữa trần bê
tông và mái để tạo dòng khí đối lưu thoát nhiệt tự nhiên. Tuy nhiên đây là
mái bê tông dán ngói, do hấp thụ nhiệt và tính trễ nhiệt của bê tông nên
về đêm mái này chậm nguội nhiệt tích tụ trong ngày. Do đó vào những
ngày ít gió thì mái vẫn nóng. Nếu là mái ngói hay mái tôn thì tốc độ thoát
nhiệt trên mái sẽ nhanh hơn rất nhiều.
2. Biện pháp thi công
- Đổ bê tông sàn mái, láng vữa chống thấm xem mục 6 .5.1.2;
- Làm mái dốc. Mái dốc nhất thiết phải tạo được cửa thoát nhiệt tự để
ttên mái theo sơ đồ Hình 6.10. Các m ái lợp lá cọ, cỏ gianh, rơm rạ, nứa
thì không cần có cấu tạo cửa thoát nhiệt trên mái, vì các vật liệu này có
tính cách nhiệt tốt và không hấp thụ nhiệt mạnh như các m ái ngói, mái
tôn, mái íibroxim ăng.

156


Hình 6.10. Sơ đồ cấu tạo mái dốc chống nóng
6.5.5. Biện pháp cách nhiệt cho mái dốc bê tông dán ngói
Như trong mục 4.9 đã nêu, mái bê tông dán ngói có nhiều nhược điểm
trong xây dựng và sử dụng trong vùng khí hậu nóng ẩm nước ta. Mái này có
tính hấp thụ nhiệt bức xạ mặt trời mạnh vào ban ngày, và do có tính trễ
nhiệt, nên lại chậm nguội về ban đêm. Vì vậv loại mái này không nên dùng
cho nhà và cống trình ở nước ta. Giải pháp cách nhiệt nêu ở đây chỉ có ý
nghĩa làm cho bớt nóng bầu không khí dưới mái cho các nhà đã và đang sử
157


dụng loại mái này mà chưa có giải pháp làm mát hcfp lý. Tác giả không có ý
khuyến khích phát triển loại mái này cho các nhà xây dựng troig vùng khí
hậu nước ta.
1. Giải pháp thiết k ế
Bản chất của giải pháp cách nhiệt ở đây là: Dùng tấm xốp polystyrene
cách nhiệt ốp dưới trần mái dốc

để

cho nhiệt tích tụ trên mái bê tông không

thể bức xạ vào trong nhà (Hinh 6.11). Đây là giải pháp tình thế

C.IO

một việc

đã rồi. Giải pháp này hạn chế đáng kể lượng nhiệt bức xạ. của mái bê tông
dán ngói, nhưng không bảo vệ được mái trước tác động xấu củí các yếu tô'
khí hậu (như làm nứt bê tông mái, làm bong lớp ngói dán gây thấTi dột).
— Lớp ngói dán
— Lớp trát trần
— Bêtòng cốt thép mái
— Sơn polymer
Tấm xốp dày 5 - 6cm Y = 15 - 2 kg/n^
^ Trân nhựa hoặc lớp trát

Hình 6.11. Sơ đồ cách nhiệt cho mái bê tông dán ngói
Yêu cầu của giải pháp là phải ốp tấm xốp gắn thất chặt vào trần bê tông
mái, không để có không khí nằm dưới trần bê tòng trên tấm xốp. Có như vậy
thì khả năng cản nhiệt bức xạ của tấm xốp mới phát huy tác dụng. Mặt dưới
tấm xốp có thể ốp trần nhựa hoặc trát vữa. Cũng có thể thay tấn xốp bằng
tấm bông khoáng dày khoảng 8 - lOcm.
2. B iện pháp thi công
Các bước tiến hành như sau:
-

Trát trần bằng vữa tam hợp mác 25 hoặc vữa xi măng cát mác 50. Chú ý

trát thật phẳng trần để sau có thể dán ốp sát tấm xốp dưới trần. Nếu công tác
cốppha tốt trần bê tông đã phẳng thì không cần lớp trát này.
158


- Quét scfn polyme (xem mục 6 .5.2.2). Xong dán ngay tấm xốp áp chặt
lên trần. Tấm xốp có khối lượng thể tích Y = 15 - 20 kg/m^ dày 5-6cm. Có
thể dùng đinh ghim hoặc các giải pháp thích hợp để giữ cho các tấm xốp
không bị rơi trong vòng 1 ngày đầu. Hôm sau sơn polyme sẽ tự giữ chặt
tấm xốp.
- Làm trần nhựa trang trí. Nếu là lớp trát thì cần quét sơn polyme lên mặt
tấm xốp, để khô 1 ngày rồi mới bắt đầu trát.
6 .6 . SỬA CHỮA CÁC MÁI ĐANG BỊ NÓNG

Đối với các mái đang sử dụng mà bị nóng thì cần có biện pháp sửa chữa
để làm mát càng sớm càng tốt. Cụ thể là;
Khảo sát đánh giá nguyên nhân gây nóng nhà xem thuộc loại hình nào.
Có thể là đã chống nóng bằng gạch chống nóng, hoặc đã dùng vật liệu cách
nhiệt nhưng không đủ chiều dày hoặc đã bị ẩm lâu ngày. Cũng có thể đã
dùng tầng đệm không khí, nhưng chưa đủ chiều cao, hoặc không có giải
pháp thoát nhiệt tự nhiên. Hoặc cũng có thể là do dùng mái bê tông dán ngói
v.v... Từ đó lựa chọn giải pháp sửa chữa thích hợp theo chỉ dẫn ở mục 6.5.
- Chít ý : Cần đảm bảo sàn mái BTCT không bị thấm nước trước khi làm
chống nóng. Nẽu mái đầ bị thám thì cẩn sửa cliữa chống thấm trước rồi mới
làm chống nóng. Giải pháp sửa chữa mái bị thấm xem ở Chưong 7.
6.7. CHỐNG NÓNG TƯỜNG NGOÀI HƯỚNG TÂY CỦA NHÀ

Do nước ta nằm vào vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, có cường độ bức xạ mặt
trời cao và nhiệt độ không khí cao, nên về mùa hè ở miền Bắc và quanh nãm
ở miền Nam các tường ngoài nhà đều bị nung nóng trong ngày. Tuy nhiên
tường hướng Tây luôn chịu bức xạ mặt trời cao hơn cả, nhất là về buổi chiều.
Vì vậy một khi đã cách nhiệt được cho tường hướng Tây thì tường các hướng
khác đưcmg nhiên cũng đáp ứng được. Do đó tác giả chỉ nêu ở đây vấn đề
chống nóng cho tường hướng Tây. Thực tế cho thấy ở vùng khí hậu nước ta
chỉ cần chống nóng cho tường ngoài của nhà trông về hướng Tây. Tường
trông về hướng Đông tuy có chịu bức xạ mặt trời chiếu trực diện, nhưng do
vào thời gian đầu buổi sáng cường độ nắng còn chưa mạnh, thời gian tưòíng
chịu nắng mạnh cũng chỉ tính trong khoảng từ lOh đến H h30, nên độ hấp
nóng tường không cao như tường hướng Tây.
159


Do khí hậu ở hầu hết các vùng địa lý nước ta có nhiệt độ dương, nên tác
giả chưa đề cập vấn đề chống lạnh cho tưcỉng ngoài của nhà, chỉ tập trung
vào vấn đề chống nóng.
Việc chống nóng tường cần được giải quyết cho 2 khu vực là các mảng
tưòíng đặc và hệ cửa.
6.7,1.

Đặc điểm tác động nhiệt mỏi trường lên tường hướng Tây và

yêu cầu cách nhiệt
Tưòng hướng Tây của nhà luôn chịu tác động nung nóng bởi 2 nguỗn
nhiệt môi trường, đó là nhiệt không khí và nhiệt bức xạ mậl trời. Tác giả
cùng các đồng nghiệp [16] đã đo nhiệt độ bề mặt của tường xây gạch hướng
Tây vào một ngày nắng hè tại Hà Nội và thấy rằng nhiệt độ bề mặt ngoài
tường lúc 16h lên đến 55°c. Quan sát biểu đồ Hình 6.12 ta thấy nhiệt độ bề
mặt tường cao nhất trong khoảng thời gian từ 14h đến 18h trong ngày, từ 40
đến 55°c. Tiếp theo, do tường có độ trề nhiệt nên nhiệt độ mặt tường đến
22h vẫn cao hon nhiệt độ lúc 6 h. Phải đến 6 giờ sáng hôm sau nhiệt độ mặt
tường mới cân bằng trở lại lúc đầu. Như vậy có nghĩa là trong suốt thời gian
ban đêm, dòng nhiệt của tường có nguy cơ liên tục truyền vào trong nhà nếu
không có giải pháp ngăn chặn cần thiết. Biện pháp chống nóng cho tường
ngoài hướng Tây của nhà thực chất là biện pháp ngăn cản dòng nhiệt này
tru y ề n d ẫn vào không gian trong nhà.

7

Giờ trong ngày

Hinh 6J2, Sơ đồ tích nhiệt bức xạ mặt trời trên mật tường hướng Tây của nhà
160


Giải pháp kỹ thuật có hiệu quả để ngăn dòng nhiệt nêu trên là dùng vật
liệu cách nhiệt để làm tường. Các vật liệu này đã được giới thiệu ở mục 6.3.
Để nhiệt của tường không truyển được vào trong nhà thì tường làm từ mỗi
loại vật liệu tương ứng phải có đủ chiều dày cách nhiệt cần thiết. Theo [16^
thì ở nước ta chiều dày cách nhiệt cho tường hướng Tây phải không dưới các
giá trị nêu trong Bảng 6.3 tuỳ theo vật liệu sử dụng.
Các giá trị ở Bảng 6.3 cho thấy bê tông càng nhẹ thì chiều dày tường yêu
cầu càng nhỏ. Riêng tường gạch đất sét nung thì chiều dày tường từ 33cm
(rở lên là có khả năng cách nhiệt cho tường hướng Tây. Tường gạch không
nung (gồm gạch vôi xỉ, gạch vôi puzolan, gạch đất vôi) có yêu cầu chiều dày
nhỏ hơn tường gạch đất sét nung, chỉ 20 - 22 cm, vì gạch không nung có hệ
số hấp thụ nhiệt và hộ số dẫn nhiệt thấp hơn. Các vật liệu làm tường trong
Bảng 6.3 có thể được sản xuất Ihành các viên xây để xây, hoặc dưới dạng
lấm nhỏ hay tấm lớn để lắp dựng.
Bảng 6.3. Yêu cầu chiều dày cách nhiệt
cần thiết cho tường iiị»oài hướng Tây
'IT
1

2

Tên vật liệu làm tường

Chiều dày
yêu cầu không dưới, cm

Bê tông khí: y = 700kg/m*

20

y = 800kg/m^

25

Bê tông polystyrene: y = 500 - 600kg/rn’
y

= 700kg/nr’

15
20

3

Bê tông keramzit: y = 1200kg/m^

20

4

Gạch đất sét nung; y = 1800kg/m^

33

5

Gạch không nung 7 = 1800kg/m’

20 - 22

6

Gạch gốm cách nhiệt Y = 1200kg/m‘^

20

6.7.2. Một số giải pháp chống nóng cho tường ngoài hướng Tây của nhà
6.7.2.1. Chông nóng tường bằng vật liệu làm tường
I. Giải pháp thiết kế
Bản chất của giải pháp là dùng các vật liệu xây tường với chiều dày
tường hợp lý nêu trong Bảng 6.3 (Hình 6.13). Khi tường được xây từ các
161


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×